Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Phát triển lúa lai Việt Nam nhìn từ mục tiêu Trung Quốc

FOODCROPS. Phát triển lúa lai Việt Nam là chặng đường còn dài, còn nhiều thay đổi nhưng vẫn cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai. Việt Nam tiếp cận công nghệ lúa lai từ những năm 1992 chậm sau Trung Quốc gần 30 năm, nước hiện tại có lúa lai đạt khoảng 63% tổng diện tích lúa trồng của cả nước, năng suất bình quân hạt giống F1 đạt 3,5 – 4 tấn/ha, có mục tiêu lúa lai đạt năng suất tiềm năng giai đoạn 3 trên 13.5 tấn/ha (2006-2015) (Jiming Li, Yeyun Xin, Longping Yuan, 2009).

Lúa lai thương phẩm ở Việt Nam được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên và đang dần mở rộng hướng Nam. Năng suất bình quân lúa lai vượt hơn lúa thuần 15-20% trở thành một định hướng quan trọng trong nghề sản xuất lúa. Sử dụng hiệu quả ưu thế lai tạo giống F1 năng suất cao càng trở nên quan trọng. Năng suất bình quân hạt giống F1 đã tăng từ 302kg/ha từ năm 1992 lên 2 tấn/ha năm 2002 và hiện nay khoảng 2,5 - 3 tấn/ha và có mục tiêu nâng cao hơn để đạt 3-4 tấn/ha. Hiện tại tổ hợp lúa lai 2 dòng có 115 ha, lúa lai 3 dòng có 1.246 ha. Hai tỉnh có diện tích sản xuất lúa lai F1 lớn nhất chiếm 60% diện tích cả nước là Quảng Nam (304 ha), Đắc Lắc (471 ha).

Diện tích sản xuất giống lúa lai F1 có xu thế giảm những năm gần đây. Tỷ lệ tự túc giống lúa lai trong nước vẫn chỉ giữ 20%, cần phấn đấu nâng mục tiêu lên 50% và hiện tại nó chỉ chiếm khoảng 10% diện tích sản xuất lúa lai thương phẩm có thương hiệu giống lúa lai Việt Nam (TS. Lê Hưng Quốc). Viện CLT-CTP đặt mục tiêu năng suất tiềm năng lúa lai trên 12 tấn/ha và năng suất thực 8 tấn/ha đến năm 2015 (PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn). Lượng hạt giống F1 từ khoảng 2000 ha vụ Đông Xuân 2010 giảm xuống 1.361 ha vụ Đông Xuân 2011 (Nguyễn Trí Ngọc) phấn đấu đạt mục tiêu 3000 ha năm 2012 và 5000 ha năm 2015 để sản xuất lúa lai bền vững (TT. Bùi Bá Bổng).

Sản xuất hạt của lúa lai đòi hỏi tính chuyên nghiệp và những điều kiện tối thiểu. Việt Nam chọn tạo giống lúa lai F1 còn  ít, đặc biệt là giống lúa 3 dòng, một phần do còn thiếu nhiều dòng bố mẹ cho sản xuất hạt lai F1. Thiếu dòng bố mẹ đang là vấn đề lớn cho sản xuất hạt lai F1. Tổng kinh phí khuyến nông giành cho lúa lai là 15 tỷ đồng từ năm 1991 đến năm 2006, kinh phí khuyến nông hổ trợ sản xuất giống khoảng 52 tỷ đồng từ 1994 đến 2007 và được tiếp tục đầu tư chọn tạo giống F1 trong nước. Mục tiêu 2015 đạt 5.000 ha lúa F1 sẽ còn gặp nhiều khó khăn. - HL tổng hợp

Đến 2015 Việt Nam sẽ có 5.000 ha lúa lai F1

Hôm qua (8/6), tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng chủ trì hội thảo “Tư vấn định hướng nghiên cứu và phát triển lúa lai Việt Nam giai đoạn 2011-2020”. Các nhà khoa học, DN đưa ra ý kiến đóng góp nhằm phát triển lúa lai trong nước bền vững.

Theo Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc, vụ ĐX 2011 diện tích SX lúa lai F1 trong nước chỉ đạt 1.361 ha, thấp hơn so với vụ ĐX năm trước trên 600 ha, trong đó các tổ hợp lúa lai 2 dòng là 115 ha, lúa lai 3 dòng 1.246 ha. Hai tỉnh có diện tích sản xuất hạt lai F1 lớn nhất là Quảng Nam 304 ha, Đắk Lắk 471 ha; chiếm gần 60% diện tích cả nước, chủ yếu sản xuất các tổ hợp lúa lai 3 dòng.

Về công tác chọn tạo giống lúa lai, ông Ngọc cho rằng VN chưa có nhiều dòng bố mẹ có đặc tính nông học tốt, có khả năng kết hợp và cho ưu thế lai cao. Một số tổ hợp lúa lai 2 dòng trong nước năng suất chưa vượt trội, nên hạn chế khả năng mở rộng diện tích.

Lượng hạt giống F1 sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu giống lúa lai sản xuất đại trà, vì số lượng tổ hợp lai chọn tạo trong nước tham gia vào cơ cấu giống còn ít. Nhiều DN trong và ngoài nước không ưu tiên sản xuất hạt giống tại VN do tính rủi ro cao và sợ mất bản quyền, đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phát triển lúa lai hiện còn quá thiếu…

Cũng theo ông Ngọc, về lâu dài phải có chiến lược đào tạo đội ngũ nghiên cứu chọn tạo lúa lai, đầu tư cơ sở cho các đơn vị nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ duy trì nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt lai F1, qui hoạch vùng sản xuất tập trung để tiến tới có thể tự túc 50-70% giống đáp ứng nhu cầu của sản xuất, cần khoảng 5.000 ha cho sản xuất lúa lai tập trung. Cụ thể là vùng Bắc Hà (Lào Cai) 500 ha, vùng Eaka (Đắk Lắk) 1.000 ha, vùng Đại Lộc (Quảng Nam) 1.000 ha, vùng Thanh Hóa 500 ha cho sản xuất hạt lai F1 trong vụ mùa…

“Tới đây Cục Trồng trọt sẽ kiến nghị đưa nội dung sản xuất hạt lúa lai F1 vào danh mục cây trồng được hưởng hỗ trợ từ ngân sách TƯ khi gặp thiên tai dịch bệnh làm giảm năng suất hoặc mất trắng. Ưu tiên đầu tư cho các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai phù hợp với sản xuất, đặc biệt bộ giống lúa lai cho vụ mùa ở miền Bắc và lúa lai cho vùng ĐBSCL” -ông Ngọc nói.

PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn, Viện trưởng Viện CLT-CTP cho biết mục tiêu đến 2015 Viện sẽ chọn tạo và sản xuất 5-10 tổ hợp lúa lai mang thương hiệu Việt Nam theo hướng năng suất cao là chủ yếu (năng suất tiềm năng trên 12 tấn/ha, năng suất thực tế trên 8 tấn/ha). Năng suất sản xuất hạt lai F1 của các tổ hợp đạt 2,5-3 tấn/ha. Các tổ hợp có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, phổ thích nghi rộng, có khả năng cạnh tranh với giống nhập từ Trung Quốc. Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân dòng bố mẹ, quy trình sản xuất hạt lúa lai F1 đạt năng suất 3-4 tấn/ha...

TS Lê Hưng Quốc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam nhận định, hiện VN chưa có giống lúa lai cho vụ ĐX, thương hiệu giống lúa lai VN chỉ chiếm khoảng 10% diện tích sản xuất lúa lai thương phẩm. Diện tích sản xuất giống lúa lai F1 có xu thế giảm dần. Tỷ lệ giống lúa lai tự túc trong nước vẫn dậm chân xung quanh 20% diện tích.

“Thời gian tới cần tập trung nghiên cứu và phát triển cả giống lúa lai 2 dòng và 3 dòng và phải hình thành rõ các vùng sản xuất lúa lai hàng hóa tập trung khoảng 5.000 ha. Để đưa tỷ lệ tự túc giống lúa trong nước từ 20% lên 50% diện tích cần có chính sách hỗ trợ rủi ro cho sản xuất giống lúa lai F1 cao hơn mức 1,5 triệu/ha hiện nay của lúa thuần. Bổ sung các tỉnh có sản xuất giống lúa lai F1 vào danh sách thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đang triển khai ở 21 tỉnh...” - ông Quốc đề nghị.

Về phía địa phương, PGĐ Sở NN-PTNT Thanh Hóa Nguyễn Xuân Sang cho biết Thanh Hóa đang xây dựng “khu công nghiệp” sản xuất khoảng 1.000 ha lúa lai F1. Tỉnh cũng đầu tư giai đoạn 1 trên 70 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất lúa F1, sắp tới sẽ tổ chức hội nghị mời DN vào đầu tư. “Nhu cầu về giống lúa lai 3 dòng vụ ĐX ở Thanh Hóa cực lớn, vì vậy có giống lúa lai nội 3 dòng, năng suất chất lượng tốt là chúng tôi “đặt hàng” ngay”.

“Tôi đề nghị Viện Khoa học Nông nghiệp VN tổng hợp các ý kiến tư vấn tại hội thảo để Bộ NN-PTNT nghiên cứu, tiếp tục đầu tư chọn tạo giống lúa lai F1 trong nước. Hiện chúng ta chọn tạo giống lúa lai F1 còn quá ít, đặc biệt là giống lúa lai 3 dòng. Giống bố mẹ sản xuất ra cũng không được bao nhiêu. Thiếu dòng bố mẹ thì lấy đâu ra giống sản xuất hạt lai F1? Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng VN cũng nghiên cứu việc có thể thành lập Liên hiệp sản xuất giống lúa lai VN trực thuộc Hiệp hội, nhằm liên kết các DN đẩy nhanh sản xuất giống. Hiện có DN đã sản xuất được trên 300 ha lúa F1 là rất đáng hoan nghênh. Mục tiêu từ nay đến 2012 diện tích sản xuất lúa F1 tăng lên 3.000 ha, từ 2014-2015 sẽ đạt 5.000 ha. Nếu có khoảng 10 DN, mỗi đơn vị làm 500 ha là thắng lợi. Bộ NN-PTNT sẽ hỗ trợ, khuyến khích các DN để sản xuất lúa lai bền vững” - Thứ trưởng Bùi Bá Bổng.

Trường Giang

Source: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/2/20/20/79572/Default.aspx

Phát triển lúa lai - Lợi thế và thách thức

Gs.ts hoàng thuyết minh

I. Lợi thế lúa lai

Do bản chất của con lai F1 là sự tổ hợp giữa hai dòng bố mẹ có đặc tính di truyền khác nhau nên cho ưu thế lai cao hơn các giống bố mẹ và các giống lúa thuần khác trong cùng điều kiện canh tác (sức sống hơn, hiệu suất quang hợp hơn, năng suất cao hơn và khả năng chống chịu điều kiện bất thuận tốt hơn).

Với quy trình công nghệ tối ưu sẽ khai thác tối đa tiềm năng năng suất của giống, nâng cao năng suất và tổng sản lượng để có thể thu hẹp diện tích gieo cấy mà vẫn đảm bảo nguồn lương thực cần thiết cho an ninh lương thực quốc gia. Nhưng để có các lợi thế trên chúng ta phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Chọn tạo được tổ hợp có ưu thế lai cao.

- Dễ duy trì dòng bố mẹ (cho năng suất hạt bố mẹ cao).

- Dễ sản xuất hạt lai F1 (cho năng suất F1 cao).

- Xác định được vùng sinh thái, mùa vụ thích hợp cho SX bố mẹ và hạt F1 đạt năng suất cao và ổn định.

- Thiết lập được quy trình kỹ thuật SX lúa lai thương phẩm phù hợp để đưa năng suất thực tế tiếp cận năng suất tiềm năng (quy trình IPM, ICM…).

II. Những thách thức

Nghiên cứu chọn tạo giống, các công nghệ nhân dòng duy trì được độ thuần di truyền, hạn chế trượt ngưỡng, SX hạt của lúa lai thuộc loại công nghệ cao nên đòi hỏi phải nắm bắt một số vấn đề sau:

Đặc tính di truyền của từng loại vật liệu sử dụng trong nghiên cứu (kiểu bất dục đực, dòng bố, dòng phục hồi R) trong lúa lai ba dòng và dòng cho phấn (dòng P) trong lúa lai hai dòng về khả năng kết hợp, khả năng và tỷ lệ thụ phấn chéo, tỷ lệ kết hạt và năng suất hạt lai.

Điều kiện để SX hạt lai đạt năng suất cao (độ phì của đất, chế độ ánh sáng, nhiệt độ (tổng tích ôn), số giờ mưa, ngày mưa trong giai đoạn trỗ bông nở hoa và độ ẩm không khí khi nở hoa thụ phấn thụ tinh, nhiệt độ không khí và sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm giai đoạn làm hạt và điều kiện thời tiết khi thu hoạch, công nghệ thu hoạch, chế biến, bảo quản và phân phối hạt giống sau thu hoạch).

Phải có quy trình công nghệ phù hợp cho nhân từng dòng bố, mẹ của mỗi tổ hợp để nhân và SX hạt lai F1 trong từng điều kiện sinh thái, điều kiện KT-XH cụ thể trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng gay gắt.

III. Thực trạng phát triển sản xuất và nghiên cứu lúa lai ở nước ta

Chương trình phát triển và nghiên cứu lúa lai sớm được Bộ NN-PTNT quan tâm tạo điều kiện. Từ năm 1992 hai tổ hợp lúa lai được đặt tên là HV1, HV2 được nhập nội và gieo trồng đánh giá tại Đan Phượng khi chúng ta chưa hề có nghiên cứu về lúa lai, hiểu biết của chúng ta về lúa lai còn rất hạn chế. Sau đó là sự đầu tư về kinh phí, về đào tạo đội ngũ dần dần được nâng lên và chương trình nghiên cứu lúa lai được ra đời với sự thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa lai cùng với các dự án TCP và sự có mặt của các chuyên gia quốc tế IRRI, Trung Quốc và Ấn Độ. Có thể nói suốt 20 năm qua kinh phí cho nghiên cứu tuy chưa thật nhiều nhưng không thiếu và SX luôn đi trước nghiên cứu, thành tựu nghiên cứu chưa đáp ứng và theo kịp SX do một số nguyên nhân sau:

Tổ chức hệ thống nghiên cứu tản mạn không tập trung, các nội dung nghiên cứu không được phân công cụ thể hoặc phân công nhưng không tuân thủ nghiêm túc trong các đơn vị tham gia nghiên cứu. Ví dụ giai đoạn đầu khi đề tài nghiên cứu lúa lai còn nằm trong chương trình nghiên cứu KN-01 đã được phân công Trung tâm nghiên cứu lúa lai - Viện KHKTNN Việt Nam tập trung nghiên cứu lúa lai 3 dòng, Viện Di truyền NN và ĐH Nông nghiệp Hà Nội tập trung vào hệ hai dòng nhưng sau đó không lâu sự phân công trên không được tuân thủ và ai muốn làm gì tuỳ thích dẫn đến sự trùng lặp trong khai thác vật liệu, nội dung nghiên cứu và giải pháp công nghệ trong nghiên cứu, nên đã lãng phí về thời gian, kinh phí và nguồn nhân lực.

Sự kiểm tra, đánh giá nghiệm thu không thường xuyên, thiếu cụ thể và sát sao.

Về các giải pháp (phương pháp công nghệ) trong nghiên cứu thì không được tiến hành theo thuyết minh, theo kế hoạch (hầu hết các thuyết minh/kế hoạch nghiên cứu tạo các dòng bố mẹ để tạo tổ hợp lai đều được liệt kê đầy đủ các phương pháp truyền thống và hiện đại như lai hữu tính, đột biến, lai xa, nuôi cấy bao phấn, quy tụ gen bằng Backross kết hợp với MAS thậm chí cả chuyển gen nhưng chúng ta không làm. Do vậy cho đến nay một số sản phẩm của các đề tài nghiên cứu như dòng bất dục, dòng phục hồi, dòng cho phấn… chưa thấy một sản phẩm nào là kết quả của việc sử dụng các giải pháp hiện đại mà các bản thuyết minh hay đăng ký đã liệt kê.

Trong 20 năm qua với sự cố gắng lớn chương trình nghiên cứu đã tuyển chọn được một số nguồn bất dục TGMS có nguồn gốc từ nước ngoài như T1S,96, Peiai 64SCL, 827S, 534S… đưa vào khai thác và sử dụng, chúng ta cũng đã chọn tạo được một số dòng bất dục như T70S, P5S và đã tạo được một số tổ hợp hai dòng ngắn ngày, năng suất khá, chất lượng khá tham gia vào cơ cấu vụ mùa như TH3-3, TH3-4, TH3-5, VL20, VL24, HYT100, HYT102, HC1. Nhưng đối với lúa lai 3 dòng, loại lúa này có vị trí quan trong trong vụ xuân vì cho năng suất cao hơn vụ mùa, ít nhiễm sâu bệnh thì các kết quả nghiên cứu trong nước trong suốt 20 năm qua vắng bóng các kết quả chọn tạo các dòng CMS và các tổ hợp lai 3 dòng ngoại trừ giống CT16. Điều này có lẽ do chúng ta chưa có đánh giá và nhận thức đúng đắn về vị trí của lúa lai 3 dòng tại Việt Nam hay vì chúng ta tránh sợ SX 3 dòng phức tạp hơn hệ hai dòng.

Việc chọn và duy trì các dòng TGMS nhập nội hoặc ta tự chọn tạo chưa được tuân thủ nghiêm ngặt và thường xuyên theo quy trình nên sự trượt ngưỡng và phân ly xảy ra rất lớn, chúng ta chưa có hạt giống siêu nguyên chủng thực sự của các dòng TGMS do vậy chất lượng các cấp hạt NC, XN không đảm bảo dẫn đến chất lượng hạt F1 không cao.

Nguồn nhân lực vừa thiếu, lại yếu và phân tán do vậy nhiệm vụ, mục tiêu và kết quả nghiên cứu không được giải quyết dứt điểm và hiệu quả. Chế độ đãi ngộ, khuyến khích đội ngũ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu triển khai SX không rõ ràng và có sự sai khác lớn giữa các đơn vị nghiên cứu và triển khai lúa lai.

Việc tổng kết đánh giá kết quả nghiên cứu hàng năm, từng giai đoạn chủ yếu thực hiện theo kiểu trả bài theo mục tiêu và kết quả dựa vào bản thuyết minh do vậy nhiều loại sản phẩm như số dòng bất dục được chọn tạo, số dòng bố, số tổ hợp đã lai, số tổ hợp khảo nghiệm triển vọng, công nhận SX thử ít có ý nghĩa và rất khó mở rộng SX hoặc mất dần ngay sau khi đề tài nghiệm thu hoặc kết thúc.

Việc sử dụng và khai thác các điều kiện nghiên cứu một số nơi lãng phí, kém hiệu quả hoặc không chia sẻ ví dụ như hai phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (phòng công nghệ gen và công nghệ tế bào), một số phòng nuôi cấy mô, buồng khí hậu nhân tạo (phytotron), dụng cụ quang học… có mua sắm nhưng không được sử dụng vào việc đánh giá ngưỡng hoặc thiết bị chưa hề dùng đã hỏng.

IV. Một số kiến nghị

Nên tổ chức mạng lưới nghiên cứu lúa lai theo chương trình để tránh việc trùng lặp.

Xây dựng các chương trình nghiên cứu theo nhóm vấn đề, theo nhóm giải pháp để tránh việc trùng lặp, thực hiện tốt việc quản lý và chia sẻ vật liệu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu triển khai. Ví dụ nhóm tạo CMS, TGMS, nhóm sử dụng phương pháp lai truyền thống, nhóm dùng hợp tế bào trần, nhóm tạo dòng có chu trình C4, nhóm quy tụ gen của một số loài hoang dại hay tạo đa bội thể.

Cần đi đều cả hai hướng chọn tạo giống lúa lai 2 dòng và 3 dòng và xây dựng tiêu chí của sản phẩm các dòng bất dục theo tiêu chuẩn quốc tế như vậy mới có được các dòng mẹ ưu tú để có tổ hợp lai tương đương với các tổ hợp lai tốt của Trung Quốc đạt mức siêu cao sản.

Việc đánh giá, nghiệm thu cần tiến hành thường xuyên nghiêm túc đánh đánh giá đúng mức giá trị khoa học cũng như thực tiễn của sản phẩm của chương trình.

Nghiên cứu để xác định vùng ổn định, an toàn cho nhân dòng bố mẹ và SX F1 cho từng tổ hợp để giảm bớt rủi ro như thời gian qua.

Cần phát huy vai trò của các DN trong chương trình SX F1 trên các vùng đã được nghiên cứu và xác định nhưng phải có quy chế quản lý thống nhất đặc biệt là quy trình quản lý thống nhất trên mỗi vùng để có sự đồng nhất về các thủ tục hành chính trong giá cả, định mức cũng như tiêu chuẩn chất lượng hạt giống sau khi thu hoạch của các tổ hợp, các dòng được SX trên cùng một vùng.

Đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực ngắn hạn cũng như dài hạn để có một đội ngũ đủ mạnh và tích luỹ kinh nghiệm cho nghiên cứu và phát triển thành công lúa lai ở nước ta.

Source: http://www.nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/79553/Default.aspx

Giống lúa lai F1 thích hợp cho các tỉnh phía Nam

FOOD CROPS. Nguyễn Chí Công, Hoàng Kim chọn lọc và tổng hợp. Hiện tại Việt Nam sản xuất hàng năm 3.500 – 4.000 tấn hạt giống lúa lai F1, cung cấp 20 – 25 % tổng nhu cầu hạt giống để gieo trồng trên diện tích ước 600.000 ha lúa lai mỗi năm. Lúa lai thương phẩm được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Năng suất bình quân đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha, cao hơn lúa thuần 15 – 20 %. Các tổ hợp đang được sử dụng phổ biến gồm Bác ưu 903, Bác ưu 64, Shan ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, TH3-3, VL20, HYT 83... Tổng kinh phí khuyến nông dành cho lúa lai là 15 tỷ đồng từ năm 1991 đến năm 2006, kinh phí khuyến nông hỗ trợ sản xuất hạt giống khoảng 52 tỷ đồng từ năm 1994 – 2007. Các vùng chuyên sản xuất hạt giống đã được hình thành tại Nam Định, Thanh Hóa, Lào Cai, Quảng Nam, Đắc Lắc... Các giống lúa lai nhiệt đới đang được ưa chuộng ở các tỉnh phía Nam trong vài năm gần đây là Arize B-TE1, Arize XL – 94017 (của công ty Bayer CropScience), PAC 807 (công ty Giống Cây trồng Miền Nam nhập của Ấn Độ), Bio 404 (Công ty Bioseed Việt Nam nhập của Ấn Độ).

Lúa là cây lương thực chính tại Việt Nam, cung cấp lương thực và là ngành sản xuất truyền thống trong nông nghiệp. Mục tiêu sản xuất lúa đến năm 2010 là duy trì diện tích trồng lúa ở mức 3,96 triệu ha, sản lượng đạt 40 triệu tấn, cao hơn năm 2003 là 5,5 triệu tấn (Thủ tướng Chính phủ, quyết định số 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/ 2005). Để đạt được mục tiêu trên, khả năng mở rộng diện tích không nhiều, và có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái, do vậy chủ yếu phải tăng năng suất. Giống là một biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất hiệu quả nhất. Sử dụng ưu thế lai của cây lúa để tạo ra những giống lai F1 năng suất cao đang được nghiên cứu và sử dụng trong những năm gần đây.

Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa ưu thế lai vào năm 1983. Lúa lai thương phẩm được gieo trồng tại Việt Nam từ những năm 1991. Lúa lai đã thể hiện được ưu thế về: tiềm năng năng suất, chịu thâm canh và khả năng chống chịu sâu bệnh. Diện tích lúa lai tăng lên nhanh chóng từ 59 ha năm 1991 lên 584.000 ha năm 2006 Động lực thúc đẩy phát triển lúa lai với tốc độ nhanh là sự kết hợp của ba yếu tố: tiềm năng ưu thế lai cao về năng suất, sự quan tâm của lãnh đạo và chính sách hợp lý của Nhà nước.

Lúa lai từ khi du nhập vào Việt Nam đã phát triển vượt bậc thúc đẩy nhu cầu sản xuất giống. Diện tích sản xuất hạt giống lúa lai đã tăng từ 123 ha năm 1994 lên 1.430 ha năm 2007. Năng suất hạt giống lúa lai F1 ở Việt Nam đạt khoảng 2,0 tấn/ha, kỷ lục đạt 3,5 – 4,0 tấn/ha tại Nam Định, trên tổng số 1500 – 2000 ha/ năm. Hiện tại Việt Nam sản xuất ra 3.500 – 4.000 tấn hạt lai F1/năm; cung cấp 20 – 25 % tổng nhu cầu hạt giống. Lúa lai thương phẩm được phát triển mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Năng suất bình quân đạt 6,0 – 6,5 tấn/ha, cao hơn lúa thuần từ 15 – 20 %. Các tổ hợp đang được sử dụng gồm Bác ưu 903, Bác ưu 64, Shan ưu quế 99, Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, TH3-3, VL20, HYT 83. Tổng kinh phí khuyến nông dành cho lúa lai là 15 tỷ đồng từ năm 1991 đến năm 2006, kinh phí khuyến nông hỗ trợ sản xuất hạt giống khoảng 52 tỷ đồng từ năm 1994 – 2007. Các vùng chuyên sản xuất hạt giống được hình thành như Nam Định, Thanh Hóa, Lào Cai, Quảng Nam, Đắc Lắc.

Qua 19 năm (1991 – 2010) công nghệ lúa lai đưa vào Việt Nam, Lúa lai đã có chỗ đứng khá bền vững, nông dân chấp nhận, góp phần đưa công nghệ trồng lúa của Việt Nam vươn tới trình độ cao của khu vực. Lúa lai không chỉ phát triển ở các tỉnh phía Bắc, mà hiện tại đã phát triển mạnh ở các khu vực khác mà trước đây chúng ta cho rằng không thể phát triển như Đồng bằng sông Cửu Long. Một số giống lúa lai nhiệt đới của một số công ty Bayer, Giống Gây trồng Miền Nam, Bioseed,…đã đưa ra thị trường và được ưa chuộng trong vài năm gần đây. Sau đây xin giới thiệu một số đặc tính các giống lúa lai nổi bật ở phía Nam

1. ARIZE B-TE1 – Sự đột phá hoàn hảo

Nguồn gốc: Giống lúa lai Arize B-TE1 là giống lúa lai F1 ba dòng do công ty Bayer CropScience sản xuất và được công nhận giống quốc gia từ tháng 07/2007 cho các tỉnh phía Nam và công nhận cho các tỉnh phía Bắc từ tháng 3/2008 cho tất cả các vụ trong năm (Ảnh giống lúa Arize B-TE 1 của Nguyễn Sang báo Nông nghiệp Việt Nam)

Đặc tính chủ yếu:

+ Năng suất cao hơn lúa thường khoảng 20% trong cùng điều kiện canh tác

+ Hạt thon nhỏ, gạo chất lượng cao, cơm mềm, thơm nhẹ, chất lượng nấu ăn tốt, được chấp nhận cao

+ Kháng bệnh đạo ôn tốt (cấp 1), kháng rầy nâu trung bình

+ Hạt gạo dài 6,4 – 6,5 mm

+ Tiềm năng năng suất (năng suất lý thuyết) trên 10 tấn/ha tại ĐBSCL nếu thâm canh tốt

+ Thời gian sinh trưởng (TGST): ở miền Nam vụ Đông xuân: 100 – 107 ngày; Hè thu: 105 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa); ở miền Trung và Cao Nguyên: Đông xuân: 110 – 115 ngày; Hè thu: 105 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)

+ Lượng giống gieo: 3 – 5 kg/ 1.000 m2 (30 – 50 kg/ha) đối với lúa sạ. Tốt nhất 35 kg/ha

+ Năng suất đạt 8 – 10 tấn/ha. Theo kết quả sản xuất của nông dân ĐBSCL vụ Đông xuân 2007-2008 nếu thâm canh tốt, quản lý sâu bệnh tốt có thể đạt trên 12 tấn/ha

+ Nhược điểm: Hạt B-TE1 ngắn và nhỏ vì thế không đáp ứng cho xuất khẩu, TGST hơi dài nên khó áp dụng cho vùng canh tác ba vụ lúa trên năm

2. ARIZE XL 94017 hạt dài ngon cơm

Nguồn gốc: Arize XL – 94017 là giống lúa lai F1 ba dòng do công ty Bayer CropScience, chi nhánh Ấn Độ chọn tạo, đã được Bộ NN và PTNN công nhận giống tháng 1/2009 cho các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ (ảnh giống lúa Arize XL -94017 nguồn Đồng hương Bình Định)

Đặc tính chủ yếu:

+ Năng suất cao hơn lúa thường khoảng 20% trong cùng điều kiện canh tác

+ Hạt thon dài 7,3 – 7,4 mm, gạo chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

+ Kháng đạo ôn tốt (cấp 2), chống chịu rầy nâu trung bình (cấp 5)

+ Tiềm năng năng suất (năng suất lý thuyết) trên 10 tấn/ha tại ĐBSCL nếu thâm canh tốt

+ Chiều cao cây 100 – 105 cm, lá đứng, xanh, cứng cây, chống đổ ngã, bông dài nhiều hạt

+ Thời gian sinh trưởng: ở miền Nam: Đông xuân: 103 – 105 ngày; Hè thu: 108 – 110 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa), miền Trung và Cao nguyên: Đông xuân: 115 – 120 ngày; Hè thu: 110 – 115 ngày (lúa sạ, lúa cấy cộng thêm 5 – 7 ngày nữa)

+ Lượng giống gieo: 3 – 5 kg/ 1.000 m2 (30 – 50 kg/ha) đối với lúa sạ, tốt nhất 35 kg/ha

+ Nhược điểm: TGST hơi dài nên khó áp dụng cho vùng canh tác ba vụ lúa trên năm

3. PAC 807

Nguồn gốc: PAC 807 là tổ hợp lúa lai hệ ba dòng, nguồn gốc Ấn Độ, nhập nội bởi Công ty Cổ phần Giống Cây trồng Miền Nam (SSC), được công nhận là giống quốc gia năm 2007 (Ảnh giống PAC 807 của công ty Ấn Độ)

Đặc tính chủ yếu:

+ Thấp cây 85 - 95 cm, đẻ nhánh khỏe, bông to (180-200 hạt chắc /bông), hạt gạo dài, trong, không bạc bụng, cơm nở mềm, ngon. Trọng lượng 1.000 hạt 24 g.

+ Năng suất 7 – 8 tấn/ha, cao hơn lúc thuần 10 – 15 % (thâm canh tốt đạt 10 - 11 tấn/ha). TGST ngắn 85 – 90 ngày. Đặc biệt chống chịu tốt rầy nâu, đạo ôn và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá

+ Trồng được ở các tỉnh phía Nam (từ Quảng Nam trở vào). Hiện đang trồng phổ biến ở các tỉnh Kiên Giang, Long An, Cần Thơ và Bình Định

4. Bio 404

Nguồn gốc: Bio 404 là tổ hợp lúa lai hệ ba dòng do Ấn Độ lai tạo, được Công ty Bioseed Việt Nam nhập nội và sản xuất hạt giống (Ảnh giống lúa lai Bio 404 của Quang Huy, báo điện tử Quảng Ngãi)

Đặc tính chủ yếu:

+ TGST vụ xuân từ 120 – 125 ngày, Bio 404 có khả năng chống đổ tốt, nhiễm bệnh khô vằn nhẹ, chiều cao cây từ 105 – 110 cm, đẻ nhánh khoẻ, tập trung, dạng hình cây gọn, lá màu xanh nhạt, bông to, nhiều hạt, trung bình 176 hạt/bông.

+ Năng suất bình quân 8,05 tấn/ha

+ Bio 404 thích hợp cho cả vùng từ Bình Định trở ra phía Bắc và phía Nam

*Lưu ý: Không dùng lúa thịt để làm giống vụ sau, năng suất không đảm bảo vì không còn ưu thế lai. Hạt giống đã được sử dụng hóa chất nên không được sử dụng cho người và gia súc, gia cầm

Nguyễn Chí Công – This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Source: http://foodcrops.blogspot.com/2010/03/giong-lua-lai-f1-thich-hop-cho-cac-tinh.html

CHUYỂN SANG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN LÚA LAI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Sản xuất hạt giống F1 lúa lai 2 dòng, 3 dòng

Cần kiên định sản xuất lúa lai

Tiến tới tự túc sản xuất giống lúa lai

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam