Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Hướng tới một “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam

FOODCROPS. Việt Nam là quốc gia có kho tàng tài nguyên thuốc phong phú và quý hiếm. Thế hiện này diễn tiến trong công tác quản lý, phát triển và bảo tồn, xây dựng, tái sử dụng đang ở mức độ nào! Trong nước, hàng năm cần trên 50.000 tấn cây dược liệu để chế xuất thuốc và riêng Cao Bằng có trên 600 lọai ( Hòang Văn Bé, 2011). Thông tin đang phát triển nhanh chóng, nhưng quản lý hạn chế đang làm thiệt hại nguồn tài nguyên thực vật quý giá vì tư lợi tổ chức,  lớn hơn nữa là sự kém hiểu biết từ nhiều tập thể sở hữu! Văn bản tại Nghị định 32/2006/NĐ – CP của chính phủ đối với lâm sản thuộc lọai cây quý hiếm cấm không được khai thác phục vụ trong thương mại sẽ được nghiêm chỉnh thực hiện thế nào, nếu mà việc khai thác và trao đổi tại địa phương chưa quản lý thống kê được! Và còn hay không thương lái Trung Quốc vẫn thực hiện được việc thu gom “thần tốc” theo kiểu mơ hồ giá trị sản phẩm. 50% nguyên liệu dược liệu của nước ta nhập về từ nước ngoài, chỉ có 730 giống cây thuốc được bảo tồn, chuyển vị (PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, 2009)giá trị kinh tế của thuốc từ dược liệu đem lại cho ngành dược cũng mới chiếm khoảng 10% trên tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước (Nguyễn Văn Thanh, 2009). Điều này không sớm cải thiện không những tài sản đất nước sẽ bị thiệt hại mà còn thất thóat khi phải bỏ tiền mua sản phẩm điều trị cho chính mình từ đối tác. Định hướng tuyên truyền và giáo dục bảo vệ tài sản quốc gia đang là vấn đề cấp bách, mà người định hướng phải từ cấp bộ ngành, với các chủ trương nhạy bén quyết đóan, kịp thời liên tục cập nhật phản hồi thông tin đa chiều. Chuyên tâm chính trị, chậm chạp thiếu quan tâm kinh tế văn hóa nông nghiệp sẽ đánh mất bản chất lâu bền,  nó đánh đổi bằng “dòng chảy chất xám” và “dòng chảy tài sản”. Tài sản quý báu nhất của bạn là gì  … ?!

alt 

Hướng tới một “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam
M.K

Là một quốc gia có kho tàng tài nguyên cây thuốc phong phú nhưng chưa được bảo vệ và khai thác xứng tiềm năng, việc Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý về nguyên tắc việc tổ chức nghiên cứu, triển khai xây dựng “Đề án Vườn cây thuốc quốc gia” tại khu vực Yên Tử, TP Uông Bí là một sự kiện của ngành dược nước ta.

Hội thảo xây dựng đề án “Thành lập vườn thuốc quốc gia Yên Tử” vừa diễn ra đã tiến thêm một bước quá trình hiện thực hóa ước mơ về một “Thung lũng cây thuốc” ở VN.

Khu vực núi Yên Tử, nằm ở TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có vị trí đặc biệt, nằm ở rìa trung tâm đa dạng sinh học Đông Bắc, lại là khu danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - tôn giáo lớn của Việt Nam. Vùng Yên Tử có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên cây cỏ nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng, gắn liền với văn hóa, cảnh quan và du lịch. Khu vực này cũng có sẵn những điều kiện thuận lợi để thành lập và duy trì sự bền vững của một vườn cây thuốc như hệ thống cơ sở hạ tầng (đường sá, nguồn điện, các công trình công cộng...), lại là nơi có lượng khách du lịch hàng năm khá lớn và nằm trên trục du lịch đến di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.


Tại khu vực 270 hécta đã nghiên cứu, nhóm nghiên cứu trường đại học dược HN đã xác định được tổng số 369 loài cây thuốc thuộc 6 ngành thực vật khác nhau.


Khu vực dự kiến xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia nằm trọn trong khu vực rừng quốc gia Yên Tử, phân bố ở độ cao từ 100-123m so với mặt nước biển, nằm hai bên đường vào ga cáp treo Yên Tử, điểm bắt đầu của vườn cách Thiền viện Trúc Lâm 720m, điểm kết thúc là khu vực nhà ga cáp treo Yên Tử.


Bảo tồn tri thức, kinh nghiệm sử dụng thuốc

Đề án “Xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử” do nhóm nghiên cứu trường ĐH Dược HN thực hiện, không chỉ nhằm bảo tồn các loài cây thuốc của nước ta, mà quan trọng hơn là bảo tồn vốn tri thức, kinh nghiệm sử dụng các loại thuốc. Bởi, các cây thuốc tự nhiên, với người không biết thì nó chỉ là thứ cỏ cây bình thường, với người biết, nó trở thành một loại dược phẩm quý giá.


Việt Nam là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hóa, các thế hệ trước của cộng đồng đã phải trả giá bằng cuộc sống và sức khỏe để tích lũy những kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc, tạo nên nền tảng tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ngày nay.


Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở VN tồn tại ở 2 nền y học chính là y học cổ truyền chính thống, có nguồn gốc từ Trung y, với các hệ thống lý luận và thực hành được tư liệu hóa trong sách vở như các học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Tạng tượng... ; và các nền y học nhân dân hay y học cổ truyền dân tộc được gọi là “thuốc Nam”.

Nhưng sự xói mòn về nguồn gene cây thuốc cộng với việc tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa đã kéo theo sự mai một và lãng quên dần vốn tri thức bản địa của các cộng đồng trong việc sử dụng cây thuốc theo cách truyền thống, làm mất đi một nguồn lực đáng kể trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân và các cơ hội phát triển kinh tế đất nước.

Vì vậy, để bảo vệ vốn tri thức quý giá này, trong khu vực bảo tồn và phát triển Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử có tới 16 khu vườn khác nhau (vườn hoa bốn mùa, vườn hương thơm, vườn tĩnh lặng...), nhưng quan trọng nhất vẫn là Bảo tàng Vườn cây thuốc các dân tộc. Đây là bộ sưu tập mẫu của Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử và do đó là bộ sưu tập quan trọng nhất dưới góc độ bảo tồn, nghiên cứu, tư liệu hóa, giáo dục và trưng bày. 
Bảo tàng có chức năng trình bày và diễn giải cho khách tham quan các mô hình vườn cây thuốc của 18 dân tộc ở khu vực Đông Bắc Việt Nam.

Sẽ có 18 vườn nguyên mẫu cây thuốc đến từ 18 dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc, mỗi vườn có diện tích khoảng 1 hécta bao gồm cả nhà ở với kiến trúc đặc trưng của dân tộc đó. Khách tham quan có thể vào trong từng căn nhà để xem xét, trải nghiệm. Trọng tâm chính là khu vườn của gia đình, nơi các cây thuốc được trồng và trưng bày. Các dân tộc sinh sống ở vùng cao sẽ được bố trí ở lưng chừng đồi, còn các dân tộc sinh sống ở vùng thấp sẽ được bố trí ở nơi thấp và bằng phẳng hơn trong bảo tàng.


Lộ trình thực hiện của đề án với tham vọng biến Yên Tử thành “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam chưa xác định cụ thể sẽ kéo dài trong bao nhiêu năm, nhưng được chia thành 3 giai đoạn: Từ 2012 đến 2015 là giai đoạn hoàn thành việc xây dựng các công trình và khai trương các hạng mục; từ 2016 đến 2020 sẽ đưa Yên Tử trở thành “Vườn cây thuốc quốc gia” và tham gia phát triển kinh tế địa phương; và từ 2020 trở đi sẽ phát triển Yên Tử thành “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam.


Xã hội hóa các nguồn lực

Đề  án xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử có tổng kinh phí dự trù lên tới 1.500 tỉ đồng và một nguồn nhân lực đòi hỏi trình độ cao, cộng với thời gian kéo dài hàng chục năm sẽ tạo một gánh nặng rất lớn cho ngân sách nhà nước. Bởi vậy, đề án kêu gọi sự ủng hộ và tham gia của cả cộng đồng, kể cả các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế.


Mô hình tổ chức Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử được đề xuất là một đơn vị sự nghiệp có thu độc lập, cơ quan chủ quản sẽ là Bộ Y tế hoặc tỉnh Quảng Ninh. Trước tiên, việc xã hội hóa nguồn tài chính cho việc xây dựng và duy trì Vườn cây thuốc quốc gia theo mô hình PPP (hợp tác công tư) là một yêu cầu tất yếu. Nguồn tài chính sẽ được huy động từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp, các quỹ về môi trường và đa dạng sinh học, nhà tài trợ, các nhà hảo tâm trong nước và quốc tế. Cụ thể nguồn kinh phí thực hiện đề án sẽ lấy từ ngân sách nhà nước trên cơ sở từng dự án khả thi của đề án, ước tính sẽ là 1.120 tỉ đồng, trong đó 840 tỉ từ ngân sách Trung ương (60%), 280 tỉ từ ngân sách địa phương (20%), và kinh phí xã hội hóa ước tính là 20%.


Hiện nay, công ty CP Phát triển Tùng Lâm đã cam kết hỗ trợ 250 tỉ đồng bằng việc xây dựng “Tuệ Tĩnh đường” Yên Tử - nơi mọi người được chăm sóc sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần. Đồng thời dự án cũng được cho phép sử dụng cơ sở vật chất hiện có của công ty tại Yên Tử như nơi ăn, ở, các trang thiết bị văn phòng, thông tin liên lạc...


Công ty Dược khoa  (thuộc ĐH Dược HN) cũng cam kết hỗ trợ 30 tỉ đồng để xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử.


Đối với nguồn nhân lực trình độ cao, chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng những khu bảo tổn thực vật nói chung, khu bảo tồn cây thuốc nói riêng. Vì vậy, ngay từ đầu xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia, chúng ta phải tăng cường học hỏi những kinh nghiệm chuyên môn về thu thập, quản lý, lưu trữ thông tin cây thuốc và kỹ năng làm vườn. Đồng thời, chúng ta cần thiết mời các chuyên gia về vườn thực vật quốc tế tham gia ngay từ giai đoạn đầu hình thành vườn.  


“Tuệ Tĩnh đường” cũng sẽ là trung tâm huấn luyện về thuốc nam cho các nhà sư  tại Thiền viện Trúc Lâm.


Các mối quan hệ hợp tác sẽ được thiết lập và duy trì với nhiều tổ chức trong nước và quốc tế. Trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta sẽ có thể nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Vườn thực vật Queen Sirikit (Thái Lan) và Vườn thực vật
Singapore. Ngoài ra, mạng lưới các vườn thực vật Đông Nam Á cũng là một nguồn hỗ trợ hiệu quả cho Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử. Vườn thực vật King Park và Vườn thực vật của Adelaide (Australia) có thể hỗ trợ trong lĩnh vực bảo tồn và giáo dục môi trường.

Các tổ chức nước ngoài khác có thể cũng sẽ quan tâm giúp đỡ Vườn cây thuốc quốc gia của VN là Dự án
Eden và Vườn thực vật hoàng gia Edinburgh (Anh), Vườn thực vật Missouri (Hoa Kỳ). Hệ thống lớn nhất các vườn thực vật trên toàn thế giới là Tổ chức Bảo tồn các vườn thực vật thế giới (Anh) sẽ tham gia hỗ trợ cho chúng ta nhiều nguồn tài nguyên phong phú như các ấn phẩm giúp Vườn cây thuốc quốc gia thiết lập các chương trình hoạt động đa dạng và giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong bảo tồn cây thuốc.

Vẫn còn nhiều băn khoăn

Tại hội thảo xây dựng đề án “Thành lập Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử”, hầu hết các nhà chuyên môn đồng tình với đề án của nhóm nghiên cứu thuộc trường ĐH Dược HN, song vẫn còn một vấn đề chưa thực sự làm họ hài lòng.


Hầu hết những ý kiến chưa đồng thuận đều cho rằng diện tích 270 hécta là quá nhiều so với quy mô một khu bảo tồn cây thuốc, vì nó gây ra một gánh nặng chi phí lớn cho ngân sách nhà nước khi nước ta đang trong giai đoạn lạm phát cao. Với số tiền hơn 1 nghìn tỉ đồng, chúng ta có thể đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng hơn của ngành y tế (!). Trong khi đó, vườn cây thuốc lớn nhất trên thế giới hiện nay là Vườn cây thuốc Quảng Tây (Trung Quốc) cũng chỉ rộng 202 hécta.


Đại diện Viện Dược liệu cho rằng đất ở khu vực Yên Tử có độ chua khá lớn, với pH trung bình là 4,4% sẽ không thực sự phù hợp với các cây thuốc từ khu vực đồng bằng sông Hồng chuyển lên trồng ở đó.


Ngoài ra, còn một số ý kiến nhận định đề án do nhóm nghiên cứu trường ĐH Dược HN xây dựng còn thiếu những cơ sở pháp lý chặt chẽ; Yên Tử chưa thể là vùng đại diện cho cả nước về những điều kiện tự nhiên mà chỉ có thể đại diện cho vùng Đông Bắc mà nếu như thế chúng ta sẽ phải huy động thêm kinh phí để xây thêm các vườn cây thuốc quốc gia ở những vùng khác; đất ở  hiện nay Yên Tử bị xói mòn khá nhiều... Thậm chí có cả những ý kiến cho rằng mục tiêu của Vườn cây thuốc quốc gia là bảo tồn và phát triển cây thuốc và tri thức sử dụng thuốc, mà lại đưa vào xây dựng các khu vườn hoa bốn mùa, vườn hương thơm, vườn tĩnh lặng, vườn tâm linh... là một điều hết sức vớ vẩn.

Có lẽ một khu vườn  để bảo tồn và phát huy cây thuốc và tri thức sử dụng thuốc là ước vọng của rất nhiều thế hệ các nhà nông học, nhà thực vật học, nhà sử học VN... tuy nhiên lộ trình xây dựng một “thung lũng cây thuốc” VN vẫn còn hiện hữu rất nhiều thách thức.   

Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc, Nhà nước Việt Nam đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như Công ước Đa dạng sinh học  (1992), Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1994)...

Đồng thời, ban hành nhiều văn bản liên quan đến bảo tồn và phát triển cây thuốc như: Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30.6.2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 43/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến 2020”; Thông báo 2976/VPVP-KGVXv ngày 13.5.2008 thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc giao các bộ, ngành thực hiện kết luận của Ban Bí thư về Bảo tồn và phát triển cây thuốc VN; Thông báo 164/TB-VPCP ngày 16.6.2010 về ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị Phát triển dược liệu và sản phẩm quốc gia 2010...


Nhìn chung các chủ trương, chính sách đã đi vào thực tiễn và tạo được những chuyển biến đáng kể trong công tác bảo tồn và phát triển cây thuốc VN trong thời gian qua.  

........

Nguồn cây thuốc quý ở Cao Bằng trước nguy cơ cạn kiệt
Theo TTXVN

Cao Bằng là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi về đa dạng sinh học, nơi sinh trưởng trên 617 loài cây thuốc quý. Trong đó có nhiều loại cây thuốc quý đạt tiêu chuẩn cao về hàm lượng, công dụng y học và giá trị kinh tế. Tuy nhiên, nguồn dược liệu (DL) được ví như "vàng xanh" ở địa bàn tỉnh này đang đứng trước nguy cơ bị tận diệt. Trong khi, việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn "vàng xanh" hiện vẫn là bài toán còn bỏ ngỏ.

Theo kết quả điều tra cơ bản về cây thuốc ở Cao Bằng từ năm 1969 - 1973 đã phát thiện 617 loài cây thuốc thuộc 211 họ thực vật. Nguồn cây thuốc tự nhiên Cao Bằng có nhiều loại, rất đa dạng, phân bố hầu hết các huyện, nhưng nhiều nhất là các huyện Thông Nông, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Hà Quảng, Nguyên Bình. Nhiều cây dược liệu quý ở các nhóm: cây thuốc điều trị ngoại khoa, nội khoa, sản khoa..; nhóm kháng sinh diệt khuẩn, điều trị vi rút, điều trị và hỗ trợ điều trị ung thư, HIV, xơ gan...; nhóm bồi dưỡng nâng cao thể trạng cơ thể... Cùng với sự phát triển phong phú các loại cây DL, tỉnh có hơn 800 thầy thuốc đông y và nhiều người dân biết sử dụng cây thuốc để chữa được nhiều căn bệnh bằng cây DL tự nhiên. Những bài thuốc đó được truyền từ đời này sang đời khác tạo nên kho tàng kiến thức bản địa phong phú về sử dụng cây rừng làm thuốc.

Ông Hoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội đông y tỉnh Cao Bằng cho biết, hiện nay, nhu cầu sử dụng cây DL chế xuất thuốc trong nước và trên thế giới rất lớn và ngày càng tăng. Riêng trong nước, hằng năm cần đến trên 50.000 tấn cây DL để chế xuất thuốc. Cao Bằng có trên 600 loại cây DL, trong đó có nhiều cây thuốc quý hiếm, thuốc diện "vàng xanh" giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn như cây Thanh thiên quỳ, Lan gấm, Cây hoa vàng (Co boóc lương), Thất diệp nhất chi hoa...trị giá triệu đồng/kg. Ngoài ra, có nhiều loại cây có thể trồng đại trà cung cấp cho thị trường bán lẻ và các công ty dược phẩm. Nếu tỉnh có chiến lược bảo tồn, quy hoạch phát triển cây DL thành hàng hóa thì người dân có thể trồng cây DL làm giàu. Đáng tiếc là do nguồn DL đang bị người dân địa phương khai thác bừa bãi theo kiểu tận diệt, nguy cơ vùng đất giàu tiềm năng về cây thuốc Cao Bằng biến mất đang cận kề.

Nhiều bậc cao niên là lương y các huyện cho biết: Trước đây đi tìm cây thuốc trên rừng, đồi chỗ nào cũng có. Ra khỏi nhà mấy bước là có thể tìm hái được mấy thang thuốc chữa bệnh. Bây giờ, thu mua giá cao nên một bộ phận nhân dân thi nhau lên rừng tìm kiếm, chặt cả cây, nhổ tận gốc rễ cây thuốc đem bán sang Trung Quốc. Tại huyện Thông Nông và một số huyện Phục Hòa, Thạch An, Trùng Khánh, Quảng Uyên, Hà Quảng, Trà Lĩnh... có tình trạng người dân đổ xô lên rừng tìm cây thuốc đem bán và có nhiều điểm thu mua cây thuốc ở các tuyến xã. Hội đông y tỉnh và các cơ quan chức năng đã thông báo con số “báo động” về tình trạng khai thác kiệt quệ cây DL. Gần 20 năm qua, người dân khai thác cây DL tươi và khô với tốc độ “thần tốc” khoảng gần 10 triệu tấn bán sang Trung Quốc qua các cửa khẩu, ước tính khoảng 300.000 - 500.000 tấn/năm. Giá trị của DL thô đã bán đi ước tính mấy chục tỷ đồng, nhưng khi DL được chế biến dưới dạng thành phẩm trị giá gấp hơn 10 lần. Nhiều loại cây thuốc quý đứng trước nguy cơ khai thác tận diệt như Thất diệp nhất chi hoa, Hoàng đằng, Ba kích, Bình vôi, Thanh thiên quỳ... Ông Hoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội đông y tỉnh cho biết: Hiện nay, số lượng DL xuất qua biên giới giảm đi. Điều này cũng đồng nghĩa với cảnh báo những cây thuốc của tỉnh đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Chi Cục kiểm lâm tỉnh cho biết, cây thuốc là loại lâm sản phụ và chiểu theo quy định hiện hành thì việc khai thác các loại lâm sản phụ thuộc phạm vi thẩm quyền của các chủ rừng; còn việc mua bán, xuất khẩu các loại lâm sản phụ trên địa bàn tỉnh về nguồn gốc cơ bản là hợp pháp, đều có xác nhận nguồn gốc và chủng loại, có nộp thuế tài nguyên theo quy định. Đối với lâm sản phụ thuộc loại cây quý hiếm cấm không được khai thác phục vụ mục đích thương mại quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ - CP của Chính phủ cho đến tháng 5/2010 Cao Bằng chưa phát hiện vụ nào được mua, bán vận chuyển qua biên giới. Còn việc khai thác và trao đổi tại địa phương gần như chưa quản lý thống kê được./.

.........

Nỗi thất vọng lớn của “người rừng” Hoàng Liên Sơn

Source: http://vtc.vn/394-361029/phong-su-kham-pha/noi-that-vong-lon-cua-nguoi-rung-hoang-lien-son.htm

Những người tư lợi

Đại ngàn Hoàng Liên Sơn có rất nhiều thuốc quý và bản thân ông Trần Ngọc Lâm phát hiện cả trăm cây thuốc vô cùng quý giá, trị nhiều loại trọng bệnh. Có những cây thuốc phải cả trăm năm mới cho thu hoạch, nếu khai thác mà không bảo tồn, thì sớm muộn cũng tuyệt chủng.


Ông Lâm từng có nhiều năm bôn ba Trung Quốc, lại chơi thân với Vàng Lù Pao, mà bố anh này là Vương Đức Tài, thiếu tướng quân y, rất giỏi về cây thuốc. Trao đổi, gặp gỡ ông Vương Đức Tài nhiều lần, nên ông rất hiểu cách làm thuốc, bảo tồn thuốc của người Trung Quốc.


Trong khi họ khai thác triệt để, mua với bất kỳ giá nào ở các nước xung quanh, thì họ lại ra sức bảo tồn, gieo trồng thuốc quý ở nước họ. Ông Lâm đã học được nhiều kinh nghiệm từ ngành dược liệu của Trung Quốc.

Cách đây mấy năm, có một vị GS-TS rất nổi tiếng trong ngành dược nước nhà dẫn sinh viên vào rừng Hoàng Liên thực tập và đã gặp ông Lâm khi ông đi lấy thuốc.

Nghĩ gặp được vị GS-TS có uy tín, ông Lâm đã dốc lòng tâm sự. Ông đã cung cấp cho vị này vô số loại thảo dược rất quý, chưa có trong từ điển dược học nước nhà. Vị GS-TS này mê tít.


Ông đã ở lại nhiều ngày trong lán giữa rừng với ông Lâm để nghiên cứu về các loại cây thuốc và tìm hiểu bí quyết ông Lâm sống được với căn bệnh ung thư phổi nhiều năm.


Mặc dù ông Lâm nhớ lời hứa với vị thiền sư Tây Tạng là sẽ không tiết lộ những cây thuốc quý với ai, nhưng nếu cung cấp thông tin để vị GS này nghiên cứu, từ đó có biện pháp bảo tổn thảo dược quý, giúp hàng triệu bệnh nhân nước nhà thì sẽ có ý nghĩa hơn so với lời hứa.

Vì thế, ông Lâm đã chỉ cho vị GS này khá nhiều loài thảo dược, trong đó có cây giảo cổ lam, một trong 7 loại thảo dược chính trong bài thuốc trị ung thư.

Ông này thấy cây giảo cổ lam như thấy vàng. Ông ta say mê nghiên cứu và hứa sẽ làm một dự án nhân rộng cây thuốc giảo cổ lam.


Tuy nhiên, trong một đêm trăng thanh vắng, cảnh đẹp miền sơn cước đến xiêu lòng, vị GS khả kính uống hơn quá chén đã nói thẳng: “Tôi sẽ xin dự án trồng cây giảo cổ lam trên này, mục đích là kiếm chút anh em mình chia nhau, chứ bảo tồn với chả bảo tàng, vườn thuốc vườn thiếc làm gì cho mệt. Tôi già rồi, đường sá xa xôi đi làm sao được”.


Nghe thế, ông Lâm im bặt, không hé răng một lời nào nữa về các loại cây thuốc quý trên núi Hoàng Liên Sơn.

Vị GS này, sau khi về Hà Nội đã viết tới mấy đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về cây giảo cổ lam. Rồi ông viết bài giới thiệu trên rất nhiều tờ báo, rồi các báo đổ xô ca ngợi vị GS-TS đã không quản ngại khó khăn, vất vả, lần mò trong rừng sâu, núi cao để phát hiện ra một cây thuốc quý hiếm nhất thế giới trị ung thư!

Rồi ông còn giới thiệu nhiều loại cây thuốc quý chưa từng được biết đến trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn trên các tờ báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu.


Nhưng rồi, các công trình này chả đi đến đâu, chả có dự án bảo tồn nào được thực hiện. Hậu quả thì nhãn tiền. Người Trung Quốc phát hiện Hoàng Liên Sơn có các cây thuốc quý, liền thuê đồng bào nhổ tận gốc, trốc tận rễ.

Sau đó, vị GS này chuyển giao công nghệ cho một doanh nghiệp để chế biến giảo cổ lam, quảng cáo rùm beng như thần dược chữa ung thư. Chỉ thời gian ngắn, doanh nghiệp này trở nên giàu có khủng khiếp. Họ thu mua giảo cổ lam với giá vài ngàn đồng 1 kg và bán cho người tiêu dùng với giá 2-4 triệu đồng 1 kg.

Có thời gian, nhờ vị GS, cùng doanh nghiệp này quảng cáo quá lời về giảo cổ lam, mà một cơ quan lớn dưới Hà Nội đã nhờ ông Lâm cung cấp giảo cổ lam với giá 200 ngàn đồng/kg, để họ bán về Hà Nội. Nếu cứ im ỉm chặt chém giảo cổ lam đem phơi, rồi đóng gói bán cho họ, ông Lâm sẽ giàu to.


Tuy nhiên, ông không muốn người dân cả nước bị lừa đảo. Ông Lâm đã gọi điện cho tôi, đề nghị viết bài vạch mặt vị GS khả kính kia, cùng các doanh nghiệp, đã móc túi không biết bao nhiêu bạc tỉ từ những bệnh nhân ung thư, vốn đã kiệt quệ về tiền bạc.

Theo ông Lâm, giảo cổ lam cũng là vị thuốc quý, nhưng nó không thể trị được ung thư nếu không sử dụng với nhiều loại thảo dược khác nữa. Điều đáng nói, là hiện các doanh nghiệp toàn thu mua giảo cổ lam 3 lá ở vùng núi đá thấp quanh Hòa Bình để bán cho người dân.

Là người hiểu rõ về giảo cổ lam, nên ông Lâm khẳng định giảo cổ lam có tới mười mấy loại. Chỉ có loại 7 lá và 9 lá, uống đắng khủng khiếp là giảo cổ lam thực sự, có tác dụng tốt, còn lại chỉ là họ hàng nhà giảo cổ lam, giá trị dược liệu rất kém.

Đúng như lời ông Lâm, hiện người Trung Quốc đang bán giảo cổ lam do họ nuôi trồng sang Việt Nam với giá rất rẻ, chỉ 30 ngàn đồng/kg khô. Thế là các doanh nghiệp của Việt Nam lại thu mua từ Trung Quốc, đóng gói, chế biến, rồi bán bạc triệu cho người tiêu dùng.

Đang thất vọng với vị GS. nọ, thì ông tổng giám đốc của một tập đoàn đông nam dược lớn nhất Việt
Nam tìm gặp ông Lâm. Nói tên vị này ra, thì phần lớn người dân Việt Nam đều biết đến, vì tính ông này thích khoa trương, xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông. Thấy ông Lâm biết nhiều cây thuốc quý, ông này đã mời ông Lâm làm phó giám đốc cho mình.

Nghĩ có sự vào cuộc của tập đoàn nổi tiếng, uy tín, thì cây thuốc quý sẽ được bảo tồn, nên ông Lâm gật đầu. Ông Lâm mang khát vọng sẽ triển khai trồng thuốc quý ra khắp núi non, có cơ hội giúp đỡ được nhiều người bệnh hơn.

Tuy nhiên, mấy lần đi theo vị này, ông Lâm thất vọng thực sự. Ông ta lên Lào Cai, vẽ ra dự án trồng cây… cứt lợn, tới vài trăm héc-ta. Rồi ông ta sang Sìn Hồ (Lai Châu) lập dự án trồng thuốc khắp mấy cánh rừng.

Thực ra, ông ta chỉ lập dự án rồi vay tiền ngân hàng đi làm việc khác. Những dự án này mấy năm vẫn nằm trên giấy, trong khi người dân mất hàng trăm ha đất sản xuất, dẫn đến kiện cáo rùm beng.


Hôm về tập đoàn này ở Sơn Tây, thấy nguyên liệu làm thuốc chất đống ngoài sân, ông Lâm xem xét và bảo ông tổng giám đốc kia: “Sao anh toàn tha củi ở rừng về chặt làm thuốc thế này?”. Vị tổng giám đốc nọ bảo: “Quan trọng đếch gì. Cứ cái gì uống vào thấy mát mẻ, dễ chịu là được. Uống thuốc đông y chủ yếu là uống niềm tin”.


Nghe vị giám đốc này nói vậy, ông Lâm chỉ thẳng vào mặt bảo: “Có mặt anh ở đây tôi nói thẳng, là trước sau anh cũng phá sản”. Nói xong, ông xách ba lô về Lào Cai. Những ngày sau, ông giám đốc kia gọi điện, ông Lâm tắt máy.


Và, tập đoàn đông nam dược kia đã phá sản thật.

600 lòai cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng: Cần phải làm gì? 

Mặc dù có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và kinh nghiệm sử dụng dược liệu làm thuốc từ xa xưa, nhưng hiện tại hệ thống bảo tồn, gìn giữ, xây dựng và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc mới phát hiện được gần 4.000 loài cây thuốc và nấm lớn được dùng làm thuốc. Nhưng trong số đó đa số các cây thuốc quý hiếm lại đang có nguy cơ tuyệt chủng; theo số liệu của cơ quan chức năng, trên 50% nguyên liệu dược liệu của nước ta nhập về từ nước ngoài... Đó là những thông tin được đưa ra tại Hội nghị

Các loài cây thuốc quý đang lụi tàn

PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, trong 20 năm qua mặc dù công tác bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc  đã thu được những kết quả khả quan như phát hiện 3.948 loài thực vật và nấm lớn dùng làm thuốc. Trên phạm vi toàn quốc hiện có 730 giống cây thuốc được bảo tồn, chuyển vị. Trong những năm qua, Bộ Y tế cũng đã phê duyệt một số đề tài khoa học về cây thuốc có nguồn gốc từ dược liệu để nghiên cứu, bào chế thuốc phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân như phát triển cây sâm Việt Nam, cây thanh hao hoa vàng, trinh nữ hoàng cung, tram gió ở vùng Đồng Tháp Mười... Tuy nhiên, một số loài cây thuốc quý có giá trị kinh tế và chữa bệnh cao như ngũ gia bì, vàng đắng, hoàng đằng, ba kích, kim tuyến, hoàng liên chân gà, sâm vũ điệp, hoàng tinh vòng, bình vôi... trước kia vẫn còn khá phong phú nhưng đến nay bị suy giảm nghiêm trọng hoặc đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Nguyên nhân là do chúng ta khai thác một cách ồ ạt, không có kế hoạch và chưa chú ý đến tái sinh, bảo vệ rừng làm nguồn cây thuốc ở Việt Nam bị tàn phá nhanh và cạn kiệt. Theo Viện Dược liệu, Bộ Y tế, hiện ở Việt Nam có khoảng 600 loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Những lý do trên đã khiến cho thuốc có nguồn gốc từ dược liệu hiện chỉ đứng khiêm nhường bên cạnh tân dược trên thị trường dược phẩm. DS. Nguyễn Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế cho biết, trong tổng số hơn 20.000 sản phẩm thuốc được cấp số đăng ký lưu hành trên thị trường Việt Nam đến thời điểm này chỉ có 2.040 sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, chiếm khoảng 10%. Theo đó, giá trị kinh tế của thuốc từ dược liệu đem lại cho ngành dược cũng chỉ chiếm khoảng 10% trên tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước.

Nhiều nguồn nguyên liệu, dược liệu khó kiểm soát

Liên quan đến vấn đề quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, tại hội nghị, DS. Nguyễn Văn Thanh cũng thẳng thắn thừa nhận, mặc dù cơ quan quản lý cũng như hệ thống kiểm nghiệm trong cả nước đã thường xuyên đẩy mạnh công tác tiền kiểm, hậu kiểm thị trường thuốc nói chung, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu nói riêng, nhưng do nguồn gốc, xuất xứ của nguyên liệu dược liệu "rất đa dạng", trong đó 53,5% dược liệu được nhập khẩu chủ yếu qua đường tiểu ngạch. Ngoài ra, còn có một khối lượng khá nhiều dược liệu nhập lậu vào Việt Nam chất lượng rất kém. Đơn cử như cơ quan kiểm nghiệm lấy mẫu của dược liệu hoàng kỳ đưa vào Việt Nam để phân tích, kiểm nghiệm thì phát hiện hoàng kỳ chỉ còn là dược liệu rác vì các tinh chất đã được chiết xuất cạn kiệt. Chính điều này đã khiến chất lượng thuốc có nguồn gốc dược liệu bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, DS. Thanh cũng cho biết mặc dù Bộ Y tế đã yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm phải dần đảm bảo tiêu chuẩn GMP (thực hành sản xuất thuốc tốt), song hiện tại trong số 300 cơ sở sản xuất thuốc có nguồn gốc từ dược liệu chỉ có 78 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn GMP, 200 tổ hợp sản xuất nhỏ lẻ còn lại chủ yếu tập trung ở phía Nam sẽ rất khó thực hiện được tiêu chuẩn này. Do đó, đã dẫn đến kết quả có khá nhiều mẫu thuốc có nguồn gốc từ dược liệu không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng (chiếm khoảng 10% trong tổng số gần 4.000 mẫu được lấy chủ yếu là do không đảm bảo về chỉ tiêu vi sinh, nấm mốc, độ nhiễm khuẩn...).

Cũng theo thông tin từ Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, gần đây cơ quan kiểm nghiệm đã liên tục phát hiện tình trạng thuốc tân dược ngụy tạo đông dược, nhất là từ các thuốc đông dược không rõ nguồn gốc, chưa được đăng ký khiến người tiêu dùng không hay biết mà vẫn vô tư sử dụng. Tuy nhiên, tình trạng này ngày một có dấu hiệu gia tăng, khiến cơ quan chức năng đã phải ra không ít quyết định đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc. Theo đó, các loại thuốc đông dược thường bị ngụy tạo tân dược bao gồm các nhóm: các hoạt chất có tác dụng tăng cường khả năng sinh lý (sidenafil và dẫn chất...), các thuốc hạ nhiệt giảm đau (paracetamol, aspirin...), các thuốc chống viêm steroid (dexamethason, prednisolon...) và phi steroid (diclofenac, ibuprofen, indometacin...), các thuốc kháng histamin (clorpheniramin...), các thuốc an thần gây ngủ (diazepam...). Các thuốc đông dược ngụy tạo tân dược bị cơ quan chức năng phát hiện là: Dân tộc cứu nhân vật, Giải biểu hoàn, Thận khí hoàn...

Nguồn: http://suckhoedoisong.vn/2009050805038955p61c89/can-phai-lam-gi.htm

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam