Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Nhà nông bao giờ đủ giống?

(Thời báo Kinh Doanh) - Không ai có thể phủ nhận về điều kiện phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, song có một thực tế đáng buồn là ngành nông nghiệp của chúng ta vẫn chỉ mạnh về lượng. Một trong những nguyên nhân là do sự yếu kém ngay từ con giống. 

Cách đây không lâu, Gs.Ts. Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho biết Việt Nam đang phải chi tới 500 triệu USD mỗi năm để nhập khẩu giống, trong đó 80% hạt giống lúa lai trong nước phải mua của nước ngoài. Ông cũng cảnh báo, Việt Nam còn phải lệ thuộc vào hạt giống nhập khẩu trong một thời gian dài nữa.

Lệ thuộc giống ngoại 

Tại Hội nghị tổng kết giống cây trồng vật nuôi vừa được Bộ NN&PTNT tổ chức mới đây, một lần nữa bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT “hâm nóng” vấn đề này khi đưa ra nhận định: Hệ thống sản xuất giống trong nước tuy nhiều nhưng năng lực hạn chế, về cơ bản còn chưa đáp ứng yêu cầu cho sản xuất hàng hóa trong nước, chưa nói tới mục tiêu “hướng mạnh” ra xuất khẩu như mục tiêu ngành đề ra. “Nhìn chung, các giống vật nuôi chính ở nước ta hiện nay chủ yếu có nguồn gốc nhập khẩu: giống gà trên 90%, giống lợn khoảng 74%, 21% số bò thịt được nhân ra từ phương pháp thụ tinh nhân tạo có nguồn gốc nhập khẩu từ Úc”, bà Hồng cho biết...

Thậm chí, trong chăn nuôi, người dân sử dụng giống thương phẩm làm đàn bố mẹ khá phổ biến: 70 - 75% với lợn, gần 60% với gà, 15,7% với thủy cầm. Trong thủy sản, các cơ sở nhân giống cá rô phi chỉ đáp ứng trên 70%; con giống nhuyễn thể đáp ứng được 50% nhu cầu thả nuôi. Đặc biệt, tại ĐBSCL - một trong những vựa lúa lớn nhất nước nhưng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần chỉ đạt 40% và ở Đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 60%, phần còn lại là do nhân dân tự sản xuất.

Ông Phạm Đồng Quảng, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định mặc dù Việt Nam tiếp cận các giống lúa lai từ những năm 1990 và đã cố gắng đầu tư nghiên cứu lúa lai nhưng chúng ta vẫn đi sau Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác. Hơn nữa, sản xuất giống lúa lai gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào thời tiết nên các DN ngại đầu tư. Chính vì thế, bên cạnh nghiên cứu và sản xuất trong nước thì Việt Nam vẫn phải nhập khẩu giống lúa lai để đáp ứng nhu cầu.

Trong khi đó, ông Hàng Phi Quang, Tổng giám đốc công ty CP Giống cây trồng miền Nam, thừa nhận sản phẩm của công ty lai tạo chưa tạo được đột phá trong nhóm sản phẩm bắp vàng, hạt giống rau thiếu nguồn gen tốt và phù hợp; trong khi thị phần của hai nhóm sản phẩm này đang do các công ty nước ngoài chi phối. “Cùng với đó, chi phí đầu tư cho nghiên cứu rất lớn, và ẩn chứa nhiều rủi ro, đối với một công ty cổ phần, mức độ đầu tư nghiên cứu luôn bị giới hạn vì phải cân đối với lợi nhuận của các nhà đầu tư và thu nhập của người lao động”, ông Quang cho biết.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Việt - Úc, chia sẻ dù Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu tôm, song chúng ta lại không thể tự chủ về nguồn tôm và chất lượng. Bằng chứng từ năm 2008 đến nay là 6 năm nhưng ngành thủy sản nói chung cũng như tôm nói riêng chưa có giống mới nào được tạo ra. Thêm vào đó, các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày, còn cây dài ngày chưa được quan tâm đúng mức, một số đối tượng còn bỏ trống. Số lượng giống được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. 

Doanh nghiệp kêu khó 

Theo các DN, hoạt động nghiên cứu của các DN giống cây trồng vật nuôi đang khó trăm bề do không tạo ra được các dòng ưu tú, không tiếp cận kịp thời các công nghệ chọn tạo giống tiên tiến để lai tạo ra được các giống lai tốt phù hợp với nhu cầu thị trường, cạnh tranh được với các giống lai nhập nội… dẫn đến lai tạo giống của Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước trong khu vực.

Khi được hỏi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận chính sách về nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống chưa phát huy hết năng lực của toàn xã hội, đặc biệt là các DN và cá nhân, một số chính sách đã được ban hành nhưng triển khai thiếu đồng bộ. Quá trình chuyển giao giống mới vào sản xuất còn thiếu sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu với các đơn vị sản xuất giống, nhất là DN. Trên thực tế, DN là cầu nối tiếp nhận giống mới từ các viện nghiên cứu để sản xuất giống thương phẩm cung cấp cho sản xuất đại trà nhưng thời gian vừa qua liên kết này còn thiếu chặt chẽ.

Những bất cập ấy được ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Công ty giống cây trồng Thái Bình (TSC), cụ thể hóa bằng nhận định “Các DN sản xuất và cung ứng giống nước ngoài đang ào ạt vào Việt Nam. Họ có vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý và nguồn nhân lực tốt. Đặc biệt là khả năng tiếp thị của họ hơn hẳn các DN trong nước. Khi Việt Nam chưa có hệ thống chính sách đầy đủ để bảo hộ ngành giống trong nước, thì các DN nội thua trên sân nhà là chuyện dễ hiểu”.

Vì vậy, ông Báo cho rằng Bộ NN&PTNT cần quy định nếu giống thương phẩm đưa vào Việt Nam sau 3 năm mà không tổ chức sản xuất tại Việt Nam thì phải cấm nhập khẩu và lưu hành. Đồng thời, để ngành giống thật sự là động lực phát triển nền nông nghiệp thì Nhà nước cũng phải giúp các DN và các tác giả bảo vệ bản quyền giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa.

Có thể thấy nông nghiệp Việt Nam đã đến lúc cần phải thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt là khối nghiên cứu từ các DN. Mà theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, để thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành thì công tác giống không chỉ cần được tăng cường mà còn phải được điều chỉnh. Ngành trồng lúa thay vì tập trung chọn tạo giống có năng suất cao ngắn ngày thì tập trung vào những giống lúa có chất lượng thể hiện qua sự đánh giá của thị trường. “Chỉ những giống lúa có đặc tính tốt, ổn định, được trồng với quy mô lớn thì mới tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng hình ảnh của một nước sản xuất lúa gạo chất lượng tốt, các DN mới có điều kiện xây dựng những thương hiệu bền vững”, Bộ trưởng nói.

---------------------------------------- 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát 

Chúng tôi đang cố gắng để giảm tới mức tối thiểu việc nhập giống thương phẩm và yêu cầu các DN nhập khẩu giống thương phẩm sau 3 năm phải tổ chức sản xuất trong nước. Quy định này nhằm thúc đẩy các DN tổ chức sản xuất trong nước chủ động cung cấp giống kịp thời cho nông dân và bám sát yêu cầu trong nước. 

Ts. Trần Công Xuân, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam

Yếu kém nhất của chăn nuôi Việt Nam, theo tôi, chính là hệ thống giống, kể cả giống Trung ương lẫn địa phương, cứ mạnh ai nấy làm, cuối cùng chẳng giống nào ra giống nào. Việt Nam có nhiều giống nội quý, chất lượng cao nhưng năng suất thấp, các giống thuần hầu như không còn mà đã bị lai tạp, mức độ thuần khiết thấp. Để nâng cao năng suất, chất lượng con thương phẩm, Việt Nam buộc phải nhập giống gia cầm nước ngoài và nhập rất nhiều. Đáng tiếc là Việt Nam không đầu tư cho giống thuần, chỉ nhập con giống ông bà, bố mẹ, sau đó sản sinh ra thương phẩm là hết và lại phải nhập lại. 

Gs. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam 

Cần thẳng thắn thừa nhận, chúng ta đang thiếu những cán bộ chọn tạo giống xuất sắc và cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp này còn rất hạn chế. Trong suốt một thời gian dài, chúng ta chưa có cơ chế để đảm bảo cho cán bộ nghiên cứu giống có thể “sống khỏe” với công việc mình đang làm nên khó thu hút nhân tài vào lĩnh vực này. Thành ra, ngoài việc cố gắng tạo ra những giống cây như cam không hạt, vải thiều chín sớm…, các nhà chọn tạo giống còn phải chạy đôn chạy đáo làm thêm việc này việc nọ để kiếm sống.

 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam