Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Học Để Làm

Tình yêu cuộc sống, foodcrops.vn

alt

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cập nhật mỗi ngày
DẠY VÀ HỌC
Hồ Chí Minh trọn đời minh triết
Lên non thiêng Yên Tử
Minh triết sống thung dung phúc hậu
Phật giáo, Khoa học và Việt Nam
Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi

Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ngày xuân đọc Trạng Trình

Sấm Trạng Trình
Đào Duy Từ còn mãi với non sông

Nguyễn Du 250 năm nhìn lại
Nguyễn Du cuộc đời và thời thế 
Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác
  
Hoàng Diệu và Võ Nguyên Giáp
Vua Solomon và sách Khôn Ngoan 
Từ Mao Trạch Đông đến Tập Cận Bình

Norman Bourlaug, nhà khoa học xanh
Trịnh Công Sơn, tình yêu cuộc sống
Lương Định Của, con đường lúa gạo
Lương Định Của, thầy giáo nghề nông

Nguyễn Thị Trâm, người thầy lúa lai
Hồ Quang Cua, gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa, nhà khoa học xanh

Tô Đông Pha, thơ ngoài ngàn năm
Nguyễn Khắc Viện, tìm trong di sản
Nguyễn Hiến Lê học và viết
GS Trần Văn Khê người Thầy nhạc Việt
Hoàng Trung Trực dấu chân người lính
Linh Giang dòng sông quê hương
Đất nước Angkor nụ cười suy ngẫm

Bùi Huy Đáp, lúa xuân Việt Nam
Hữu Ngọc, từ điển văn hóa Việt
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Qua đèo chợt gặp mai đầu suối
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên
Thuyền độc mộc Am Ngọa Vân
Biển Đông và sông Mekong
Biển Đông vạn dặm 
1, 2 3
Dưới đáy đại dương là ngọc
Anh thích đưa em về Sa Pa
Nguyễn Khải, ngọc cho đời
Ngọt lịm một niềm thương
Nhà tôi có chim về làm tổ 
Trần Đăng Khoa trong tôi 
Tagore, đại thi hào Ấn Độ
Nắm chặt tay anh đi em !
Ngày mới Mạnh Hạo Nhiên
Đêm trắng và bình minh
Gốc mai vàng trước ngõ 
Tháng Bảy mưa Ngâu
Đến chốn thung dung
Bài đồng dao cho em
Nha Trang và Yersin
Năm tháng đó là em
Giấc mơ hạnh phúc
Lộc xuân cuộc đời
Ong và Hoa
Thơ cho con
Rừng Lipa
Trăng rằm
Đợi mưa
Đợi Anh
Gọi đôi

Hoa Lúa
Bà Đen

  
Thăm vùng sắn đất nước Angkor
  
30 tháng 4, những điều lắng đọng 
Ngày của Mẹ nhớ về Cha
 

Nhớ miền Đông
 
Những tản văn hay
 

Vườn Quốc gia ở Việt Nam
 

Sông Thương
 

Khen cho con mắt tinh đời
 
Sholokhov sông Đông êm đềm
Góc thư giản trí tuệ 
Đọc “Tony buổi sáng”
 

Bài học lịch sử Nga hoàng Nikolai II
 
Quà tặng cuộc sống
  
Nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga
   
Đến với bài thơ hay

Cao Xuân Huy nhà hiền triết Việt
Trả lời thư Luân Đôn
Tuyết Sơn phi hồ và Kim Dung
Khổng Tử dạy và học
Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong
Trăng rằm cổ tích
Quà tặng cuộc sống
Tiếng Anh cho em
Tô Đông Pha uống rượu ở Tây Hồ
Bảy Núi cổ tích giữa đời thường
Chuyện cổ tích cho người lớn
Hoa của Đất
Helen Keller người mù điếc huyền thoại
Di sản Engels
Pie Đại Đế
Mohamet và Đạo Hồi
Thạch Lam hạt ngọc đời nay
Gửi cho em thơ hay về biển

 

HỌC MỖI NGÀY

Tiếng Anh cho em (thường xuyên cập nhật)
Luyện nghe tiếng Anh qua video VOA
Phát âm chuẩn tiếng Anh
Học từ vựng tiếng Anh thông dụng
50 câu tiếng Anh thông dụng hàng ngày
tin mới nhất bấm vào đây

FOODCROPS.VN
http://foodcrops.vn

alt Kính chào sự dấn thân cho một sự nghiệp lớn

 


Hợp tác với tri thức Việt Kiều

Trung tâm công nghệ sinh học thành phố Hồ Chí Minh và nhu cầu hợp tác với tri thức Việt kiều
TS. Dương Hoa Xô
Giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học TP. HCM

Trung tâm Công nghệ Sinh học TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số: 161/2004/QĐ-UB ngày 02 tháng 7 năm 2004, của UBND TP. Hồ Chí Minh với các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đào tạo, sản xuất, thương mại hóa các sản phẩm về công nghệ sinh học thuộc các lĩnh vực: nông nghiệp, y tế và môi trường. Là một mô hình trọng điểm thực hiện một cách đồng bộ từ nghiên cứu đến thử nghiệm, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm Công nghệ Sinh học với quy mô lớn không chỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh mà cả khu vực. Việc hình thành Trung tâm Công nghệ Sinh học đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích kết hợp nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo về công nghệ sinh học theo tinh thần chỉ đạo của Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

Định hướng hoạt động

- Nghiên cứu ứng dụng: Trong giai đọan đầu, cùng với việc xây dựng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, họat động của Trung tâm tập trung vào công tác nghiên cứu ứng dụng. Ưu tiên cho nghiên cứu đưa vào sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ cho nông nghiệp do chi phí đầu tư thấp. Trong lĩnh vực y tế, ưu tiên ứng dụng các công nghệ sắp hết hạn hay đã hết hạn bản quyền để đưa vào sản xuất tại trung tâm hay hợp tác với các đơn vị kinh doanh khác. Hiện nay, một số sản phẩm về dược sinh học như Insuline, Interferon, một số vacxin tái tổ hợp… đã và đang hết hạn bản quyền. Việc sản xuất mang tính thừa kế các công nghệ đó, chúng ta không phải trả tiền bản quyền, giảm bớt được chi phí khá lớn trong giá thành, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho Việt nam.

- Đào tạo và hợp tác quốc tế: Nhiệm vụ đào tạo một lực lượng đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao về Công nghệ Sinh học được đặt lên hàng đầu. Trung tâm phải là nơi tập trung các chuyên gia, cán bộ khoa học giỏi trong lĩnh vực Công nghệ Sinh học ứng dụng. Việc đào tạo đội ngũ sẽ được gắn liền với nghiên cứu ứng dụng, với sản xuất tại chỗ, phục vụ cho từng công đoạn sản xuất. Mục tiêu đề ra sau năm 2010 trở đi, khi Trung tâm đã định hình và đi vào hoạt động hiệu quả, hàng năm có thể tiếp nhận sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Mở rộng quan hệ quốc tế với các viện trường, hiệp hội của các nước có nền công nghệ sinh học phát triển để tiếp nhận thông tin, chuyển giao công nghệ và phối hợp nghiên cứu, đào tạo nhân lực.

- Sản xuất: là một phần họat động của Trung tâm. Trung tâm sẽ đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất và đóng gói một số sản phẩm dựơc sinh học với công nghệ được chuyển giao từ trong nước hoặc ngòai nước. Nhà máy sẽ xây dựng trên tiêu chuẩn GMP với độ an toàn cấp 2. Dây chuyền hoàn chỉnh để sản xuất từ khâu giữ giống, nhân giống, lên men, chuẩn bị môi trường, thu hoạch, chiết tách, tinh chế các sản phẩm protein có hoạt tính. Ngoài ra, sẽ xây dựng các xưởng sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Về cây trồng, sẽ có một bộ phận trồng thử nghiệm cây chuyển nạp gene, sản xuất cây giống sạch bệnh ở quy mô lớn.

- Kinh doanh: Mô hình phát triển của Trung tâm dự kiến sẽ phát triển mạnh bộ phận kinh doanh, thương mại hóa sản phẩm nhằm đưa nhanh các sản phẩm sinh học ra thị trường trong nước và xuất khẩu. Lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh sẽ được tái đầu tư, phục vụ cho việc mở rộng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và sản xuất.

Nhu cầu đào tạo, hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ:

Đối với Việt Nam, việc phát triển công nghệ sinh học là lĩnh vực mới, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm, lực lượng cán bộ khoa học giỏi, trình độ cao trong lĩnh vực này còn thiếu rất nhiều. Chưa kể việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, việc đào tạo đội ngũ còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, cùng với chủ trương của Chính phủ về triển khai Chương trình phát triển công nghệ sinh học đến năm 2010 – 2020 thì việc xây dựng chính sách thu hút chất xám, các trí thức Việt kiều làm việc hợp tác trong lĩnh vực này là rất cần thiết và hiệu quả.

Theo chủ trương của Thành phố Hồ Chí Minh, dự án xây dựng Trung tâm Công nghệ Sinh học sẽ được xây dựng trên khuôn viên 23 ha với tổng kinh phí đầu tư khỏang 100 triệu USD, với nguồn kinh phí đầu tư chủ yếu từ ngân sách Thành phố. Nếu dự án được đầu tư đồng bộ và đầy đủ thì số lượng cán bộ khoa học làm việc cho Trung tâm sẽ cần từ 300 – 400 người, trong đó lực lượng cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ trở lên chiếm 50%.

Việc đào tạo cán bộ trở nên cấp bách, tuy nhiên giải pháp gửi đi đào tạo chỉ có hiệu quả khi :

- Chúng ta phải có đủ nguồn kinh phí để gửi đi đào tạo ở các nứơc có trình độ cao về công nghệ sinh học.

- Thời gian đào tạo thạc sĩ – 2 năm, tiến sĩ – 4 năm nhưng các cán bộ được đào tạo này chưa có kinh nghiệm nhiều, vẫn cần phải có các nhà khoa học đầu đàn hướng dẫn.

Một giải pháp khả thi nhưng cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước đó là mời gọi các nhà khoa học, trí thức Việt kiều về làm việc lâu dài cho Trung tâm. Nhu cầu của Trung tâm cần có sự hợp tác và làm việc của các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu, tham gia đào tạo ( thực hành ), tham gia về lĩnh vực chuyển giao công nghệ và vận hành trong dây chuyền sản xuất về công nghệ sinh học.

Hiện nay, Trung tâm đang ký hợp đồng với 01 trí thức Việt kiều – TS. Nguyễn Quốc Bình dạng chuyên gia làm việc dài hạn, tòan phần - hợp đồng với thời hạn 5 năm.

Từ thực tế họat động của Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố, Để sự hợp tác có hiệu quả, theo chúng tôi phải có các yếu tố sau đây:

- Trung tâm thực sự là đơn vị có nhu cầu về hợp tác với các nhà khoa học, các trí thức Việt kiều giỏi trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Việc hợp tác này cả trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

- Trung tâm phải có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất và môi trường họat động phù hợp với ngành nghề chuyên môn mà trí thức Việt kiều đang có.

- Ban lãnh đạo đơn vị, nơi mà có trí thức Việt kiều làm việc phải thực sự là cởi mở, hợp tác và công tâm tạo điều kiện cho các nhà khoa học làm việc.

- Chế độ tiền lương, mặc dù không thể bằng như ở ngoài nước, tuy nhiên cũng phải có ưu tiên để đảm bảo điều kiện làm việc và ăn ở của nhà khoa học đó. Ngòai ra, cũng cần có tạo điều kiện để nhà khoa học có thể dễ dàng tham gia vào các họat động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế: tham gia hội thảo, hội nghị, trao đổi khoa học, hợp tác nghiên cứu.

- Về hình thức làm việc của các nhà khoa học, trí thức Việt kiều:

+ Hình thức chuyên gia: cố vấn, trưởng một bộ phận kỹ thuât, có thể tham gia trong Ban lãnh đạo một đơn vị, nhưng không làm trưởng.

+ Làm việc theo hợp đồng chuyên gia ngắn hạn: tùy theo từng dự án và nội dung hợp tác.

+ Làm việc theo hợp đồng lâu dài ( 5 năm ) bán thời gian hoặc tòan phần.

Kiến nghị:

- Đối với Chính phủ: nhanh chóng ban hành các văn bản, chính sách để cụ thể hóa chế độ đãi ngộ và khuyến khích sự hợp tác trí thức Việt kiều.

- Đối với Thành phố: là nơi tập trung các chất xám từ nhiều nguồn, trong đó lực lượng khoa học, trí thức Việt kiều. Do đó Thành phố cần mạnh dạn đề xuất các quy định cụ thể trên cơ sở chủ trương chung của Nhà nước, tạo điều kiện cho các đơn vị thực sự đang có nhu cầu hợp tác với trí thức Việt kiều dễ dàng triển khai.

Source: http://niemtin.free.fr/trungtamsinhhoc.htm

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Người Việt cần áp dụng nền khoa học thống kê của thế giới

FOODCROPS. Một  nền khoa học bền vững và tiên tiến của đất nước sẽ là sự giao hòa của con người và máy móc mà số liệu được biểu đạt qua bảng biểu, hình ảnh và những con số. Khoa học thống kê biểu đạt trên truyền thông phải trở thành công cụ thường dùng,  phải thường có được trên các trang sách báo truyền hình và được giải thích sâu rộng vào các tầng lớp người dân . Phải nắm được nền khoa học trên nhưng con số chính xác mới tránh được những giới hạn mơ hồ khái quát từ suy luận và phỏng đóan. Người Việt cần đó thế giới của những con số và hình ảnh được diễn đạt thường xuyên hơn trên truyền thông đại chúng. Có được thống kê đại chúng sẽ có được chính xác những phản hổi cho những ưu khuyết điểm trên con đường đổi mới. Có thể đưa được thông tin ngắn nhất đến đại chúng thì INFOGRAPHIC sẽ ngành học hiện đại, thành  công cụ thực sự hấp dẫn và quan trọng.

alt 

Những đóng góp quan trọng của người Việt trong ngành khoa học thống kê thế giới 
GSTS Nguyễn Văn Tuấn

Nói đến hai chữ “thống kê” có lẽ nhiều người nghĩ ngay đến những hoạt động mang tính “truyền thống” dưới hình thức như cân, đo, đong, đếm. Ngày xưa ở Âu châu, giới vua chúa, tu sĩ và các gia đình hoàng tộc sử dụng thống kê như là một công cụ quản lý tài sản, đất đai, nhân sự và dân số. Trong xã hội hiện đại, chính quyền cũng sử dụng thống kê như là một phương tiện quản lý kinh tế - xã hội. Bất cứ chính quyền nào cũng có các cơ quan thống kê chuyên thu thập và xử lý các thông tin về dân số, giáo dục, tình hình phát triển kinh tế, v.v… Nhà nước dựa vào những thông tin đó để vạch ra chính sách. Không có thông tin thống kê, nhà nước như người mù và điếc. Chính vì thế mà Lenin từng ví von rằng thống kê là tai, là mắt của nhà nước.

Khoa học thống kê

Nhưng bộ môn thống kê mà tôi muốn bàn ở đây không phải là các hoạt động truyền thống như mô tả trên, mà là khoa học thống kê (statistical science), tức là một bộ môn khoa học thực nghiệm: phát triển giả thiết khoa học, tiến hành thí nghiệm, phân tích dữ liệu, và diễn dịch dữ liệu. Có người thường nghĩ rằng thống kê là một công cụ của khoa học, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm đó không chính xác, vì trong thực tế, nhà thống kê học không chỉ là người đơn thuần làm phân tích dữ liệu, mà là một nhà khoa học, một nhà suy nghĩ (“thinker”) về nghiên cứu khoa học.

Khoa học thống kê đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, một vai trò không thể thiếu được trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm như y khoa, sinh học, nông nghiệp, hóa học, và ngay cả xã hội học. Thí nghiệm dựa vào các phương pháp thống kê học có thể cung cấp cho khoa học những câu trả lời khách quan nhất cho những vấn đề khó khăn nhất.

Làm sao chúng ta biết phẫu thuật A có hiệu quả tốt hơn phẫu thuật B? Làm sao chúng ta biết aspirin có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân? Trong số 25 ngàn gen trong cơ thể con người, gen nào có khả năng gây ra ung thư, tiểu đường, loãng xương? Làm sao chúng ta biết một giống lúa mới có sản lượng cao hơn giống lúa cũ? Làm sao chúng ta biết được quá trình học vấn ở cấp phổ thông có ảnh hưởng đến kết quả học tập ở bậc đại học? Tại sao trẻ học sinh tiểu học ở nông thôn hay bỏ học? Làm sao chúng ta biết những đặc tính nào của cà phê được người tiêu thụ ưa chuộng, và có sự khác biệt về sở thích giữa nam và nữ hay không? Một số du khách vào Việt Nam có xu hướng “một đi không trở lại”, vậy yếu tố nào đã làm cho họ có xu hướng đó? Làm sao chúng ta biết người dân ủng hộ chính sách A mà không là chính sách B? Vân vân và vân vân. Đó là những vấn đề mà thống kê học có thể cung cấp câu trả lời khách quan và đáng tin cậy nhất.

Chẳng hạn như vấn đề bệnh teo cơ delta (có khi gọi là bệnh “chim sệ cánh”) mà ngành y tế nước ta đang đương đầu hiện nay. Cho đến nay dù đã xảy ra hơn 2000 trường hợp trên toàn quốc, mà các chuyên gia vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân hay các yếu tố nguy cơ nào gây nên bệnh! Chính vì không có dữ liệu trong tay, cho nên có khá nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành đề xuất nhiều yếu tố nguy cơ dựa vào những phát biểu cá nhân và chung chung như “theo ý kiến của tôi”, hay “qua kinh nghiệm 50 năm hành nghề của tôi”, hay “tôi nghĩ rằng”. Nhưng trong khoa học, không có cái gọi là “theo ý kiến của tôi” hay “theo kinh nghiệm của tôi”, vì khoa học dựa vào dữ liệu thực tế được quan sát và đo lường chính xác (hay ít ra là khá chính xác) để phát hiện một yếu tố nguy cơ cho bệnh tật, hay nói chung là để phát biểu một định đề. Và, để có những dữ liệu đó, nhà khoa học phải tiến hành thí nghiệm.

Một thí nghiệm khoa học được bắt đầu bằng một ý tưởng, một giả thiết, và để thử nghiệm giả thiết đó, một qui trình khảo sát phải được tiến hành theo các bước chung như: thiết kế, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, và diễn dịch ý nghĩa của dữ liệu. Mỗi một bước trong qui trình đó đều có sự cống hiến quan trọng của thống kê học. Những câu hỏi then chốt đặt ra là: phải thiết kế một công trình thí nghiệm như thế nào, cần bao nhiêu bệnh nhân, có cần nhóm đối chứng (tức không bị bệnh) hay không, phương pháp thu thập dữ liệu như thế nào, phải đo lường cái gì, phân tích dữ liệu ra sao, v.v…Đó là “địa hạt” hoạt động của khoa học thống kê.

Những vấn đề trên chẳng những mang tính khoa học, mà còn mang tính đạo đức khoa học. Nếu không giải quyết thỏa đáng, có thể làm cho công trình nghiên cứu trở nên vô dụng và như thế nhà nghiên cứu có tội với bệnh nhân và tình nguyện viên.

Một trong những khía cạnh cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu là xác định số lượng đối tượng hay bệnh nhân cần thiết để khảo sát. Một công trình nghiên cứu nếu không có đủ bệnh nhân hay tình nguyện viên, thì dữ liệu thu thập được sẽ không có giá trị khoa học cao. Ngược lại, nếu công trình nghiên cứu tuyển dụng quá nhiều bệnh nhân hơn số cần thiết, chẳng những gây ra phiền hà (có khi nguy hiểm) cho bệnh nhân một cách không cần thiết. Trong cả hai trường hợp, nhà nghiên cứu vi phạm đạo đức khoa học, và trong trường hợp nghiên cứu y khoa, đó là một vi phạm y đức. Do đó, hoạt động của khoa học thống kê không chỉ giới hạn trong các vấn đề khoa học, mà còn bảo vệ một khía cạnh của đạo đức khoa học.

Phân tích thống kê là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong các công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm. Một công trình nghiên cứu khoa học, cho dù có tốn kém và quan trọng cỡ nào, nếu không được phân tích đúng phương pháp sẽ không bao giờ có cơ hội được xuất hiện trong các tập san khoa học. Ngày nay, chỉ cần nhìn qua tất cả các tập san nghiên cứu khoa học trên thế giới, hầu như bất cứ bài báo y học nào cũng có phần “Statistical Analysis” (Phân tích thống kê), nơi mà tác giả phải mô tả cẩn thận phương pháp phân tích, tính toán như thế nào, và giải thích ngắn gọn tại sao sử dụng những phương pháp đó để hàm ý “bảo kê” hay tăng trọng lượng khoa học cho những phát biểu trong bài báo. Các tập san y học có uy tín càng cao yêu cầu về phân tích thống kê càng nặng. Không có phần phân tích thống kê, bài báo không thể xem là một “bài báo khoa học”. Không có phân tích thống kê, công trình nghiên cứu chưa được xem là hoàn tất.

Trong khoa học thống kê, có hai trường phái “cạnh tranh” song song với nhau, đó là trường phái tần số (frequentist school) và trường phái Bayes (Bayesian school). Phần lớn các phương pháp thống kê đang sử dụng ngày nay được phát triển từ trường phái tần số, nhưng hiện nay, trường phái Bayes đang trên đà “chinh phục” khoa học bằng một suy nghĩ “mới” về khoa học và suy luận khoa học. Phương pháp thống kê thuộc trường phái tần số thường đơn giản hơn các phương pháp thuộc trường phái Bayes. Có người từng ví von rằng những ai làm thống kê theo trường phái Bayes là những người thiên tài!

Để hiểu sự khác biệt cơ bản giữa hai trường phái này, có lẽ cần phải nói đôi qua vài dòng về triết lý khoa học thống kê bằng một ví dụ về nghiên cứu y khoa. Để biết hai thuật điều trị có hiệu quả giống nhau hay không, nhà nghiên cứu phải thu thập dữ liệu trong hai nhóm bệnh nhân (một nhóm được điều trị bằng phương pháp A, và một nhóm được điều trị bằng phương pháp B). Trường phái tần số đặt câu hỏi rằng “nếu hai thuật điều trị có hiệu quả như nhau, xác suất mà dữ liệu quan sát là bao nhiêu”, nhưng trường phái Bayes hỏi khác: “Với dữ liệu quan sát được, xác suất mà thuật điều trị A có hiệu quả cao hơn thuật điều trị B là bao nhiêu”. Tuy hai cách hỏi thoạt đầu mới đọc qua thì chẳng có gì khác nhau, nhưng suy nghĩ kỹ chúng ta sẽ thấy đó là sự khác biệt mang tính triết lý khoa học và ý nghĩa của nó rất quan trọng. Đối với người bác sĩ (hay nhà khoa học nói chung), suy luận theo trường phái Bayes là rất tự nhiên, rất hợp với thực tế. Trong y khoa lâm sàng, người bác sĩ phải sử dụng kết quả xét nghiệm để phán đoán bệnh nhân mắc hay không mắc ung thư (cũng giống như trong nghiên cứu khoa học, chúng ta phải sử dụng số liệu để suy luận về khả năng của một giả thiết).

Cống hiến của người Việt

Trong những người Việt ở nước ngoài làm khoa học, số nhà khoa học thống kê cũng không nhiều, nếu không muốn nói là “đếm đầu ngón tay”. Và họ cũng là những nhà khoa học “trầm lặng”, bởi vì những công trình nghiên cứu của họ khó có thể trở thành một bản tin, một câu chuyện trên báo chí hay hệ thống truyền thông đại chúng. Phát triển một phương pháp xử lý số liệu, tuy có thể có ảnh hưởng cơ bản đến tất cả các ngành khoa học hàng trăm năm, nhưng khó mà hấp dẫn so với một khám phá về gen liên quan đến bệnh tật.

Tuy số nhà khoa học thống kê gốc Việt trên thế giới không nhiều, nhưng họ có nhiều đóng góp quan trọng (có khi rất quan trọng) cho khoa học thống kê. Trong số những người có những cống hiến quan trọng đó, phải kể đến giáo sư Phạm Gia Thụ tại Đại học Moncton ở Canada (mà NVX có một bài viết về ông - "Đất nước đang thời kỳ xây dựng, đoàn kết, tiến lên") và giáo sư Huỳnh Huynh, thuộc Đại học South Carolina (Mỹ). Có lẽ nhiều người Việt Nam ở trong nước, kể cả giới khoa học, ít biết đến hai người này, nhưng trong giới thống kê học, họ là hai nhà khoa học có tiếng và có ảnh hưởng quan trọng. Ông Huỳnh Huynh thuộc trường phái tần số và ông Phạm Gia Thụ thuộc trường phái Bayes.

Như đề cập trong phần trên, trong các nghiên cứu khoa học, việc xác định số lượng đối tượng cần thiết cho công trình nghiên cứu cực kỳ quan trọng, vì nó chẳng những là vấn đề khoa học mà còn là vấn đề đạo đức khoa học. Đóng góp quan trọng của ông Phạm Gia Thụ trong lĩnh vực này xác định số lượng đối tượng nghiên cứu (hay xác định cỡ mẫu – sample size determination) theo lý thuyết của trường phái Bayes có thể nói là cơ bản. Trong một bài báo đăng trên tập san The Statistican năm 1992 (1) giáo sư Thụ đã mở ra một hướng đi cho lĩnh vực này. Tiếp tục công trình năm 1992, ông Thụ còn cho xuất bản một số công trình có giá trị trên các tập san có uy tín cao trong khoa học thống kê như Journal of the Royal Statistical Society (Anh), Statistics, Communications in Statistics-Theory and Methods, Mathematical and Computer Modelling, v.v… Kể từ khi công trình nghiên cứu năm 1992, cho đến nay không một bài báo khoa học nào về xác định cỡ mẫu theo trường phái Bayes mà không nhắc đến bài báo của tác giả “Pham-Gia T” (tức ông Phạm Gia Thụ).

Trong khoa học, có một công trình nghiên cứu chẳng những được nhiều đồng nghiệp trên thế giới tham khảo, mà còn được đồng nghiệp tham gia bình luận, khen ngợi là một vinh dự lớn. Công trình của giáo sư Thụ là một công trình như thế: được tham khảo rất nhiều lần, và được ban biên tập tập san mời đồng nghiệp trên thế giới tham gia bình luận. Cho đến nay, nếu một nhà khoa học nào mới bước vào nghiên cứu về lĩnh vực này mà “quên” không nhắc đến tác giả Pham-Gia thì chắc chắn sẽ bị người bình duyệt nhắc nhở ngay: đề nghị tác giả tham khảo công trình của Pham-Gia! Khi một công trình khoa học về lĩnh vực xác định cỡ mẫu theo trường phái Bayes, ông còn được ban biên tập tập san mời bình luận .

Trong nhiều nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu phải so sánh nhiều nhóm đối tượng, và mỗi nhóm thường được thẩm định (đo lường) nhiều lần. Chẳng hạn như trong nghiên cứu về hiệu quả của hai loại thuốc trong việc điều trị loãng xương, nhà nghiên cứu phải có hai nhóm bệnh nhân, mỗi bệnh nhân sẽ được mời tái khám nhiều lần để nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu. Trong thuật ngữ thống kê, người ta gọi đó là nghiên cứu dạng repeated measure design (thiết kế tái đo lường). Một trong những khó khăn trong việc phân tích các dữ liệu thu thập từ những nghiên cứu này là có nhiều giá trị cho mỗi bệnh nhân. Vào đầu thế kỉ 20, giáo sư Ronald Fisher, nhà thống kê học người Anh và cũng là “cha đẻ” của khoa học thống kê ứng dụng, có đề suất một phương pháp phân tích có tên là phân tích phương sai (analysis of variance) cho các thí nghiệm có nhiều nhóm đối tượng, mà sau này sách giáo khoa gọi là kiểm định F (lấy chữ cái của tên ông Fisher đặt tên cho phương pháp). Nhưng phương pháp của ông Fisher có vấn đề khi ứng dụng vào nghiên cứu tái đo lường vì sự tương quan giữa các giá trị đo lường trong mỗi đối tượng nghiên cứu không được điều chỉnh thỏa đáng. Vấn đề này kéo dài mãi đến năm 1970, đến khi có công trình của ông Huynh và đồng tác giả Feldt. Trong một bài báo chỉ 7 trang rất quan trọng đăng trên tập san số 1 của khoa học thống kê, Journal of the American Statistical Association hay JASA (3), hai ông Huynh và Feldt đã giải quyết vấn đề này bằng cách chỉ ra điều kiện cần thiết để kiểm định F có ý nghĩa thống kê.

Công trình của ông Huynh và Feldt gây một tiếng vang cực kỳ lớn trong khoa học thống kê, đến nỗi bất cứ phần mềm máy tính nào, bất cứ sách giáo khoa nào, bất cứ bài báo nào về phân tích phương sai tái đo lường mà không tham khảo hay nhắc đến bài báo năm 1970 của hai ông. Rất ít công trình nghiên cứu nào trong thống kê học lại có ảnh hưởng sâu rộng như thế, và cái tên Huynh và Feldt nay đã trở thành những cái tên quen thuộc: “The Huynh-Feldt epsilon” hay “Two-factorial Huynh-Feldt test”. Bạn đọc có thể gõ “Huynh-Feldt” trên Google sẽ thấy bao nhiêu bài báo nói về phương pháp này!

Đến năm 1976, hai ông Huynh và Feldt lại công bố một công trình nghiên cứu chỉ 13 trang gây thêm tiếng vang trong ngành mà sau này người ta hay nhắc đến với thuật ngữ “The Huynh-Feld correction” . Ngoài hai công trình tiêu biểu này, ông Huynh còn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thẩm định giáo dục bằng phân tích thống kê được công bố trên các tập san số 1 trong ngành tâm lý học và thống kê tâm lý học như Psychometrika, Psychological Bulletin, hay nghiên cứu thống kê giáo dục (Journal of Educational Statistics, Journal of Educational Measurement).

Khoa học thống kê ở Việt Nam

Trong vòng trên dưới 100 năm qua, thống kê học đã nhanh chóng tiến vào tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, và trong quá trình chinh phục, thống kê học tạo nên những bộ môn nghiên cứu mới. Các bộ môn đó có thể kể đến như biometry (sinh trắc học), technometrics (kỹ thuật trắc học), bioinformatics (thông tin học), psychometry (tâm lý trắc học), anthropometry (nhân trắc học), v.v… Thật vậy, khoa học thống kê đã chi phối đến tất cả các bộ môn khoa học, và ảnh hưởng của các nhà thống kê đã lan tràn đến mọi bộ môn khoa học với sự chinh phục nhanh chóng sánh ngang hàng với Attila, Mohammed, và loài bọ Colorado” (“Statisticians have already over-run every branch of science with a rapidity of conquest rivalled by Attila, Mohammed, and the Colorado beetle” (Maurice Kendall, 1942).

Tuy khoa học thống kê đã góp phần tạo nên diện mạo khoa học hiện đại ngày nay, nhưng ở nước ta, khoa học thống kê còn rất kém. Trong khi bất cứ đại học nào ở các nước tiên tiến đều có một bộ môn thống kê học, một bộ môn chuyên cung cấp tư vấn về thống kê học cho các nhà khoa học thực nghiệm, thì ở nước ta, các bộ môn khoa học vẫn còn giới hạn ở khoa toán, và chỉ xoay quanh một vài vấn đề căn bản thống kê.

Sự “lạc hậu” về khoa học thống kê ở nước ta đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến khoa học nước nhà. Vì các bộ môn khoa học thực nghiệm ở nước ta chưa được sự hỗ trợ từ khoa học thống kê, cho nên rất nhiều nghiên cứu khoa học ở nước ta chưa có chất lượng cao, và chưa thể công bố trên các tập san khoa học quốc tế. Người viết bài này biết rất nhiều trường hợp nhiều nghiên cứu từ Việt Nam chỉ vì không được thiết kế đúng phương pháp, hay việc phân tích dữ liệu chưa đúng tiêu chuẩn khoa học nên bị các tập san khoa học từ chối công bố. Hệ quả là sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Chỉ tính trong ngành y sinh học mà thôi, trong vòng 40 năm qua, số lượng bài báo từ các nhà khoa học ở Việt Nam chỉ trên dưới con số 300. Con số này cực kỳ khiêm tốn nếu so với 5.000 từ Thái Lan hay trên 20.000 từ Singapore.

Như đã đề cập phần trên, một công trình nghiên cứu dù có tốn bao nhiêu tiền, bao nhiêu năm tháng, mà không được thiết kế đúng và không được phân tích đúng phương pháp thì không thể xem là “khoa học”. Muốn thiết kế nghiên cứu đúng và phân tích dữ liệu đúng tiêu chuẩn, cần phải có sự đóng góp của khoa học thống kê và nhà thống kê học. Nhưng Việt Nam thiếu các nhà khoa học thống kê. Tuy nước ta có một viện toán học bề thế và có uy tín trên trường quốc tế, thì những môn học thiết thực nhất và căn bản nhất về thống kê ứng dụng lại nhờ các chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy ngắn hạn. Mấy năm gần đây, trong quá trình hội nhập với thế giới, chúng ta phát hiện rằng khoa học nước ta còn kém về thống kê ứng dụng, và các cơ quan tài trợ học bổng phải gửi sinh viên ta đi học ở nước ngoài, kể cả … Thái Lan!

Do đó, để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta, một chiến lược quan trọng cần đặt ra là phát triển khoa học thống kê trong các trường đại học. Chúng ta cần rất nhiều nhà khoa học thống kê trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào. Ở nước ta, để phát triển khoa học nói chung và công nghệ sinh học nói riêng, chúng ta cần một đội ngũ nhà khoa học thống kê hơn là cần một đội ngũ nhà toán học. Người viết bài này tin rằng cùng với thế mạnh của toán học Việt Nam hiện nay, đội ngũ các nhà khoa học thống kê gốc Việt ở nước ngoài có thể và có khả năng đóng góp một phần công sức cho chiến lược phát triển khoa học nước nhà.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Gỡ nút thắt cho nông nghiệp bằng công nghệ

FOODCROPS. Đâu là mục tiêu ngắn hạn, đâu là mục tiêu dài hạn! Phản hồi và thay đổi phải được liên tục để nhanh chóng đưa ra những quyết sách và phướng hướng điều chỉnh giải quyết quanh từng khâu, từng khu vực, và từng bộ phận. Lấy sản phẩm làm mục tiêu số lượng,  kiểm định sản phẩm làm mục tiêu chất lượng, đổi mới sản phẩm làm mục tiêu của công nghệ. Hợp tác công nghệ, đổi mới tư duy trong khoa học nông nghiệp cần bắt kịp sự thay đổi nhanh của thời đại kỹ thuật số hiện nay. Đối với nông nghiệp, cần có sự dịch chuyển liên tục của lớp lớp con người theo quyết sách thông minh được phối hợp hết lòng từ nhà, nước, nhà quản lý,  tổng công trình sư và những nhà nghiên cứu .  Tối ưu hóa tòan cục sẽ là nút gỡ cho nông nghiệp bằng công nghệ.

alt

Gỡ nút thắt cho nông nghiệp bằng công nghệ
Trung Dũng – Ngọc Tùng, SGTT

Nền nông nghiệp luôn có vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước. Thế nhưng ngành này vẫn chưa có sức bật cụ thể, chưa được đầu tư thích đáng, quyết liệt cho hạ tầng, kỹ thuật… vì vậy nông sản vẫn mất giá khi bước vào sân chơi toàn cầu. Khi nền kinh tế đi xuống, người ta mới giật mình nhận ra vai trò nông nghiệp trong ổn định kinh tế.

Do nhận thấy yêu cầu khai phá của công nghệ với nền nông nghiệp Việt Nam là đòi hỏi bức bách, trang Khoa học đã tổ chức Bàn tròn cuối năm để quy tụ một số nhà quản lý, chuyên gia khoa học và doanh nhân nông nghiệp để nghe ý kiến gợi mở. Trong đó, sự vào cuộc của các đơn vị tư nhân trong việc đầu tư vào công nghệ nông nghiệp là xu hướng cần thúc đẩy.
 
Ông Trần Phước Dũng
Trưởng ban quản lý khu Nông nghiệp công nghệ cao


Tiềm năng lớn, chỉ chờ chính sách


Là quốc gia nông nghiệp, nhưng tiềm năng và thế mạnh của nông nghiệp Việt Nam đến nay vẫn chưa được khai thác hết, có thể kết luận là do trình độ công nghệ sản xuất. Việt Nam xuất khẩu dẫn đầu thế giới về gạo nhưng chỉ là về số lượng. Mang danh nước nông nghiệp nhưng mình thua nhiều nước hàng hai, ba chục năm… Thời gian mình phát triển theo chiều rộng quá dài, bởi tài nguyên mình còn nhiều, cứ muốn tăng sản lượng là chỉ cần mở rộng diện tích, thêm nhân công. Bây giờ diện tích đất sản xuất ngày càng giảm, thì bắt buộc trên một đơn vị diện tích đó phải cho năng suất cao hơn, với hàm lượng khoa học kỹ thuật lớn hơn. Hiện nay mình cũng đang phát triển theo hướng đem tri thức nông nghiệp về cho người làm nông nghiệp.

Các nhà đầu tư được kêu gọi vào đây sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Bản thân họ cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sẽ xây dựng thương hiệu, huấn luyện đào tạo chuyển giao giống ra bên ngoài, và chính họ tổ chức thu mua sản phẩm bên ngoài vào, để hỗ trợ những người làm lĩnh vực nông nghiệp về tiêu thụ sản phẩm.

Cái khó hiện nay là sản phẩm nông nghiệp truyền thống và sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao không khác nhau nhiều về hình dáng, màu sắc nhưng chất lượng và nguy hại thì ẩn bên trong, không phân biệt được bằng mắt thường.

Tiềm năng của Việt Nam lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi. Về lâu về dài nếu có chính sách nông nghiệp đúng đắn, bằng công nghệ nước ta sẽ thu hẹp khoảng cách với các nước tiên tiến. Tương lai nền nông nghiệp phụ thuộc chính sách đối với người làm nông nghiệp, để họ thấy được họ có tương lai, có vị trí trong xã hội và thu nhập đủ nuôi sống gia đình và bản thân.

PGS.TS Nguyễn Minh Châu,
Viện trưởng viện Cây ăn quả miền Nam


Nên học Nhật Bản

 Nông nghiệp luôn được coi là nền tảng của kinh tế, tuy nhiên trong thời gian qua thế mạnh này chưa được khai thác hết. Phương thức sản xuất truyền thống đã mang lại nhiều hiệu quả, nhưng trong bối cảnh hiện nay, cần nhanh nhạy thay đổi bằng phương thức sản xuất hiện đại, đầu tư công nghệ, khoa học. Đài Loan, Nhật… là những nước có nền nông nghiệp tiên tiến, nếu theo mô hình của họ, nông nghiệp mình sẽ tiến nhanh hơn. Đặc biệt là mô hình Nhật Bản trong việc ra quyết sách và chỉ đạo xây dựng phát triển nông nghiệp. Thái Lan và Đài Loan đều học Nhật Bản mà có được nền nông nghiệp hiện nay.

 Ở ta, “sản xuất gần như là thuyền không lái”, như lời của một lãnh đạo sở nông nghiệp và phát triển nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long. Nếu xác định mình là nhạc trưởng thì phải hành động quyết liệt hơn. Một tín hiệu đáng mừng là bắt đầu có sự tham gia của các công ty tư nhân trong việc đầu tư tiền bạc và công nghệ cho nền nông nghiệp, từ khâu giống đến tư vấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế, bảo quản… Đó là mô hình hay, Nhà nước nên kêu gọi và tạo điều kiện để tư nhân tham gia sản xuất nông nghiệp hàng hoá nhiều hơn.

TS Võ Văn Sự
Nguyên trưởng bộ môn động vật quý hiếm và đa dạng sinh học viện Chăn nuôi quốc gia


Lấy nông dân làm đối tượng đầu tư

Ngành chăn nuôi của nước ta đến nay phải thừa nhận có những bước tiến đáng kể, số lượng và chủng loại vật nuôi ngày càng đa dạng, cung cấp đủ thực phẩm cho nhu cầu xã hội. Xu thế tất yếu từ nhu cầu tiêu dùng và thị trường mở rộng ra sân chơi WTO, cũng là yếu tố thúc đẩy các công ty ngành này cải tiến hoặc thay đổi trang thiết bị, công nghệ mới với mục tiêu tạo ra nhiều mặt hàng, tăng giá trị cạnh tranh của sản phẩm. Thị trường rộng mở với nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức, như nghịch lý lượng gia súc, gia cầm trong nước cung ứng đủ cho thị trường nhưng những lô hàng nội tạng, chân gà, cánh gà… phế phẩm vẫn được nhập vào và cạnh tranh với hàng Việt ngay trên thị trường trong nước.

Ngành chăn nuôi trong tương lai phải đột phá bằng công nghệ với việc đầu tư lai tạo tuyển chọn giống mới, phát triển các ngành phụ trợ, trang bị trang thiết bị, dây chuyền hiện đại trong chế biến thực phẩm. Quy hoạch và chuyên môn hoá trong chăn nuôi để tránh tình trạng năm được, năm mất, kiểm soát dịch bệnh. Bên cạnh những chính sách cho ngành chăn nuôi phát triển, cần chú ý bảo vệ quyền lợi của người chăn nuôi, của những tư nhân, doanh nghiệp đầu tư cho ngành này. Cần bắt nguồn từ những quyết sách kịp thời của nhà quản lý, sự tìm tòi và mẫn cán của đội ngũ làm nghề để người nông dân là đối tượng được đầu tư và hưởng lợi.

PGS.TS Dương Văn Chín
Giám đốc trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp Định Thành (DT ARC)

Cầu nối hai chiều giữa các viện, trường với người nông dân

Thực tế cho thấy trong giai đoạn khủng hoảng, nông nghiệp trở thành vùng đệm giúp nền kinh tế, chính trị ổn định; do đó cần phát triển nông nghiệp dài hạn, trong đó cây lúa là cây quan trọng nhất. Nhiều doanh nghiệp đã bắt tay với nhà nông, đầu tư vật tư cho họ, sơ chế, bảo quản giúp họ… nhưng những công ty như vậy còn ít. Chất lượng gạo của ta vì thua Thái Lan, Ấn Độ nên dù xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, ngoại tệ thu về lại ít hơn. Để giải quyết điều đó, cần nhìn ra vai trò của khoa học công nghệ trong nông nghiệp, cần đầu tư dài hạn để nhà nông – nhà khoa học – doanh nghiệp bắt tay nhau cùng thực hiện.

Sự ra đời của DT ARC là nỗ lực của 20 năm, với những trăn trở ấy. Ở đây, chúng tôi xây dựng chiến lược mới là hướng về người nông dân, về lợi ích của họ. Chúng tôi xây dựng cánh đồng mẫu lớn, cung cấp các dịch vụ trọn gói từ sản xuất đến tiêu thụ. Ở những nước có nền nông nghiệp tiên tiến, các tập đoàn lớn có những viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu riêng. Ở đó, cam kết được đưa ra là kinh doanh gắn liền với phát triển xã hội, nghiên cứu những gì thiết thực cho xã hội. Theo cách làm đó, trước mắt là nông dân trồng lúa, thông qua việc phân phối lại lợi nhuận trong chuỗi giá trị hạt lúa – hạt gạo từ gieo trồng cho đến thu hoạch, thu mua, chế biến, tiêu dùng và xuất khẩu. Do vậy, chúng tôi là cầu nối hai chiều giữa các viện, trường trong nước và quốc tế với người nông dân Việt Nam. Nghiên cứu, thực nghiệm chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật có tính khả thi cao cho nông dân áp dụng, đồng thời thu thập thông tin về những khó khăn vướng mắc trong sản xuất của nông dân để phản ánh về cho các nhà khoa học tại các viện, trường.

GS.TS Nguyễn Thị Lang,
Nghiên cứu viên cao cấp viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long


Cần nhiều hơn sự vào cuộc của đơn vị tư nhân

Tác động của khoa học với nông nghiệp, dễ nhận thấy nhất là khâu làm giống. Từ năm 2000 đến nay, bằng sự đầu tư khoa học, đã có một cuộc đột phá lớn trong việc tạo giống lúa: 80% là giống trong nước tự làm. Song song với các giống mới, năng suất lúa được nâng lên, thời gian trồng được rút ngắn. Đó là những thành tựu do khoa học công nghệ mang lại, bằng các chính sách đầu tư của Nhà nước. Tuy nhiên, việc đầu tư ấy chưa được hoàn thiện, bởi nhà khoa học vẫn đứng biệt lập, chỉ đơn thuần công việc chuyên môn. Thương hiệu cho cây lúa đến nay cũng đang bỏ ngỏ, chưa ai làm. Khi đã xuất khẩu gạo, hoàn toàn có thể xuất khẩu giống nhưng hiện nay, giống mới làm ra chỉ quanh quẩn ở địa phương. Việc đầu tư cho nông nghiệp vẫn chủ yếu do Nhà nước, chỉ một số ít đơn vị tư nhân tham gia. Nhưng, từ những phác thảo ấy cũng dễ nhận ra sự nhạy bén của tư nhân trong việc nhìn nhận thời cuộc khi tiếp cận nông nghiệp bằng đầu tư khoa học công nghệ từ khâu chọn giống đến thành phẩm, một chuỗi liên kết khép kín và hiệu quả. Đặc biệt, nhiều đơn vị tư nhân kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp những năm gần đây bắt đầu tìm đến nhà khoa học, đặt hàng làm ra các giống theo yêu cầu thị trường. Tuy nhiên, sẽ bền vững hơn khi các công ty tuyển dụng nhà nghiên cứu về hẳn đơn vị mình, như một cách gầy dựng thương hiệu.

Một nền nông nghiệp ổn định, bền vững không thể thiếu công nghệ, thiếu sự đầu tư của Nhà nước và ngày càng cần nhiều hơn sự vào cuộc của các đơn vị tư nhân với những công nghệ chọn giống mới, công nghệ sau thu hoạch mới, với các ngành phụ trợ phát triển tương xứng từ bảo vệ thực vật đến tiếp thị cho sản phẩm, được dẫn dắt bởi nguồn nhân lực có trình độ tương thích.

Ông Lê Văn Chính
(nông dân chuyên sản xuất và cung ứng lúa giống ở xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh)


Kết quả nghiên cứu thường được lưu ở... thư viện

Nông nghiệp cổ điển xem giống là thứ yếu, nhưng nông nghiệp hiện nay xem yếu tố giống quyết định hiệu quả sản xuất. Hàm lượng khoa học trong việc làm ra một loại giống lúa mới chiếm đến 80%. Tất cả đều phải đi từ ứng dụng kết quả nghiên cứu từ các nhà khoa học.

Trong khi đó, phần lớn kết quả nghiên cứu thường dừng lại ở mức bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa học, sau đó lưu tại thư viện của đơn vị chủ quản – một phần bởi thiếu chi phí triển khai ứng dụng. Cùng lúc này, những nhu cầu cần thiết của nông dân chỉ do chính họ tìm tòi, sáng chế, cải tiến… mà kết quả là sự tốn kém khá lớn nhưng cuối cùng sản phẩm sử dụng được lại là hàng nhập khẩu – cái máy liên hợp gặt đập trong thu hoạch lúa là một minh chứng.

Ông Phạm Văn Quắn
(nuôi tôm ở xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh)


Khoa học công nghệ trong nuôi tôm biển chưa theo kịp thực tiễn

So với nghề trồng lúa, nghề nuôi tôm còn rất non trẻ, nhưng tạo nên không ít “kỳ tích” cho kinh tế hộ cũng như kinh tế chung của cả Tây Nam bộ. Nuôi tôm phát triển mạnh nhờ khoa học ứng dụng, biến những vùng nuôi nhử (nhử tôm tự nhiên, không thả tôm giống) thành vùng nuôi công nghiệp, mật độ cao cho sản lượng lớn. Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng, khoa học công nghệ trong nuôi tôm biển chưa theo kịp thực tiễn!

Mô hình tôm công nghiệp mật độ cao lần lượt bộc lộ nhược điểm gây tổn hại môi trường. Rồi hai năm qua, dịch bệnh trên tôm khiến không ít tỉ phú tôm trở thành những người mang nợ. Dịch bệnh trên tôm đã được các nhà khoa học phát hiện cách nay ba năm, nhưng tới giờ phút này, qua bao nhiêu đợt nghiên cứu, thử nghiệm, tổ chức hội thảo… ngành thuỷ sản vẫn không thể xác định chính xác nguyên nhân khiến tôm chết. Thông tin khoa học duy nhất còn lại của người nuôi tôm là các chương trình trên... sóng truyền hình.

Ông Trần Thanh Liêm
(nông dân trồng dưa hấu tạo hình, phường Bình Thuỷ, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ)


Cầm tay chỉ việc cho nông dân

Trong quá trình sản xuất dưa hấu tạo hình, hàm lượng khoa học ứng dụng chiếm 50%, kinh nghiệm người sản xuất chiếm 30%, 20% còn lại phụ thuộc điều kiện tự nhiên.

 Theo tôi, các kết quả nghiên cứu khoa học chỉ nên công bố và triển khai rộng rãi khi nó là kết quả thực nghiệm tại thực địa sản xuất đại trà, chứ không nên công bố những kết quả nghiên cứu trong điều kiện “lý tưởng” của phòng thí nghiệm, bởi các kết quả này khi ứng dụng sẽ rất khó để nông dân thành công ở môi trường tự nhiên. Hoạt động chuyển giao công nghệ cũng thường thiếu cặn kẽ – theo khả năng tiếp thu của nông dân. Tỉnh An Giang thành công trong sản xuất lúa nhờ chương trình cùng nông dân ra đồng, qua đó cán bộ chuyển giao khoa học kỹ thuật cùng ăn, cùng làm – nói theo ngôn ngữ bình dân là “cầm tay chỉ việc” cho nông dân.

Ông Trương Văn Bảy
(chủ nhiệm hợp tác xã Mỹ Thành, xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang)


Thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về thị trường

Nông dân không thể thành công nếu không có sự tiếp sức của nhà khoa học thông qua các kết quả nghiên cứu ứng dụng. Khoa học thuỷ lợi đã biến vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên trũng phèn, hoang hoá… thành vùng sản xuất lúa ba vụ. Từ những loại phân đơn, nông dân được hỗ trợ tận tay bằng các loại phân hỗn hợp phù hợp cho từng loại cây, từng điều kiện thổ nhưỡng... mà nếu nông dân tự phối trộn sẽ khó đạt tỷ lệ chính xác. Yêu cầu giống tới thời điểm này đã là yếu tố tiên quyết, khẳng định hiệu quả cho nông dân sản xuất lúa. Sau thời kỳ thiếu đói, lúa mùa được thay thế dần bằng các giống lúa ngắn ngày, giống cao sản… Sau mỗi dịch rầy nâu, hàng loạt giống mới có khả năng kháng rầy và hiện tại là nhóm giống chất lượng cao, chịu hạn, mặn… Tuy nhiên, sự tương tác giữa khoa học và thực tiễn cần bổ trợ cho nhau thiết thực hơn, bởi trong thực tế còn không ít kết quả nghiên cứu khoa học không thể ứng dụng vì thiếu tính thực tiễn, gây lãng phí.

Trong khi đó, nông dân rất cần những nghiên cứu chuyên sâu về thị trường cho từng loại nông sản để san sẻ gánh nặng đầu ra; nên có những nghiên cứu cải thiện các hoạt động, điều chỉnh chính sách thương mại cho nông sản. Thực tế trên thị trường hiện có quá nhiều những nhà thương mại trung gian yếu năng lực tài chính, không đủ chữ tín… khiến không ít khi nông dân bị lật lọng, bỏ rơi. Khi sản phẩm làm ra không bán được, không hiệu quả, thì các ứng dụng khoa học chất chứa trong sản phẩm đó chẳng đem lại lợi ích gì, thậm chí làm nông dân chán nản.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Lần đầu chụp được ảnh DNA

Lần đầu chụp được ảnh DNA
Theo Congnghesinhhoc24h.

59 năm sau khi James Watson và Francis Crick suy luận được cấu trúc xoắn kép của ADN, một nhà khoa học lần đầu tiên trên thế giới đã trực tiếp chụp được ảnh "chiếc thang vặn xoắn" của sự sống
 
Bức ảnh chụp trực tiếp đầu tiên về ADN do Enzo Di Fabrizio, giáo sư vật lý đến từ trường Đại học Magna Graecia ở Catanzaro, Italia, thực hiện bằng cách sử dụng một kính hiển vi điện tử.

Trước đây, các nhà khoa học chỉ có thể quan sát cấu trúc của ADN một cách gián tiếp. Dạng chuỗi xoắn kép của ADN lần đầu tiên được khám phá nhờ một kỹ thuật có tên gọi tinh thể học X-quang, trong đó hình dạng của một vật liệu được tái dựng dựa vào cách thức bật nảy của các tia X-quang sau khi chúng va chạm với vật liệu đó.

Theo trang Live Science, giáo sư Di Fabrizio và các cộng sự đã lên kế hoạch để buộc ADN phải lộ diện trực tiếp. Họ đã xây dựng một mô hình kích thước nano, bao gồm vô số cột trụ silicon chống thấm nước cực tốt. Khi nhóm nghiên cứu đổ thêm một dung dịch chứa các chuỗi ADN vào mô hình này, nước nhanh chóng bốc hơi và để lại mỗi ADN nằm trải dài như các dây kéo căng giữa các đỉnh núi bằng phẳng tí hon.

Nhóm nghiên cứu sau đó chiếu các chùm electron qua các lỗ trong chiếc giường silicon và chụp ảnh có độ phân giải cao về các phân tử được chiếu sáng.
 
Những bức ảnh của nhóm Di Fabrizio thực sự cho thấy một dải gồm vô số phân tử ADN đan xen nhau, trái ngược với việc chỉ gồm 2 chuỗi bổ sung cho nhau. Điều này là do năng lượng của các electron được sử dụng đủ để tiêu diệt một chuỗi xoắn đôi bị cô lập hoặc một chuỗi trong bộ xoắn kép.

Tuy nhiên, phát biểu trên trang New Scientist, giáo sư Di Fabrizio nhận định, nhờ sử dụng thiết bị nhạy cảm hơn và các electron năng lượng thấp hơn, các nhà khoa học có thể sớm chụp được ảnh toàn vẹn của những chuỗi xoắn kép ADN.
 
Các phân tử ADN hay Axít Deoxyribo Nucleic mang thông tin di truyền mã hóa cho hoạt động sinh trưởng và phát triển của mọi sinh vật sống. Thành quả của nhóm nghiên cứu do Di Fabrizio đứng đầu sẽ cho phép các nhà khoa học quan sát các tương tác sống động giữa ADN và một số thành phần thiết yếu khác của sự sống, chẳng hạn như ARN.
 

 Kết quả công trình của giáo sư Di Fabrizio đã được đăng tải trên tạp chí NanoLetters.

FOODCRỌPS. TIN KHOA HỌC

Máy giải trình tự DNA thế hệ mới và cuộc đua công nghệ các máy giải trình tự để bàn

alt 

Máy giải trình tự DNA thế hệ mới và cuộc đua công nghệ các máy giải trình tự để bàn
Theo Congnghesinhhoc24

Các máy giải trình tự của mỗi công ty sử dụng một nguyên lý khác nhau. llumina phân biệt A, C, T hay G dựa vào các ánh sáng màu khác nhau của chúng. Máy Lon Proton của Life Technologies phát hiện dựa trên sự sai khác pH rất nhỏ giữa các base, và Oxford Nanopore phát hiện dựa trên sự gián đoạn điện khi mỗi phân tử DNA đơn đi qua một lỗ kích thước nano ...

Hiện tại cuộc đua sản xuất máy giải trình tự gene để bàn đang tiếp diễn khi Life Technologies đã xuất xưởng máy giải trình tự để bàn mới vào thứ năm vừa rồi. Trong khi đó, llumina và Oxford Nanoporehứa hẹ sẽ tung ra loạt máy mới có khả  năng giải trình tự bộ gen người trong thời gian chưa tới một ngày vào cuối năm nay.

Greg Lucier, CEO của tập đoàn  Life Technologies  cho biết hơn 100 đơn đặt hàng đã được yêu cầu đối với máy loại mới hiệu Ion Proton, trị giá $150,000 với quy trình chạy 4 giờ sử dụng chip $1000 dùng được một lần. Theo đó, một con chip có thể dùng để giải được trình tự 60-80 triệu đoạn DNA có kích thước lên tới 200 bases/đoạn, đủ để bao phủ vài lần các exon của người (phần gene mã hóa protein). Chip thế hệ thứ hai có khả năng giải trình tự đầy đủ bộ gen người dự kiến sẽ được đưa ra trong năm tới.

Các máy giải trình tự của mỗi công ty sử dụng một nguyên lý khác nhau. llumina phân biệt A, C, T hay G dựa vào các ánh sáng màu khác nhau của chúng. Máy Ion Proton của Life Technologies phát hiện dựa trên sự sai khác pH rất nhỏ giữa các base, và Oxford Nanopore phát hiện dựa trên sự gián đoạn điện khi mỗi phân tử DNA đơn đi qua một lỗ kích thước nano. Mặc dù Nanopore hứa hẹn sẽ là máy nhanh và rẻ nhất nhưng nó lại có tỉ lệ lỗi cao hơn máy của llumina và Ion Torrent. Nanopore hơn nữa cũng chưa công bố thiết bị hay dữ liệu của họ nên các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết chắc công nghệ này sẽ hoạt động như thế nào.

Phương pháp light-base hiện tại đang chiếm ưu thế với hầu hết các dữ liệu giải trình tự trên thế giới được thực hiện bởi máy lluminia.Tại hội nghị với các chuyên gia phân tích chứng khoán đầu tuần này, CEO của llunina, Jay Flatley đã trả lời các câu hỏi về khả năng cắt giảm quỹ khoa học liên bang (70% thị phần là học thuật) nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh.

Tuy nhiên Lucier của Life đã nhanh chóng chỉ ra rằng máy giải trình tự để bàn của công ty ông hiệu PGM Torrent được tung ra năm ngoái đã bán vượt máy của llunina là MiSeq (độ phủ và độ chính xác của các máy này cũng như Pacific Biosciences gần đây đã được so sánh trên BMC Genomics). Đặc biệt, Lucier mong đợi các máy này sẽ được sử dụng nhiều hơn trong lâm sàng thay vì chỉ tập trung trong giải trình tự. Nhưng cạnh tranh trong lĩnh vực lâm sàng sẽ khốc liệt hơn. Hiện giờ cả Life và llunina đều đã tung ra các sản phẩm sử dụng trong các mẫu lâm sàng và đang xin FDA chấp thuận các thiết bị của họ trong năm tới.

FOODCROPS . HOC MOI NGAY

Cuộc cách mạng lúa gạo

Cuộc cách mạng lúa gạo

Lào đã đạt được một phép lạ nhỏ. Vài năm gần đây, quốc gia Đông Nam Á này đã đủ khả năng nuôi sống người dân của mình bằng chính hạt gạo tự mình sản xuất.

Tuy nhiên, câu chuyện thành công này đang ẩn chứa nguy cơ. Bounthanh  Nhaphatna  đang ngồi dưới bóng cây me yếu ớt. Bàn tay cô bị chai sạn. Mặc dù vậy, cô ta đan những cái giỏ bằng tre quá khéo léo đến nổi đôi mắt quan sát của cô ta khá nhanh. “Loại cây gì tôi thích trồng nhất?” không có câu trả lời:  Hom Sang Thong!”  phía sau cô ấy, tại một thung lũng, bạn có thể nhìn thấy những cánh đồng lúa Ban Hai Tai, một ngôi làng nhỏ ở Lào, phía Bắc của thủ đô  Vientian.  Cô Bounthanh Nhanphatna  cũng canh tác 2 ha dưới thung lũng này, một phần trồng giống lúa huyết rồng, tất cả diện tích còn lại trồng giống lúa  Hom Sang Thong. “Giống này cho năng suất cao nhất” Người phụ nữ  50 tuổi biết tất cả  về lúa: Cô ấy đã trồng lúa cả cuộc đời.    

Tải file

Source: http://iasvn.org

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

 

Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của Đài Loan và Trung Quốc: kinh nghiệm đối với Việt Nam

alt

Bắt đầu thập kỷ 50, kinh tế Đài Loan đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, liên tục và bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển đổi ổn định từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đưa Đài Loan thành nước công nghiệp mới của châu á.

Trong số các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, Trung Quốc là một thành công điển hình. Cũng như Việt Nam, Trung Quốc bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế từ khu vực nông nghiệp và nông thôn sau đó lan sang các lĩnh vực ngân hàng, thương mại.

Xin giới thiệu bài viết của tác giả Phạm Quang Diệu về kinh nghiệm phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của Đài Loan và Trung Quốc được đăng tải trên Agroinfo.

Tải File

Source: http://iasvn.org

Hội nghị toàn cầu lần hai về nông nghiệp tại Việt Nam

alt

Hội nghị toàn cầu lần thứ hai về Nông nghiệp, An Ninh Lương thực và Thay đổi khí hậu, tại VIỆT NAM

Hội nghị toàn cầu lần thứ hai về nông nghiệp, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu được Việt Nam và Hà Lan đồng tổ chức với sự giúp đỡ của FAO và Ngân Hàng Thế Giới, sẽ diễn ra vào ngày 3-7 tháng Chín, 2012 tại Hà Nội, Việt Nam. Với chủ đề “Hunger for Action” (Đói rồi Hành Động), hội nghị sẽ góp phần vào đàm phán sắp tới của UN về thay đổi khí hậu được tổ chức tại Doha, Qatar vào tháng 11, 2012. Hội nghị là cơ hội duy nhất để phác họa từ sự kiện Rio+20 về Phát Triển Bền Vững và những kết quả từ hội nghị này. Muốn biết thếm chi tiết xem

http://ccafs.cgiar.org/events/03/sep/2012/2nd-global-conference-agriculture-food-security-and-climate-change.
hoặc http://www.afcconference.com/.

Source: http://vaas.vn/nnews_details.asp?newsID=NEW_120509084908

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam