Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lúa

Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư

Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư

Các nhà khoa học Trung Quốc đã lai tạo thành công loại gạo tím biến đổi gene giàu chất chống oxy hóa phục vụ việc chữa trị bệnh ung thư và các bệnh khác.

Hãng tin Tân hoa xã ngày 2/7 dẫn kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Molecular Plant cho biết lợi ích đối với sức khỏe con người của loại gạo mới này là do nó giàu hợp chất mầu hữu cơ tự nhiên anthocyanin.

Hợp chất này nằm trong nhóm sắc tố để tạo nên chất chống oxy hóa và nhiều màu sắc khác nhau cho hoa mầu và cây trái.

Theo công trình nghiên cứu trên, việc ăn nhiều gạo giàu hợp chất anthocyanin mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ của con người, làm giảm các nguy cơ của một số căn bệnh ung thư, tim mạch, tiểu đường và các căn bệnh mãn tính khác.

Loại hợp chất này có ở nhiều loại hoa quả và rau có màu tím, màu đỏ và màu xanh.

Trước đây, các nỗ lực sử dụng kỹ thuật biến đổi gene để sản xuất hợp chất anthocyanin trong gạo đã thất bại do quá trình trao đổi chất diễn ra hết sức phức tạp.

Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu thuộc Đại học Nông nghiệp Nam Trung Hoa và các cộng sự lần đầu tiên xác định được các gene có liên quan đến việc tạo thành hợp chất anthocyanin trong các loại gạo khác nhau.

Các nhà khoa học đã phát triển cái gọi là "hệ thống sử dụng hoán đổi gene năng suất cao" và sử dụng 8 gene cần thiết để sản xuất hợp chất anthocyanin trong các loại gạo, với mong đợi tạo ra loại gạo tím giàu hợp chất màu hữu cơ tự nhiên và hoạt tính cao chống oxy hóa.

Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu nhấn mạnh "đây là can thiệp đầu tiên của kỹ thuật biến đổi gien trong chuỗi phản ứng phức hợp ở thực vật." Kế hoạch của các nhà khoa học trong tương lai là có thể sử dụng kỹ thuật trên để sản xuất các chất dinh dưỡng quan trọng và các tiền chất sản xuất thuốc chữa bệnh.

Hiện, các nhà nghiên cứu đang có kế hoạch kiểm chứng độ an toàn của gạo tím mới trong quá trình trao đổi sinh hóa ở thức ăn và cố gắng dùng kỹ thuật biến đổi gene để tổng hợp chất anthocyanin trong các loại cây trồng khác như các loại ngũ cốc có màu tím./.

 

 

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc, lúa là cây trồng lớn thứ 3 trên thế acheter viagra giới sau lúa mì và bắp. Nó là thực phẩm chính ở các khu vực rộng lớn trên thế giới và với nhu cầu đang tăng lên và mối nguy hiểm đang hiện hữu của biến đổi khí hậu, khả năng hạn hán gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo là một mối bận tâm ngày càng tăng. Trung tâm Khoa học tài nguyên bền vững (CSRS) của RIKEN đang phát triển các chủng lúa chuyển gen mới kết hợp một gen từ cỏ thale cress (Arabidopsis thaliana) để giúp chúng kháng hạn tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu CSRS cho hay cây trồng có thể thích nghi với hạn hán bằng cách tạo ra các loại hóa chất có tên osmoprotectant vốn bao gồm nhiều dạng đường khác nhau. Bằng cách tăng nồng độ của các chất bảo vệ này trong tế bào, chúng có thể giữ nước tốt hơn.

Chìa khóa để sản sinh một loại đường bảo vệ có tên galactinol là enzyme Galactinol synthase (GolS). Làm việc với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) ở Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Quốc tế Nhật Bản (JIRCAS), Trung tâm CSRS đã đưa khả năng sản sinh GolS vào lúa bằng cách cắt ghép một gen từ loài cỏ kháng hạn-mặn thale cress.

“Gen Arabidopsis GolS2 lần đầu tiên được xác định bằng nghiên cứu cơ bản tại RIKEN. Sử dụng nó, chúng tôi có thể cải thiện sức kháng với sức ép lên quan đến hạn hán và tăng sản lượng hạt của lúa trong điều kiện ruộng khô. Đây là một trong những trường hợp hình mẫu tốt nhất mà kiến thức nghiên cứu cơ bản đã được áp dụng thành công hướng tới nghiên cứu giải pháp cho một vấn đề liên quan đến lương thực”, nhà nghiên cứu tại RIKEN Fuminori Takahashi cho biết.

Để sản xuất các chủng lúa mới này, nhóm bắt giống lúa châu Phi và Brazil và thông qua kỹ thuật cắt nối gen (gene splicing), họ có thể làm cho lúa biển hiện quá mức gen GolS2. Sau đó chúng trồng chủng lúa mới trong nhà kính dưới điều kiện có kiểm soát và kiểm tra các enzyme được cây trồng chuyển gen sản sinh và so sánh với một nhóm đối chứng không sửa đổi.

Sau đó nhóm kiểm tra cây trồng chuyển gen dưới các điều kiện hạn hán mô phỏng và phát hiện ra rằng lúa sửa đổi gen cho thấy lá ít xoăn hơn – một dấu hiệu cho thấy có sức ép hại hán. Cuối cùng lúa thử nghiệm được trồng và kiểm tra thực tế ở Cambodia và ở các khu vực và mùa khác nhau trong khoảng thời gian 3 năm. Trong mỗi trường hợp, lúa sửa đổi gen cho năng suất cao hơn, ít xoăn lá hơn, sản sinh nhiều sinh khối hơn, sinh sản tốt hơn, hàm lượng nước cao hơn và tạo ra nhiều chất diệp lục hơn thậm chí trong điều kiện hạn nhẹ đến hạn nặng.

“Giờ chúng tôi đang bắt đầu dự án cộng tác tiếp theo mà ở đó chúng tôi sẽ tạo ra giống lúa hữu ích mà không sử dụng công nghệ [sửa đổi gen]. Có thể mất 5 đến 10 năm để đạt được mục tiêu này nhưng chúng tôi phải tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu theo hướng đó vì hạn hán và biến đổi khí hậu có thể trở nên tồi tệ hơn trong tương lai”, Takahashi cho biết thêm

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

Các nhà khoa học tại Trung tâm Khoa học Tài nguyên Bền vững RIKEN (CSRS) đã phát triển các giống lúa chịu hạn trong các tình huống thực tế.

Được đăng tải trên tạp chí Công nghệ Sinh học Thực vật, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: cây lúa biến đổi gien với một gien từ cây Arabidopsis cho năng suất cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien khi phải chống chịu hạn hán tự nhiên. Nghiên cứu được thực hiện với sự cộng tác giữa các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) tại Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Khoa học Nông nghiệp Nhật Bản (JIRCAS) tại Nhật Bản.

Do lượng lúa gạo cần để giúp nuôi sống dân số toàn cầu tăng lên, nên hậu quả của việc giảm cây trồng do hạn hán đang trở nên nghiêm trọng hơn. Các nhà khoa học tại RIKEN và các cộng sự đã giải quyết vấn đề này bằng cách phát triển các giống lúa biến đổi gien có khả năng chịu hạn hơn.

Thông thường, cây trồng thích ứng với căng thẳng do hạn hán bằng cách tạo ra osmoprotectants - các phân tử giống như các loại đường hòa tan giúp nước không bị thoát ra ngoài lá. Galactinol synthase (GolS) là một enzyme cần thiết để tạo ra một trong những loại đường quan trọng này được gọi là galactinol. Trong các nghiên cứu trước đó, các nhà khoa học của RIKEN đã chỉ ra rằng cây Arabidopsis biểu hiện gien AtGolS2 để ứng phó với căng thẳng do hạn hán và mặn.

Trong nghiên cứu này, họ đã tạo ra một số dòng lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có biểu hiện gien này, và với các cộng sự từ CIAT và JIRCAS, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra xem cây lúa phát triển tốt như thế nào trong các điều kiện khác nhau của những năm khác nhau.

Kết quả rất khả quan. Thứ nhất, họ đã trồng nhiều giống lúa khác nhau trong điều kiện nhà kính và cho thấy lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có hàm lượng galactinol cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien. Tiếp theo, họ đã kiểm tra khả năng chịu hạn trong giai đoạn tăng trưởng của cây vì thời kỳ này thường trùng với thời gian diễn ra hạn hán. Sau ba tuần, các dòng biến đổi gien có lá mọc cao hơn, ít bị cuốn lá hơn - phản ứng thường thấy khi bị căng thẳng do hạn hán.

Khả năng chịu hạn tiếp theo được xác nhận vào giai đoạn tạo hạt ở ba cuộc thử nghiệm tại Colombia. Những thử nghiệm này diễn ra trong các mùa khác nhau và các địa điểm khác nhau. Tuy nhiên, các dòng biến đổi gien ở cả hai giống lúa đều cho năng suất và sinh khối lớn hơn, ít bị cuốn lá hơn và khả năng tạo hạt cao hơn so với lúa không biến đổi gien.

Cuối cùng, họ đã khảo nghiệm lúa biến đổi gien trong 3 năm ở các môi trường tự nhiên khác nhau. Một lần nữa, một số dòng biến đổi gien cho thấy năng suất hạt cao hơn trong điều kiện hạn hán nhẹ và nghiêm trọng.

 

Giống lúa mới có thể giúp nông dân định trước thời gian thu hoạch

Giống lúa mới có thể giúp nông dân định trước thời gian thu hoạch 

Một nhóm nhà khoa học người Nhật Bản tại Đại học Tokyo đã phát triển một giống lúa mới trổ bông trong vòng 40-45 ngày sau khi được phun một loại hóa chất thông thường, bán trên thị trường với tên gọi Routine hoặc Oryzemate, giúp phòng ngừa nhiễm bệnh đạo ôn.

Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, giống lúa mới sẽ trổ bông trong một khoảng thời gian nhất định sau khi được phun hóa chất thường được sử dụng để bảo vệ cây lúa khỏi bệnh nấm đã ra đời. Giống lúa mới này ngày nào đó có thể cho phép nông dân quyết định thời gian thu hoạch trừ khi thời tiết, nhiệt độ và các tác động khác ảnh hưởng đến việc gieo trồng.

Nhiệt độ, độ dài ngày và các yếu tố môi trường khác quyết định khi nào cây ra hoa, điều này gây khó khăn cho người nông dân trong việc kiểm soát thời gian thu hoạch. Mặc dù các nhà khoa học đã có thể can thiệp việc ra hoa của các loài thực vật có hoa nhỏ như Arabidopsis thaliana, song đến nay họ vẫn chưa thành công đối với cây lương thực.

Đầu tiên, các nhà khoa học tạo ra một giống lúa không trổ bông bằng cách thể hiện quá mức một gien (số lượng hạt, chiều cao cây và quyết định ngày trổ 7, Ghd7) ngăn chặn các gien ra hoa (gien chứa hooc môn kích thích nở hoa) kích thích ra hoa ở đầu cây trong điều kiện ngày ngắn. Sau đó, các nhà khoa học biến đổi gien hoóc-môn kích thích nở hoa Quyết định ngày trổ 3a (Hd3a) trong giống lúa không trổ bông sẽ được kích hoạt trong phản ứng với các hóa chất nhất định. Khi khảo nghiệm giống lúa này trong phòng thí nghiệm và trong chậu dưới điều kiện tự nhiên ở Tsukuba, thành phố cách Tokyo 70 km về phía bắc, thuộc tỉnh Ibaraki, các nhà nghiên cứu đã quan sát giống lúa mới trổ bông trong vòng 45 ngày sau khi sử dụng chất hóa học. Trong khảo nghiệm kéo dài hơn 2 năm, các nhà khoa học đã quan sát nhiều lần trổ bông sau khi phun thuốc.

Theo các nhà khoa học, sẽ có một số chất hoạt hóa - các vùng di truyền kích hoạt gien - sẽ làm cho Hd3a phản ứng với một số hóa chất nông nghiệp.

Thử thách tiếp theo đối với các nhà nghiên cứu là theo dõi những bông lúa mới trên ruộng và các điều kiện đồng ruộng khác nhau để nông dân một ngày nào đó có thể quyết định thời gian thu hoạch.

 

Tăng cường bảo vệ cho lúa mà không phải trả thêm chi phí

Tăng cường bảo vệ cho lúa mà không phải trả thêm chi phí 

Một cơ chế di truyền mới được xác định gần đây trên lúa có thể được sử dụng để duy trì khả năng kháng bệnh đạo ôn mà không làm giảm năng suất hạt.

Bệnh đạo ôn ở lúa là một bệnh nghiêm trọng do nấm gây ra, có thể hủy hoại cây lúa. Tuy nhiên, nhiều gien có tính kháng với mầm bệnh gây tổn hại đến năng suất của hạt gạo.

Trước đây, các nhà nghiên cứu đã xác định được một bộ gien mang tính kháng cao và bền vững đối với nấm. Ở đây, Yiwen Deng đã khám phá các gien này một cách chi tiết hơn và nhận thấy rằng PigmR đặc biệt hiệu quả trong việc mang lại tính kháng hoàn toàn với 50 biến thể gây bệnh đạo ôn ở lúa. Tuy nhiên, nếu PigmR được bộc lộ vào thời điểm tạo hạt, nó sẽ gây trở ngại cho sản xuất hạt và do đó làm giảm năng suất.

Họ nhận thấy rằng gien PigmS có cùng biểu hiện sẽ gây trở ngại cho các thuộc tính kháng của PigmR. Điều thú vị là, trong một dòng lúa, PigmR được phát hiện thấy sẽ bộc lộ hoàn toàn ở cây, trong khi biểu hiện của PigmS chỉ giới hạn đến các mô sinh sản, do đó hạn chế các thiệt hại cho hạt có chứa gien PigmR.

Ức chế vị trí cụ thể này mang lại cho cây trồng khả năng kháng bệnh đạo ôn trong thân và lá cây, mà không ảnh hưởng đến năng suất.

Các nhà nghiên cứu cũng xác định các axit amin đặc biệt có liên quan tới việc ngăn chặn chức năng của PigmR.

Tiến bộ này có thể giúp tăng cường bảo vệ cây lúa mà không làm thay đổi số lượng hạt gạo.

FOODCROPS.VN HỌC MỖI NGÀY

Lúa vẫn là chủ lực ở đồng bằng sông Cửu Long

Lúa vẫn là chủ lực ở đồng bằng sông Cửu Long

Tháng 9 vừa qua, Bộ NN-PTNT phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức liên tiếp các cuộc họp với lãnh đạo các tỉnh, ban ngành… có liên quan bàn về liên kết phát triển sản xuất nông nghiệp của các vùng ở ĐBSCL 

Đi từ bán đảo Cà Mau, tứ giác Long Xuyên đến vùng ven sông Tiền, sông Hậu. Vùng nào cũng có những đặc thù riêng về các loại cây ăn trái, các loại thủy sản và cây lúa. Tuy nhiên bàn đi tính lại cuối cùng cũng thấy cây lúa vẫn chiếm diện tích lớn không thể bỏ qua ở tất cả các vùng. 

Xét trên bình diện tổng thể thì ĐBSCL có diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu ha. Trừ diện tích mặt nước, đường giao thông, khu dân cư và rừng ngập mặn ra thì vẫn còn khoảng 1,9 triệu ha dành cho sản xuất nông nghiệp. Đại bộ phận là sử dụng để trồng lúa. 

Còn cây ăn trái các loại theo quy hoạch mới nhất cũng mới đạt con số 185.100ha. Nếu tính thực tế trong năm 2015 - 2016 thì diện tích trồng lúa vụ ĐX có đến 1.590.538ha, lúa hè thu 1.677.884ha, vụ TĐ 843.140ha và vụ mùa 225.238ha. Tính gộp cho cả vùng thì cả năm đã có 4.308.644ha trồng lúa, sản xuất được 25.901.087 tấn thóc. 

Và ai cũng biết trên 95% số lượng thóc xuất khẩu của cả nước cũng lấy từ nguồn thóc này. Hạt gạo Việt Nam đã góp phần tô đậm tên tuổi Việt Nam trên trường quốc tế cũng từ đây. Tuy vậy, khi so sánh với các cây, con khác thì hiệu quả kinh tế do cây lúa mang lại vẫn còn thấp. Người chuyên trồng lúa mà canh tác trên diện tích hẹp vẫn chỉ quanh quẩn ở mức đủ sống, khó trở nên giàu có. 

Chính vì vậy nhà nước cũng như các ban ngành ai cũng đồng tình chủ trương chuyển đổi một phần đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây khác, nuôi con khác có hiệu quả kinh tế hơn. Bà con trồng lúa cũng đều muốn như vậy. Và cứ thế, ở đâu, lúc nào bà con cũng nêu câu hỏi: "Trồng cây gì, nuôi con gì để có hiệu quả cao hơn cây lúa?". 

Và đến nay câu hỏi ấy vẫn chưa có câu trả lời thỏa mãn. Trong thực tế, nhiều năm trước, khi chủ trương không được chuyển đất lúa sang trồng cây khác có hiệu lực thì đã có không ít nông dân âm thầm bỏ lúa trồng cây khác (như vượt đất lúa trồng thanh long, trồng ổi Đài Loan hay các cây ăn trái khác). 

Điều đó có nghĩa là nông dân ta nhạy cảm lắm, chứ không chờ đến chủ trương mới chuyển đổi. Trên vùng đất ngập nước là quê hương cây lúa, nếu thay cây lúa chỉ có trồng rau muống, rau rút, rau đay, rau cần, sen, trồng đay lấy sợi thì các cây này mới sống được. 

Nhưng liệu sản phẩm làm ra có bán được không khi mọi người đều trồng các sản phẩm như vậy? Tuy nhiên, câu hỏi trồng cây gì trên đất ngập nước thay thế cây lúa mà có hiệu quả, sản phẩm bán ở đâu, có ổn định không thì các nhà khoa học, các nhà kinh tế, các vị chính khách hay các nhà doanh nghiệp cũng chưa có câu trả lời thì làm sao nông dân dám chuyển đổi. 

Nói là chuyển đổi những vùng trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi cây, con khác mà có thể thành công cũng là vùng đất một lúa rồi trồng 1 hay 2 vụ màu. Những vùng đất như vậy cũng đang được khai thác. Những cơ cấu một vụ lúa luân canh với bắp lai cũng chỉ có hiệu quả trên nền đất phù sa ngọt. 

Tuy nhiên cứ theo lối làm ăn manh mún và lao động thủ công thì giá thành cao vẫn không cạnh tranh được. Bài học này đâu có phải xa lạ. Ngay vùng đất đỏ Xuân Lộc, Đồng Nai rất thích hợp cho cây bắp mà vụ này vẫn rơi vào tình huống “bắp ngoại đè bẹp bắp nội”. Còn vùng khó khăn hơn mà cây lúa kém hiệu quả, nhưng muốn cây khác trồng có hiệu quả thì phải đầu tư thêm về thủy lợi hay xây dựng đồng ruộng, cải tạo đất và tổ chức lại sản xuất rồi có hệ thống thu mua sản phẩm với giá hợp lý thì mới có thể khai thác được. 

Còn nuôi trồng thủy sản nước ngọt ư? Ngần ấy diện tích cá da trơn mà còn gặp không ít trở ngại về thị trường thì ai dám khai thác thêm ở vùng đất nội đồng, bao quanh là những ruộng lúa. Bởi vậy mà cây lúa dù vẫn bị chê bai, hắt hủi, nhưng vẫn tự hào tỏa sáng trên những cánh đồng ngập nước. Bởi lẽ không trồng lúa thì biết trồng cây gì. Suy đi tính lại thì cây lúa vẫn là cây dễ trồng và rất ổn định ngay cả khi biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp. 

Trồng lúa chỉ cần đủ nước, cứ sạ giống và có chăm sóc là có thu hoạch. Bình thường thì mỗi vụ thu lợi ít nhất cũng được 10 triệu đồng/ha. Nếu biết áp dụng kỹ thuật hợp lý thì tiền lời thu được có thể 18 - 20 triệu. 

Và nếu vừa trúng mùa lại trúng giá thì lợi nhuận còn cao hơn. Bằng chứng là vụ HT 2016, gặp hạn - mặn kéo dài, thế mà 5 nông dân ở ấp Giồng Bền, xã Huyền Hội, huyện Càng Long, Trà Vinh đã tự nguyện tham gia mô hình sản xuất lúa thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Cty CP Phân bón Bình Điền tổ chức đã chứng minh rằng nếu sản xuất theo mức hiểu biết về kỹ thuật của bà con đã tích lũy được thì lợi nhuận thu lại được 14,4 triệu đồng/ha, tỷ lệ lợi nhuận đạt 46,5%. 

Còn nếu áp dụng kỹ thuật mới thì tiền lời thu được 18,5 triệu đồng/ha, dù giá bán thóc khô chỉ ở mức 5.000 đồng/kg (tỷ lệ lời là 54,4%). Còn trong vụ ĐX thì lợi nhuận mang lại do trồng lúa còn cao hơn (20 - 25 triệu đồng/ha). Trong lúc vùng trồng Ngô Lai ở Cò Nòi, Sơn La, năm nay do giá hạ thê thảm nên cũng chỉ thu lợi được 10.525.000 đồng/ha. Còn trên đất đỏ màu mỡ Xuân Lộc, Đồng nai, dù đạt 11 tấn ngô tươi cũng chỉ thu lời vẻn vẹn được 15 triệu đồng/ha. 

Trước tình huống chưa tìm được cây gì, con gì thay thế dần cho cây lúa để có lợi nhuận cao hơn, thì hành động và suy nghĩ đúng đắn và văn minh là tìm cách giúp nông dân nâng cao hiệu quả trồng lúa để tăng thu nhập và tăng lợi nhuận cho họ; giảm bớt tình trạng phê phán thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như hô khẩu hiệu suông làm nhụt ý chí của người trồng lúa.

Việt Nam - “chốn tổ” của cây lúa vươn tới nghề trồng lúa công nghệ cao

Việt Nam - “chốn tổ” của cây lúa vươn tới nghề trồng lúa công nghệ cao 

GS.TS. Nguyễn Văn Luật

FOOD CROPS. Việt Nam là một trong những “chốn tổ” của cây lúa. Việt Nam cũng là một trong những “cái nôi” của loài người. Điều này được chứng minh bằng rất nhiều chứng cứ, trước hết bằng những di chỉ khảo cổ học. Nền văn hóa hang động ngày một phát lộ nhiều hơn. Đấy là sự hiện hữu phong phú của những hạt thóc, vỏ trấu trong hang, những cây ăn củ từ xa xưa mọc quanh hang; những công cụ sản xuất bằng đá cũ, đá mới, bằng đồng, bằng sắt cổ xưa rải rắc và ẩn sâu trong lòng đất hay ở hang động. Bắt đầu từ thời đại đồ đá, vượn người ở Việt Nam sử dụng công cụ để sản xuất lúa khoai mà trở thành người Việt Nam cổ đại. Những chứng cứ trên ở những thời điểm nhất định thể hiện nền văn hóa trồng lúa. Cả quá trình lịch sử hoàn thiện nghề trồng lúa thể hiện nền văn minh trồng lúa, luôn phát triển lên những tầm cao mới.

Nông nghiệp Việt Nam đã có từ 10.000-12.000 năm trước đây, bắt đầu từ cây ăn củ và cây lúa. Trong thế kỷ 20, cây lúa Việt Nam đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học trong và ngòai nước ở các ngành khác nhau, như khảo cổ hoc, nhân chủng học, ngôn ngữ học, địa lý, di truyền, sinh lý thực vật, nông học v. v..

Trải qua hàng thiên niên kỷ, quá trình phát triển nền văn minh trồng lúa đã để lại những bằng chứng phong phú về các nền văn hóa kế tiếp nhau: nền văn hóa Sơn Vi và Hòa Bình, nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn..

Nền văn hóa phi vật thể xung quanh nghề trồng lúa ở Việt Nam đã chứa dựng biết bao kinh nghiệm qúy truyền lại cho hậu thế, bằng hình thúc truyền miệng ca dao, phương ngôn, tục ngữ. Đơn cử một số câu sau:”Nhất thì nhì thục”; “ Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa”; “ Gió đông là chồng lúa chiêm, Gió bấc là duyên lúa mùa”; “Ước gì anh hóa con ó vàng, Bay qua đám cấy quắp nàng cùng đi”; “Em còn đang bận ba cây lúa muộn nó tốn tền, Cấy xong ba cây lúa muộn em sẽ cuốn mền theo anh”..

Đời sống cây lúa, bắt đầu từ lúa hoang dại lưu niên. Người tiền sử (Homo sapiens) khi đó kiếm sống qua nhiều đời bằng hái lượm. Bước vào một thời kỳ mới tiến bộ vượt bậc là biết dùng công cụ bằng đá, rồi bằng đồng, bằng sắt để sản xuất lúa. Cũng từ lúc này, Homo sapiens trở thành người nông dân. Chỉ mới vài thập kỷ trước đây thôi, họat động hái lượm hạt lúa hoang ở Nam bộ còn khá phổ biến trong mùa nước nổi. Trên những chiếc ghe, một người chèo lái, một người gạt bông lúa hoang dễ rụng hạt vào lòng ghe. Một ngày có thể thu một vài giạ thóc.

Người ngày một động, yêu cầu về lương thực ngày một nhiều, công cụ sản xuất ngày một tinh xảo, kỹ năng và năng suất lao động ngày một cao. Người nông dân trải qua hàng thiên niên kỷ đã chọn ra những giống lúa có đặc tính phù hợp. Đời sống cây lúa từ lưu niên, đến hàng năm, cho đến nay thì phổ biến làm 2 vụ/ năm. Đồng thời, thân lúa ngắn lại dần, lá thẳng đứng, bông to, hạt nhiều hơn, dẫn đến năng suất lúa tăng. Đã có nơi làm được 3 vụ lúa/ năm khá phổ biến, và có nơi 2 năm làm 7 vụ, thậm chí 1 năm làm 4 vụ, vì dùng những giống lúa cực sớm với kỹ thuật thích hợp, như giống thuộc nhóm Ao cao sản xuất khẩu OMCS ≤ 90 ngày ở đồng bằng sông Cửu Long. Đã có hàng chục giống lúa thuộc nhóm này, được sử dụng hàng năm tới gần 1 triệu ha. Người có công lai tạo trực tiếp những giống lúa độc đáo này là kỹ sư Nguyễn Văn Lõan, học trò của thày Lương Định Của, cũng là một trong 10 nhà khoa học của Viện Lúa ĐBSCLđược Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng cao qúy nhất dành cho các nhà khoa học.

Liên quan tới diện tích gieo trồng lúa, năng suất và tổng sản lượng lúa cả nước, có thể chia ra làm các thời kỳ như sau:

+ Từ năm 1878 đến 1945, trong thời kỳ Pháp thuộc, năng suất lúa chỉ đạt trên dưới 1 tấn/ ha và sản lượng lúa vẻn vẹn 5 triệu tấn lúa. Trước đó còn thấp hơn nữa. Sản xuất lúa quảng canh, khai thác độ mầu mỡ sẵn có của đất bằng giống lúa cổ truyền.

+ Từ năm 1945 đến 1955, năng suất lúa bình quân đạt 1,2 – 1, 4t/ha, với diện tích gieo trồng 4,2 đến 4,6 triệu ha, và tổng sản lượng đạt 5,5 triệu đến 6,7 triệu tấn thóc. Điều kiện chính ảnh hưởng đến thâm canh lúa ở thời kỳ này là: xây dựng đồng ruộng trồng lúa, lao động dồi dào, và đất đai mầu mỡ. Trong thời kỳ này, miền Bắc có phong trào làm bèo hoa dâu khá mạnh, bắt nguồn từ làng La Vân Thái Bình, bổ xung nguồn đạm và chất hữu cơ cho ruộng lúa.

+ Từ 1960 đến 1985 (trước đổi mới): Năng suất bình quân: 2,0 đến 2,8t/ha; diện tích gieo trồng tăng đáng kể: 4,8 lên đến 5,7t triệu ha; tổng sản lượng: 9,5 đến 15,9 triệu tấn/ năm. Những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến nghề trồng lúa là: thủy lợi được cải thiện, dùng giống lúa mới cao sản (HYV), chủ yếu nhập từ Viện Lúa Quốc tế (IRRI) vào khỏang 40% diện tích lúa; bón phân hóa học và cơ giới hóa trên 30-40% diện tích trồng lúa.

+ Từ 1990 đến 1999, năng suất lúa tăng từ 3,2 lên trên 4 tấn/ ha, diện tích gieo trồng lúa tăng từ 6 triệu ha lên 7,7 triệu ha, và sản lượng tăng từ 19,5 lên 31,0 triệu tấn thóc. Ảnh hưởng lớn nhất đến sản xuất lúa trong thời kỳ này là thủy lợi được cải thiện, đã chủ động tiêu tưới được 60- 80% diện tích lúa tùy địa phương. Nhà nước và nông dân đầu tư cho sản xuất lúa tăng từ 2 đến 4 lần, cho điều kiện tiêu tưới, phân hóa học và thuốc sát trùng, cơ giới hóa sản xuất lúa, và tỷ lệ diện tích dùng giống mới cao, tới 80% diện tích. Bên cạnh giống nhập nội từ IRRI và Trung Quốc, các giống mới do ta tự tạo chọn chiếm một tỷ lệ ngày càng cao, nhất là ở ĐBSCL.

+ Từ năm 2000 đến nay, đặc điểm nổi bật nhất của sản xuất lúa ở thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là diện tích canh tác và gieo trồng lúa đều giảm do mở các khu công nghiệp, khu đô thị và sân golf, nhưng sản lượng lúa vẫn tăng do năng suất lúa tăng.

Về mặt khoa học và công nghệ, các điều kiện tăng năng suất để tăng sản lượng lúa có chất lượng gạo cao đều được cải thiện, như các điều kiện về tiêu tưới nước, dinh dưỡng và bảo vệ cây trồng, cơ giới hóa sản xuất lúa và sau thu họach, và nổi trội hơn cả là quá trình cải thiện cơ cấu giống lúa. Thông tin đại chúng gần đây cho biết năm 2009 này Việt Nam lại đạt kỷ lục mới về sản lượng lúa, gần chạm mức kỷ lục sản lượng 40 triệu tấn thóc, xuất khảu cũng vươn tới mức kỷ lục mới 6 triệu tấn gạo!

Hiện nay, diện tích dùng giống lúa cải tiến, hay giống lúa thấp cây cao sản ngắn ngày (High Yielding Variety- HYV) lên tới khỏang 90%. Một thể hiện sự nỗ lực trong tạo chọn giống lúa ở Việt Nam thời gian qua là: ở thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước, hầu hết giống mới đều nhập nội hay có nguồn gốc ở nước ngòai. Đến nay, giống lúa được tạo chọn trong nước đã chiếm gần 50%, trong đó ở ĐBSCL là 75%; ở ĐBSH là 13-15%, còn lại là nhập nội.

Diện tích trồng lúa thuần nhập từ Trung Quốc cả 2 vụ là 1,35 triệu ha, trong đó ĐBSH là cao nhất (58,5%). Diện tích dùng giống của Trung Quốc giảm dần xuống phia Nam : ở miền Đông Nam bộ là khỏang 9%; và không có ở ĐBSCL. Giống lúa thuần có nguồn gốc từ IRRI là hơn 1 triệu ha, trong đó Trung du và miền núi phía Bắc có 2,4%; ĐBSH 3,2%; miền Đông Nam bộ có cao nhất, 21% và 26%, nhưng vùng ĐBSCL chỉ còn 11%, vì phải “cạnh tranh” với giống tạo chọn trong nước. Người nông dân chọn giống nào đó để sản xuất thì đâu cần biết của ai và từ đâu đến.

Diện tích lúa ưu thế lai cả nước đạt khỏang 60 đến 70 vạn ha, chiếm gần 10% diện tích gieo trồng lúa. Vùng có tỷ lệ diện tích cao nhất là miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, lúa lai chiến diện tích 21 và 26%. Diện tích này cũng giảm dần về phía Nam , đến ĐBSCL thi chỉ còn một diện tích rất khiêm tốn. Hạt giống lúa lai còn phải nhập tư Trung Quốc. Nhưng các nhà khoa học ở ĐBSH đã tự tạo chọn được nhiều giống lúa lai triển vọng, như giống lúa lai 2 dòng TH3-3 của PGsTs Nguyễn Thị Trâm, cũng là 1 trong những học trò của thày Của, và đã được Giải thưởng Kovalepxkaja..

Trong những thập kỷ tới, thế kỷ tới, nền văn minh trồng lúa hiện nay thế tất sẽ để lại những kinh nghiệm cho nền văn minh trồng lúa mai sau, nền văn minh trồng lúa công nghệ cao. Đấy là những bước phát triển lên tầm cao của công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vũ trụ học, công nghệ hải dương học. Chúng tôi đã có dịp tham quan sự vận hành của những công nghệ này trong sản xuất lúa ở ngòai nước, và cả ở trong nước, như điều khiển bằng remote vận hành máy nông nghiệp, sử dụng tia lade trong khâu san phẳng ruộng, áp dụng công nghệ nano trong sản xuất phân bón và thuốc nảo vệ thực vật, điều khiển tưới nước bằng computer theo chương trình cài đặt trước.

Những giải pháp kỹ thuật khoa học nông nghiệp nuôi 9 tỷ người vào năm 2050 cũng đang được nghiên cứu và cho kết quả rất triển vọng cho việc áp dụng vào sản xuất đại trà. Chúng tôi cũng nhận được khá nhiều thông tin từ các nhà khoa học là đồng nghiệp đang làm tại FAO, hay cư trú tại Mỹ, Canada , Nhật..

Một trong những tài liệu vừa nhận được (17/07/2009, Irvine, Nam Cali-Hoa Kỳ) là của Gs Tôn Thất Trình, một nhà khoa học gần 80 tuổi mà rất tâm huyết với nền nông nghiệp nước nhà, liên tục gửi những thông tin và ý kiến đóng góp của minh (chúng tôi có tiếp chuyển cho những bạn đồng nghiệp cần). Xin được giới thiệu tóm tắt như sau: (i) Giải pháp khai thác vùng sa mạc, vùng bờ biển khô nóng là dùng nhà kiếng (green house), biến nước biển thành nước ngọt trồng hoa màu, khỏi dùng nhà máy khử muối biển quá tốn kém; (ii) Dùng công nghệ di truyền tạo ra những giống lúa siêu năng, lọai lúa C4, tương tự lề lối quang hợp của cây bắp (ngô), cây lúa miến. Theo báo cáo của IRRI về hứa hẹn của cây lúa C4 thì 10 năm nữa sẽ ra mắt thiên hạ; (iii) Thay thế phân bón hóa học bằng phân vi sinh vật. Nhà di truyền học phân tử và vi trùng học, Gs C A Reddy ở đại học bang Michigan, đã nghiên cứu khảo sát 300 lọai vi sinh vật trong đất, tạo ra một hỗn hợp cốc ten (cocktail) vừa giảm được yêu cầu về phân hóa học, vừa bảo vệ được cây trồng chống mầm bệnh, tăng năng suất hầu hết cây trồng, như những cây ông đã làm thí nghiệm là cà chua, cỏ voi, cà dái dê. Sản phẩm được bán ra dưới dạng lỏng tưới vào đất cho “Đất sinh học tăng cường” (Bio Soil Enhancers), lọai này “tự bền vững”, chứ không phải bón hàng vụ như phân hóa học; (iv) Công nghệ “canh tác chính xác” gồm cách dùng máy cày do hệ thống định vị GIS hướng dẫn, có thể bón phân, tưới nước, gieo hạt... với mức độ chính xác chừng 2 cm. Một hệ thống máy dò được đặt sâu 0,3m khỏang 8- 12 cái/ha không có giây, sẽ cho những thông tin chính xác yêu cầu về nước tưới, phân bón, truyền lên computer trung ương để điều khiển máy nông nghiệp thực hiện. Nông dân tốn thêm 40 – 60 USD, nhưng tiết kiệm được 300 USD; (v) Phục sinh đất trồng đã bị thóai hóa, xuống cấp, trở thành đất trồng trọt, bằng cách bổ sung than (hoa, cây củi), còn gọi là than sinh học cung cấp cho cây trồng chất dinh dưỡng cần thiết, đồng thời lại giam cầm khí CO2. Tiềm năng kỹ thuật mới này biến những vùng đất bao la không canh tác này thành đất canh tác; (vi) Tạo giống “siêu hoa mầu” đang được các nhà di truyền thực hện với khoai mì (củ sắn- cassava), tăng thêm 10 lần chất bổ so với hiện nay, dự kiến sẽ hoàn thành vào 2015. Thế giới hiện có 500 triệu người trông cậy vào khoai mì làm lương thực chính; (vii) Tái lập bản đồ cho cả một lục địa là chương trình nghiên cứu nhằm giúp vùng sa mạc Sahara Phi châu. lập được bản đồ ẩm độ tích cực và ẩm độ tiêu cực có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất cây trồng, cùng với nhiều dữ liệu khác, như thành phần đất, khí hậu, mô hình lý thuýết và các kiểu phát triển.. (viii) Sử dụng robot làm nhân công nông nghiệp.



(1) Nguyên Viện Trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long
Anh hùng lao động, giải thưởng Hồ Chí Minh 

Xây dựng tiêu chuẩn gạo thơm Việt Nam

Xây dựng tiêu chuẩn gạo thơm Việt Nam

4 giống lúa thơm (Jasmine 85, Nàng hoa 9, Thơm RVT và ST20) vừa được Ban Chỉ đạo Xây dựng và phát triển thương hiệu gạo Việt Nam lựa chọn để làm cơ sở xây dựng tiêu chuẩn gạo thơm của Việt Nam. 

"Chọn mặt gửi vàng" 4 giống lúa thơm 

Qua khảo sát thực tế tại 24 doanh nghiệp xuất khẩu gạo của 8 tỉnh ĐBSCL, ngoài giống Jasmine 85, Nàng hoa 9 có sản lượng xuất khẩu lớn, giống lúa ST20 tuy diện tích và sản lượng còn hạn chế nhưng hiện được khách hàng ưa chuộng (gạo có mùi thơm, hạt gạo dài, trong và thon mảnh). 

Do đó, Cục Chế biến nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN- PTNT) đã khảo sát, lấy mẫu phân tích chất lượng gạo của 3 giống lúa thơm là: Jasmine, Nàng hoa 9 và ST20 để đưa vào dự thảo tiêu chuẩn gạo thơm. Các giống lúa Jasmine và Thơm RVT đều có nguồn gốc từ nước ngoài (Mỹ và Trung Quốc). Nhưng đến nay, các giống này đã được thuần hóa phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng của Việt Nam. 

Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong những năm gần đây sản lượng xuất khẩu gạo chất lượng cao đã vượt trên 50% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó các giống lúa thơm này đã chiếm tới một nửa. Giống Jasmine là giống lúa thơm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. 

Bộ NN-PTNT, Hiệp hội Lương thực VN đang có chương trình phục tráng giống lúa này. Việt Nam có một số giống lúa thơm đặc sản, chất lượng cao như tám xoan Hải hậu, tám Điện Biên, Nàng thơm Chợ Đào,... nhưng hiện nay diện tích trồng rất ít hoặc điều kiện sản xuất thay đổi, không còn giữ được chất lượng vốn có của giống và cũng không đủ số lượng để đưa vào nhóm lúa thơm làm thương hiệu gạo Việt Nam. 

Làm bài bản, chắc chắn 

Theo PGS.TS Bùi Bá Bổng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN- PTNT, chuyên gia cao cấp FAO thì chúng ta nên học tập kinh nghiệm của Thái Lan và Ấn Độ. Nhà nước (Bộ NN-PTNT) cần sớm ban hành tiêu chuẩn quốc gia gạo thơm Việt Nam (Vietnam Aromatic Rice) ứng dụng cho nhóm giống lúa thơm xuất khẩu hiện nay và sẽ được bổ sung các giống mới trong tương lai. 

Đồng thời ban hành nhãn chứng nhận "Vietnam Aromatic Rice" để cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo thơm đáp ứng được tiêu chuẩn. Sự xuất hiện của nhãn chứng nhận gạo thơm Việt Nam trên nhãn thương hiệu gạo của doanh nghiệp sẽ hình thành “thương hiệu quốc gia”. 

Trước mắt, Việt Nam cần thực hiện các biện pháp như chọn thuần các giống hiện có như Jasmine 85, VD20, nhóm ST để sản xuất hạt giống nguyên chủng, sử dụng hạt giống xác nhận trong sản xuất. Đồng thời áp dụng các tiến bộ trong canh tác (VietGAP cho lúa thơm), cải tiến công nghệ sau thu hoạch, tồn trữ, chế biến và đảm bảo sự trung thực về chất lượng trong thương mại, đặc biệt tránh đẩy nhanh số lượng bằng pha trộn hoặc mở rộng diện tích ở địa bàn không phù hợp... 

Việc lựa chọn một số giống lúa đang được sản xuất phổ biến, có sản lượng và chất lượng cao (có nguồn gốc từ nước ngoài là chúng ta tiếp thu những tiến bộ của thế giới). Mặt khác, theo Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) các giống lúa Jasmine cũng như Thơm RVT sau này đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nước cũng như quốc tế đều không có vướng mắc gì về mặt pháp lý. 

Trong Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã xác định “Ưu tiên lựa chọn 03 giống đặc sản tại ĐBSCL để hỗ trợ xây dựng, phát triển thành thương hiệu vùng, địa phương hướng tới trở thành thương hiệu quốc gia bao gồm: giống Jasmine, giống lúa thơm và giống nếp đặc sản”. 

Xây dựng 3 tiêu chuẩn quốc gia lĩnh vực lúa gạo 

Để tiến tới đưa gạo Việt Nam có thương hiệu trên thế giới, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Thương hiệu gạo theo lộ trình thực hiện sẽ gồm: thương hiệu gạo cấp quốc gia, thương hiệu gạo cấp vùng và thương hiệu gạo của doanh nghiệp. 

Để triển khai đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ NN-PTNT đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam và giao Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối triển khai. Trong năm 2016, Cục này xây dựng 3 tiêu chuẩn quốc gia lĩnh vực lúa gạo bao gồm: TCVN gạo thơm (xây dựng mới); TCVN gạo trắng (soát xét TCVN 5644:2008- gạo trắng – yêu cầu kỹ thuật); TCVN Quy phạm thực hành xay xát thóc gạo (xây dựng mới). 

Đồng thời, Cục sẽ phối hợp với Hiệp Hội lương thực Việt Nam phát động hội thi tuyển chọn lô-gô cho thương hiệu gạo Việt Nam để chuẩn bị đăng ký bảo hộ trong nước và quốc tế. Đối với tiêu chuẩn gạo thơm, Ban soạn thảo đã tham khảo các tiêu chuẩn của Thái Lan, Codex kết hợp với khảo sát thực tế để xây dựng dự thảo tiêu chuẩn, tổ chức hội thảo, gửi dự thảo xin ý kiến các cơ quan, đơn vị liên quan, Hiệp hội Lương thực Việt Nam, các doanh nghiệp và lấy ý kiến trên website của Cục. 

Vì các giống lúa thơm có đặc điểm khác nhau, theo ý kiến của các chuyên gia qua các hội thảo, trước mắt chọn 3-4 giống lúa thơm có diện tích và sản lượng xuất khẩu lớn để làm cơ sở xây dựng tiêu chuẩn, sau đó sẽ tiếp tục soát xét bổ sung các giống lúa thơm đạt chuẩn để xây dựng thương hiệu.

 

Philipin đưa vào sản xuất giống lúa chịu lũ mới

Philipin đưa vào sản xuất giống lúa chịu lũ mới 

Nông dân ở Manila và đảo Luzon- khu vực trồng lúa chính của Philipin, những nơi thường xuyên bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt đã có thể yên tâm về mùa màng của họ khi giống lúa Submario được đưa vào gieo cấy đại trà tại đây.

Lúa Submarino- loại giống có thể tồn tại được trong vòng 2 tuần lễ bị ngập nước nước sâu.  Lúa nước là loại cây trồng đặc bởi vì chỉ có nó mới có thể phát triển tốt trong điều kiện ngập nước nơi mà những cây trồng khác không thể phát triển được, tuy nhiên thông thường nếu bị ngập nước hoàn toàn thì lúa sẽ chết và nông dân sẽ mất mùa.

Để khắc phục tình trạng đó, Lúa Submarino đã được phát triển bởi Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI, giống lúa mới này có thể sống được trong lũ nếu lũ đến trước khi lúa trỗ bông. Giống lúa Submarino mới nhất được công bố ở Philipin năm 2009 và mới đây đã được gieo cấy đại trà, chương trình này được Bộ Nông nghiệp Philipin (DA) và Viện Nghiên cứu lúa Philipin (PHilRice) triển khai để giúp những nông dân trong thời gian xảy ra lũ lụt và bão nhiệt đới. Bộ trưởng nông nghiệp Philipin  Proceso Alcala cho biết, IRRI là một trong những đối tác đã nghiên cứu và xúc tiến sự nhân giống lúa Submarino, loại lúa có thể phục hồi sau khi bị ngập hoàn toàn trong vòng 14 ngày. Kể từ khi được công bố, lúa Submarino đã được phổ biến rộng rãi và được nông dân Philipin chấp nhận và đánh giá cao.

 

Giống lúa lai Trung Quốc chính thức phá kỷ lục năng suất thực tế

Giống lúa lai Trung Quốc chính thức phá kỷ lục năng suất thực tế 

Với năng suất thực tế đạt 12,5 tấn/ha, nhà khoa học lúa Yuan Longping đã phá vỡ kỷ lục thế giới về năng suất lúa sớm vụ kép. Đây là một bước tiến lớn trong kế hoạch sản xuất lúa sớm vụ kép tại miền Nam Trung Quốc.

Dự án này được triển khai từ năm 2015, được tổ chức bởi Phòng Nông nghiệp tỉnh Quảng Đông. Mục tiêu của dự án là đạt năng suất 22,5 tấn/ha cho lúa sớm vụ kép trong vòng 3 năm.

Năm 2015, năng suất trung bình lúa sớm là 10,5 tấn/ha và năng suất trung bình lúa muộn là 11,4 tấn/ha. Tổng năng suất của cả hai vụ là 21,9 tấn/ha, chỉ thấp hơn 0,6 tấn/ha so với mục tiêu.

Theo Luo Xiwen, một nhà nghiên cứu tại Học viện Kỹ thuật Trung Quốc, năng suất lúa muộn thường cao hơn năng suất lúa sớm tại Quảng Đông. Khi nào năng suất lúa sớm vượt 11,2 tấn/ha thì nông dân sẽ đạt mục tiêu nói trên. Tuy nhiên, thành công của dự án vẫn phụ thuộc vào năng suất vụ lúa muộn.
 
Các chuyên gia tin rằng câu trả lời nằm ở chất lượng giống tốt hơn, kỹ thuật canh tác tốt hơn và cơ hội tốt hơn. Những yếu tố này sẽ cải thiện cả năng suất lẫn chất lượng lúa.

Dự án tại Xingning là dự án canh tác thứ 5 liên quan đến lúa lai siêu năng suất được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của ông Yuan Longping, và là dự án đầu tiên, cũng là duy nhất đến nay tập trung vào vụ lúa kép (double-season rice).

Gần đây, dân số thế giới đã đạt 7 tỷ người và dự đoán sẽ đạt 8 tỷ người vào năm 2030. Để cung ứng thực phẩm cho dân số lớn như vậy, lúa lai năng suất cao sẽ là nhu cầu thiết yếu. Một nửa dân số thế giới tiêu dùng gạo trong thực đơn hàng ngày và 60% người dân Trung Quốc coi gạo là thực phẩm thiết yếu. Do đó, theo ông Yuan, năng suất cao sẽ đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo anh ninh lương thực trong tương lai.

Ông Yuan cũng chỉ ră rằng dân số tăng lên trong khi đất nông nghiệp giảm đi, nên cahcs duy nhất để đảm bảo nguồn cung thực phẩm toàn cầu là tăng năng suất trên mỗi đơn vị diện tích thông qua công nghệ hiện đại, bao gồm công nghệ tập trung vào bảo tồn nguồn nước, sử dụng tối ưu phân bón, canh tác đất đai và cải thiện chất lượng giống.

Trong số các yếu tố này, ông Yuan chỉ ra phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất là cải thiện chất lượng giống. Đây cũng là nguyên nhân chính trong tăng sản lượng lúa trong thập kỷ qua.

 

Phát triển lúa gạo trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Phát triển lúa gạo trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam 

PGS.TS. Nguyễn Văn Bộ, Nguyên Giám đốc Viện KHNN Việt Nam

Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của Việt Nam với diện tích thu hoạch năm 2015 hơn 7,8 triệu ha, sản lượng đạt 45,2 triệu tấn thóc, xuất khẩu gần 7 triệu tấn gạo, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.852 triệu USD. Tuy nhiên, xét thuần túy về kinh tế, lúa gạo chỉ đóng góp khoảng 5,45% GDP của cả nước (1) và người sản xuất lúa gạo chỉ có thu nhập 419 USD/ha so với 1.128 USD/ha của nông dân Thái Lan. Thêm nữa, theo dự thảo kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) 2016, chúng ta có tới 16,8% diện tích Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và 38,9% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ngập lụt khi mực nước biển dâng (NBD) 100 cm vào cuối thế kỷ XXI và nếu điều này xảy ra, sản lượng lúa gạo có thể giảm 30-35%. Do vậy, việc sản xuất và xuất khẩu lúa gạo cần được xem xét một cách thấu đáo cả từ góc độ kinh tế, xã hội và môi trường trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội.

Những thách thức lớn trong sản xuất lúa gạo

Sản xuất lúa gạo ở nước ta đang đứng trước rất nhiều thách thức như BĐKH, áp lực dân số, thị trường, diện tích đất lúa bị thu hẹp, đầu tư cho nông nghiệp thấp…, trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến 2 thách thức lớn nhất là BĐKH, NBD và hiệu quả sản xuất lúa gạo.

Tác động của BĐKH, NBD

Ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã và đang trở thành thách thức lớn nhất. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lần đầu tiên sau nhiều năm GDP nông nghiệp giảm 0,78%, trong khi lâm nghiệp, thủy sản vẫn tăng (lần lượt là 5,75 và 1,25%) làm cho GDP toàn ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2016 giảm 0,18% (trong khi đó GDP cùng kỳ 2015 tăng 2,36%; năm 2014 tăng 2,96% và năm 2013 tăng 2,14%). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụt giảm giá trị sản xuất trong nông nghiệp là do ảnh hưởng của BĐKH và các điều kiện liên quan đến thời tiết cực đoan bất thường. Tính đến cuối tháng 6/2016, hạn hán và xâm nhập mặn kéo dài đã làm thiệt hại gần 250.000 ha lúa, 19.203 ha hoa màu, 37.369 ha cây ăn quả tập trung, 163.768 ha cây lâu năm… với tổng giá trị lên đến hơn 142.000 tỷ đồng. Tại miền Bắc, trong 10 ngày cuối tháng 1/2016 đã phải hứng chịu một đợt không khí lạnh sâu, nhiệt độ nhiều vùng xuống thấp nhất trong lịch sử quan trắc và gây ra một đợt rét đậm, rét hại trên diện rộng làm thiệt hại gần 70.000 ha lúa và cây rau màu các loại (2).

So với cùng kỳ năm 2015, diện tích gieo cấy lúa vụ đông xuân cả nước năm 2016 giảm 31,1 nghìn ha, năng suất giảm 3,6 tạ/ha, sản lượng giảm 1,326 triệu tấn (6,4%) và chủ yếu giảm ở ĐBSCL (phía Bắc sản lượng tăng 14,4 ngàn tấn; ĐBSCL giảm 1,14 triệu tấn, Tây Nguyên giảm 64 ngàn tấn và Duyên hải miền Trung giảm 122 ngàn tấn) (3).

BĐKH chủ yếu liên quan đến nhiệt độ tăng và NBD. Tại Việt Nam, dự thảo kịch bản BĐKH (phiên bản dự thảo 2016) (4) cho thấy, nhiệt độ trung bình năm trên phạm vi toàn quốc tăng khoảng 0,62°C trong giai đoạn 1958-2014 và tăng dần theo thời gian. Nếu so với giai đoạn 1981-1990, nhiệt độ trung bình năm trong 20 năm 1995-2014 tăng khoảng 0,38°C thì trong 10 năm gần đây (2005-2014) đã tăng 0,42°C. Chúng ta biết rằng, khi nhiệt độ tăng thêm 1°C, năng suất lúa sẽ giảm 10%, năng suất ngô giảm 5-20% và sản lượng cây lương thực giảm trung bình 15%.

Dự báo theo kịch bản RCP4.5 (5), vào giữa thế kỷ này, nhiệt độ trung bình năm của cả nước tăng 1,3-1,7°C. Đến cuối thế kỷ, ở phía Bắc nhiệt độ tăng 1,9-2,4°C và ở phía Nam 1,7-1,9°C. Còn theo kịch bản RCP8.5, vào giữa thế kỷ, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc tăng 1,8-2,3°C. Đến cuối thế kỷ, nhiệt độ ở phía Bắc tăng 3,3-4,0°C và ở phía Nam tăng 3,0-3,5°C.

BĐKH không chỉ làm tăng nhiệt độ trung bình mà còn tăng nhiệt độ tối cao và tối thấp. Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961-2014, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tmin) tăng 1°C/10 năm. Số ngày nóng (số ngày có Tx ≥ 35°C) có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực của cả nước với mức tăng phổ biến 2-3 ngày/thập kỷ. Nhiệt độ tối cao trung bình năm tăng sẽ có ảnh hưởng lớn đến sản xuất lúa gạo nói riêng và các cây trồng khác nói chung.

NBD cũng là thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo và nuôi trồng thủy sản. Dự báo, vào cuối thế kỷ XXI, mực NBD ở khu vực Biển Đông như sau: i) Theo kịch bản RCP2.6, mực NBD khoảng 46 cm (28-70 cm); ii) Theo RCP4.5, mực NBD khoảng 55 cm (33-75 cm); iii) Theo RCP6.0, mực NBD khoảng 59 cm (38-84 cm) và theo RCP8.5, mực NBD khoảng 77 cm (51-106 cm).

Kịch bản NBD 100 cm tại các tỉnh sản xuất lúa chủ lực làm cho Hậu Giang và Kiên Giang là 2 tỉnh có nguy cơ ngập cao nhất (80,6 và77% diện tích), trong khi đó các tỉnh Thái Bình, Nam Định. Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau có diện tích ngập trên 50%. Các tỉnh sản xuất lúa khác như Hải Phòng, Ninh Bình, Tiền Giang, Bến Tre cũng có tỷ lệ ngập trên 20%. Như vậy nhìn chung, mực NBD tại các tỉnh phía Nam cao hơn khu vực phía Bắc. Còn tính trên toàn vùng là 16,8% diện tích ở ĐBSH và 38,9% diện tích ở ĐBSCL có nguy cơ ngập. Đây là những vựa lúa chủ lực của cả nước và với kịch bản NBD như trên thì sản lượng lúa gạo có thể giảm 30-35%.

Sản xuất lúa gạo hiệu quả thấp

Việt Nam đang là nước sản xuất và xuất khẩu gạo lớn, với diện tích thu hoạch năm 2015 là hơn 7,8 triệu ha, sản lượng 45,2 triệu tấn thóc, xuất khẩu gần 7 triệu tấn gạo, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.852 triệu USD (6), chiếm trên 17% thị phần gạo xuất khẩu toàn cầu. Tuy nhiên, nhiều năm qua Việt Nam tập trung vào số lượng. So với các nước sản xuất gạo chủ lực thì trong 35 năm qua năng suất lúa trung bình của Việt Nam tăng 3,68 tấn/ha, tương đương 169,6%, gấp 3 lần trung bình thế giới. Trong khi các nước xuất khẩu gạo khác lại hướng vào gạo chất lượng cao, không quá chú trọng vào tăng năng suất. Với Ấn Độ, sau 35 năm, năng suất chỉ tăng có 80 kg/ha, Pakistan tăng 9 tạ/ha và Thái Lan tăng 6,4 tạ/ha.

Xét về hiệu quả, các nghiên cứu cho thấy thu nhập của người trồng lúa rất thấp. Theo số liệu điều tra năm 2010, nếu người dân có dưới 1 ha lúa/hộ thì sản xuất lúa gạo chỉ đáp ứng được 19% tổng thu nhập. Tương ứng mức thu nhập tăng lên 26, 36 và 68% khi hộ nông dân lần lượt có 1-2, 2-3 và > 4 ha đất sản xuất, mà trên 90% hộ nông dân ở Việt Nam có diện tích trồng lúa nhỏ hơn 1 ha.

Sản xuất ra lúa gạo giá trị đã thấp, song thu nhập thực tế của người dân lại chỉ chiếm tỷ lệ thấp nhất trong chuỗi giá trị. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ thì người dân chỉ có lợi nhuận 240 USD/năm, trong khi người thu mua có 25.000 USD, xay sát 48.400 USD và xuất khẩu hưởng lợi tới 2,22 triệu USD/năm. Nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2014) cũng cho thấy, phân phối lợi nhuận (và rủi ro) không công bằng giữa các đối tác tham gia chuỗi lúa gạo. Tính trên đơn vị xuất khẩu thì lợi nhuận người nông dân nhận được chiếm 52% tổng lợi nhuận, nhưng chi phí họ bỏ ra chiếm 83%, trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu gạo được 30% lợi nhuận lại chỉ phải bỏ ra 4% chi phí (7). Đây chính là một trong những nguyên nhân nông dân bỏ ruộng, không muốn ứng dụng giống và kỹ thuật mới vì với mảnh ruộng nhỏ bé của mình, tác động của khoa học và công nghệ có lớn về giá trị tương đối thì quy ra giá trị tuyệt đối trên mảnh ruộng của họ cũng thật nhỏ bé8.

Nghiên cứu của Viện Lúa quốc tế (IRRI) năm 2014 về so sánh hiệu quả sản xuất lúa gạo tại một số nước cũng cho thấy hiệu quả sản xuất chủ yếu liên quan đến giá bán. Giá bán 1 kg lúa tại Cần Thơ là thấp nhất so với các điểm điều tra ở các nước khác với mức 0,195 USD/kg hay tương đương 4.290 đồng/kg, trong khi chỉ tiêu này là 5.192 đồng ở Ấn Độ, 8.404 đồng ở Inđônêxia, 8.889 đồng ở Thái Lan và 7.700 đồng ở Philipin. Chính điều này làm cho thu nhập thuần từ sản xuất lúa gạo của Việt Nam là thấp nhất, chỉ đạt 419 USD/ha (khoảng 9,2 triệu đồng), bằng khoảng 37,1% so với Thái Lan, 65,0% so với Philipin và 42,2% so với Inđônêxia.

Một vài suy nghĩ về sản xuất lúa gạo trong bối cảnh BĐKH và hội nhập

Sản xuất lúa gạo có ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn, góp phần ổn định chính trị và an sinh xã hội. Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến hiệu quả sản xuất, xuất khẩu… rất cần nhìn lại một cách toàn diện. Đã đến lúc chúng ta cần đánh giá sản xuất lúa gạo nói riêng và các nông sản nói chung bằng giá trị trên 1 đơn vị diện tích thay vì quy mô số lượng.

Các định hướng lớn cho nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo đã được thể hiện trong Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia “Sản phẩm lúa gạo Việt Nam chất lượng cao, năng suất cao”, đó là “Phát triển ngành lúa gạo sản xuất hàng hóa có khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng cao trên cơ sở áp dụng đồng bộ giống mới, quy trình kỹ thuật canh tác và công nghệ sau thu hoạch tiên tiến gắn với cơ giới hóa, tổ chức lại sản xuất, xây dựng thương hiệu…”. Thêm nữa, các mục tiêu cụ thể đến 2030 còn được nêu rõ tại “Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030” là: i) Tỷ lệ sử dụng giống xác nhận chiếm 100% diện tích tại các vùng chuyên canh của ĐBSCL; ii) Diện tích áp dụng IPM đạt trên 90%; diện tích áp dụng quy trình canh tác bền vững (nông lộ phơi, SRI, VietGAP…) trên 75%; iii) Giảm tổn thất sau thu hoạch dưới 6%; iv) Đạt 50% lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo Việt Nam, trong đó 30% lượng gạo xuất khẩu thuộc nhóm gạo thơm và đặc sản... Chiến lược và mục tiêu đã rõ, tuy nhiên vấn đề là làm sao hiện thực hóa được chúng với các giải pháp khả thi, cả về vốn, tổ chức, khoa học và công nghệ.

Việt Nam luôn đứng trong top 3 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, với thị phần toàn cầu gần 20%. Tuy nhiên, theo đánh giá của Richard Silberglitt (2013) thì Việt Nam dù thừa gạo để xuất khẩu song chỉ số an ninh lương thực lại đứng sau Singapo, Malaixia và Brunei, các nước gần như phải nhập khẩu gạo toàn bộ. Điều này cho thấy, an ninh lương thực của chúng ta mới chỉ đạt cấp quốc gia (tính theo trung bình đầu người) mà chưa có an ninh lương thực cấp hộ gia đình, bởi theo tiêu chí của FAO thì nhiều người chưa tiếp cận được lương thực hoặc không có tiền để mua lương thực. Như vậy, giải bài toán an ninh lương thực của các nước là dựa trên quy luật của lợi thế so sánh, họ sản xuất những ngành hàng có thu nhập cao hơn, ít rủi ro thị trường hơn và sẵn sàng nhập khẩu gạo. Tự hào là quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới mà người dân sản xuất lúa gạo lại thuộc loại nghèo nhất cũng không còn mấy vinh quang.

Richard Silberglitt còn cho biết thêm, nếu chỉ số an ninh lương thực của Việt Nam đứng thứ 5/10 nước ASEAN thì chỉ số an ninh về nước còn đứng áp chót (thứ 9). Đây là thách thức to lớn thực sự, bởi để sản xuất ra 1 kg gạo cần tới 3.000-5.000 lít nước và hiện cây lúa sử dụng trên 40% lượng nước ngọt dùng trong nông nghiệp (9). Chúng ta lại ở cuối nguồn 2 con sông lớn nhất của 2 đồng bằng (ĐBSH và ĐBSCL), nên vừa thiếu nước ngọt vừa bị xâm nhập mặn sâu vào đất liền. Theo nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL thì lượng nước cần cho cây lúa trong vụ xuân hè là 4.038 m3/ha hay mỗi m3 nước chỉ sản xuất được 0,94-1,45 kg thóc. Như vậy, thay vì chờ nguồn nước từ thượng nguồn, tại ĐBSCL rất có thể cần giành 5% diện tích để xây dựng các hồ chứa nước ngọt, ngay cả khi cần có thể chặn dòng một con sông nào đó.

Chính phủ và Bộ NN&PTNT cũng đã có chủ trương tái cơ cấu ngành sản xuất lúa gạo theo hướng chuyển đổi những diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả sang các cây trồng khác hay nuôi trồng thủy sản. Tại ĐBSCL, các chương trình khuyến khích chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng ngô, cây ăn quả… đã được đẩy mạnh. Theo kế hoạch năm 2015, ĐBSCL phải chuyển đổi 112 nghìn ha. Tuy nhiên, mục tiêu này chưa đạt do việc chuyển đổi gặp phải các vấn đề nan giải, đó là cơ giới hóa các khâu trong sản xuất và điều chỉnh hệ thống thủy lợi khi chuyển từ lúa sang ngô; vấn đề tiêu thụ sản phẩm, chế biến sâu để nâng cao giá trị, và hơn hết là vấn đề về hiệu quả kinh tế khi chuyển đổi chưa thật hấp dẫn.

Có một nguyên nhân thuộc về thể chế mà chúng ta thường ngại nói đến, đó là vấn đề tích tụ ruộng đất, thậm chí chuyển từ quyền sử dụng sang quyền sở hữu để đảm bảo việc tích tụ đất đai có hiệu quả. Các nghiên cứu gần đây đều chỉ ra rằng, quy mô sản xuất lúa gạo càng lớn thì hiệu quả càng cao, do chi phí giảm, khả năng ứng dụng công nghệ mới cao và đặc biệt chất lượng hạt gạo cũng tốt hơn, đồng đều hơn.

Cùng với chính sách tích tụ đất đai, việc tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp có vai trò quyết định. Ở nước ta, rất ít doanh nghiệp đầu tư vào công đoạn sản xuất lúa gạo bởi rủi ro lớn, hiệu quả thấp. Nhiều tài liệu cho thấy, các doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung cho các hợp đồng chính phủ (hiện chiếm 53% tổng lượng gạo xuất khẩu), do vậy, họ ít quan tâm đến chất lượng gạo cũng như mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu. Họ gần như được hưởng đặc ân về vốn, lãi suất ưu đãi cũng như thị trường. Do vậy, cần có chính sách để doanh nghiệp chịu trách nhiệm từ khâu sản xuất đến chế biến và thương mại lúa gạo, nông dân góp vốn bằng quyền sử dụng đất như các cổ đông của doanh nghiệp. Nếu làm được, tình trạng nhiều giống, thu gom lẫn giống sẽ được loại trừ, cơ sở hạ tầng cho sản xuất lúa gạo sẽ được cải thiện và thương hiệu gạo sẽ dần được xây dựng. Trong quá trình này, vai trò hỗ trợ của Nhà nước về vốn và đất đai là rất quan trọng.

Hiện nay chúng ta xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm, song chi phí và hiệu quả thực sự của con số này như thế nào vẫn chưa được tính toán. Đó là, lượng gạo xuất khẩu kia đã sử dụng bao nhiêu nước tưới, bao nhiêu phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (10). Theo điều tra của IRRI (2014) thì chi phí phân bón của Việt Nam cao gấp 1,21 lần so với Thái Lan, gấp 1,63 lần so với Inđônêxia, 1,68 lần so với Trung Quốc và 2,73 lần so với Ấn Độ. Hệ quả của sử dụng nhiều phân bón, chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật trên 1 ha lúa tại Việt Nam cũng cao hơn 1,1 lần so với Thái Lan, 3,7 lần so với Philipin và 2,38 lần so với Trung Quốc. Đó là chưa kể, lượng khí nhà kính bị phát thải ra môi trường, lượng nước (mặt và ngầm) bị phú dưỡng đã ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản và sức khỏe con người… Gần 3 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu gạo hàng năm liệu đã đủ để đánh đổi các chi phí vật chất và môi trường?

Theo thống kê của FAO (7/2016), thương mại gạo toàn cầu giữ ổn định ở mức 40-42 triệu tấn và khó tăng thêm. Nhìn vào các nước xuất khẩu, có thể thấy họ đều là những nước ưu tiên cho sản xuất gạo chất lượng cao do vậy giá gạo cùng loại của Việt Nam luôn thấp hơn của các nước. Giá gạo 5% tấm của Việt Nam thấp hơn của Thái Lan 44 USD/tấn năm 2011, 141 USD năm 2012, 127 USD năm 2013, 13 USD năm 2014 và 33 USD năm 2015. Còn trung bình 6 tháng đầu năm 2016 cũng thấp hơn 44 USD/tấn. Tương tự với gạo 25% tấm, giá gạo của Việt Nam thấp hơn của Thái Lan lần lượt là 44, 163, 147, 5 và 39 USD/tấn cho các năm 2011-2015. Xu thế giảm giá còn thể hiện rất rõ trong 6 tháng đầu năm 2016. Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo cũng cho thấy, giá gạo Thái 100% Grade B giai đoạn 2009-2014 cao hơn giá gạo Việt Nam 5% tấm là 26%, giá gạo Thái 25% tấm cao hơn giá gạo Việt Nam là 22%.

Như vậy, rõ ràng là chúng ta có vấn đề trong chiến lược phát triển lúa gạo. Cần phải thay đổi từ tư duy số lượng sang tư duy chất lượng, hiệu quả. Chúng ta không thể và không nên so sánh với Thái Lan, một nước có kinh nghiệm lâu đời, song hãy nhìn sang Campuchia, một nước tham gia thị trường xuất khẩu gạo muộn nhưng đã ưu tiên ngay cho sản xuất gạo phục vụ đa dạng hóa thị trường với trên 44% lượng gạo chất lượng cao. Mặc dù Việt Nam đã có trên 20 năm tham gia thị trường xuất khẩu gạo, Campuchia mới chỉ có 5 năm, nhưng gạo của nước bạn đã có mặt ở 53 quốc gia và vào được những thị trường khó tính như Mỹ, EU. Trong khi đó, Việt Nam vẫn chỉ quanh quẩn với 10 thị quen thuộc, chủ yếu là các nước có thu nhập trung bình và thấp thuộc châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh (11). Campuchia còn có các loại gạo đặc sản như Phka Malis hay Phka Romdoul được bình chọn là loại gạo ngon nhất thế giới, giá bán hàng ngàn USD. Họ cũng đã có 8 thương hiệu gạo được đăng ký.

Việt Nam sẽ phát triển lúa gạo theo hướng nào?

Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược dài hạn với mục tiêu chất lượng, hiệu quả, đảm bảo an ninh lương thực trong mọi hoàn cảnh. Khi đó xuất khẩu gạo không còn là mục tiêu hàng đầu nữa. Đất lúa (không nhất thiết chỉ có đất sản xuất hiệu quả kém) được khuyến khích chuyển đổi sang cây trồng khác và chăn nuôi với nguyên tắc diện tích chuyển đổi có thể được tái sử dụng để trồng lúa nếu có yêu cầu. Các diện tích ven biển, trũng nên chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Sản phẩm của chăn nuôi và thủy sản, trái cây và rau không nhất thiết chỉ để xuất khẩu mà cần cho chiến lược sử dụng để cải thiện bữa ăn theo hướng chuyển dần từ an ninh lương thực sang an ninh dinh dưỡng. Khi đó, lượng tiêu thụ gạo trên đầu người của Việt Nam có thể giảm được 30%, từ 145 kg hiện nay còn khoảng 100 kg và tiến dần đến mức của Hàn Quốc, Nhật Bản là 65-70 kg gạo/người/năm. Điều này đồng thời cũng giúp chúng ta giảm áp lực sản xuất lúa.

Về tổ chức sản xuất, đây là khâu mang ý nghĩa quyết định nhất. Nhà nước và các bộ/ngành, địa phương thay vì tiến hành các hội nghị sản xuất vùng, đề xuất cơ cấu giống, kỹ thuật sản xuất… thì hãy tổ chức các hội nghị doanh nghiệp (phù hợp với định hướng hiện nay là Chính phủ kiến tạo, tạo sân chơi bình đẳng cho mọi đối tác được tham gia kinh doanh bình đẳng), cung cấp các chính sách, tín hiệu thị trường, đồng thời tiếp thu các đề xuất, vướng mắc về cơ chế, thể chế để có thể đề xuất Chính phủ và địa phương cải thiện, tháo gỡ trong khả năng cho phép.

Thứ hai, nghiên cứu để có thể chuyển đổi một tỷ lệ nhất định diện tích đất lúa sang các cây trồng khác, thậm chí nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu gần đây của Trường Chính sách công Crawford, Đại học quốc gia Úc (2016) cho thấy, khi chúng ta chuyển đổi 19% diện tích đất lúa (khoảng 1,46 triệu ha) sẽ làm tăng GDP khoảng 5,5 tỷ USD trong 20 năm tới. Trong đó, tỷ lệ diện tích chuyển đổi tại ĐBSH là 6,35-9,71% và ở ĐBSCL là 8,58-11,75%) (12). Cũng có thể giảm diện tích lúa bằng cách giảm vụ, gieo trồng các lúa cảm quang dài ngày, thay vì 3 vụ thì chỉ cần 1-2 vụ/năm tại ĐBSCL. Tuy nhiên, vấn đề tạo công việc cho người nông dân như thế nào để đảm bảo tính bền vững cần phải được tính toán.

Thứ ba,tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia đầy đủ vào chuỗi sản xuất, kinh doanh lúa gạo (từ vấn đề đất đai, vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ giới hóa sản xuất, xử lý sau thu hoạch, cho đến xây dựng thương hiệu và xúc tiến thị trường). Nhà nước cần sớm thúc đẩy hiện thực hóa chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp vốn được đề ra song chưa khả thi.

Thứ tư, cần xem xét lại vai trò và hiệu quả của từng công đoạn trong chuỗi giá trị sản xuất. Hiện tại, chi phí sản xuất là cao nhất, chiếm đến khoảng 70% giá thành, cần có các tác động ngay để giảm xuống một cách tối đa. Hiện có nhiều công nghệ đã được ứng dụng để giảm chi phí vật tư và công lao động, nhất là các tiến bộ về phân bón, sử dụng nước tiết kiệm, sản xuất giống xác nhận…

Tổn thất sau thu hoạch là một vấn đề lớn của sản xuất lúa mà chưa có giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Theo Chiến lược quốc gia sau thu hoạch, tổn thất sau thu hoạch lúa vùng ĐBSCL khoảng 13,7%, ĐBSH và các vùng khác 11,6%, nhất là vụ hè thu ở ĐBSCL có lúc lên tới 30% (so với các nước ASEAN 10%, Nhật Bản 3,9-5,6%). Như vậy, với sản lượng 45 triệu tấn, hàng năm chúng ta đã mất đi trên 5 triệu tấn thóc/năm, tương đương sản lượng của gần 1 triệu ha trồng lúa (FAO đưa ra con số thấp hơn, tổn thất của Việt Nam khoảng 9,2% hay 2,7 triệu tấn gạo, tương đương 4,15 triệu tấn thóc). Việc sấy lúa hay bảo quản đều có những tồn tại lớn cần nhanh chóng khắc phục để không chỉ giảm tổn thất về số lượng mà còn giảm tổn thất về chất lượng.

Thứ năm, hiện chúng ta đã có bộ giống lúa khá phong phú. Theo điều tra của Cục Trồng trọt (13), trongcả nước đang sản xuất 379 giống với 270 giống lúa thuần và 88 giống lúa lai, 21 giống lúa nếp. Tuy số lượng giống có giảm so với 5 năm trước đây (trên 500 giống), song vẫn còn cao, rất dễ dẫn đến sự mất đồng đều về chất lượng gạo. Tỷ lệ diện tích các giống chất lượng khá có tăng lên (ĐBSH có 8/10 giống nhóm đầu có chất lượng khá, song cũng mới chỉ chiếm trên 30% diện tích; tại ĐBSCL, nhóm 10 giống lúa dẫn đầu với 91,7% diện tích là lúa thuần, chất lượng khá nhưng chưa xây dựng được thương hiệu). Do vậy, phát triển giống lúa cần chia làm hai hướng: i) Ưu tiên cải tiến các giống lúa chất lượng (bao gồm cả lúa đặc sản, lúa nếp), đang được sản xuất quy mô khá trở lên, đã có thị trường để xây dựng vùng sản xuất tập trung. Đây là hướng đi phổ biến của Thái Lan, Ấn Độ và do vậy thương hiệu gạo luôn ổn định với các giống đã được thị trường biết đến; ii) Nghiên cứu tạo giống mới theo yêu cầu thị trường. Do vùng lúa hàng hóa chủ yếu tập trung ở ĐBSCL, với 99,2% là lúa thuần và chỉ 0,8% lúa lai thì tất cả nguồn lực hiện nay nên tập trung cho lúa thuần chất lượng.

Bên cạnh đó, việc tăng tỷ lệ giống xác nhận là rất quan trọng. Chỉ riêng việc thay giống thường bằng giống xác nhận có thể làm tăng năng suất 10-15%. Hiện nay, trên phạm vi cả nước, tỷlệ sử dụng giống xác nhận mới đạt 25-30% và do vậy dư địa cho tăng tỷ lệ giống xác nhận còn rất lớn.

Thứ sáu, nâng cao mức độ đồng đều về năng suất của từng giống, từng vùng và quốc giacần được xem xét thông qua áp dụng các gói kỹ thuật đồng bộ. Hiện nay, chênh lệch năng suất của cùng một giống là rất lớn, nhiều nơi đã đạt năng suất bình quân gần 7 tấn/ha, song cũng có nơi chỉ 3-4 tấn/ha, làm cho trung bình năng suất cả nước thấp. Nếu lấp được 50% khoảng cách này, chúng ta cũng có thể tăng thêm ít nhất 3,5-4 triệu tấn thóc. Các giải pháp nâng cao độ đồng đều có thể ứng dụng ngay là: nâng cấp hệ thống tưới, nâng cao chất lượng hạt giống, bón phân cân đối, bảo vệ cây trồng hiệu quả và giảm tổn thất sau thu hoạch.

Kết luận

Phát triển lúa gạo trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam 


Phát triển lúa gạo đang đối mặt với thách thức to lớn về BĐKH, cạnh tranh về đất đai với công nghiệp, đô thị và giao thông. Canh tác quá mức với việc thâm canh, tăng vụ làm cho suy giảm sức sản xuất của đất, ô nhiễm môi trường, tăng phát thải khí nhà kính. Thêm nữa, sản xuất lúa gạo mang lại lợi nhuận thấp nên gần như không có doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất lúa. Chi phí tăng cao cùng với thị trường bấp bênh làm cho người nông dân thực sự không yên tâm với nghề trồng lúa. Đã đến lúc, chúng ta cần đối xử với hạt gạo và người nông dân trồng lúa một cách công bằng hơn. Phải coi sản xuất lúa gạo không chỉ là vấn đề kinh tế, mà là lĩnh vực đảm bảo an sinh xã hội và ổn định kinh tế. Chuyển đổi một phần diện tích đất lúa hoặc giảm vụ một cách hợp lý cùng với việc tích tụ ruộng đất là xu hướng cần được xem xét. Việc bảo hiểm cho nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng cũng cần có giải pháp khả thi với sự quan tâm hiệu quả từ Nhà nước. Xuất khẩu gạo nên xem xét lại về mặt chiến lược dài hạn, lấy thu nhập của người dân sản xuất lúa gạo làm trung tâm.
 
Chú thích

1Với sản lượng 31,5 triệu tấn gạo năm 2015, giá xuất khẩu 353 USD/tấn (theo FAO Rice Market Monitor, 2016) cho gạo 5% tấm thì tổng giá trị của lúa gạo chỉ đạt 11,12 tỷ USD so với GDP quốc gia 204 tỷ USD, dẫn theo Diễn đàn đối tác phát triển Việt Nam (VDPF) ngày 5/12/2015 tại Hà Nội.
2Cục Trồng trọt, 2016.
3Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), 2016.
4Viện Khoa học khí tượng thủy văn và BĐKH, 2016.
5Theo báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5) của IPCC, kịch bản phát thải khí nhà kính SRES (Special Report on Emission Scenarios) được thay thế bằng kịch bản RCP (Representative Concentration Pathways) mô tả 4 kịch bản phát thải khí nhà kính, nồng độ khí quyển, phát thải các chất ô nhiễm và sử dụng đất khác nhau trong thế kỷ XXI. RCP2.6 là nhóm kịch bản thấp, RCP4.5 và RCP6.0 là nhóm kịch bản phát triển ổn định trung bình, còn RCP8.5 là cao. Ở Việt Nam, các nhà dự báo theo hai kịch bản về nồng độ khí nhà kính trung bình thấp (RCP4.5) và kịch bản cao (RCP8.5).
6Bộ NN&PTNT, 2016.
7Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo, 2016.
8Theo Tổng cục Thống kê năm 2011, 85% hộ trồng lúa trên cả nướccó diện tích sản xuất dưới 0,5 ha(riêngĐBSH 98% hộ trồng lúa có diện tích dưới 0,5ha). Tại ĐBSCL quy mô sản xuất có lớn hơn, trung bình 1ha/hộ, song vẫn còn 38,4% hộ sản xuất dưới 0,5ha,48,2% hộ từ 0,5đến 2ha và 13,4% hộ có diện tích trên 2ha. Mức hạn điền 3ha đối với ĐBSCL, 2ha đối với các khu vực khác là một trong những rào cản đối với tăng quy mô sản xuất nông hộ.
9Tô Phúc Tường, 2012.
10Theo tính toán của chúng tôi, khoảng 70% của 11 triệu tấn phân bón các loại (khoảng 3,0-3,5 tỷ USD) và 130 nghìn tấn thuốc bảo vệ thực vật (khoảng 750 triệu USD) được sử dụng cho cây lúa.
11Báo Đất Việt ngày 3/9/2015.
12Tom Kompas, 2016.
13Trần Xuân Định, 2016.

 

Triển vọng 2 giống “siêu lúa xanh”

Triển vọng 2 giống “siêu lúa xanh”

Báo Phú Yên. Vụ hè thu 2016, Sở NN-PTNT khảo nghiệm 4 giống lúa GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245. Đây là bộ giống “siêu lúa xanh” (Green Super Rice-GSR) được du nhập từ Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), trồng tại huyện Tây Hòa và PhúHòa. Cuối vụ năng suất lúa đạt từ 75-80 tạ/ha, chất lượng gạo tố

Năng suất cao 

Vụ hè thu năm nay, trên cánh đồng Cây Trảy, Hòn Đình Dưới thuộc xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) gieo sạ 4 giống “siêu lúa xanh” là GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam ưu 1245, trên diện tích 15ha. Trong quá trình sinh trưởng, lúa phát triển tốt, giai đoạn chắc xanh lúa phơi gié dài cả gang tay người lớn. Bà Phùng Thị Yên, thành viên tổ sản xuất giống của HTX Nông nghiệp Kinh doanh dịch vụ Hòa Mỹ Tây, cho hay: Cả cánh đồng Hòa Mỹ Tây rộng gần 100ha, nhưng khó có đám nào có năng suất cao bằng đám được trồng bởi giống GSR 65. Lúa chín sát cậy (gốc gié lúa), hạt sáng bóng mẩy, năng suất đạt trên 85 tạ/ha. Còn ruộng kề bên, không gieo sạ giống “siêu lúa xanh” thì lúa lép trong cậy, năng suất không quá 60 tạ/ha. 

Đám ruộng rộng 2 sào trồng giống lúa GSR 90 nằm cạnh đường nội đồng Cây Trảy, năng suất cũng gần 85 tạ/ha. Ông Cao Văn An, nông dân ở xã Hòa Mỹ Tây tham gia mô hình, trầm trồ: “Cánh đồng này thời gian qua được trồng nhiều giống lúa khác nhau, nhưng chưa có giống nào đạt năng suất cao như giống này. Lúa GSR 90 chỉ sạ 4kg/sào, đến thời kỳ mạ đẻ nhiều nhánh, khi trổ đóng hạt dày, phơi gié hạt sáng trưng”. 

Ông Nguyễn Trình, Trưởng Trạm Khuyến nông - Khuyến ngư huyện Tây Hòa, nhận định: Vụ hè thu năm nay, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Sâu bệnh hại có chiều hướng gia tăng, gây hại mạnh nhất là bệnh khô vằn, thối thân thối bẹ, rầy nâu… Thế nhưng, với giống “siêu lúa xanh”, cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu với sâu bệnh hại, hạn chế tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cho năng suất cao. 

Các giống GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245 cũng được trồng khảo nghiệm tại Trại giống Nông nghiệp Hòa An (huyện Phú Hòa). Theo bà Phạm Thị Thỏa, Trưởng Trại giống Nông nghiệp Hòa An, trong thời gian trồng khảo nghiệm giống lúa thuộc bộ giống “siêu lúa xanh”, cuối vụ chúng tôi nhận thấy giống có năng suất cao nhất là giống GSR 65 đạt 96,3tạ/ha, cao hơn giống đối chứng ML48 là 27,4 tạ/ha (năng suất giống lúa ML48 chỉ đạt 68,8tạ/ha). Tiếp đến là các giống GSR 90, năng suất 88,57 tạ/ha; giống GSR 38 năng suất đạt 88,2 tạ/ha và Nam Ưu 1245 đạt năng suất 83,1 tạ/ha. 

Tuyển chọn 2 giống “siêu lúa xanh” 

Trước đó, từ năm 2015, Sở NN-PTNT tiến hành khảo nghiệm 10 giống lúa “siêu lúa xanh” gồm GSR 90, GSR 84, Nam Ưu 1245, GSR 38, GSR 54, GSR 89, Nam Ưu 1241, GSR 65, GSR 36, GSR 63. Trải qua 3 vụ trồng khảo nghiệm tại 2 điểm là Trại giống Nông nghiệp Hòa An và cánh đồng huyện Tây Hòa được theo dõi theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đến nay, sở tuyển chọn 2 giống ưu tú phù hợp là GSR 65 và GSR 90. TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, chủ nhiệm đề tài tuyển chọn giống lúa gạo năng suất cao, phẩm chất tốt từ nguồn gen lúa siêu xanh, cho hay: Giống GSR 65 và GSR 90 có các đặc tính sinh trưởng, phát triển khỏe, kháng sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn ngày. Năng suất cao, đạt trung bình từ 75-80 tạ/ha, thâm canh có thể đạt trên 85-90 tạ/ha, gạo có chất lượng tốt. Thời gian đến, sở tiếp tục nghiên cứu quy trình canh tác phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống lúa. Đồng thời phối hợp với các địa phương sớm chuyển giao nhân rộng 2 giống lúa mới GSR 65 và GSR 90 đưa vào sản xuất đại trà nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Theo TS Hoàng Kim, giảng viên Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh, người dày công nghiên cứu bộ giống “siêu lúa xanh”, một số giống của bộ giống lúa “siêu lúa xanh” hiện có phẩm chất gạo cao nhất trên thị trường thế giới. Vì vậy trong quá trình khảo nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu nông học, năng suất và phẩm chất hạt gạo đã tuyển chọn ra bộ giống lúa chủ lực tiến tới xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao. Đây là một trong những giải pháp xây dựng cánh đồng mẫu lúa chất lượng, tạo xu hướng sản xuất lúa hàng hóa. Qua đó chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất mới cho nông dân mang lại nguồn thu nhập cao.

Từ Sắn Việt Nam đến Siêu Lúa Xanh

CÂY LƯƠNG THỰC. Từ Sắn Việt Nam đến Siêu Lúa Xanh (Green Super Rice - GSR) là câu chuyện về Sắn Việt Nam (chọn tạo giống sắn, xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững, bảo tồn và phát triển sắn)  và Siêu Lúa Xanh (chọn tạo giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen Siêu Lúa Xanh, xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác lúa GSR thích hợp bền vững, bảo tồn và phát triển lúa GSR, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam chất lượng cao), nhằm đáp ứng yêu cầu thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu

alt

alt

Sắn Việt Nam thành tựu và bài học đã khái quát tình hình sản xuất, tiêu thụ, thành tựu và bài học sắn Việt Nam qua nửa thế kỷ. Chọn tạo giống sắn; xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững; bảo tồn và phát triển sắn đã là các kinh nghiệm quý. Sắn Việt Nam hiện được ca ngợi  là điển hình của sắn thế giới khi nhiều hộ nông dân tại nhiều vùng rộng lớn ở Tây Ninh đã tăng năng suất sắn trên 400%, từ 8,35 tấn/ ha lên trên 36,0 tấn/ ha. (FAO,  2013b). Năng suất sắn Việt Nam bình quân cả nước hiện đạt trên gấp đôi so với năng suất sắn năm 2000 đạt 8,35 tấn/ha. Điển hình tại Tây Ninh, năm 2011 năng suất sắn đã đạt bình quân 29,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 45,7 nghìn ha với sản lượng là 1,32 triệu tấn, so vớ inăm  2000 năng suất sắn đạt bình quân 12,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 8,6 nghìn ha, sản lượng 9,6 nghìn tấn. Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Sắn Việt Nam hiện thành nguồn sinh kế, cơ hội xóa đói giảm nghèo và làm giàu của nhiều hộ nông dân cũng hấp dẫn sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp chế biến kinh doanh. Sắn Việt Nam bên cạnh cơ hội cũng bộc lộ nhiều rủi ro, bất cập, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến, kinh doanh và bảo vệ môi trường. Các nhà máy ethanol Việt Nam đầu tư lớn và lỗ; Nhà máy ethanol hoạt động khó khăn. Trong khi sắn Nigeria sản lượng 52,4 triệu tấn năm 2011 đứng đầu thế giới, năng suất sắn chỉ đạt 14,02 tấn/ ha (thấp hơn năng suất sắn Việt Nam) đã đạt thành tựu chế biến nhiên liệu sinh học đơn giản và hiệu quả bằng ‘bếp cồn sắn’ cho toàn quốc, dành được lượng lớn xăng dầu cho xuất khẩu, đi đôi với giải pháp bảo tồn và phát triển sắn bền vững. Hai bài viết “Bài học thực tiễn từ người Thầy” và “Đêm trắng và bình minh” đã đề cập.

Sắn Việt Nam bài liên quan:
"Năm giống sắn mới tại Phú Yên".
"Sắn Việt Nam: bảo tồn và phát triển, Tây Ninh"
"Cassava in Vietnam: Save and Grow 1DakLak ": https://youtu.be/EVz0lIJv2N4
"Cassava in Vietnam: Save and Grow 2DakLak": https://youtu.be/5l9xPES76fU
"Cassava in Vietnam: Save and Grow 3DakLak": https://youtu.be/XVhXnAxSFnc
"Cassava in Vietnam: Save and Grow   PhuYen", https://youtu.be/XDM6i8vLHcI

alt

Chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) thích ứng biến đổi khí hậu ở Việt Nam là sự đột phá tiếp nối theo cách mà cây sắn Việt Nam đã đạt thành công cao. Sản xuất lúa ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí hậu, nhiễm mặn lan rộng, kéo dài và khô hạn cục bộ. Việc chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha trong điều kiện sản xuất tại Việt Nam, chất lượng gạo tốt, ngon cơm, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, kháng sâu bệnh, chống chịu mặn, hạn, thích nghi cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời là một đòi hỏi thực tiễn cấp bách. Cách đột phá được tập trung thực hiện là chọn tạo giống lúa siêu xanh (Green Super Rice – GSR) thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam. 754 giống lúa  siêu xanh (GSR) được nhập nội trực tiếp về Việt Nam từ IRRI - CAAS (Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI và Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc CAAS). Mạng lưới nghiên cứu phát triển lúa siêu xanh Việt Nam gồm: Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUF), Sở Nông nghiệp & PTNT Phú Yên, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (CLRRI), Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU), Trung tâm Giống Cây trồng Sóc Trăng, Viện Di truyền Nông nghiệp (AGI), Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia và Hệ thống Khuyến nông, các doanh nghiệp sản xuất cung ứng giống lúa của các tỉnh. Những mẫu giống GSR này được phối kết, khai thác, tuyển chọn cùng với nguồn vật liệu lúa đặc sản Sóc Trăng, Viện Lúa, Viện Di truyền Nông nghiệp, .... Mục tiêu: chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha , chất lượng gạo tốt, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, ít sâu bệnh, đáp ứng cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn (chịu được độ mặn 4-6‰) và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời.

Lúa Việt Nam bài liên quan:

1. Báo AGROVIET (Bộ Nông nghiệp và PTNT). Số 4. 2014. Sóc Trăng: Chọn tạo giống lúa chịu mặn thích nghi với biến đổi khí hậu.http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/67/79/7973/Default.aspx

2. Báo Nhân Dân, 2015. Vũ Thế Thường Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu .http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_chuyende/item/26547602.html

3. Bộ Nông nghiệp & PTNT 2011. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa (QCVN 01-55: 2011/BNNPTNT)

4. Đặng Văn Mạnh, Trần Thị Lệ, Hoàng Long, Hoàng Kim 2015. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu mặn thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Phú Yên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tháng 9/ 2015, (đang in).

5. Hoang Long, Zhi-Kang Li, Tian-Qing Zheng, Hoang Kim, Pham Trung Nghia, Tran Thi Le, Nguyen Trong Tung, Nguyen Thanh Phuoc, Le Huy Ham et al. 2015. Result of Green Super Rice (GSR) Breeding adaptation to climate change in Vietnam. Conference of Young Scientists” hosted  by IAS, HCMC, Vietnam, 18 March. 2015. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 121 Nguyen Binh Khiem, district 1. HCMC, Vietnam

6. Hoang Long, Tian-Qing Zheng, Zhi-Kang Li 2014. QTL mapping for leaf rolling and yield component traits in a set of reciprocal introgression lines and RILs in rice (Oryza sativa L). Nghiên cứu bản đồ QTL của tính trạng xoắn lá và tính trạng năng suất của ILs và RILs ở lúa (Oryza sativa L). Luận văn thạc sĩ. 66 trang

7. Hoàng Thị Hường 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Kế Sách, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 102 trang.

8. IRRI, 2013. Strategies for developing Green Super Rice; Contributed by Qifa Zhang, trích dẫn bởi Hoàng Long, Zhikang Li, Tian Qing Zheng, 2015. Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính xoắn lúa ảnh hưởng tới năng suất lúa ở các dòng IL đối ứng với RIL của lúa (Oryza sativa L.)

9. IRRI, 2002. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa (SES)

10. Nguyễn Minh Thùy 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Long Phú, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 100 trang.

11. Phạm Trung Nghĩa 2010. Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chống chịu mặn và phẩm chất tốt cho đồng bằng Sông Cửu Long và phía Bắc. Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện Lúa Đông Bằng Sông Cửu Long. 126 trang.

12. Nguyễn Thị Bắp và ctv. 2015. Kết quả chọn tạo giống lúa chịu mặn tại Sóc Trăng. Tài liệu Tổng kết Đề tài  Lúa chịu mặn Sóc Trăng. Báo Nông nghiệp Việt Nam. http://nongnghiep.vn/chon-giong-lua-chiu-man-post118496.html

Bài và ảnh: Hoàng Long, Hoàng Kim

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chọn giống lúa chịu mặn

Trung tâm Giống cây trồng Sóc Trăng phối hợp Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu & phát triển ĐBSCL (Trường ĐH Cần Thơ)… sản xuất  thử nghiệm một số giống lúa mới trên vùng đất nhiễm mặn, bước đầu đạt kết quả khả quan.

Tỉnh Sóc trăng có địa hình tương đối thấp, bằng phẳng cùng hệ thống sông, rạch, kênh mương thủy lợi và chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ đông. Vào mùa khô hàng năm, mặn xâm nhập gây ảnh hưởng đến một số vùng SX, nhất là vùng trồng lúa. Vì thế tỉnh chú trọng công tác tìm giống lúa chịu mặn đáp ứng nhu cầu SX...

Từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2013, Trại Giống cây trồng Long Phú (Trung tâm Giống cây trồng Sóc Trăng) thực hiện đề tài thí nghiệm các giống lúa trong điều kiện thực tế ngoài đồng, trên vùng đất nhiễm mặn tại ấp Sóc Lèo, xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề; ấp Lương Văn Hoàng, xã Ngọc Tố, huyện Mỹ Xuyên và ấp Nguyễn Tăng, Xã Đại Ân 1, huyện Cù Lao Dung.

alt

Viện Lúa ĐBSCL nghiên cứu giống chịu mặn

Mục tiêu nghiên cứu chọn được 1 - 3 giống chịu mặn và cho năng suất cao hơn giống OM576 (Hàm Trâu) từ 10% trở lên để nâng cao hiệu quả SX trên vùng đất mặn, giúp nông dân giảm rủi ro. Quy mô thực hiện 8 bộ giống tổng cộng 113 giống lúa, diện tích mỗi điểm thí nghiệm là 3.500 m2. Riêng điểm Mỹ Xuyên 110 giống.

Các giống mới được hình thành từ các dòng/giống lúa tuyển chọn từ Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu & phát triển ĐBSCL, Trường ĐH Nông lâm, gồm bộ giống A0, A1, bộ chịu mặn, bộ giống phẩm chất; các dòng Green - Super rice; sử dụng lại một số giống cao sản đã trồng phổ biến cho dễ đánh giá và dùng giống đối chứng là OM576.

OM576 là giống lúa có TGST khoảng 105 ngày, cao khoảng 85 - 95 cm, chịu mặn khá, phù hợp cho vùng nhiễm phèn và mặn ở Sóc Trăng, năng suất cao và ổn định, được nông dân sử dụng nhiều năm qua.

Qua kết quả thí nghiệm, nhóm cán bộ nghiên cứu thực hiện đề tài đề nghị chọn các giống OM9581, OM108-200, SH2-2 (OM105) để SX trong vùng nhiễm mặn (≤ 0.3%); 

SX thử trong vùng mặn để đánh giá thêm tính thích nghi của các giống cao sản OM7222GT, OM8931, OM9581-3, OM8017, HHZ5 - Y7 - Y3, HHZ - Y7 - Y1, HHZ - Y7 - Y1, HHZ12 - DT - 11 - DT2, HHZ5 - SAL1 - SAL2 và các giống lúa thơm nhẹ OM9915, OM9921, OM9916, OM9918.

Tiếp tục khảo nghiệm thường xuyên các bộ giống mới tại các vùng trồng lúa bị nhiễm mặn để có cơ sở bổ sung, đổi mới những giống lúa chống chịu mặn tốt trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Theo Trung tâm GCT Sóc Trăng, kết quả điều tra từ trước năm 2009 Sóc Trăng chưa có nhiều công trình nghiên cứu giống lúa chịu mặn. Tuy nhiên, một số giống đang trồng được xem là chịu mặn như Tép hành đột biến, OM723-11, OM576, OM 2717, OM2517, OM 1490, MTL547, IR59656, Khao Dawk Mali, IR42 rằn và lúa thơm ST5, ST10.

Từ năm 2009 đến nay, Trung tâm đã thực hiện khảo nghiệm tuyển chọn giống lúa chịu mặn từ nguồn giống của Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu & phát triển ĐBSCL. Kết quả chọn được các giống OM6976, OM6677, OM8232, OM2395,  OM6677, OM5629, OM6162, OM5464, OM8923, OM4900, OM6976-41, OM7364, OM7347, OM3995, OM9577, OM9584, OM5953.

Theo ThS Nguyễn Thị Bắp, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu thí nghiệm giống lúa tại Sóc Trăng, các giống OM 6976, OM 6677, OM6976, OM5629, OM6162, OM5464, OM4900, OM7364, OM9577, OM9584 có khả năng chịu mặn khá và cho năng suất cao hơn OM576 (Hàm Trâu) và là những giống có khả năng thích hợp vùng nhiễm mặn. Tuy nhiên chỉ chịu mặn nhẹ và không ổn định trong điều kiện mặn lên xuống thất thường như hiện nay.

Nghiên cứu khả năng chống chịu mặn của một số giống lúa đang được canh tác phổ biến tại ĐBSCL, Viện Lúa ĐBSCL đã tiến hành thanh lọc 15 giống, gồm 8 giống cổ truyền và 7 giống cao sản ngắn ngày. Kết quả thí nghiệm cho thấy giống OM997 chống chịu mặn trung bình và cho năng suất cao.

Thời gian chọn tạo tương đối dài, từ lai tạo, tuyển chọn đến khi có được một số dòng lúa mới, thuần mất ít nhất là 6 - 7 vụ và cần thêm 2 - 4 vụ nữa để đánh giá về năng suất, khảo nghiệm đặc tính của giống.

Từ năm 2009 - 2012, Viện đã tìm 30 dòng lúa có triển vọng chịu mặn. Đồng thời phối hợp khảo nghiệm, đánh giá ở các trung tâm giống Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu...

HƯNG PHÚ  - Nông nghiệp VN, 04/12/2013

Xuất khẩu gạo và vấn đề đặt ra

Xuất khẩu gạo và vấn đề đặt ra

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp nước ta đã có bước tiến vượt bậc. Việt Nam đã trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Tuy vậy, thời gian gần đây, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của nông dân.  

Theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, kể từ cuối thập kỷ 1980 đến nay, ngành lúa gạo của Việt Nam đã phát triển liên tục theo định hướng gia tăng sản lượng. Sự gia tăng sản lượng lúa gần như liên tục trong suốt hơn 2 thập kỷ qua đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn liên tục là một trong 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Cụ thể, từ mức xuất khẩu 1,99 triệu tấn năm 1995, khối lượng gạo xuất khẩu đã tăng lên mức 3,48 triệu tấn năm 2000 và 8,02 triệu tấn vào năm 2012. Kim ngạch xuất khẩu gạo đã tăng từ mức 854,6 triệu USD năm 1996 lên mức 3,678 tỷ USD vào năm 2012.


Tuy vậy, do phải đối mặt với áp lực cạnh tranh cao và sụt giảm nhu cầu của các thị trường truyền thống như Malaysia, Philippines và Indonesia, năm 2013, cả nước chỉ xuất khẩu được gần 6,6 triệu tấn gạo, giảm hơn 1,4 triệu tấn (tức giảm 17,76%) so với năm 2012, kim ngạch đạt gần 2,93 tỷ USD (giảm 20,36%). Bước sang năm 2014, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 10 năm 2014 ước đạt 669 nghìn tấn với giá trị 317 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng năm 2014 ước đạt 5,68 triệu tấn và 2,59 tỷ USD, giảm 2,7% về khối lượng, nhưng lại tăng 1,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Thị trường xuất khẩu lớn nhất năm 2014 là Trung Quốc chiếm 32,48%. Thị trường Philippines cũng có sự tăng trưởng đột biến trong 9 tháng đầu năm với mức tăng gấp 3,19 lần về khối lượng và gấp 3,23 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Với mức tăng trưởng này, Philippines vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 22,06%, tiếp đến là Malaysia, Gana và Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 7,07%; 5,76% và 3,19%... Cả năm 2014, Việt Nam phấn đấu xuất khẩu 7 triệu tấn gạo.
 

Áp lực cạnh tranh gia tăng

Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là sản lượng lúa tăng nhưng không kèm theo sự cải thiện thu nhập của người nông dân. Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đa dạng, và đặc biệt đang tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc. Khi những thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức ép giảm giá lên toàn bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạo trong nước, đặc biệt là người nông dân. Do vậy, đã có sự đồng thuận chung trong giới hoạch định chính sách về vấn đề này. Đó là mong muốn ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển dịch sang sản xuất các loại gạo chất lượng cao hơn; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; và cung ứng gạo chất lượng cao cho tiêu thụ trong nước. Dù là giải pháp nào, để đạt được mục tiêu thì đều phải dựa vào các lực lượng của thị trường, mới có thể giúp cho các hoạt động sản xuất và tiêu thụ của ngành lúa gạo theo định hướng mới được bền vững.

Trong những năm vừa qua, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và Pakistan là những quốc gia xuất khẩu gạo chính, chiếm tới 71,81% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu. Trung Quốc, Nigeria, Iran và Indonesia là những nước nhập khẩu gạo chính, nhưng chỉ chiếm 23,32% tổng lượng gạo nhập khẩu toàn cầu. Điều này cho thấy các nước xuất khẩu gạo có xu hướng tập trung hơn, trong khi các nước nhập khẩu khá phân tán. Mỗi quốc gia xuất khẩu gạo thường có những thị trường xuất khẩu chủ yếu của riêng mình và cạnh tranh trong những thị trường xuất khẩu khác. Gạo Ấn Độ thường được xuất khẩu sang châu Phi và các nước Ả rập, Hồi giáo. Pakistan hướng mạnh đến thị trường Trung Đông, Bắc Âu, Bắc Mỹ và một số nước châu Á khác. Gạo của Mỹ được tiêu thụ chủ yếu tại các nước châu Mỹ Latinh, Nhật Bản, Canada. Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia xuất khẩu nhiều sang châu Á, châu Phi. Thái Lan còn có khả năng thâm nhập được vào các thị trường gạo của các nước phát triển như Nhật, Mỹ, Canada,... Trong khi đó, Việt Nam lại có thể xuất khẩu gạo sang các nước thuộc EU.

Nhìn chung, với các đặc điểm như thiếu chuẩn hoá, cước phí vận chuyển cao, khó bảo quản, và chịu sự bảo hộ nội địa cao, gạo xuất khẩu là mặt hàng có tính cạnh tranh cao, bất chấp việc hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu tập trung vào một số ít quốc gia. Giá gạo xuất khẩu trên thế giới liên tục được điều chỉnh bởi tất cả các tác nhân trong chuỗi giá trị thông qua quá trình tham chiếu tới nguồn cung và nguồn cầu ở các quốc gia khác nhau, tới các mức giá cả của các loại gạo khác nhau, cũng như của các loại ngũ cốc khác và tới các chính sách bảo hộ gạo nội địa liên tục thay đổi của các quốc gia. Vai trò của các chính phủ cũng như của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu gạo trong việc định hình giá gạo có xu hướng ngày càng giảm, nhường chỗ cho vai trò của các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ trong một thị trường cạnh tranh ngày càng năng động.

Hiện nay, có khoảng 50 loại giá quốc tế cho các chủng loại gạo khác nhau. Giá gạo xuất khẩu được tham chiếu nhiều nhất là gạo Thái Lan 5% tấm. Dù rằng, trong ngắn hạn các chủng loại gạo có thể có biến động giá khác nhau, nhưng người ta thấy rằng các mức giá có xu hướng biến động đồng hướng trong dài hạn. Trong tất cả các loại gạo thì gạo thơm có giá cao nhất. Đây là loại gạo phổ biến được xuất khẩu bởi Thái Lan với tên gọi là Thai Hommali và bởi Ấn Độ với tên gọi Basmati. Tiếp theo là gạo trắng hạt dài chất lượng cao (chứa 5% tấm), rồi đến gạo trắng hạt dài chất lượng thấp (chứa 25 % tấm), gạo đồ, và gạo tấm. Gạo thơm của Việt Nam vẫn chưa xây dựng được thương hiệu riêng.

Áp lực cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu gạo ngày càng tăng. Áp lực cạnh tranh này chủ yếu do xu hướng gia tăng xuất khẩu gạo. Trong số các nước xuất khẩu truyền thống, Ấn Độ là nước có sự bứt phá mạnh mẽ nhất trong xuất khẩu gạo, và trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Những năm gần đây, Ấn Độ đã mở rộng được thành công thị phần xuất khẩu gạo sang Nam Phi và có thể cạnh tranh ngang sức với Thái Lan ở thị trường này. Ở châu Á, Campuchia và Myanmar đang có mức tăng trưởng mạnh về xuất khẩu gạo, cạnh tranh trực tiếp với các nước xuất khẩu gạo truyền thống. Xu hướng tự lực về cung cấp lúa gạo tại các nước nhập khẩu gạo cũng là một yếu tố. Xu hướng này cũng được nhận thấy rõ ở châu Phi. Nguồn cung dồi dào là nguyên nhân khiến một số nước ở châu Phi cắt giảm lượng gạo nhập khẩu.

Cấu trúc thị trường chưa bền vững

Thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam là châu Á (chiếm 59%) và châu Phi (chiếm 24%). Trong những năm gần đây, tỉ trọng các hợp đồng chính phủ (G2G) có xu hướng giảm dần. Năm 2007, tỷ trọng hợp đồng G2G chiếm 70% trọng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ này giảm xuống còn 42,7% năm 2009 và đến năm 2012, 2013 chỉ còn chưa đến 20%. Tuy nhiên, có một điểm đáng mừng là tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng tăng. Tuy vậy, cùng một chủng loại gạo xuất khẩu nhưng gạo Thái Lan thường có giá cao nhất và gạo Việt Nam có giá thấp nhất. Chẳng hạn cùng là gạo hạt dài chất lượng cao, nhưng của Thái Lan vào tháng 7/2012 có giá 592 USD/tấn, trong khi của Việt Nam chỉ có 415 USD/tấn. Tương tự, gạo thơm Hommali của Thái Lan có giá 1.025USD/tấn, còn gạo thơm của Việt Nam 5% tấm chỉ có giá 625 USD/tấn.

Điểm đáng chú ý, trên thị trường xuất khẩu gạo hiện nay vẫn còn thiếu vắng các liên kết ngang giữa các công ty (ví dụ như trong việc đàm phán giá lúa gạo xuất khẩu) và liên kết dọc với các công ty cung ứng đầu vào cho sản xuất. Xu hướng xây dựng vùng nguyên liệu hiện được thực hiện rất “gượng ép” do các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn cung sẵn có trên thị trường, sản phẩm xuất khẩu không có sự khác biệt lớn, rủi ro về lợi nhuận cao do thị trường đầu ra không ổn định. Trong những năm vừa qua, ngành lúa gạo có lẽ là một trong những ngành nhận được sự quan tâm nhiều nhất của Chính phủ. Một loạt các chính sách được ban hành tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi của các chủ thể trên thị trường lúa gạo. Nhìn chung, mục tiêu của các chính sách đều hướng đến nâng cao vị thế của người nông dân trong chuỗi giá trị ngành lúa gạo cũng như giúp cho ngành lúa gạo có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các chính sách được thiết kế cũng bộc lộ nhiều bất cập và không đạt được mong muốn như kỳ vọng.

Chẳng hạn như chính sách quy định điều kiện doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Ngày 4/11/2010, Chính  phủ ban hành Nghị định 109/NĐ-CP/2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo. Theo đó, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ các điều kiện và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải đảm bảo ít nhất hai điều kiện cần, đó là: có ít nhất 1 kho chuyên dùng dự trữ tối thiểu 5.000 tấn lúa; sở hữu ít nhất 1 cơ sở xay xát thóc với công suất tối thiểu là 10 tấn thóc/giờ tại các tỉnh, thành phố có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển xuất khẩu thóc, gạo.

Mục tiêu của chính sách này là giảm bớt các đầu mối xuất khẩu nhằm tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán. Hệ quả của chính sách này là tập trung xuất khẩu vào một số doanh nghiệp lớn, loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ vì khó đáp ứng được hai điều kiện trên. Tuy nhiên, chính sách này không đạt được mục tiêu liên kết nhà xuất khẩu với nông dân. Chính sách này vô hình trung tạo ra thêm một tầng lớp nữa giữa nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu. Đó là các doanh nghiệp thu gom cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Việc tập trung xuất khẩu vào một số ít doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp lớn này có xu hướng tìm các thị trường xuất khẩu những lô lớn các loại gạo chất lượng thấp với giá rẻ thay vì tìm kiếm xuất khẩu tại các thị trường ngách các loại gạo có chất lượng cao, với giá bán cao hơn. Chính sách này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ có liên kết với nông dân để sản xuất các giống lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ, đặc sản địa phương, có thị trường đầu ra ổn định, lợi nhuận cao và tính cạnh tranh cao, nhưng lại không thể trực tiếp xuất khẩu do không đủ điều kiện về kho chứa, hệ thống xay xát…

Trước xu hướng gia tăng cạnh tranh xuất khẩu gạo trên thế giới, nếu không xuất khẩu được gạo, Việt Nam sẽ bị rơi vào tình trạng dư thừa nguồn cung trong nước. Với cấu trúc thị trường lúa gạo như hiện tại, theo đó giá thu mua xuất khẩu sẽ quyết định giá thu mua lúa của nông dân trong nước, thì giá lúa trong những năm tới sẽ tiếp tục bị sụt giảm. Khi đó áp lực với chính sách mua dự trữ lúa gạo của Chính phủ để giúp đỡ người nông dân sẽ gia tăng, đòi hỏi sự can thiệp ngày càng lớn hơn, dẫn tới những méo mó trên thị trường.

Vấn đề đặt ra

Khuynh hướng sản xuất lúa gạo Việt Nam dường như bị thiên về phía các nhà xuất khẩu. Tư tưởng coi xuất khẩu lớn như một thành tích vẫn đang ngự trị. Trong khi đó, đã đến lúc cần xem xét lại tổng thể vai trò của việc xuất khẩu gạo trong nền ngoại thương Việt Nam cũng như một động lực tăng trưởng. Sản phẩm gạo Việt Nam có giá thành được trợ cấp trong một số khâu đầu vào thiết yếu (thủy lợi, hạ tầng…) nên vấn đề cần đặt ra đối với gạo xuất khẩu là có nên tiếp tục duy trì tình trạng trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài hay không? Nếu cần có chiến lược điều chỉnh giảm trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài đối với gạo xuất khẩu của Việt Nam thì vấn đề nên được bắt đầu từ đâu? Người nông dân có vai trò và lợi ích/thiệt hại gì trong quá trình này?

Một vấn đề lớn đã và đang được đặt ra ở Việt Nam là khu vực nào trong chuỗi sản xuất lúa gạo sẽ có khả năng làm nòng cốt cho sự phát triển bền vững của toàn chuỗi? Dựa trên cấu trúc hiện thời của thị trường lúa gạo Việt Nam, chúng tôi đề xuất nên lưu ý tiềm năng của khu vực xay xát - chế biến là khu vực có tiềm năng tự nhiên cần được khuyến khích phát triển, từ đó tích tụ mở rộng ra về hai phía (nguyên liệu và thành phẩm), trở thành các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, thiết bị chế biến hiện đại và có thị trường đầu ra ổn định, đảm bảo chất lượng thành phẩm. Có thể coi đây là lựa chọn chiến lược quyết định tương lai vị thế ngành lúa gạo Việt Nam.

Thay đổi cấu trúc quản lý hành chính phù hợp với phương hướng dịch chuyển của cấu trúc thị trường, trong đó doanh nghiệp tư nhân và người nông dân sản xuất quy mô lớn sẽ chiếm ưu thế trong tương lai. Xây dựng và hoàn thiện bộ qui trình chuẩn về chế biến và xay xát gạo Việt Nam (GMP-RM). Các doanh nghiệp chế biến – xay xát gạo được khuyến khích tuân thủ GMP-RM và tự chịu trách nhiệm trong việc phân loại gạo chế biến theo các tiêu chuẩn phân loại gạo trên thế giới. Những doanh nghiệp xay xát tuân thủ GMP-RM ở những mức độ khác nhau sẽ được các ưu đãi về thuế, vốn, v.v…

Nhiều ý kiến cho rằng, cần bãi bỏ thuế VAT với tiêu thụ mặt hàng gạo trong nước để tạo công bằng giữa doanh nghiệp phân phối gạo trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu và tiểu thương. Hiện nay các công ty bán gạo trực tiếp cho người tiêu thụ gạo trong nước phải nộp thuế VAT 5% trong khi bán cho các doanh nghiệp xuất khẩu thì không phải nộp. Điều này tạo ra sự bất lợi cho các doanh nghiệp muốn phát triển thị trường trong nước khi phải cạnh tranh với hệ thống phân phối gạo truyền thống qua mối quan hệ thương lái - tiểu thương. Bãi bỏ thuế VAT sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp gạo tạo dựng được các thương hiệu gạo trên thị trường nội địa, giúp cho người dân Việt Nam có cơ hội được tiêu dùng gạo có chất lượng cao hơn. Nhà nước chỉ khôi phục lại việc thuế VAT với mặt hàng gạo khi việc phân phối gạo trong nước đa phần qua các doanh nghiệp.

Nới lỏng điều kiện trở thành doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Các điều kiện hiện nay không khiến cho gạo của Việt Nam có chất lượng tốt hơn hoặc có giá cao hơn, mà chỉ khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo có thêm quyền lực thị trường để áp đặt các điều kiện bất lợi cho các chủ thể khác và nông dân. Đặc biệt đối với các loại gạo đặc sản (thường có sản lượng không lớn, nhưng có lợi nhuận và tính cạnh tranh cao), nên được tạo điều kiện để xuất khẩu theo những điều kiện ưu tiên riêng (doanh nghiệp xuất khẩu không nhất thiết phải đáp ứng đủ các quy định hiện hành trong Nghị định 109).

Phát triển cơ chế tài chính vi mô và bảo hiểm phù hợp cho người nông dân, đặc biệt nông dân nhỏ. Những chính sách này sẽ giúp các hộ nông dân ít phụ thuộc hơn vào các đơn vị cung ứng đầu vào. Hướng tới việc khuyến khích bảo hiểm và cho vay theo chuỗi hoặc tổ chức đối tác đầu tư trực tiếp giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước và nông dân. Phân biệt giữa lúa gạo thương mại và lúa gạo dự trữ. Định hướng lại các tổng công ty lương thực theo hướng thiên về thực thi chính sách, giảm dần vai trò thương mại trên thị trường, nhường chỗ cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác. Tổ chức lại Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) để đảm bảo Hiệp hội phải có đại diện đầy đủ của doanh nghiệp tư nhân, chính quyền địa phương và nông dân trong thương mại lúa gạo. Các quyết định của VFA cần đủ kịp thời theo biến động của thị trường thế giới để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp và người nông dân./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Khảo nghiệm giống lúa trên vùng đất nhiễm mặn

Khảo nghiệm giống lúa trên vùng đất nhiễm mặn
 
Thời gian qua, cánh đồng ven biển thường bị nhiễm mặn, nhiều diện tích lúa ngã rạp do nước biển xâm thực. Để tạo ra giống lúa chịu mặn thích ứng với biến đổi khí hậu, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành trồng khảo nghiệm 21 giống lúa chịu mặn. Sau 2 vụ đã chọn ra 3 giống có tính chịu mặn cao đưa vào sản xuất vụ đến.
 
CHỌN ĐƯỢC 3 GIỐNG LÚA CHỊU MẶN CAO
 
Liên tiếp trong 2 vụ lúa vừa qua (đông xuân 2013-2014, hè thu 2104), tại cánh đồng các xã An Hòa, An Ninh Tây (huyện Tuy An), Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành trồng khảo nghiệm bộ giống gồm 21 giống lúa. Đây là bộ giống lúa được chọn từ 2 nguồn: H (Huế) của Trường đại học Nông lâm Huế và GSR (siêu lúa xanh) của Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh với giống đối chứng ML49 trồng phổ biến tại địa phương.
 
Diện tích ruộng khảo nghiệm là 2.000m2 (mỗi xã 1.000m2) và được phân ra 2 nhóm kỹ thuật, mỗi nhóm có 3 cán bộ của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh và 1 cán bộ địa phương. Trong suốt vụ trồng khảo nghiệm, nhóm kỹ thuật ghi lại các số liệu điều tra, đặc tính nông học của các giống lúa từng giai đoạn, từ khi lúa bén rễ đến đẻ nhánh rồi trổ đòng. Theo điều tra của nhóm kỹ thuật, độ mặn ở ruộng khảo nghiệm 7 ngày sau sạ lên đến 1,73%o, đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa ở giai đoạn mạ. Thế nhưng, các giống khảo nghiệm đều có thời gian bén rễ 4 đến 5 ngày sau cấy, tạo điều kiện cho lúa đẻ nhánh sớm, tỉ lệ số nhánh hữu hiệu thành bông cao, dẫn đến tăng năng suất. Chị Nguyễn Thị Xuân Tình, đại diện nhóm kỹ thuật ở ruộng thực nghiệm xã An Hòa, cho hay: “Các giống đều đẻ nhánh tối đa 42 ngày sau cấy, chỉ có giống GSR99 tối đa là 49 ngày. Giống đẻ nhánh cao nhất là giống GSR99 với 15,2 nhánh/khóm (bụi), giống đẻ nhánh thấp nhất là giống GSR90 với 6,4 nhánh/khóm, so với giống đối chứng ML49 là 8,3 nhánh/khóm. Tỉ lệ nhánh hữu hiệu của các giống khảo nghiệm đạt từ 63 đến 90,9%. Từ việc nghiên cứu đẻ nhánh của cây lúa để gieo cấy mật độ thích hợp, giảm tối đa tỉ lệ nhánh vô hiệu, giảm tiêu hao phân bón.
 
Thời gian sinh trưởng của cây lúa là một trong những chỉ tiêu để chọn giống cơ cấu vào sản xuất. Qua kết quả theo dõi cho thấy, các giống lúa khảo nghiệm có thời gian sinh trưởng từ 117 đến 137 ngày, so với giống đối chứng ML49 là 119 ngày. Sâu bệnh hại là yếu tố quyết định năng suất, lợi nhuận sau này, trong đó, đáng chú ý là bệnh đạo ôn thường xuất hiện ở vụ đông xuân. Qua theo dõi các giống ở ruộng khảo nghiệm, chỉ có giống GSR66 xuất hiện bệnh đạo ôn nhưng tỉ lệ rất thấp. Bệnh đốm nâu xuất hiện trên các giống nhưng tỉ lệ bệnh cũng rất thấp.
 
Cuối vụ năng suất thực thu các giống lúa khảo nghiệm đạt từ 13,7 đến 74 tạ/ha, trong đó giống GSR66 đạt cao nhất với 74 tạ/ha, cao hơn so với giống đối chứng 8,9 tạ/ha; thấp nhất là giống GSR99 với 13,7 tạ/ha thấp hơn so với giống đối chứng 51,4 tạ/ha. Các giống H2, H7, H5, GSR99, GSR65, GSR39, GSR100 và ĐV2 đều chênh lệch so với giống đối chứng.
 
Từ cơ sở số liệu điều tra theo đặc tính của giống và điều kiện ngoại cảnh tác động trên cùng một điều kiện canh tác, qua 2 vụ trồng khảo nghiệm, nhóm kỹ thuật đã chọn ra 3 giống lúa H11, GSR50, GSR65 có tính chống chịu mặn cao đưa vào sản xuất đại trà trong thời gian đến.
 
SẼ ĐƯA VÀO SẢN XUẤT ĐẠI TRÀ
 
Từ nhiều năm nay, cánh đồng xã An Ninh Tây thường bị nhiễm mặn do nước biển xâm thực nên nhiều diện tích lúa trong giai đoạn đẻ nhánh đang phát triển tươi tốt thì ngã rạp. Ông Võ Quang Hưng, Phó giám đốc HTX Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp An Ninh Tây, cho biết: “Nước biển ngày càng lấn sâu vào đất liền với nồng độ cao hơn, vì vậy phải tạo ra giống lúa chống chịu mặn mới mang lại hiệu quả. Trước đây, nhiều thửa ruộng bị ngập mặn mất trắng, rủi ro về kinh tế cho nông dân rất lớn”.
 
Đối với cánh đồng xã An Hòa, tình hình nhiễm mặn tiềm tàng trong đất, những thửa ruộng mùa nắng khô nước để lại lớp muối trong đất. Theo nghiên cứu của nhóm kỹ thuật, độ mặn ở đây lên đến 10%o, quá sức chịu đựng của cây lúa. Lâu nay, cái khó đối với nông dân canh tác trên cánh đồng này là không có giống chịu mặn để gieo sạ. Ông Cao Văn Tiên, Phó phòng NN-PTNT huyện Tuy An, cho hay: Khu vực ruộng nhiễm mặn, bà con nông dân đặt máy bơm nước ngọt từ các ao vào ruộng để rửa mặn, đồng thời phun thuốc dưỡng nhưng giống lúa trồng ở địa phương lâu nay không chịu nổi độ mặn cao nên phát triển kém, còi cọc. Còn khi trổ, do quá trình phân hóa đòng bị nhiễm mặn nên bông lúa hoại tử. Phòng NN-PTNT huyện đề nghị cơ quan chức năng tiếp tục khảo nghiệm các bộ giống mới tại các vùng trồng lúa bị nhiễm mặn để chọn ra những giống lúa chống chịu mặn tốt.
 
Thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật, toàn tỉnh có khoảng 600ha bị nhiễm mặn, trong đó, huyện Tuy An có diện tích lúa nhiễm mặn nhiều nhất, với 300ha tập trung ở các xã An Hòa (80ha), An Cư (30ha), An Ninh Đông (70ha), An Ninh Tây (30ha), An Hiệp (60ha) và An Mỹ (30ha). Thời điểm ảnh hưởng triều cường nhẹ, năng suất lúa ở vùng này chỉ đạt từ 30 đến 50 tạ/ha, ảnh hưởng nặng chỉ đạt từ 10 đến 20 tạ/ha, có nơi mất trắng. Chi phí sản xuất ở các chân ruộng bị nhiễm mặn tăng cao do triều cường ngập lúc đầu vụ nên phải sạ lại 2 đến 3 lần.
 
Thạc sĩ Đặng Văn Mạnh, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết: Mực nước biển xâm thực đã làm tăng thêm diện tích lúa bị nhiễm mặn, ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và sản lượng nông nghiệp. Vì vậy, việc chọn tạo giống lúa có khả năng chịu mặn để đảm bảo an toàn lương thực, tăng thu nhập cho người nông dân tại vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là cần thiết. Qua theo dõi, khảo sát và đánh giá của các chuyên gia, trong 21 giống trong bộ giống lúa chịu mặn được Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh triển khai khảo nghiệm trong thời gian qua, có 3 giống lúa gồm H11, GSR50, GSR65 chịu được mặn, phát triển tốt và cho năng suất cao, thời gian đến sẽ đưa vào sản xuất đại trà.

 

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam

Khí hậu nóng, khô làm giảm phẩm chất và năng suất của cây trồng, đôi khi cây trồng không cho trái, đặc biệt là cây lúa ở giai đoạn ra hoa là giai đoạn rất mẫn cảm với điều kiện khô hạn và nóng kéo dài. Hạt lúa thường trổ không thoát cổ bông hoặc trổ nhưng bị lép, làm thất thoát năng suất.

Vì thế, “Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam” nhằm tìm ra vật liệu khởi đầu cho công tác lai tạo giống lúa chống chịu nóng.

Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Nông lâm TP.HCM, Viện Lúa ĐBSCL và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã tiến hành phân tích mức độ đa dạng giữa 50 giống lúa cải tiến từ ngân hàng gien của Bộ môn Di truyền Chọn giống, Viện Lúa ĐBSCL cung cấp.

Nghiên cứu đã xác định được một số giống chịu nóng nổi trội về các đặc tính như thời gian sinh trưởng, cao cây, dài bông, hạt chắc/bông cao. Đây chính là những nguồn vật liệu di truyền rất quí có thể phục vụ cho công tác lai tạo, chọn giống để đáp ứng yêu cầu của sản xuất và phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.

Xét về đặc tính nông học đa số các giống lúa chịu nóng phân bố theo chiều cao cây nằm trong nhóm 100-120 cm (có 45 giống). Nhóm 120-140 cm bao gồm 3 giống. Các nhóm còn lại 140-160 cm, 160- 180 cm, 180-200 cm là các giống phân bố rất ít biến động (từ 0 đến 1 giống). Các nhóm còn lại có rất ít các giống. Điều này chứng tỏ các giống lúa chịu nóng chỉ tập trung ở chiều cao trung bình khá.

Về năng suất (g/bụi), các giống có năng suất biến động rất khác nhau, tuy nhiên năng suất trung bình một bụi khoảng 6,2638 g. Giống có năng suất bụi lớn nhất là giống TLR 395 là 8,97 g. Ngược lại, giống Gayabyeo lại cho năng suất khá thấp, chỉ khoảng 2,1 g.

Khối lượng 1000 hạt có sự biến động tương đối lớn giữa các giống, trung bình có khối lượng 1000 hạt là 26,152 g. Trong đó giống TLR 402 có khối lượng 1000 hạt cao nhất (28,70 g), thấp nhất là R6 (23,4 g).

Về năng suất (g/bụi), các giống có năng suất biến động rất khác nhau, tuy nhiên năng suất trung bình một bụi khoảng 6,2638 g. Giống có năng suất bụi lớn nhất là giống TLR 395 là 8,97 g. Ngược lại, giống Gayabyeo lại cho năng suất khá thấp, chỉ khoảng 2,1 g.

Khối lượng 1000 hạt có sự biến động tương đối lớn giữa các giống, trung bình có khối lượng 1000 hạt là 26,152 g. Trong đó giống TLR 402 có khối lượng 1000 hạt cao nhất (28,70 g), thấp nhất là R6 (23,4 g).

Các giống chống chịu nóng tốt là 6 giống: TLR390, TLR 391, N22, OM10040, OM8108, Du La và OM 4900.

FOODCROPS. CÂY LƯỢNG THỰC

Mô hình thống kê dự báo năng suất của lúa lai

Mô hình thống kê dự báo năng suất của lúa lai

Dự báo di truyền - một lĩnh vực mới của di truyền định lượng, là một phương pháp tiếp cận thống kê để dự báo giá trị của một đặc điểm quan trọng về kinh tế ở thực vật, chẳng hạn như sản lượng và khả năng kháng bệnh.

 

Phương pháp này được thực hiện nếu các đặc điểm đó là có thể di truyền, bởi nhiều đặc điểm có xu hướng như vậy, và có thể được thực hiện sớm trong vòng đời của cây trồng, giúp giảm chi phí.

Giờ đây, một nhóm nghiên cứu do nhà di truyền học thực vật tại trường Đại học California, Riverside và Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc, đã sử dụng phương pháp này để dự báo hiệu suất của lúa lai (chẳng hạn như năng suất, tốc độ tăng trưởng và khả năng kháng bệnh). Công nghệ mới này có thể cách mạng hóa tiềm năng lai tạo giống trong ngành nông nghiệp.

Nghiên cứu này được đăng tải trực tuyến trên Kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học quốc gia, là một dự án nghiên cứu thí điểm về lúa gạo. Công nghệ này có thể dễ dàng mở rộng áp dụng cho cây trồng khác, chẳng hạn như ngô.

"Lúa và ngô là hai cây trồng chính phụ thuộc vào giống lai". Shizhong Xu, một giáo sư về di truyền học tại Khoa Thực vật học và Khoa học thực vật của trường Đại học California, Riverside, là người cùng dẫn dắt dự án nghiên cứu này cho biết. "Nếu chúng ta có thể xác định nhiều giống lai cho hiệu suất cao ở các cây trồng này và sử dụng các giống lai đó, chúng ta có thể làm tăng đáng kể sản lượng ngũ cốc, đạt được an ninh lương thực toàn cầu".

Dự báo di truyền sử dụng các marker mở rộng bộ gien để dự báo các cá thể riêng biệt hoặc các loài trong tương lai. Các marker là gien hoặc các trình tự ADN với các vị trí đã được biết đến trên một nhiễm sắc thể. Dự báo di truyền khác với dự báo truyền thống ở chỗ nó bỏ qua bước phát hiện marker. Phương pháp này chỉ đơn giản là sử dụng tất cả các marker của toàn bộ hệ gen để dự đoán một đặc điểm.

"Lựa chọn trợ giúp của marker cổ điển chỉ sử dụng các marker có ảnh hưởng lớn đến các đặc điểm", Xu giải thích. "Nó bỏ qua tất cả các marker có ảnh hưởng nhỏ. Nhưng nhiều đặc điểm quan trọng về kinh tế được kiểm soát bởi một số lượng lớn các gien có ảnh hưởng nhỏ. Bởi vì mô hình dự báo gien này nắm bắt tất cả các gien có tác động nhỏ, khả năng dự báo được cải thiện rất nhiều".

Nếu không có dự báo di truyền, các nhà lai tạo sẽ phải phát triển tất cả các dòng lai có thể trong lĩnh vực này để chọn lọc ra dòng lai tốt nhất. Chẳng hạn như, trong 1000 dòng cha mẹ thuần, tổng số dòng lai sẽ là 499.500.

"Không thể phát triển các dòng lai này trên cánh đồng", Xu cho biết. "Tuy nhiên, với công nghệ dự báo gien, chúng ta có thể chỉ phát triển 500 phép lai, sau đó dự báo 499.500 phép lai tiềm năng, và chọn lọc dòng lai tốt nhất dựa trên các giá trị dự báo được của các dòng lai này".

Xu lưu ý rằng, dự báo di truyền đặc biệt hữu ích để dự báo các dòng lai bởi vì giải trình tự ADN của dòng lai được xác định bởi bố mẹ thuần của chúng.

Khi các nhà nghiên cứu kết hợp "tính trội" và "át gien" vào mô hình dự báo của họ, họ phát hiện ra rằng khả năng dự báo đã được cải thiện. Trong di truyền học, tính trội mô tả các hành động phối hợp của hai alen khác nhau (bản sao) của một gien. Chẳng hạn như, nếu một bản sao của một gien có giá trị là 1, một bản có giá trị là 2, hiệu lực kết hợp của hai alen có thể là 4, chỉ ra rằng hai alen không phải là cộng tính. Trong trường hợp này, tính trội đã xảy ra. Át gien liên quan đến bất kỳ loại gien nào của tương tác gien.

"Bằng cách kết hợp tính trội và át gien, chúng tôi đã tính đến tất cả các thông tin có sẵn để dự báo", Xu nói. "Nó dẫn đến một dự báo chính xác hơn về giá trị tính trạng".

Dự báo gien có thể được sử dụng để dự đoán các bệnh di truyền của con người. Ví dụ, nhiều bệnh ung thư có tính di truyền và dự báo gien có thể được thực hiện để dự báo nguy cơ mắc bệnh cho một người.

Xu đã tham gia vào nghiên cứu của Qifa Zhang và học trò của ông là Dan Zhu tại trường Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc.

Tiếp theo, nhóm nghiên cứu do Xu và Zhang dẫn dắt sẽ thiết kế một thử nghiệm thực địa để thực hiện dự báo dòng lai của lúa gạo.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC 

Những dòng/giống lúa ĐTM chịu phèn triển vọng cho vùng Đồng Tháp Mười

Những dòng/giống lúa ĐTM chịu phèn triển vọng cho vùng Đồng Tháp Mười 

Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước và kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu phèn, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt cho vùng Đồng Tháp Mười” từ năm 2012 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu và PTNN Đồng Tháp Mười đã lai tạo, chọn lọc và có được nhiều dòng lúa ĐTM mới phục vụ cho nghiên cứu giống. Đặc biệc, có khoảng 90 dòng thuần ĐTM tốt, triển vọng làm nguồn vật liệu cho các bước nghiên cúu thí nghiệm so sánh hậu kỳ, khảo nghiệm sinh thái.

Đã có 05 giống ĐTM mới được đưa vào khảo nghiệm VCU, DUS, đó là: ĐTM 17 -1, ĐTM 1-122, ĐTM 13-8, ĐTM 4-128, ĐTM 4-23, các giống này có đặc tính cơ bản như ngắn ngày (90–95 ngày), thấp cây, chịu phèn, dạng hình đẹp, gạo thon, dài, trong, mềm cơm, năng suất cao hơn so với giống đối chứng IR 50404 hiện đang trồng phổ biến trong vùng. Đây là những giống lúa triển vọng hứa hẹn đem lại những vụ mùa bội thu cho bà con nông dân vùng Đồng Tháp Mười và được Trung tâm đưa vào kế hoạch xin công nhận giống sản xuất thử và giống quốc gia trong thời gian tới.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC


 

Tiềm năng sản xuất các giống lúa khỏe mạnh, kháng bệnh

Tiềm năng sản xuất các giống lúa khỏe mạnh, kháng bệnh

Do dân số của trái đất đáng tiến về con số 9 tỷ, nên nhu cầu về những giống cây lương thực mới khỏe mạnh lớn hơn bao giờ hết.

Những vụ thu hoạch kỷ lục trong điều kiện hoàn hảo cũng sẽ không đủ. Trong một thời đại biến đổi khí hậu, ô nhiễm và sự lây lan mầm bệnh trên toàn cầu, thì các loại hạt mới cũng phải có khả năng đối phó với sự căng thẳng. Hiện nay, các nhà nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Michigan đã xác định được một tập hợp gen có thể là chìa khóa cho sự phát triển của thế hệ siêu lúa tiếp theo.

Một phân tích dữ liệu cực lớn của nhà sinh vật học Ramakrishna Wusirika và nghiên cứu sinh tiến sĩ Rafi Shaik đã phát hiện ra hơn 1.000 gen trong lúa, dường như đóng vai trò chính trong việc quản lý phản ứng của nó đối với hai loại căng thẳng khác nhau: căng thẳng sinh học, thường do các sinh vật gây bệnh như vi khuẩn gây ra, và phi sinh học, do các tác nhân môi trường, như thiếu dinh dưỡng, lũ lụt và nhiễm mặn, gây ra.

Thông thường, các nhà khoa học tin rằng phản ứng của thực vật đối với sự căng thẳng về sinh học và phi sinh học được điều chỉnh bởi các bộ gen khác nhau. Tuy nhiên , Wusirika và Shaik phát hiện ra rằng 1.377 gen trong khoảng 3.800 gen liên quan đến phản ứng căng thẳng của lúa đóng vai trò trong cả hai loại căng thẳng này. "Đây là những gen mà chúng tôi cho rằng cùng tham gia vào cuộc nói chuyện giữa sự căng thẳng sinh học và sự căng thẳng phi sinh học," Wusirika cho biết.

Khoảng 70 phần trăm những gen "bậc thầy" này cùng thể hiện, nghĩa là chúng đều hoạt động dưới cả hai dạng căng thẳng. Thông thường, thì các gen khác hoạt động khi có căng thẳng sinh học và sẽ ngưng hoạt động khi sự căng thẳng phi sinh học diễn ra.

Các nhà khoa học đã xem xét phản ứng của các gen đến năm loại căng thẳng phi sinh học điển hình – gồm hạn hán, ô nhiễm kim loại nặng, nhiễm mặn, lạnh và thiếu chất dinh dưỡng – và 5 loại căng thẳng sinh học – nhiễm vi khuẩn, nhiễm nấm, bị côn trùng ăn, bị cỏ dại cạnh tranh và nhiễm tuyến trùng. Tổng cộng có 196 gen cho thấy có nhiều biểu hiện khác nhau đối với các căng thẳng này.

"Các gen đó là những ứng viên tiềm năng để phát triển một giống lúa có khả năng chịu nhiều căng thẳng", Wusirika cho hay.

Tiếp theo, họ sẽ kiểm tra  những phát hiện này. "Chúng tôi muốn làm phân tích thí nghiệm để xem liệu 5 hoặc 10 gen này có hiệu quả như dự đoán hay không", ông cho biết.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Gạo thơm ST ra thế giới

Gạo thơm ST ra thế giới 

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới. 

Thái Lan làm được, sao mình không làm ?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp H.Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST. 

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 - 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” - Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm. 

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím - lúa và tôm - lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”. 

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân - doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam