Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Tin Khoa Học

Dùng trí tuệ nhân tạo trong nhà kính kỹ thuật số

Dùng trí tuệ nhân tạo trong nhà kính kỹ thuật số 

Các nhà khoa học ở Viện công nghệ Massachusetts (Mỹ) đã phát triển một thuật toán dựa trên trí tuệ nhân tạo để phân tích nhiệt độ, độ ẩm và các thông số khí hậu khác trong nhà kính phục vụ cho việc xác định các điều kiện tốt nhất cho việc trồng rau quả với sản lượng thu hoạch tốt nhất.

Hiện nay, trồng rau quả trong môi trường tự nhiên ngày càng trở nên khó khăn hơn do biến đổi khí hậu, hạn hán thường xuyên. Bên cạnh đó, việc canh tác còn phải dùng đến thuốc trừ sâu để bảo vệ thực vật khỏi sâu bệnh tật và vi khuẩn. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà kính kỹ thuật số hoặc cái gọi là “máy tính thực phẩm” có thể là phương pháp thành công nhất để tạo ra thực phẩm.

Ngoài việc khắc phục yếu tố khí hậu giúp làm giảm thiểu thời gian và nguồn lực để cung cấp, thì thay vì mang quả bơ từ Mexico sang Trung Quốc, người ta còn có thể tái tạo khí hậu Mexico ở ngay Bắc Kinh và thậm chí làm cho chế độ khí hậu đó tốt hơn trên cơ sở phân tích dữ liệu.

Các nghiên cứu về việc tạo ra một “máy tính thực phẩm” được khởi động vào năm 2015 tại Media Lab của Viện công nghệ Massachusetts. Thí nghiệm đầu tiên là phải thay đổi thời gian và cường độ của bức xạ tia cực tím. Hiện nay, theo Fast Company, trong một chu kỳ tăng trưởng của từng loại cây, nhà kính kỹ thuật số có thể theo dõi khoảng ba triệu thông số.

Các thuật toán huấn luyện máy sẽ tiến hành phân tích dữ liệu để tìm ra sự kết hợp tốt nhất các yếu tố khí hậu cho việc canh tác các loại cây trồng nhất định. Kết quả này có thể gọi là "công thức khí hậu", và bất cứ ai muốn trồng rau tại nhà cũng có thể khai thác các công thức đó.

Các “máy tính thực phẩm” được trang bị các bộ cảm biến, thiết bị điều khiển tự động và thị giác có khả năng nghiên cứu và sau đó tái tạo các điều kiện sinh trưởng tối ưu cho cây trồng - từ cường độ và quang phổ của ánh sáng đến nồng độ các loại muối và khoáng chất trong nước phục vụ tưới tiêu.

Các nhà khoa học cũng phát triển một phiên bản thương mại nhà kính số Greenhouse với container chứa hàng và khả năng tạo ra những điều kiện khí hậu khác nhau cho các loại cây trồng trên các bộ giá kệ khác nhau.

Việc sử dụng các hệ trí tuệ nhân tạo cho phép giám sát nhiều yếu tố sinh trưởng và canh tác cây trồng, trong đó có hương vị và sức đề kháng với bệnh tật cũng như tạo ra công thức khí hậu hoàn hảo đối với từng loại cây trồng.

Tất cả dữ liệu, bao gồm cả hướng dẫn về cách để tạo ra một “máy tính thực phẩm” đều sẽ được công bố rộng rãi để những người có kiến thức kỹ thuật tối thiểu cũng có thể áp dụng.

 

Di truyền cây ớt

Di truyền cây ớt 

Capsicum annuum là một loài ớt đã thuần hóa thuộc chi Capsicum, họ Cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ miền Nam Bắc Mỹ và miền bắc Nam Mỹ. Ba loài C. annuum, C. frutescensC. chinense đều tiến hóa từ một tổ tiên chung duy nhất ở một nơi nào đó trong khu vực phía tây bắc Brazil – Colombia. Số nhiễm sắc thể của bộ genome cây ớt là: 12 cặp.

Trong chi Capsicum, có ít nhất 31 species được biết, năm trong số loài này được thuần hóa thông qua những sự kiện rất khác biệt nhau tại những trung tâm khởi thủy về đa dạng sinh học khác nhau: C. annuum, C. baccatum, C. chinense, C. frutescensC. pubescens. Loài ớt được thuần hóa Capsicum spp., trong đó loài C. annuum được trồng với diện tích lớn nhất trên tế giới với hai kiểu hình ớt ngọt và ớt cay, được người ta thực hiện nhiều chương trình lai chọn tạo giống mạnh nhất. Capsicum annuum đã được thuần hóa trên cao nguyên Mexico và là tổ tiên của các giống ớt cay Mexico, hầu hết giống ớt cay châu Phi và châu Á, cùng với nhiều giống ớt ngọt trồng ở châu Âu, vùng ôn đới (Livingstone và ctv. 1999).

Người ta sử dụng GBS (genotyping by sequencing) với bộ chỉ thị “genome-wide SNPs”, thực hiện trên tập đoàn giống ớt với 370 mu ging (accessions), để đánh giá đa dạng di truyền của một “subset” với 222 giống ớt đang canh tác (C. annum) bao gồm giống bản địa, giống canh tác chủ lực, giống lai, dòng cải tiến, dòng hoang dại và dòng ớt kiểng (ornamental) được sưu tập từ nhiều vùng của thế giới (Taranto và ctv. 2016). Kỹ thuật “SNP discovery by GBS” được áp dụng trong nghiên cứu này. Ly trích mẫu DNA theo phương pháp DNeasy® Plant Mini Kit (QIAGEN, Germany). Phân cắt hạn chế mẫu DNA bằng “6-base-cutter HindIII”. GBS được thực hiện tại “Institute of Genomic Diversity” (Cornell University, Ithaca, NY, USA) theo phương pháp Elshire. Khuếch đại PCR được tiến hành để tạo nên một thư viện GBS, mà kết quả này được minh họa bởi kỹ thuật “Illumina HiSeq 2500 run” (Illumina Inc., USA). Trình tự DNA với hàng triệu “reads” được xử lý theo “multiple FASTQ files”. Tất cả chỉ thị (tag) của trình tự duy nhất của mỗi một “sequence file” được thu thập và xử lý để tạo ra “master tag file”. Những “master tags” này được sắp xếp và so sánh chuỗi trình tự theo cách thức tham chiếu cơ sở dữ liệu của bộ genome CM334 trên mạng http://peppergenome.snu.ac.kr với công cụ Burrows-Wheeler Aligner (BWA) (version 0.7.8-r455).

Phân tích GBS theo phần mềm TASSEL (version 3.0.166) để xử lý số liệu SNPs. Cở sở dữ liệu SNP được xử lý theo TASSEL-GBS sẽ cho ra dữ liệu mới trong đánh giá kiểu gen “HapMap” có tính chất còn nguyên sơ. Sau đó, người ta tiến hành tiếp sau đó hai bước có tính chất thanh lọc (filtering)  những chỉ thị SNPs. Lần “filtering” đầu tiên nhằm tìm ra tần suất alen tối thiểu (mnMAF = 0.01), mức che phủ tối thiểu để phân loại [minimum taxa coverage] (mnTCov = 0.1) và vị trí được che phủ tối thiểu [minimum site coverage] (mnSCov = 0.8). Các mẫu giống ớt có số dữ liệu bị mất với mức độ khá lớn sẽ được thanh lọc trên cơ sở tham chiếu “minimum minor allele count” (mnMAC = 10). Các chỉ thị SNPs vượt cao hơn giá trị  “minimum minor allele count” (mnMAC) hoặc có tần suất lớn (mnMAF), được giữa lại để phân tích tiếp.

Lần “filtering” thứ hai nhằm chọn ra các chỉ thị SNP có chất lượng cao thông qua phần mềm TASSEL-GBS cho ra những thông số sau đây: “minimum count 150”, “minimum frequency 0.01” và “Maximum Frequency 1.0”.

Người ta thu thập số liệu “read depth” và “coverage” thông qua việc sử dụng “custom R scripts” và “BEDTools”. Muốn xác định vùng trung tâm trên 12 nhiễm sắc thể của Capsicum, người ta sử dụng bản đồ di truyền của giống ớt COSII. Mỗi một nhiễm sắc thể, người ta chọn những chỉ thị phân tử kế cận với “peri-centromeric region” và xác định vị trí chính xác của chúng từ cơ sở thông tin của phần mềm “Sol Genomics Network”.

Tất cả chuỗi trình tự DNA có trong “NCBI Short Read Archive” (SRA; http://www.ncbi.nlm.nih.gov/sra/) với mã số mẫu giống ớt là SRP070992.

Kết quả cho thấy: phân tích GBS ghi nhận có 7.568.894 “master tags” (chỉ thị phân tử chính), trong đó, có 43.4% trình tự mang tính chất “unique” (độc nhất hiện hữu) được so sánh với bộ genome tham chiếu CM334. Người ta thấy có tất cả 108.591 chỉ thị SNP được xác định, trong đó, 105.184 chỉ thị SNP được tìm thấy trong các mẫu giống của C. annuum. Muốn khai thác có hiệu quả kết quả đa dạng di truyền này trong cây C. annuum và muốn chọn lọc một bộ “minimal core” đặc trưng cho tất cả biến dị di truyền đạt giá trị “minimum redundancy”, người ta phải tạo ra một “subset” của 222 mẫu giống ớt C. annuum, chúng được phân tích thông qua 32.950 chỉ thị SNP chất lượng cao. Theo kết quả xếp nhóm di truyền, người ta có thể chia tập đoàn giống ớt ra thành ba clusters di truyền. Cluster I tập hợp các giống đang canh tác chủ lực và giống ớt bản địa của vùng Nam và Bắc Italy, và vùng Đông Âu. Clusters II và III thể hiện các mẫu giống ớt có nguồn gốc địa lý khác. Xem xét kết quả phân tích biến thiên di truyền có tính chất “genome-wide” trong những mẫu giống ớt thử nghiệm này, bao gồm cluster I, với một chu kỳ thứ cấp theo phân nhóm của Bayesian (K = 3) và Hierarchical (K = 2); chúng đã được thực hiện để hoàn tất sự phân nhóm di truyền. Kết quả cho thấy rằng: các mẫu giống ớt đã được xếp nhóm di truyền không chỉ dựa theo xuất xứ địa lý mà con dựa trên đặc điểm có liên quan đến quả ớt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Livingstone Kevin D., Vincent K. Lackney, James R. Blauth, Rik van Wijk and Molly Kyle Jahn. 1999. Genome Mapping in Capsicum and the Evolution of Genome Structure in the Solanaceae. Genetics 152: 1183–1202 ( July 1999)

Taranto F., N. D ’Agostino, B. Greco, T. Cardi and P. Tripod. 2016.  Genome-wide SNP discovery and population structure analysis in pepper (Capsicum annuum ) using genotyping by sequencing. BMC Genomics  (2016) 17:943

 

Nghiên cứu cho thấy một hoóc-môn làm tăng sự tích tụ sucrôza trong mía

Nghiên cứu cho thấy một hoóc-môn làm tăng sự tích tụ sucrôza trong mía 

Các hoá chất đẩy nhanh quá trình chín, được biết đến như các chất điều chỉnh tăng trưởng, được sử dụng rộng rãi trong ngành mía Brazil để sớm tăng hàm lượng sucrôza và hạn chế sự phát triển của cây trồng để kéo dài thời gian thu hoạch và nghiền mía, do đó làm tăng sản lượng và lợi nhuận cho người trồng mía.

 

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Học viện Sinh học thuộc Đại học Campinas (IB-UNICAMP) tại bang São Paulo, cùng với các đồng nghiệp thuộc Viện Nông học (IAC) và Viện Hóa học của Đại học São Paulo (IQ-USP), đã phát hiện ra các chất này, tương tự như các hoóc-môn thực vật, hoạt động ở mức độ phân tử trong mía như thế nào để tăng lượng sucrôza trong cây mía.

Marcelo Menossi, giáo sư tại IB, cho biết: “Chúng tôi đã xác định được các gien được kích hoạt bởi một trong những chất hoá học được sử dụng rộng rãi nhất và có thể là mục tiêu cho kỹ thuật di truyền trong tương lai để phát triển một giống mía có hàm lượng sucrôza cao hơn”.

Các nhà nghiên cứu phân tích các hiệu ứng cấp độ phân tử của việc đưa ethephon vào các giống mía trồng trong nhà kính.

Ethephon là hợp chất phóng thích etylen và là chất điều chỉnh tăng trưởng đầu tiên được sử dụng để quản lý cây trồng và chất lượng sau thu hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp, làm vườn và lâm nghiệp. Đối với cây mía, nó vẫn là một trong những chất được sử dụng rộng rãi nhất để kích thích quá trình chín ở mía, tăng sản lượng đường, ức chế sự ra hoa, và kéo dài mùa thu hoạch và nghiền mía.

Tác động của ethephon lên mía là do ethylene, một hoóc-môn thực vật được biết đến vì sự tham gia của nó trong quá trình làm chín quả. Ethephon thải ethylene khi nó xâm nhập vào cây sau khi phun.

Theo Menossi, Ethylene được coi là chìa khóa để hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi từ sự phát triển của cây trồng sang giai đoạn cây mía có thể thu hoạch.

Ông nói: “Mặc dù ethylene đã được biết là đóng góp vào sự tích tụ sucrôza, nhưng rõ ràng là sự tổng hợp và hoạt động của hoóc-môn này ảnh hưởng đến quá trình chín của cây mía”.

Để nghiên cứu hoạt động của ethylene trong mía, trước khi mía bắt đầu chín, các nhà nghiên cứu đã phun một loại mía đã được phát triển bởi IAC với ethephon và aminoethoxyvinylglycine (AVG), một chất điều hòa tăng trưởng được biết đến để ức chế sự sinh tổng hợp etylen.

Năm ngày sau khi phun thuốc với một trong hai hợp chất và một lần nữa sau 32 ngày (tức là vào thời điểm thu hoạch), họ đã đo hàm lượng sucrôza e trong các mẫu mô lá và cọng mía.

Phân tích cho thấy rằng ethephon, chất làm chín hóa học, kích thích sự tích tụ sucrôza trong các tế bào chưa trưởng thành. Các cây trồng được xử lý với ethephon có nồng độ sucrôza cao hơn ở đoạn thân giữa và ngọn mía trong thời gian thu hoạch. Trái lại, hàm lượng sucrôza giảm 42% ở cây được xử lý với AVG.

Menossi cho biết: “Những phát hiện này khẳng định tầm quan trọng của sự hiện diện và hoạt động của ethylene để làm mía chín”.

Để đánh giá hoạt động của ethylene ở cấp độ phân tử, các nhà nghiên cứu đã xác định những gien nào đã được biểu hiện khác biệt để đáp ứng sự giải phóng etylen trong quá trình chín. Việc phân tích ho phép các nhà nghiên cứu xác định khi nào và ở đâu mỗi gien được bật hoặc tắt trong các tế bào và các mô của cơ thể bằng cách phân tích toàn bộ các trình tự RNA.

Các phân tích của họ về các enzim chính tham gia vào quá trình chuyển hóa sucrôza, kết hợp với cấu hình hoóc-môn của các cây mía được phun ethephon và AVG, cho phép họ xác định gien mục tiêu ethylene và hoạt động của ethylene trong các vị trí tích luỹ sucrôza. Ngoài ra, họ đề xuất một mô hình phân tử cho sự tương tác của ethylene với các hoocmon khác.

Ethylene kích hoạt một số lượng đáng kể các gien vận chuyển hoóc-môn chỉ trong cọng mía. Theo Menossi, các con đường hoóc-môn quan trọng là những enzim liên quan đến ethylene và axit abscisic, một yếu tố khác trong sự trưởng thành của cây mía, cũng như gibberellin và auxin, các hoóc-môn ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mía, sự ra hoa và sự phát triển của chồi cây.

Ông nói: “Nếu bạn biết những gien nào điều chỉnh để cây tăng sự tích tụ sucrôza, bạn có thể cải tiến về mặt di truyền cho cây mía mía và phát triển các giống biểu hiện nhiều gien hơn mà không cần phải sử dụng ethylene. Ngoài ra, có thể xác định được các giống mía thể hiện những gien này một cách cao nhất và để tạo thuận lợi cho quá trình mía chín vì có những giống không đáp ứng tốt với việc sử dụng hoóc-môn”

 

 

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor 

Cà phê chè (C. arabica L.) là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê do có chất lượng nước uống cao hơn hẳn cà phê vối. Hai giống cà phê chè mới TN1,, TN2 là con lai thế hệ F1 (TN1 con lai giữa KH3-1 x Catimor; TN2 con lai giữa Catimor x KH4) do Viện KHKT Nông lâm nghiệp tạo ra có năng suất cao, kháng được bệnh gỉ sắt, kích thước hạt lớn và có chất lượng nước uống cao; những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống mới vào năm 2012, đây là 2 giống cần được phổ biến ra sản xuất. Tuy nhiên chi phí sản xuất hạt giống lai rất cao và khó sản xuất được với khối lượng lớn. Để cung cấp giống với số lượng lớn ra sản xuất cần tiếp tục chọn lọc phả hệ đến thế hệ F5 hay F6 để có được dòng thuần, nhưng cách này tốn khá nhiều thời gian và công sức, tiền của. Vì vậy để nhân nhanh với khối lượng lớn và chi phí thấp, các giống này cần được nhân bằng con đường vô tính. Tuy nhiên sử dụng các phương pháp nhân giống vô tính thông thường (như ghép, giâm cành) đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của người dân về tái canh (do diện tích cà phê già cỗi ngày càng tăng). Vì vậy ứng dụng công nghệ mới nhân các giống mới sẽ đảm bảo cho quá trình cung cấp giống được tốt hơn, các giống đảm bảo yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc, không bị phân ly trong quá trình sản xuất và đặc biệt là đủ số lượng yêu cầu của thị trường trong những năm tiếp theo.

Công nghệ Bioreactor là một công nghệ nhân giống in vitro mới đang được ứng dụng trên nhiều loại cây trồng nhằm tăng nhanh sự phát triển của phôi, tạo thành cây, tăng tỷ lệ phát triển đồng đều, tăng tỷ lệ phát triển rễ cọc đảm bảo cho cây phát triển tốt. Tại các nước Pháp, Thái Lan, Inđônêxia việc ứng dụng các công nghệ này đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại Inđônêxia hằng năm đã cung cấp cho thị trường hàng triệu cây nuôi cấy mô từ các giống được nghiên cứu ra. Trong khi ở Việt Nam việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ này mới ở giai đoạn đầu và hầu như chưa có nhiều nghiên cứu để sản xuất cây giống cà phê.

Phương pháp sử dụng bioreactor trong quá trình nuôi cấy sẽ khắc phục các nhược điểm của phương pháp nuôi cấy mô thông thường và đảm bảo cho việc cung cấp đủ các giống có đặc tính tốt, có bộ rễ đảm bảo và đạt tiêu chuẩn cây trồng, có thể làm giảm thời gian sản xuất cây cà phê 3-4 tháng. Ngoài ra các cây con cà phê có thể chuyển giao trực tiếp cho người nông dân ở xa nên việc vận chuyển cây dễ dàng và đảm bảo tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu ứng dụng này cũng là một tiền đề để tiếp tục nghiên cứu nhân nhanh các giống sẽ được công nhận trong thời gian tới và là phương thức nhanh nhất để đưa những giống này ra thị trường, đến được tay người nông dân có nhu cầu. Với ước tính hằng năm tái canh 1-3% diện tích cà phê chè (khoảng 1000-3000 ha) thì khối lượng cây giống cà phê chè cần phải sản xuất là 5-15 triệu cây giống/năm. Đây là một lượng giống rất lớn mà chỉ có phương pháp nuôi cấy mô từ phôi soma có sử dụng bioreactor mới đáp ứng được.

Bên cạnh đó khi mở rộng diện tích cà phê chè, việc thay thế các giống cà phê chè cũ cũng được đặt ra để nâng cao giá trị trên vườn cây tại các vùng trồng thích hợp đối với cà phê chè tại Tây Nguyên như: Daklak, Lâm Đồng, Kontum, Gia Lai nên nhu cầu về giống chất lượng cao khá lớn. Việc sử dụng các phương pháp thông thường nhân giống đã không đáp ứng được yêu cầu 3 nên việc sử dụng công nghệ nhân in vitro có sử dụng bioreactor là một hướng đi có tính khả thi cao.

Với những lý do trên, Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thường cùng thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor” với mục tiêu xây dựng được quy trình công nghệ và hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor phục vụ tái canh cà phê ở Tây Nguyên.

Qua thời gian nghiên cứu đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây cà phê Arabica bằng công nghệ Bioreactor: Mẫu lá vị trí thứ 2 của cây 24 tháng tuổi, khử trùng Calcium Hypochlorite 10%, sau 15 ngày tỷ lệ mẫu sạch đạt 90,74%. Mẫu lá trên môi trường MS, có vitamin B5, bổ sung 2,4D 1 mg/l và Kin 2 mg/l, cấy chuyển 3 lần trong 4 tháng tạo mô sẹo cao >46%. Mô sẹo cấy lên môi trường 1/2MS, vitamin B5, bổ sung 2ip 0,5 mg/l, khối lượng mô sẹo 250mg/100ml môi trường, vận tốc máy lắc 100 vòng/phút sau 2,5 tháng mô sẹo tăng lên >6 lần. Mô sẹo cấy lên MS1/2 lỏng, thể tích môi trường 400 ml, pH 5,8 và cứ 15 ngày thay mới môi trường một lần, sau 2,5 tháng số phôi đạt cao >1500 phôi/1g mô sẹo. Phôi cấy lên môi trường MS1/2, đường 10 g/l, thời gian sục khí 1 phút sau mỗi chu kỳ 6 giờ, thể tích môi trường trong bình RITA 300ml, pH 5,8. Sau 2,5 tháng tỷ lệ cây lá mầm đạt >88%. Tạo cây hoàn chỉnh thích hợp trong bình tam giác, sau 2,5 tháng giúp cây phát sinh cặp lá thật 81,6%, tỷ lệ ra rễ đồng đều (90,3%) và cây không bị thủy tinh thể.

Nghiên cứu qui trình trồng cây cà phê nuôi cấy mô ngoài đồng ruộng: Chiều cao từ 2 cm có 2-3 cặp lá thật, cấy vào khay xốp có kích thước lỗ khay 3,5 cm x10cm (tương đương 84 lỗ/khay 50 x 30 x 10 cm) gồm giá thể 1 đất: 1 Xơ dừa: 1 trấu hun, che sáng 80 %, tưới nước 2 lít/m2 2 ngày /lần, phun liều lượng khoáng MS là 40 ml/1000 ml. Sau 4 tháng huấn luyện tỷ lệ cây sống >85%, chiều cao >4cm, số cặp lá > 3 cặp, chiều dài rễ 4cm. Cây có 3 cặp lá, cao 4,5 cm, cấy vào bầu đất có thành phần là 7 đất: 2 trấu hun: 1 phân chuồng, che sáng 60 %, tưới 2,5 lít/m2/lần cứ 2 ngày/lần, phun phân 18 bón lá NUCAFE với nồng độ 0,2 % chu kỳ phun 2 tuần phun một lần. Sau 3 tháng tỷ lệ cây sống >81%, chiều cao đạt >18 cm, số cặp lá >8 cặp, chiều dài rễ cọc >18 cm, đường kính thân 0,23 cm. Bước đầu đánh giá được Công thức 3 (N 100kg; P2O5 210kg; K2O 90kg) cây sinh trưởng tốt, thí nghiệm cây che bóng và mật độ chưa thấy sự khác biệt giữa các công thức. Giữa cây thực sinh và cây in-vitro chưa có sự khác biệt về hình dạng và sinh trưởng.

Quy trình trồng và chăm sóc cây ngoài đồng ruộng: Kế thừa quy trình kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch cà phê chè, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2002; Thay thế mục tiêu chuẩn cây giống (phát triển từ hạt) bằng cây giống nuôi cấy mô; Sửa đổi khoảng cách mật độ trồng cà phê, cây che bóng tạm thời và liều lượng phân bón khoáng cho năm trồng mới: Độ dốc dưới 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,5 m (3.333 cây/ha) Độ dốc trên 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,25 m (4.000 cây/ha). Cây che bóng: Gieo hạt vào đầu mùa mưa giữa hai hàng cà phê; khoảng 3 - 4 hàng cà phê gieo một hàng muồng. Liều lượng phân bón thay liều lượng và thời điểm bón phân cho vùng Tây Nguyên.

Kết quả của đề tài sẽ là một bước đệm quan trọng trong nghiên cứu nhân nuôi cấy mô tế bào trên các giống cà phê nói riêng và các loại cây thân gỗ nói chung. Sự thành công của đề tài sẽ mở ra hướng mới cho nghiên cứu về công nghệ bioreactor trên các loại cây trồng khác, mở ra một hướng mới về sản xuất các loại giống bằng công nghệ tế bào. Kết quả nghiên cứu mới nhất về nuôi cấy mô cà phê chè tại Việt Nam sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu mới, mở ra nhiều triển vọng về hợp tác quốc tế và tổ chức các hội thảo quốc gia và quốc tế. Đây cũng là một thành tựu chứng tỏ trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam về cà phê là đứng hàng đầu của thế giới, đặc biệt là về giống cà phê.

Thông thường cần 5-10 năm để đưa 1 giống cà phê được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, thâm chí có thể lên tới 12-15 năm bởi việc sản xuất giống bằng các phương pháp thông thường với hệ số nhân thấp nên tạo ra số lượng cây lớn rất khó khăn. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng để tạo ra hướng sản xuất để đưa nhanh các giống cà phê đã được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ nghiên cứu tới ứng dụng vào thực tiễn. Các giống mới đưa vào sản xuất nhanh chóng sẽ là cơ hội nâng cao sản lượng cà phê chè chất lượng cao, từ đó nâng cao giá trị xuất khẩu và thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế và xã hội của các tỉnh Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu được triển khai sẽ chấm dứt tình trạng sản xuất giống không có nguồn gốc, không đúng giống, chất lượng thấp và giá thành cao. Đồng thời tăng cường được công tác giám sát về sản xuất giống của cơ quan quản lý giống, từ đó đảm bảo cho người nông dân mua được giống đúng nguồn gốc, đúng chất lượng, xóa bỏ được hiện tượng giống giả, giống kém chất lượng. Mặt khác, người nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số khi sử dụng giống này để trồng mới hoặc tái canh thì sẽ làm tăng năng suất vườn cây, giảm chi phí giá thành trên đầu sản phẩm, từ đó tăng lợi nhuận cho người nông dân, làm ổn định đời sống vật chất cho người trồng cà phê (trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số), làm ổn định đời sống xã hội trong vùng làm ổn định về năng suất, chất lượng của sản phẩm cà phê nhân Việt Nam, từng bước xây dựng được thương hiệu mạnh cho cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

 

​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

 ​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

Cacbon đioxit (CO2) và các khí nhà kính khác trong khí quyển có thể giảm theo hai cách - bằng cách cắt giảm khí thải, hoặc bằng cách loại bỏ nó ra khỏi khí quyển, ví dụ như thông qua cây cối, đại dương và đất.
 

Hiệp định Paris lịch sử đặt ra mục tiêu hạn chế tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong tương lai ở mức dưới 2 ° C và theo đuổi các nỗ lực để thậm chí còn hạn chế mức tăng trung bình đến 1,5°C so với các giai đoạn tiền công nghiệp. Tuy nhiên, thời gian và chi tiết của những nỗ lực này lại tùy thuộc vào từng quốc gia quyết định.

Trong một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí Nature Communications, các nhà nghiên cứu đến từ Viện Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế (IIASA) đã sử dụng một mô hình toàn cầu về hệ thống cacbon để tính toán lượng cacbon thải ra và hấp thu thông qua các hoạt động tự nhiên và của con người.

Theo nghiên cứu, tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 25% lượng cung cấp năng lượng toàn cầu vào năm 2100, so với mức 95% hiện nay. Đồng thời phải giảm thiểu sử dụng đất, chẳng hạn như phá rừng. Điều này sẽ dẫn đến lượng phát thải tích lũy giảm 42% vào cuối thế kỷ so với tình huống kinh doanh bình thường.

“Nghiên cứu này đưa ra một tính toán rộng lớn về lượng cacbon điôxit trong khí quyển của chúng ta, nó đến từ đâu và nó đi đến đâu. Chúng tôi không chỉ xem xét khí thải đến từ nhiên liệu hóa thạch, mà còn từ nông nghiệp, sử dụng đất, sản xuất lương thực, năng lượng sinh học và hấp thu cacbon từ các hệ sinh thái tự nhiên", Brian Walsh, chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Thế giới, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

So sánh bốn kịch bản khác nhau về phát triển năng lượng trong tương lai, với một loạt kiểu kết hợp năng lượng tái tạo và năng lượng hóa thạch. Trong một kịch bản "tái tạo" cao, trong đó gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học tăng khoảng 5% mỗi năm, thì lượng khí thải rò rỉ có thể lên đến đỉnh điểm vào năm 2022. Tuy nhiên, nếu không có các công nghệ khí thải âm tính đáng kể, thì con đường đó vẫn sẽ dẫn đến tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên 2,5 độ C, không đạt được mục tiêu của Hiệp định Paris.

Theo Walsh, viễn cảnh năng lượng tái tạo cao là tham vọng, nhưng không phải là không thể - sản xuất năng lượng tái tạo toàn cầu đã tăng 2,6% trong giai đoạn 2013 và 2014, theo IEA. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy việc tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (với tốc độ tăng trưởng năng lượng tái tạo từ 2% đến 3%/năm), sẽ làm lượng khí thải cacbon đạt đỉnh ngay vào cuối thế kỷ này, gây ra nhiệt độ toàn cầu tăng lên 3,5°C vào năm 2100.

Nghiên cứu bổ sung cho một số lượng lớn các nghiên cứu của IIASA về chính sách giảm nhẹ khí hậu và cơ hội đạt được các mục tiêu.

Một mô hình mới

Nghiên cứu này là một trong những kết quả được công bố đầu tiên từ mô hình FeliX mới được phát triển. Đây là mô hình về hệ thống xã hội, kinh tế, môi trường trên trái đất và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Có thể tại mô hình miễn phí tại http://www.felixmodel.com/.

Giám đốc chương trình Dịch vụ và Quản lý Hệ sinh thái IIASA nhận xét: "So với các mô hình đánh giá khí hậu và các mô hình đánh giá tổng hợp khác, mô hình FeliX ít tốn kém hơn, nhưng nó cung cấp một cái nhìn tổng thể về toàn bộ chu kỳ cacbon, là điều quan trọng để chúng ta có thể hiểu biết về sự thay đổi khí hậu và năng lượng trong tương lai".

 

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai 

Năng suất ngũ cốc của ngành nông nghiệp là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu. Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) ước tính rằng để đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số thế giới vào năm 2030, ngành nông nghiệp sẽ phải sản xuất thêm một tỷ tấn ngũ cốc mỗi năm, tương đương với sự gia tăng 50% so với sản xuất 2,2 tỷ tấn trong năm 2011.

Với các công cụ sinh học phân tử sẵn có hiện nay, việc nhân giống cây trồng sẽ có thể đạt được sản lượng ngũ cốc đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực dân số thế giới tới năm 2040. Mặc dù nhiều sản phẩm nông nghiệp được trồng, nhưng cây trồng ngũ cốc vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên thế giới. Ngũ cốc được sử dụng không chỉ cho người tiêu dùng trực tiếp mà còn để phát triển chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học. Từ năm 1960 đến năm 2010, sản lượng ngũ cốc năm tăng 270% từ 800 triệu lên đến 2,2 tỷ tấn mặc dù diện tích canh tác chỉ tăng 8%. Trong năm thập kỷ qua, năng suất hạt trung bình trên thế giới tăng từ 1,3 lên 3,2 tấn/ha. Những tiến bộ công nghệ từ Cuộc cách mạng Xanh trong thập niên 1960 đã được tăng năng suất hơn gấp đôi và bổ sung hơn một tỷ tấn các loại hạt cung cấp lương thực cho thế giới. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng năng suất ngũ cốc từ những tiến bộ đã thúc đẩy Cuộc Cách mạng Xanh đang giảm dần. Điều này chỉ ra rằng để năng suất tăng lên đến năm 2040 sẽ đòi hỏi một số tiến bộ công nghệ mới để đảm bảo sự gia tăng 50% cần thiết trong sản xuất cây lương thực.

Tốc độ tăng trưởng hàng năm liên quan đến áp dụng các tiến bộ công nghệ trong cuộc Cách mạng Xanh ở các khu vực cho thấy, tiểu vùng Sahara châu Phi có tốc độ tăng trưởng thấp hơn vì những tiến bộ trong cuộc Cách mạng Xanh đã không thích nghi với đất, khí hậu và điều kiện địa mạo khác nhau của vùng đó. Hơn nữa, các điều kiện kinh tế trong khu vực không ủng hộ việc đầu tư vào các công nghệ mới. Phần còn lại của thế giới bao gồm hầu hết các nước phát triển, và sự khác biệt về năng suất, chỉ ra tiềm năng tăng trưởng ở các vùng khác.

Các nhà di truyền học hiện nay đã nghiên cứu phát triển được các hạt giống chuyên biệt bằng cách lập bản đồ ADN của cây có thể cải thiện việc kiểm soát các loại cây trồng bằng cách tăng năng suất cùng với việc sử dụng các đầu vào ít hơn. Khi các công cụ công nghệ sinh học phát triển đến năm 2040, chi phí thực hiện các dự án nghiên cứu chuyển gen có thể sẽ giảm đáng kể và năng suất cây trồng chuyển gen sẽ lan rộng từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.

Vài năm trước, chi phí xác định một gen trong một cây là 2 USD, thì bây giờ chỉ còn 0,15 USD và những phát triển hiện nay đang diễn ra có thể làm cho chi phí này giảm xuống chỉ còn 30 USD cho một triệu gen. Vào năm 2040, việc xác định gen có thể trở thành thói quen và không còn là rào cản lớn phát triển cây trồng.

Kỹ thuật tạo giống phân tử ở thực vật có khả năng sẽ đẩy nhanh việc thương mại hóa cây trồng mới có năng suất hạt cao hơn và đặc tính nông học tốt hơn. Chi phí lập trình tự và lập bản đồ gen được giảm dần đến điểm mà các công nghệ này sẽ có khả năng trở nên phổ biến vào năm 2040. Ngô chịu hạn, mới đây đã nhận được giấy phép của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Ủy ban châu Âu, là một ví dụ về ứng dụng các công nghệ chọn lọc nhờ phân tử chỉ dấu (marker), đẩy nhanh quá trình nhân giống cây trồng.

Công nghệ chuyển gen thực vật đã có những bước tiến đáng kể với một số kỹ thuật đột phá trong thuốc trừ sâu và kháng thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, ứng dụng của nó đã bị chậm lại vì các mối lo ngại của công chúng và quy định về tác hại tiềm tàng của công nghệ. Nó dường như sẽ không được phát triển đầy đủ và triển khai vào năm 2040.

Các tiến bộ trong nghiên cứu bộ gen thực vật đòi hỏi nông dân phải gia tăng chi phí sản xuất. Chi phí của hạt giống biến đổi gen có thể cao hơn so với hạt giống thông thường 5-7 lần. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của Mỹ, việc canh tác các loại cây trồng biến đổi gen kháng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu vẫn có lãi. Trong năm 2011, 88% cây ngô và 94% cây đậu tương ở Mỹ là biến đổi gen.

Nhờ hiệu quả trong việc phát triển, các loại cây trồng biến đổi gen tiếp tục tăng đến năm 2040, những lợi thế kinh tế của việc sử dụng các loại cây trồng này cũng sẽ tăng lên.

 

Robot nano sinh học từ DNA và Protein

Robot nano sinh học từ DNA và Protein 

Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một robot phân tử có kích cỡ bằng một tế bào có thể thay đổi hình dạng của nó khi hồi đáp một tín hiệu DNA.

Đây là lần đầu tiên một hệ thống robot phân tử có thể nhận biết các tín hiệu và kiểm soát chức năng thay đổi hình dạng của nó. Điều này có nghĩa là trong tương lai gần, chúng có thể hoạt động như những sinh vật sống.

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Tohoku và Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Nhật Bản đã phát triển một robot được tạo ra từ DNA và protein. Kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên Science Robotics.

Sử dụng những phân tử sinh học tinh vi như DNA và các protein có vai trò hết sức quan trọng. Chẳng hạn như những tế bào bạch cầu có thể đuổi theo vi khuẩn bằng cách cảm nhận những tín hiệu hóa học và di chuyển về phía mục tiêu. Trong lĩnh vực hóa học và sinh học tổng hợp, những công nghệ nền tảng cho việc tạo ra những cỗ máy phân tử đa dạng, chẳng hạn như cảm biến, bộ vi xử lí và bộ dẫn động, được tạo ra bằng cách sử dụng những phân tử sinh học.

Một robot phân tử là một hệ thống phân tử nhân tạo được tạo ra bằng cách tích hợp những cỗ máy phân tử. Các nhà nghiên cứu tin rằng việc tạo ra được một hệ thống như vậy có thể dẫn đến bước đột phá quan trọng – một robot được thiết kế trên cơ sở phân tử.

Để đạt được mục tiêu này, các nhà nghiên cứu tích hợp những cỗ máy phân tử vào một màng tế bào nhân tạo để tạo ra một robot phân tử. Robot phân tử do nhóm nghiên cứu nói trên phát triển có kích thước cực kì nhỏ - khoảng một phần triệu của một mét – tương đương kích thước tế bào ở người.

Nó bao gồm một bộ dẫn động phân tử tạo ra từ protein và một bộ li hợp phân tử tạo ra từ DNA. Hình dạng của thân robot (màng tế bào nhân tạo) có thể được thay đổi nhờ bộ dẫn động, trong khi sự truyền lực do bộ dẫn động sinh ra có thể được kiểm soát bởi bộ li hợp phân tử.

Nhóm nghiên cứu đã chứng minh qua các thử nghiệm rằng robot phân tử này có thể thay đổi hình dạng trước các tín hiệu DNA cụ thể.

Giáo sư Shin-ichiro Nomura thuộc nhóm nghiên cứu phát triển robot phân tử ở Đại học Tohoku, chia sẻ: "Thật thú vị khi thấy chuyển động thay đổi hình dạng của robot qua kính hiển vi. Nó có nghĩa là bộ li hợp DNA do chúng tôi thiết kế đã hoạt động hoàn hảo, bất chấp những điều kiện phức tạp bên trong robot”.

Việc tạo ra một robot phân tử có các thành phần được thiết kế ở cấp độ phân tử và có thể hoạt động trong môi trường nhỏ và phức tạp, như cơ thể con người, được cho là sẽ mở rộng đáng kể khả năng của công nghệ robot. Những kết quả của nghiên cứu này có thể đưa đến những sự phát triển về mặt công nghệ giúp giải quyết những vấn đề y tế quan trọng, chẳng hạn như một robot điều trị cho việc nuôi cấy sống các tế bào và robot giám sát ô nhiễm môi trường.

 

Robot nông nghiệp thay người chăm sóc cây

Robot nông nghiệp thay người chăm sóc cây

Phenotyping là quá trình quan sát các đặc điểm vật lý của một cây trồng để đánh giá sức khỏe của nó. Mặc dù một phần cần thiết của quá trình lai giống cây trồng nhưng nó cũng rất tẻ nhạt và ngốn thời gian, đặc biệt khi bạn có cả một cánh đồng để kiểm tra, đó chính xác là kiểu công việc phù hợp để giao cho robot. Dẫn đầu bởi Giáo sư Stephen P. Long, nhóm nghiên cứu Đại học Illinois đã vừa tạo ra được một chú robot như thế.

Thiết bị bán tự động này được điều khiển nhờ sự kết hợp giữa GPS và một laptop do con người vận hành khi nó di chuyển giữa các luống cây trên 2 vòng xích giống bánh xe tăng mọi địa hình.

Nó được trang bị các cảm biến bao gồm camera siêu quang phổ, phân giải cao và camera nhiệt cùng với màn hình thời tiết và máy quét laser dạng xung. Hệ thống này cho phép thiết bị thu thập dữ liệu chăm sóc cây trồng như đường kính gốc, chiều cao của cây và diện tích lá cùng với các thông tin về điều kiện môi trường như nhiệt độ và thành phần độ ẩm của đất.

Dữ liệu được lưu trữ trên một máy tính tích hợp của robot và đồng thời được truyền tới laptop của người dùng. Sau đó người dùng sẽ sử dụng thông tin đó để tạo ra một mô hình máy tinh 3D của mỗi cây trông để tạo mô hình dự đoán về sự sinh trưởng và phát triển của cây và ước tính sản lượng sinh khối cho cả từng cây và toàn bộ vụ mùa.

Cho đến nay nó chỉ được thử nghiệm trên cây lúa miến năng lượng vốn được trồng để sử dụng làm nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, người ta tin rằng kỹ thuật có thể thực hiện tốt với các loại cây trồng thân cao khác như bắp hoặc lúa mỳ.

Giáo sư Girish Chowdhary, người cộng tác với dự án, hiện đang tìm cách để làm cho robot thanh mảnh hơn để nó đi dễ dàng giữa các hàng cây. Ông cũng đang lên kế hoạch trang bị cho robot một hệ thống tránh chướng ngại vật. Rốt cuộc nhóm hy vọng sẽ có sản phẩm ra mắt thị trường vào năm 2021 với tầm giá khoảng 5000 USD.

“Điều mà chúng ta cần là khả năng mô tả cây trồng khi nó sinh trưởng. Bạn có thể làm điều đó có lẽ với nhóm rất nhiều người nhưng nay robot có thể đảm nhận tất cả cho bạn”, Long cho biết.

 

Israel thay đổi nền nông nghiệp thế giới

12 cách người Israel thay đổi nền nông nghiệp thế giới 

Từ tưới nhỏ giọt đến thuốc bảo vệ thực vật sinh học, cuộc cách mạng nông nghiệp của Israel đang mang đến những phương thức mới để thay đổi bộ mặt của sản xuất nông nghiệp.

An ninh lương thực đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu cho mọi quốc gia trong bối cảnh dân số không ngừng phát triển hiện nay. Khi mà tài nguyên đang dần cạn kiện trong khi dân số vẫn không ngừng tăng lên, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực bền vững đang là điều mà bất cứ quốc gia nào cũng khao khát. Và cho đên nay, chưa từng có một quốc gia nào có các điều kiện canh tác nông nghiệp khó khăn hàng đầu thế giới có thể đóng góp các thành tựu để thay đổi bộ mặt nền nông nghiệp thế giới tốt hơn Israel.

Từ những năm 1950, người Israel không những chỉ tìm ra phương thức tuyệt với để phủ xanh cho những sa mạc mà họ đã chia sẻ, chuyển giao những sáng kiến này đến các quốc gia khác thông qua các tổ chức hợp tác quốc tế của họ một cách rộng rãi. Và dưới đây là 12 thành tựu của người Israel đã mang đến cho nhân loại, giúp thay đổi bộ mặt của nền sản xuất nông nghiệp toàn cầu, đem đến phương thức sản xuất hiệu quả và là cách thức để giải quyết vấn đề an ninh lương thực hiện nay.

1. Công nghệ tưới nhỏ giọt

Có lẽ không có thành tựu nào có được sự ảnh hưởng to lớn đến nền nông nghiệp Israel cũng như cả thế giới như phát minh này. Khái niệm tưới nhỏ giọt đã có từ trước khi nhà nước Israel ra đời, nhưng nó chỉ được thực sự trở thành cuộc cách mạng với sự phát hiện của kỹ sư tài nguyên nước Israel - Simcha Blass, người tình cờ phát hiện ra rằng sự nhỏ giọt chậm và đều đặn dẫn đến khả năng kích thích tăng trưởng đáng kể trên thực vật. Từ phát hiện trên, ông đã chế tạo ra một loại ống dẫn nước có các đầu tưới từ từ nhỏ từng giọt nước theo tỷ lệ tối ưu nhất cho từng loại cây trồng.

Từ đó đến nay, công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel và các giải pháp tưới tiêu vi thủy lợi nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới. Chúng liên tục được phát triển, làm cho tốt hơn, các mô hình tưới nhỏ giọt mới nhất là công nghệ tự làm sạch đường ống và duy trì tốc độ dòng chảy thống nhất bất kể chất lượng nước và áp suất nước trong hệ thống tưới.

Một ví dụ rất nhỏ để thấy được ý nghĩa của công nghệ này đến nền nông nghiệp của các quốc gia là hệ thống Tipa, có nghĩa là "nhỏ giọt", một sản phẩm của Israel phát triển cho thị trường nước ngoài đã cho phép 700 hộ nông dân ở Senegal có thể canh tác ba vụ một năm thay vì chỉ một vụ mỗi năm vào mùa mưa, đối với cả những vùng đất tưởng chừng không thể trồng trọt được. Các kết quả tương tự ở Kenya, Nam Phi, Benin và Nigeria có thể chứng minh hiệu quả của hệ thống này.

2. Kén tồn trữ lương thực

Người Israel đã thiết kế sản phẩm kén tồn trữ lương thực nhằm đưa ra một giải pháp đơn giản, rẻ tiền cho các nông dân châu Á và châu Phi để tồn trữ lương thực sau thu hoạch một cách hiệu quả nhất.

Sản phẩm này chỉ đơn giản là một chiếc túi khổng lồ - được thiết kế bởi Giáo sư công nghệ thực thẩm quốc tế Shlomo Navarro - giúp lương thực tránh được việc tiếp xúc với không khí và độ ẩm. Nó đang được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển tại châu Phi, Trung Đông và cả những quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Israel như Pakistan.

Với các phương pháp tồn trữ lương thực truyền thống, 50 % lượng ngũ cốc thu hoạch được và 100% sản lượng đậu bị tổn thất là do côn trùng và ẩm mốc. Tại các quốc gia đang phát triển, nông dân chỉ tồn trữ lương thực họ thu hoạch được bằng các phương tiện thô sơ như giỏ, bồ, túi, bao tải, những thứ không thể bảo vệ lương thực của họ thoát khỏi sự đói khát của côn trùng và các tác nhân gây hại từ bên ngoài. Và sản phẩm kén tồn trữ lương thực sinh ra để giải quyết các vấn đề đó, đặc biệt là sức nóng và độ ẩm cao.

3. Kiểm soát côn trùng theo phương pháp sinh học

Các kỹ sư Israel đã lai tạo ra các giống côn trùng có ích nhằm giải quyết vấn đề kiểm soát sâu bệnh tuân theo các nguyên lý sinh thái học tự nhiên, đồng thời họ cũng lai tạo các giống công trùng chuyên biệt như giống ong vò vẽ chuyên thực hiện thụ phấn tự nhiên trong môi trường nhà kính.

Theo Tiến sĩ Shimon Steinberg của cơ quan ISRAEL21c, việc sử dụng giống nhện kích thước chỉ dài 2mm hình quả lê màu cam hiện đang là giải pháp hiệu quả nhất để kiểm soát tình trạng bọ ký sinh trên cây trồng, kể cả các loại bọ tàn phá cây trồng nông nghiệp rất khó bị loại trừ bằng các phương pháp hóa học. Ông cho biết: "60% sản lượng dâu tây của California từ năm 1990 đến nay đã được cứu bằng các giống nhện ăn thịt bọ ký sinh từ Israel", ông cũng cho biết, tại Israel, các sản phẩm sinh học đã cho phép nông dân giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đi 75% trong canh tác.

4. Công nghệ chăn nuôi bò sữa công nghiệp

Israel là quốc gia đã phát triển các công nghệ chăn nuôi bò sữa tập trung theo quy mô công nghiệp đầu tiên trên thế giới, đây là những hệ thống cho phép người chăn nuôi có thể quản lý, theo dõi, giám sát và cho ăn đàn gia súc tập trung thông qua các thiết bị máy tính. SAE Afikim là một trong 10 công ty của Israel đã tham gia vào dự án 5 năm trong việc phát triển đàn bò sữa trị giá 500 USD tại Việt Nam, đó là sự án chăn nuôi lớn nhất thế giới mà họ tham gia. Trong dự án này các hoạt động sẽ bao gồm phát triển đàn bò 30.000 con tại 12 vùng chuyên canh chăn nuôi – sản xuất sữa tập trung với sản lượng 300 triệu lít mỗi năm và tăng dần qua các năm. Đến cuối năm 2012, 500.000 lít sữa đã được sản xuất hàng ngày.

5. Nông nghiệp trực tuyến

Đó là Hệ thống Kiến thức nông nghiệp trực tuyến (Agricultural Knowledge On-Line (AKOL), đây là một hệ thống tương tác trực tuyến trên toàn cầu, nó liên kết kho dữ liệu về kiến thức nông nghiệp, các chuyên gia và nông dân để giải quyết bất cứ một vấn đề gì trong nông nghiệp. Mọi nông đân giờ đây có thể truy cập vào hệ thống này, học hỏi các kiến thức, kinh nghiệm và yêu cầu sự giúp đỡ, tư vấn phương pháp, giải pháp nông nghiệp từ các chuyên gia hàng đầu, các nhà sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp về vấn đề của họ.

6. Giống khoai tây có thể trồng ở những nơi khắc nghiệt

Phải mất gần 30 năm nghiên cứu, Giáo sư David Levy developedstrains của Đại học Hebrew mới lai tạo được giống khoai tây có thể phát triển mạnh trong khí hậu nóng, khô, và có thể được tưới bằng nước mặn. Đây là giải pháp trồng trọt vô cùng hiệu quả và mang lại lối thoát cho việc canh tác tại các vùng cát sa mạc, ven biển.

Khoai tây là một trong những nguồn lương thực chính của hàng triệu người trên thế giới, nhưng trước đây người ta không thể trồng được một củ khoai tây nào trong các vùng sa mạc như Trung Đông. Bây giờ nông dân ở các khu vực này có thể phát triển khoai tây là một loại cây trồng đem lại lợi ích kinh tế lớn.

7. Công nghệ tưới nước nhỏ giọt từ không khí

Tal-Ya là công nghệ tưới nước bằng khay nhựa dùng nhiều lần để thu thập sương, hơi nước từ không khí, giúp giảm lượng nước phải tưới cho cây trồng, nó có thể tiết kiệm lên đến 50% lượng nước tưới. Mấu chốt của công nghệ là các khay vuông có răng cưa, được làm từ nhựa tái chế với các bộ lọc tia cực tím, nó sẽ bao quanh gốc cây.

Với sự thay đổi nhiệt độ ngày - đêm, hơi nước bốc lên và sương đêm buông xuống sẽ đọng lại trên cả hai bề mặt của khay Tal-Ya, theo phễu sương và tưới thẳng vào rễ cây. Nếu trời mưa, các khay này sẽ hứng nước mưa và tưới cho cây, nó làm tăng hiệu quả hiệu quả tưới của mỗi milimet nước mưa lên 27 lần.

Ngoài ra các khay cũng còn hạn chế ánh mặt trời để cỏ dại không thể bén rễ, và bảo vệ thực vật khỏi sự thay đổi nhiệt độ khắc nghiệt tại các vùng sa mạc, đất cằn, đồng thời cùng làm giảm sự ô nghiễm nước ngầm.

8. Công nghệ bảo vệ thực vật thân thiện với môi trường

Để giải quyết vần đề bảo vệ thực vật mà vẫn thân thiện với môi trường, công ty chuyển giao công nghệ của Đại học Hebrew hợp tác với Makhteshim Agan, công ty hàng đầu thế giới về các sản phẩm bảo vệ cây trồng đã phát triển và thương mại hóa các sản phẩm thuốc diệt cỏ chậm phát tán vào đất và thuốc trừ sâu không gây tổn hại cho côn trùng có ích.

Cách tiếp cận của Israel là sản xuất các túi thuốc diệt cỏ có tính chất vật lý giống đất sét, mang điện tích âm để cho phép phát tán vào đất chậm và có thể kiểm soát, làm giảm thẩm thấu vào các lớp đất sâu hơn trong khi vẫn duy trì tác động diệt cỏ trên lớp đất bề mặt.

Điều này làm tăng hiệu quả diệt cỏ và giảm liều lượng cần thiết. Với thuốc trừ sâu, các kỹ sư Israel chế tạo ra các loại thuốc đặc chủng chỉ tác động đến 1 hoặc một số loài sâu bệnh trong khi đó không có tác dụng đến các loài khác, điều này làm giảm tác động của thuốc trừ sâu đến các côn trùng có ích, đảm bảo đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

9. Nuôi cá trong sa mạc

Đánh bắt quá mức là một mối đe dọa nghiêm trọng đến việc duy trì sản lượng các loại cá, cá là nguồn chính cung cấp protein cho hàng trăm triệu người trên thế giới. Rất nhiều quốc gia đang đau đầu vì muốn phát triển nguồn cung cấp cá trong nước, nhưng điều kiện về diện tích nuôi trồng lại bị giới hạn bởi điều kiện tự nhiên và nguồn nước. Những lo lắng đó có thể được giải quyết với một công nhệ của Israel khi cho phép cá có thể được nuôi tại hầu như bất cứ nơi nào, ngay cả trong sa mạc.

Đó là hệ thống GFA (Grow Fish Anywhere). Hệ thống nuôi cá này là một khu vực nuôi cá được khép kín và có thể đặt ở bất cứ đâu, không phụ thuộc vào các điều kiện về điện, nguồn nước cũng như môi trường bên ngoài, nó cho phép loại bỏ các vấn đề về làm sạch môi trường trong nuôi cá thông thường, và không phụ thuộc vào nguồn nước sẵn có. Đặc biệt, hệ thống sử dụng các vi khuẩn được phát triển làm sạch bể nuôi cũng như mầm bệnh ở cá khiến cho hầu như không có chất thải trong ao nuôi và không cần thay nước.

10. Sản xuất thực phẩm từ khí nhà kính

Khí nhà kính - CO2 là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu, nhưng nếu nó được sử dụng để nuôi trồng thì sao? Đó là điều mà công nghệ seambiotic của Israel mang lại. Từ lâu con người đã biết tảo là loài thưc vật có thể mang lại giá trị cao gấp 30 lần so với bất kỳ loại cây trồng nào từng được biết đến, và nó cũng là nhân tố chủ chốt trong việc tạo ra phần lớn lượng Ôxy cho chúng ta hít thở hàng ngày. Thức ăn chính của tảo là gì? Chính là CO2 và ánh sáng, và hệ thống seambiotic sẽ đem CO2 được phát thải từ các nhà máy biến thành nguồn cung cấp thức ăn cho tảo.

Tại các vùng châu Phi và Trung Đông, thứ không bao giờ thiếu đó là ánh sáng mặt trời, với thời gian có ánh sáng hàng năm cao nhất thế giới, hai khu vực này chính là thiên đường cho việc nuôi tảo. Còn gì tuyệt với hơn khi một công nghệ vừa có thể giải quyết vấn đề phát thải CO2 ra không khí lại vừa đem lại giá trị kinh tế cao, đó là điều tuyệt vời mà người Israel đã mang lại cho thế giới.

11. Nhân giống cá chép châu Phi

Nửa thế kỷ trước, trong khu vực hồ Victoria, cá chép châu Phi là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống của người dân Uganda gần đó. Nhưng khi cá rô sông Nile xâm nhập được vào hồ, nó đã cạnh tranh và tàn sát hầu hết các loài cá trong hồ, kể cả cá chép châu Phi. Cư sân xung quanh đó không có dụng cụ cũng như kỹ thuật đánh bắt cá rô sông Nile cũng như không có kỹ thuật nhân giống và nuôi cá nên đã xảy ra tình trạng thiếu hụt thực phẩm trầm trọng. Từ đó chế độ dinh dưỡng của cư dân bị suy giảm, các vấn đề sức khỏe đã xảy ra.

Để giải quyết vấn đề thiếu hụt nguồn cung, Giáo sư Berta Sivan của Đại học Hebrew đã thực hiện một dự án kéo dài nhiều năm để giúp đỡ các gia đình châu Phi. Nhóm nghiên cứu của bà đã áp dụng các kỹ thuật nhân giống, lai tạo cũng như nuôi trồng được phát triển qua nhiều năm cho người nuôi Israel để giải quyết vấn đề này.

Qua nhiều năm, dự án đã mang lại sự thay đổi to lớn cho Uganda, không chỉ nhân giống được các loại cá chép châu Phi để nuôi tại các trang trại cá Uganda, mà nó còn cung cấp các khóa đào tạo về làm thế nào để khai thác và nuôi trồng giống cá này với quy mô nhỏ. Bây giờ trẻ em địa phương có một nguồn cung cấp dồi dào protein cùng với trái cây và rau quả của họ, vấn đề dinh dưỡng đã căn bản được giả quyết.

12. Hạt giống chất lượng cao cho mùa vụ bội thu

Tại Đại học Hebrew, các nhà khoa học nông nghiệp Ilan Sela và Haim D. Rabinowitch đã phát triển công nghệ TraitUP, một công nghệ cho phép cấy ghép vật liệu di truyền vào hạt giống mà không sửa đổi cấu trúc DNA gốc của chúng. Phương pháp này đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng hạt giống cây trồng ngay trước khi chúng được gieo trồng. Với công nghệ này, các nhà khoa học có thể đưa các đặc tính về kháng sâu bệnh, tăng cường các đặc điểm thích nghi với thổ nhưỡng và khí hậu vào các hạt giống để nâng cao chất lượng cây trồng về sau.

Công nghệ này mở ra các cơ hội cho việc phát triển các giống cây trồng chuyên biệt cho từng vùng khí hậu, thổ nhưỡng nhằm tối đa hóa năng suất, đảm bảo chất lượng. Điều này mang đến cơ hội cho các quốc gia đang phát triển trong việc nang cao năng suất và chất lượng cho các sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Kích thích rau tăng trưởng bằng kính phủ nano

Kích thích rau tăng trưởng bằng kính phủ nano 

Trường Bách khoa Nanyang Polytechnic (NYP) và Tập đoàn sản xuất kính an toàn Safety Glass (SSG) của Singapore đang hợp tác phát triển loại kính ứng dụng công nghệ nano nhằm mục đích nâng cao năng suất nông nghiệp.

Qua thử nghiệm, loại kính trong suốt không màu dùng làm nhà kính trồng xà lách, rau mùi và xà lách rocket đã giúp các loại rau này tăng chiều cao nhanh gấp 3 lần so với thông thường, diện tích lá cũng lớn hơn 40% mức trung bình.

Đội ngũ nghiên cứu của NYP đã tạo nên một hỗn hợp chứa các hạt nano có khả năng thay đổi màu sắc ánh sáng mặt trời thành màu xanh và đỏ, giúp cây dễ quang hợp hơn. Các hạt nano được nhúng vào một lớp polymer tích hợp trong tấm kính an toàn.

Công nghệ kính mới mang tên Nano Glo-n-Grow giúp tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời mà không cần dùng đến nguồn điện. Nhờ vậy, giá thành sản xuất rẻ hơn nhiều so với những phương pháp tăng cường sinh trưởng cây trồng đang thực hiện như dùng hệ thống đèn LED chiếu sáng màu đỏ và xanh dương.

Ông Gan Geok Chua, Giám đốc Điều hành Tập đoàn SSG cho biết sự phát triển nhanh chóng của dân số và biến đổi khí hậu trên thế giới sẽ khiến nguồn lương thực không đủ cung cấp trong vòng 10-20 năm tới. Do đó, việc ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp rất cần thiết để góp phần giải quyết vấn đề này.

"Dự kiến, chúng tôi sẽ thương mại hóa phát minh này trong vòng 1-3 năm nữa sau khi nghiên cứu hoàn thiện vật liệu hiệu quả hơn", ông Gan Geok Chua chia sẻ.

Bà Hannah Gardner, giảng viên cao cấp tại NYP, người đứng đầu dự án, từ chối tiết lộ các thành phần chi tiết của loại kính này. Tuy nhiên, bà nói rằng việc sản xuất không quá phức tạp, nguyên liệu dễ kiếm và giá rẻ, có thể mua được ngay ở các cửa hàng tạp hóa bình thường.

Phần mềm mới giúp áp dụng kỹ thuật CRISPR dễ dàng hơn

Phần mềm mới giúp áp dụng kỹ thuật CRISPR dễ dàng hơn 

Các nhà nghiên cứu tại Viện Karolinska và Trường Đại học Gothenburg đã chế tạo được một phần mềm dựa vào web có tên là Green Listed, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gen (CRISPR). Phần mềm đã được công bố trên Tạp chí Bioinformatics và được cung cấp miễn phí trên trang web greenlisted.cmm.ki.se.

Các tế bào rất nhỏ tạo nên một sinh vật. Một người có lượng tế bào gấp khoảng 100 lần. Phần lớn tế bào này có chứa các chuỗi ADN dài. Các chuỗi ADN ảnh hưởng đến hình dạng và hành vi của các tế bào khác nhau. CRISPR là công cụ dùng để nghiên cứu nhanh cách các phần khác nhau của ADN ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào. Nhờ có công cụ CRISPR, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và đưa ra các gợi ý về hướng điều trị.

Fredrik Wermeling, đồng tác giả nghiên cứu tại Viện Karolinska cho biết: "Chúng tôi đã áp dụng phương pháp CRISPR để nghiên cứu cả tế bào miễn dịch và tế bào ung thư với mục tiêu phát triển các liệu pháp mới cho bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến hệ miễn dịch như viêm khớp và ung thư".

Kỹ thuật CRISPR dựa vào một hệ thống xuất hiện tự nhiên trong nhiều loại vi khuẩn, trong vài năm qua đã được chú ý nhiều. Một phương thức rất hữu hiệu để sử dụng CRISPR là nghiên cứu song song nhiều thành phần khác nhau của ADN còn gọi là sàng lọc CRISPR. Đặc biệt, phần mềm Green Listed được sử dụng để thúc đẩy phát triển loại hình nghiên cứu này trên quy mô lớn.

"Bằng cách áp dụng phương pháp CRISPR trong nghiên cứu, hiện nay, chúng tôi có thể giải thích hiện tượng mà chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu trong nhiều năm qua. Điều này chủ yếu liên quan đến các thí nghiệm sàng lọc CRISPR, trong đó, chúng tôi phải chỉnh sửa đồng thời khối lượng lớn các thành phần ADN được lựa chọn của các tế bào phân tách. Phần mềm Green Listed đơn giản hoá đáng kể quá trình này và rất quan trọng cho tiến bộ của chúng tôi", Fredrik Wermeling nói.

 

Sinh học 2.0: Camera quan sát sự tăng trưởng thực vật

Sinh học 2.0: Camera quan sát sự tăng trưởng thực vật 

Trong 70 năm qua, dân số thế giới đã tăng gấp ba lần, ở mức hơn 7 tỷ người, và nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng gần một độ C. Tăng trưởng dân số và biến đổi khí hậu có liên quan với những thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp hiện đại. Viện công nghệ Karlsruhe (KIT) đã kết hợp ngành khoa học máy tính và sinh học cùng nhau để xác định những gen mà làm cho cây có khả năng kháng nhiều hơn với các yếu tố căng thẳng, chẳng hạn như khô hạn và đất nhiễm mặn.

"Để đối phó với những yêu cầu thay đổi về nông nghiệp, thì việc phát triển các loài cây trồng mới là điều không thể thiếu. Để làm điều này, chúng ta cần một sự hiểu biết tốt hơn về các loại cây trồng quan trọng, chẳng hạn như lúa, được coi là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên toàn thế giới", tiến sĩ Michael Riemann tại Viện KIT, giải thích. Ông đã phát triển hệ thống phân tích sự tăng trưởng của cây mạ, gọi tắt là RiSeGrAn. Bằng cách so sánh các loài khác nhau về mặt di truyền, có thể rút ra kết luận về chức năng của các gen nhất định về mặt khả năng đề kháng với một loạt các yếu tố căng thẳng. Do nghiên cứu tập trung vào các giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của cây giống, nên có thể phân loại các biến dị gen một cách nhanh chóng hơn. Hệ thống sử dụng một máy ảnh hồng ngoại để chụp ảnh cây con phát triển trong bóng tối. "Lúc đầu, cây con phải lớn lên trong bóng tối để chúng trở nên rất nhạy với ánh sáng. Sau đó, chúng ta có thể đo lường hiệu quả của ánh sáng đến cây con", Riemann giải thích. Trong bước tiếp theo, hệ thống đánh giá các bức ảnh một cách tự động.

 

Cài đặt hệ thống RiSeGrAn

Hệ thống được cài đặt trong một chiếc hộp có kích thước gấp 50 cm 50 lần. Bên trong được chiếu sáng bằng 20 đèn LED hồng ngoại. "Cây con thay đổi bề ngoài phụ thuộc vào việc chúng phát triển trong bóng tối hay trong ánh sáng. Tuy nhiên, hệ thống này là để quan sát các loài thực vật và không ảnh hưởng đến chúng. Vì lý do này, các hộp được thiết kế sao cho ánh sáng không đến được cây con", Riemann cho biết. Các cây con được sắp xếp trong một đĩa kín trong môi trường thạch nước, một môi trường dinh dưỡng trong suốt cung cấp nước cho cây con. Để có được thông tin chi tiết về sự phát triển của cây, hệ thống chụp ảnh mỗi tiếng một lần trong khoảng thời gian mười ngày, theo sự kiểm soát của máy tính, chứ không cần phải có một người nhìn vào hộp. Các thuật toán được sử dụng để xác định từ các bức ảnh này độ dài của chồi, độ dài của lá thứ nhất, và độ dài của rễ. Ngoài ra, máy tính còn truyền các hình ảnh này một cách tự động vào máy chủ, và các nhà nghiên cứu có thể xem các bức ảnh này từ đây.

Xem video minh họa cho hệ thống RiSeGrAn tại: http://da-cons.de/uploads/images/videos/RiSeGrAn__description.mp4

"Bằng cách này, chúng tôi có thể khám phá các tính chất chưa được biết của những gen đã được biết. Ví dụ như, chúng tôi có thể đo chính xác các thông số, chẳng hạn như thời gian nảy mầm hoặc sự tăng trưởng của các mô nhất định", Riemann giải thích. "Các số đo của chúng tôi có thể hỗ trợ các nghiên cứu sinh học phân tử, bằng việc xác định các gen mà giúp cho cây có khả năng kháng nhiều hơn với một số yếu tố gây căng thẳng, ví dụ như đất nhiễm mặn".

Dữ liệu mở

Bước tiếp theo, các nhà phát triển dự án RiSeGrAn dự tính sẽ thiết lập một nền tảng Dữ liệu Mở trực tuyến dựa trên các dữ liệu thu thập được. Các nhà khoa học sau đó có thể xuất bản dữ liệu của họ trên nền tảng này. Dữ liệu mở có nghĩa là dữ liệu thô thu được từ các thí nghiệm luôn có sẵn cho các nhà khoa học khác. Các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra kết quả ban đầu hoặc để nghiên cứu dữ liệu để tìm hiểu một số đặc điểm nhất định.

Đột phá về biến đổi gen ở các hạt ngũ cốc

Đột phá về biến đổi gen ở các hạt ngũ cốc 

Cây trồng biến đổi gen đang là vấn đề gây tranh cãi trong nhiều ứng dụng thương mại, tuy nhiên không thể phủ nhận lợi ích của nó đối với mục đích nghiên cứu. Mặc dù đã nỗ lực trong nhiều năm, tuy nhiên, việc phát triển những phương pháp hiệu quả cho các loại ngũ cốc còn gặp khá nhiều khó khăn. Các báo cáo nghiên cứu mới đây đã đưa ra phương pháp biến đổi gen ở ngô và các loại ngũ cốc khác.


Mặc dù việc thương mại hóa các cây trồng biến đổi gen đang gây nhiều tranh cãi, tuy nhiên các nghiên cứu vẫn tập trung vào việc nâng cao kỹ thuật để tạo ra các loại cây trồng biến đổi gen cho năng xuất cao. Công nghệ biến đổi gen cho phép các nhà tạo giống cây tạo ra các gen có các đặc tính như mong muốn với những nguyên liệu giống có giá trị. Tuy nhiên, thực vật biến đổi gen cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học cơ bản. Khả năng đưa một gen đơn vào một cây cho phép các nhà nghiên cứu khám phá ra gen đó là gì.

Mặc dù đã nhiều năm nỗ lực, nhưng việc phát triển các phương pháp biến đổi gen hiệu quả đối với các loại cây ngũ cốc còn gặp khá nhiều khó khăn. Những phương pháp ưa chuộng thường liên quan đến việc tiêm Agrobacterium vào mô - một loại vi khuẩn mà chuyển đổi ADN một cách tự nhiên thành gen vật chủ của nó - và sau đó kích thích mô đó tái sinh thành cây trồng. Tuy nhiên, Agrobacterium chỉ tiêm được trên phạm vi hẹp đối với các giống ngũ cốc, nhiều giống cây không thể tái sinh. Một bài báo được đăng trên The Plant Cell đã báo cáo về bước đột phá trong công nghệ biến đổi gen mà có thể mở rộng phạm vi lớn đối với các giống cây và các loài mà có khả năng biến đổi.

Nhóm các nhà nghiên cứu từ DuPont đã đưa các gen được gọi là gen morphogenic - được biết đến từ nghiên cứu cơ bản nhằm thúc đẩy quả trình tạo ra các mô phôi thai - vào các gen khác đã bị biến đổi (trong trường hợp này thể hiện protein huỳnh quang xanh lục là dấu hiệu của sự biến đổi). Như vậy, tốc độ biến đổi tăng ở một số lượng lớn các giống ngô - trong nhiều trường hợp đi từ cơ bản, quá trình biến đổi có tốc độ chưa đủ cao để có thể sử dụng hiệu quả trong các ứng dụng thương mại và nghiên cứu. Kỹ thuật này cũng đã được nghiên cứu ở lúa miến, lúa gạo và cây mía. Công trình nghiên cứu này mở rộng phạm vi các loài, giống cây trồng và các mô mà có thể được sử dụng để chuyển đổi hiệu quả và là một ví dụ hay về những gì có thể thực hiện được bằng cách kết hợp nghiên cứu cơ bản, chuyên môn kỹ thuật và kiến thức về các vấn đề thực tế đang phải đối mặt với những ứng dụng phổ thông.

 

Công nghệ CRISPR-Cas9 giúp cải thiện hiệu quả cây trồng

Công nghệ CRISPR-Cas9 giúp cải thiện hiệu quả cây trồng 

Một nhóm nghiên cứu bao gồm một nhà thực vật học của Virginia Tech gần đây đã sử dụng công nghệ khoa học đời sống để sửa đổi 14 vị trí mục tiêu xung quanh 8 gien thực vật cùng một thời điểm mà không tạo ra những thay đổi ngoài ý muốn ở những vị trí khác trong hệ gien.

Đây là một công cụ chỉnh sửa bộ gien được gọi là CRISPR-Cas9. Công nghệ này đã cách mạng hóa khoa học đời sống khi nó xuất hiện trên thị trường vào năm 2012. Nó được chứng minh là hữu ích trong cộng đồng khoa học thực vật dưới dạng là một công cụ hiệu quả cho việc cải tiến cây trồng nông nghiệp.

Khả năng thay đổi một vài gien cùng lúc hứa hẹn sẽ nâng cao hiểu biết của các nhà nghiên cứu về cách thức gien tương tác qua lại để định hình cho sự phát triển và phản ứng của cây trồng với những thay đổi của môi trường. Tuy nhiên, một trở ngại của công nghệ này là đã xác định được tác động của việc thay đổi trên vùng gien mà không phải là mục tiêu.

David Haak - Giảng viên ngành Bệnh học, sinh lý học thực vật, và khoa học cỏ dại tại trường Nông nghiệp và Khoa học đời sống, đã phát triển một chương trình tin sinh học sử dụng dữ liệu giải trình chuyên sâu để kiểm tra xem liệu việc chỉnh sửa hệ gien của loài thực vật Arabidopsis mà nhóm nghiên cứu thực hiện có hiệu quả hay không và có theo mục tiêu cụ thể của nó hay không.

Phát hiện của nhóm nghiên cứu thông qua sử dụng phương pháp CRISPR-Cas9 để hiệu chỉnh đa gien của các loài thực vật cụ thể này đã được xuất bản trên tạp chí PLOS ONE số ra ngày 13/9.

"Khả năng chỉnh sửa chức năng của gien một cách cụ thể thông qua sử dụng CRISPR-Cas9 có tiềm năng sẽ thực sự thay đổi cách chúng ta nghiên cứu thực vật trong phòng thí nghiệm và nâng cao hiệu quả cây trồng", đồng tác giả Zachary Nimchuk – Giảng viên ngành sinh học tại trường Đại học Bắc Carolina nói. "Nhưng, đã có những lo ngại về khả năng có tác động xảy ra ở ngoài mục tiêu không mong muốn. Chúng tôi đã thử nghiệm trên thực vật, hướng mục tiêu tới 14 vị trí cùng một lúc, và thấy không có hiện tượng ngoài mục tiêu nào trong một lượng lớn cây trồng. Dữ liệu của chúng tôi mở rộng thêm cho các công trình nghiên cứu trước đó để cho thấy rằng, ít nhất là trong loài Arabidopsis, hiện tượng ngoài mục tiêu sẽ là vô cùng hiếm hoi khi sử dụng phương pháp Cas9".

 

Chào ngày mới 8 tháng 9

alt
CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 9
. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Đức Mẹ theo đức tin Công giáoChính thống giáo. Ngày Lễ Tạ ơn truyền thống của MỹCanada, được tổ chức lần đầu vào ngày 8 tháng 9 năm 1565. Ngày Quốc tế biết Chữ; ngày Độc lập tại Macedonia (1991). Năm 1504 – Tác phẩm điêu khắc David một kiệt tác nghệ thuật điêu khắc thời Phục Hưng và là một trong hai tác phẩm điêu khắc vĩ đại nhất của Michelangelo được khánh thành tại Florence, Ý. xem thêm ...

Biển Đông vạn dặm

Ảnh

Hoàng Kim
(bài tổng hợp)

Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” là hai câu thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) trong bài thơ chữ Hán Cự Ngao Đới Sơn của Bạch Vân Am Thi Tập, với bản dịch thơ của Nguyễn Khắc Mai, giám đốc trung tâm minh triết Hà Nội, nhà nghiên cứu Hán Nôm. Tôi viết bài này từ năm trước, nay bổ sung thêm một số thông tin liên quan bài viết và hình ảnh về Núi Xanh, Thiên An Môn, Di Hòa Viên (Bắc Kinh).

Chuyện phong thủy Trung Hoa về Thiên đạo.

Trung Hoa nhiều người chuộng phong thủy. Các đế vương khởi nghiệp phát triển triều đại Trung Hoa xưa và nay đều rất ý tứ trong việc này. Bắc Kinh được lưa chọn làm đế đô của nhiều đời do được coi là thế đất phong thủy  hưng vượng muôn đời. Mỗi triều đại chỉ làm một phần việc tại thủ đô để lưu dấu công tích sự nghiệp của triều đại mình cho đời sau. Chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai khi sáng lập nước Trung Hoa mới không đụng vào quần thể di sản lịch sử văn hóa có từ nhiều đời trước mà chỉ tập trung xây dựng “cửa Trời yên”là Thiên An Môn, định rõ cửa Thiên An và hướng Thiên đạo.
TQ KimLong 1
TQ KimLong 15
TQ KimLong 13
Núi Cảnh Sơn nhìn từ điểm trung tâm của thủ đô Bắc Kinh (Center Point of Beijing City) đến trục trung tâm của thủ đô Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn (ảnh: Hoàng Long)

Điểm gốc của đế đô Bắc Kinh là Núi Cảnh Sơn ( Jǐngshān, 景山, “Núi Cảnh”, Núi Xanh, Green Mount ), địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô, ngọn núi nhân tạo, cao 45,7 m này, tạo dựng dưới thời vua Vĩnh Lạc nhà Minh, được coi là linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp, tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn.
TQ KimLong 4
Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu.

TQ KimLong 7
TQ KimLong 5

Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) – là “vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa” một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc.

Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á.
DaoTruongSa

Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc.  Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm,  bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.

Vị trí của Thông tin quốc gia

Chủ tịch Mao xác định Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải”, là phương lược căn bản để “Con sư tử phương Đông vùng dậy”. Đối với Trung Hoa thì liên Nga tránh được họa phương Bắc là tâm điểm lưu ý của các triều đại. Việc mở mang bờ cõi tranh đoạt thiên hạ phải là Nam, Hải (cửa Sinh). Sự phòng thủ Bắc Kinh hướng chính bắc là Tử Cấm Thành (cửa Tử).

Nắm vững Trung là gốc căn bản của đại kế Mao Trạch Đông, vì trong có yên thì ngoài mới ổn, nhưng trong ngoài chính phụ phải khéo chuyển hóa. Chủ tịch Mao Trạch Đông tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965 đã nhấn mạnh giả thuyết chiến lược “tam tuyến” và phương lược xử lý khi có chiến tranh lớn xẩy ra: “Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc động loạn

Hướng về Nam, mở rộng Hải là định kế phát triển Trung Hoa của Mao Trạch Đông. “Hồi thế kỷ thứ nhất đế quốc La Mã cũng đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng biển Địa Trung Hải mà họ gọi là “Biển lịch sử của chúng tôi” (Mare Nostrum: Notre Mer/ Our Sea). Địa Trung Hải là vùng biển bao la chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến các bờ biển Trung Đông và Bắc Phi. Đường Lưỡi Rồng (dân gian gọi là Lưỡi Bò) rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Mao Trạch Đông đã đưa ra phương lược khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất của nhà Thanh năm 1892. Hoàng Sa và Trường Sa trở thành “tọa độ vàng” của Bắc Kinh trên bản đồ “Biển lịch sử ” do Mao Trạch Đông khoanh vùng, để lại. Và đến nay Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp tục đường lối đó.

alt

Biển Đông vạn dặm dang tay giữ

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lạ lùng thay hơn 500 trước đã dự báo điều này và sứ giả Chu Xán triều Thanh đã phải khâm phục kính nể khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Núi tiên biển biếc nước trong xanh
Rùa lớn đội lên non nước thành
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá
Dầm chân đất sóng vỗ an lành
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.

(dịch thơ: Nguyễn Khắc Mai)

Nguyên văn:

CỰ NGAO ĐỚI SƠN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực
Trước cước trào vô quyển địa thanh
Vạn lý Đông minh quy bá ác
Ức niên Nam cực điện long bình
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành

Dịch nghĩa:

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đá
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất
Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình
Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy
Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra thông điệp ngoại giao nhắn gửi con cháu về quyết tâm và lý lẽ giữ nước: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình)

” Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình”.

Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Thiên An là trời yên cũng là dân yên. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là “kê cân – gân gà” mà bậc hiền minh cần sáng suốt.

“Cổ lai nhân giả tri vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh”

Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh.

“Quân vương như hữu quang minh chúc,
ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân”

Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo.”Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; (Hàng chục triệu người dân Việt Nam mưu sinh từ nghề biển – Ảnh Internet). “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”.

Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !

Chuyện đồng dao trên đèo Ngang của Bác Hồ

Bác Hồ có bài thơ đồng dao lạ “Biển là ao lớn, thuyền là con bò”  viết lúc 5 tuổi  khoàng năm 1895 – 1896 trên đèo Ngang. Chuyện do nhà văn Sơn Tùng kể ngày 11 tháng 4 năm 2001 tại trường Cán bộ quản lý giáo dục ngành Giáo dục Đào tạo.

Chuyện kể rằng Nguyễn Tất Thành 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế. Ông Sơn Tùng được ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho cuốn “Tất Đạt tự ngôn” vào tháng 6 – 1950, cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ. Sau đó ít tháng cụ qua đời.

Cụ Khiêm kể lại: – Hôm đó cả nhà Bác chuẩn bị đi vào Huế, Bác ngủ với bà ngoại, em Thành ngủ với mẹ, còn chị Thanh thì ngủ với dì An. Đêm đêm Bác thấy bà khóc, ngày bà vui, đêm nào cũng nghe thấy bà khóc. Sáng hôm sau thấy bà đi xin mo cau cả làng (xưa dân ta lấy mo cau làm gàu múc nước). Bác với chú Thành lấy mo cau cắt thành chiếc thuyền đem thả vào ao trước nhà, bà không cho, bà bảo đây là dép của các cháu và cha mẹ cháu để đi vào kinh đô, thời đó chưa có nhiều giày dép như bây giờ. Bác thấy bà ngoại đo chân cha mẹ Bác, đo chân cho hai anh em Bác.
Bác nói: – Mẹ, sao đêm bà khóc?
Về sau mới biết tâm sự của bà là thế này:
– Lúc đầu cha mẹ bác tưởng bà khóc vì bán ruộng cho con rể vào kinh đi học, bán mất 5 sào. Bà ngoại đêm nằm buồn mà khóc. Không phải tiếc bán 5 sào ruộng cho con rể vào kinh đi học vì “chữ nó sẽ đẻ ra ruộng, chứ ruộng nó không đẻ ra chữ”, bán ruộng cho con đi học, có chữ về thì cái chữ đẻ ra ruộng. Còn cái ruộng, bán đi đánh bạc mới mất, nên không có gì là khóc cả. Khóc là vì bà không có con trai. Ông Tú mất rồi, con rể coi như là con trai, con gái là chỗ dựa, bây giờ cả nhà kéo vào Huế, bà ở nhà cô đơn một mình, hai cháu trai và cháu gái cũng đi. (Vì thế nên cha mẹ bác chỉ cho hai anh em cùng đi vào Huế, còn chị Thanh phải ở lại quê với bà để sớm hôm, có bà, có cháu).
Như vậy cha mẹ Bác quyết định vào Huế không phải là để làm ăn sinh sống trở thành người Huế đâu, mà muốn cho anh em Bác vào Huế để học. Cha Bác vào Huế để làm bạn với các nhà khoa bảng ở kinh đô. Các ông quan thời đó đều là Tiến sĩ, là Hoàng Giáp, là Đình Nguyên, ít ra là cử nhân. Đúng là cha của Bác vào Huế đã tạo ra được một cái “chiếu văn”, các ông quan trong triều thường đến đó bình văn, bình thơ cùng với các cụ đồ ở kinh đô.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Khi đi dép mo cau, mỗi lần rách thì phải thay cái khác, còn chú Thành thì được cha cõng trên lưng. Trên cao chú ấy quan sát hỏi hết chuyện này đến chuyện khác, ví dụ như:
– Núi này là núi gì mà cao thế?
Bà Ngoại hay ví “Trèo truông mới biết truông cao” là nghĩa làm sao?
Có bao nhiêu nước để được gọi là biển? vân vân và vân vân.
Chú ấy hỏi nhiều chuyện, còn chân Bác thì nó đau vì đi mấy ngày liền, có khi Bác khóc. Mẹ Bác lại động viên:
Em nó vui vẻ hỏi chuyện này chuyện khác, con là anh mà chẳng vui chi cả. Chú được cha cõng trên lưng, đến đồng bằng thì chạy tung tăng, hỏi nhiều thứ đến cha còn lạ mắt nên mẹ Bác nói em thông minh hơn anh.
Rồi cụ Khiêm kể tiếp:
– Mà chú ấy thông minh hơn Bác thật…! Lúc đến đèo Ngang, đường có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Ở chân Đèo Ngang có bãi cỏ rất bằng, mẹ Bác mới đặt gánh xuống, cha Bác xếp ô lại, bảo:
– Chỗ này phẳng, nghỉ lại đây ta ăn cơm nắm để rồi leo đèo. Bác ngồi xuống ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi rồi hỏi cha:
– Thưa cha, cái gì ở trên cao mà đỏ lại ngoằn nghoèo như rứa?
Cha Bác nói:
Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên trên đó, lên cái con đường mòn đó. Nghe xong , chú ứng khẩu đọc luôn một bài thơ. Sau này Bác ghi lại trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” này.
Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng con theo
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con.
Năm 1950, tôi là anh thanh niên được tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ, thấy Bác làm thơ từ lúc 5 tuổi thì hơi sững sờ.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Lúc đó cha mở cái túi vải lấy lá số tử vi của con ra xem thì Bác mới được biết, cha Bác đã lấy số tử vi cho các con hết rồi. Cha Bác nói với mẹ: – Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn và ông ngoại đã nói như thế không nhầm.
Rồi Bác Khiêm lại kể tiếp:
– Lúc đó Bác cũng chẳng có bụng dạ nào vì chân bỏng rộp, rất đau. Ăn cơm nắm, uống nước đựng trong quả bầu khô xong, cả nhà lại leo núi, chú Thành lại được cha cõng trên lưng. Anh em Bác ở làng Sen chỉ biết ao, biết sông, biết hồ, biết núi chứ biển thì chưa thấy. Hôm đó, đến đỉnh đèo, cả nhà dừng lại nghỉ, Bác ngồi ôm chân, chú Thành lại chạy nhảy rồi nói:
– Cha ơi, cái ao ở đây sao lại lớn thế?
Cha Bác nói: – Không phải ao đâu con ơi, đó là biển đấy chứ.
Lúc đó, đang đứng trên đỉnh đèo Ngang, nhìn thấy biển, ở đây đi xuống là đến Ròn, tức Cảnh Dương của Quảng Bình. Lần đầu tiên thấy biển lại cứ gọi là ao, cha Bác phải giải thích là biển. Chú ấy lại hỏi:
– Cha ơi, tại sao bò nó lại lội trên biển? Cha Bác cười bảo:
– Không phải là bò đâu con, đó là cánh buồm nâu, thuyền nó chạy trên biển đó. Nghe xong, chú Thành liền ứng khẩu đọc ngay một bài thơ:
Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Bò ăn gió no
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn.
Cụ Khiêm nói một câu tâm sự mà cũng là tâm trạng:
– Con người ta có số mệnh. Số mệnh có khi nó xuất ra thành ý. Cái thông thường, cái lẽ thường anh là phải nhìn thấy trước em chứ, vì anh ra đời trước, khôn hơn . Nhưng đây lại nói là: “em nhìn thấy trước, anh nhìn thấy sau, ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”. Cái khẩu khí ấy là cái ứng mệnh, Bác là anh, Bác đau chân, Bác không còn nhìn thấy những gì ở xung quanh, nhưng chú ấy quan sát, chú ấy lại ứng khẩu được cái đó “Ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”.Có lẽ cũng vì cái khẩu khí ấy nên suốt cuộc đời của chú Thành phải đi hết nơi này đến nơi khác thì phải, (năm châu bốn biển) ….

Nhà văn Sơn Tùng kề rằng cụ Khiêm nói với ông điều này vào năm 1950. Sau này nhà văn Sơn Tùng  công bố hai bài thơ ấy trên báo Văn Nghệ số Tết năm 1980, lúc đó là chuẩn bị đại hội V (1981). Khi cuốn “Búp Sen Xanh” chưa in, nhà văn Sơn Tùng có đưa hai bài thơ này và viết cái đoạn gặp cụ Nguyễn Sinh Khiêm. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng là Tổng biên tập báo Văn Nghệ, trước khi đăng đã hỏi:”– Có chính xác không anh? mới 5 tuổi mà làm hai bài thơ này, trẻ con thì trẻ con thật nhưng rất trí tuệ”. Nhà văn Sơn Tùng nói, “anh cứ đăng, có gì tôi (Sơn Tùng) chịu trách nhiệm” ….

Thiên Đạo, chuyện “biển lịch sử”, “đường lưỡi Rồng” là lý của người mạnh, của nước lớn, có thể ỳ mạnh hiếp yếu. Biến Dịch, “rùa lớn đội núi”, “đường lưỡi Bò” là tình của kẻ yếu, kẻ phi thường, của nước nhỏ, có thể đội đá vá trời. Điều lạ và hay trong thơ đồng dao của Bác Hồ là không thể đánh tráo khái niệm, không thể lấy cái hữu hạn để đo cái vô hạn. Lời tuyên bố rất sớm, và “Em nhìn thấy trước. Anh trông thấy sau. Ta lớn mau mau. Vượt qua ao lớn”.

Hoàng Kim

Xem thêm

Biển Đông những diễn biến mới
Biển Đông và sông Mekong
Tình hình biển Đông có gì mới?

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Biển Đông và sông Mekong

Biển Đông và sông Mekong cập nhật các thông tin nổi bật “Tình hình biển Đông có gì mới?” “Sông Mekong, tài liệu  tổng hợp“.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và chính quyền Bắc Kinh đang quyết tâm theo đuổi luận thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” do cố Chủ tịch Mao Trạch Đông khởi xướng theo thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm. Nay thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. “Mekong chặn dòng” “giữ thế thượng phong nước đầu nguồn” “tùy cơ dùng kinh tế và khoa học công nghệ để chế ngự”. Việt Nam đang phải ứng phó với  “biển Đông dậy sóng, Mekong chặn dòng”. Chiến lược ứng phó cơ bản, lâu dài của Việt Nam là minh triết: “Kế sách một chữ Đồng” (Trần Nhân Tông), “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)  “Biển là ao lớn/ Thuyền là con bò/ Bò ăn gió no/ Lội trên mặt nước/ Em nhìn thấy trước/ Anh trông thấy sau/ Ta lớn mau mau/ Vượt qua ao lớn (Hồ Chí Minh).

DodocTon

Tình hình biển Đông có gì mới?

Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore 2015 vào cuối tuần qua. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã ‘kiềm chế hết mức’ ở Biển Đông. Bắc Kinh báo hiệu: Không còn hiền lành ở Biển Đông nữa!  Bài bình luận quốc tế trên báo Mỹ  Wall Street Journal,  tác giả: Andrew Browne, người dịch: Trần Văn Minh. Với thông tin này, Trung Quốc phát đi thông điệp sẵn sàng chấp nhận đối đầu với thách thức hải chiến hoặc chiến tranh thế giới thứ ba có thể xảy ra trên biển Đông. Họ tiếp tục thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, khiêu khích và sẵn sàng tranh chấp.

Nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình sau bốn thập kỷ tăng trưởng liên tục, đã vượt lên nổi nhục Trung Quốc bị tám đế quốc xâu xé cuối thời Mãn Thanh, Quốc Cộng nội chiến  hơn 20 năm, sự xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản , sự xáo động dữ dội của đại cách mạng văn hóa trước trong và sau thời kỳ “đại loạn” làm nhân dân Trung Quốc phải trả giá đau đớn, những hiểm họa cực kỳ nguy hiểm đến tồn vong chế độ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế, suy thoái môi trường , phân hóa giàu nghèo, phát triển nóng, nay tuy nguy cơ vẫn rất cao nhưng có vẻ như đang từng bước vượt qua.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất.

Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Họ nuôi dưỡng và khích lệ lòng tự hào, tự tôn của dân tộc Đại Hán bằng cách tuyên truyền nhiều năm trong dân chúng về “đường chín đoạn” trên biển Đông Việt Nam là “chuỗi ngọc trai trên cổ của bà mẹ Trung Quốc”. Ho phân bua với thế giới những vùng đất tranh chấp khi so sánh bản đồ Trung Hoa đời Thanh năm 1892 và bản đồ Trung Quốc hiện tại (Hình 1) và (Hình 2).
TQ 1892 Thanh

Hình 1: Bản đồ Trung Quốc năm 1892

Ban do Trung Quoc ngay nay
Hình 2: Bản đồ Trung Quốc ngày nay

Trung Quốc tìm kiếm quyền lực trên biển Đông Việt Nam thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc  thực hiện một loạt các kế sách liên hoàn:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế , khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới.

Trung Quốc”  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”. Để cưỡng chiếm biển Đông Việt Nam, Trung Quốc rêu rao là đang bị “Các nước nhỏ hơn ở quanh vùng biển gồm Việt Nam, Philippines và Malaysia đã thách thức sự kiên nhẫn của Bắc Kinh bằng cách đưa ra các tuyên bố chủ quyền trên nhiều đảo nhỏ, công trình xây dựng trên các đảo này và thăm dò năng lượng ở vùng biển xung quanh. Thật vậy, những hành động này đi trước bất kỳ hành động nào của Trung Quốc. Nhưng sự khoan dung cũng có giới hạn“.

Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp, tiếp tục đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân,  bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.

Tình hình biển Đông có gì mới đang tiếp tục diễn biến, mời xem các comment cập nhật.

Sông Mekong, tài liệu tổng hợp

Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới.  Lưu vực sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc. Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap – hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á – người Việt thường gọi là “Biển Hồ”.

Phần thương nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan và hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá.

alt

Thời gian gần đây có nhiều tài liệu quan tâm sâu sắc khu vực này. Trong đó, đáng chú ý nhất là các bài: Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện.

“Mekong chặn dòng” xây dựng một loạt đập thủy điện và điều lượng nước sông Mekong “giữ thế thượng phong nước đầu nguồn”  là một chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc của Trung Quốc. Với phương lược này có thể  “tùy cơ, dùng kinh tế và khoa học công nghệ để chế ngự các nước trong lưu vực vùng hạ lưu sông Mekong”.  

Sông Mekong, thông tin tổng hợp đọc báo giùm bạn và cập nhật thông tin qua các comment.

Hoàng Kim

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

CIAT xây dựng trên đa dạng sinh học

FOODCROPS.VN. Theo CIAT e-Bulletin 21.4.2015, bảo vệ đa dạng sinh học là điều cần thiết để đạt được an ninh lương thực. Chúng ta cần đa dạng cây trồng được bảo quản cả trong các lĩnh vực của nông dân và trong ngân hàng gen hiện đại. Chúng ta cần làm cho nó có sẵn cho tất cả thông qua một hệ thống toàn cầu hiệu quả, bây giờ và mãi mãi.  CIAT đã và đang xây dựng một ngân hàng gen mới về đậu, sắn, cỏ nhiệt đới tại trụ sở chính của CIAT gần Cali, Colombia để bảo tồn và sử dụng đa dạng cây trồng lâu dài cho an ninh lương thực trên toàn thế giới. Các ngân hàng gen mới này nhằm mục đích truyền cảm hứng cho sự sáng tạo và hợp tác quốc tế, không chỉ cung cấp hạt/ cây giống và dữ liệu di truyền mà còn tận dụng sức mạnh của thông tin để thúc đẩy sự biến đổi tăng trưởng nông nghiệp . Mục tiêu của CIAT là sẵn sàng cung cấp các các bộ sưu tập đậu, sắn, cỏ nhiệt đới và cây khác nhân lễ kỷ niệm 50 năm thành lập CIAT vào năm 2017. Bảo tồn nguồn gen hoang dã cây trồng ở CIAT có giá trị 1,9 tỷ USD một năm ..., tiến sĩ Geoff Hawtin đã trao đổi như vậy với cơ quan kiểm toán PWC của CRW trên trang The Trust Crop (CropTrust) ngày 10 tháng mười một năm 2014. Thông tin chi tiết bài viết tiếng Anh về "xây dựng trên đa dạng sinh học"  mời bạn đọc tại đây: http://annualreport2014.ciat.cgiar.org/new-genebank/

Building on biodiversity

alt

Safeguarding biodiversity is essential for achieving food security. We need crop diversity to be preserved both in farmers’ fields and in modern genebanks. And we need to make it available to all through an efficient global system, now and forever.

Doing its part to ensure long-term conservation and use of crop diversity for food security worldwide, CIAT will construct a new state-of-the-art genebank with LEED (Leadership in Energy and Environmental Design) certification at our headquarters near Cali, Colombia. The new genebank will aim to inspire innovation and international cooperation, not only providing seed and genetic data but also leveraging the power of information to drive transformative agricultural growth. Our goal is to have a new home for CIAT’s bean, cassava, and tropical forages collections ready for inauguration on the occasion of CIAT’s 50th anniversary in 2017.

 “Much more than a seed museum, this new genebank will serve as a global knowledge hub for crop diversity, sharing the know-how and genetic resources that developing countries need for responding successfully to pressures like population growth, market shifts, and climate change,” said Cristián Samper, president and CEO of the Wildlife Conservation Society.

A new home for crop diversity

CIAT’s current genebank urgently needs renewal, which can be accomplished with an investment of US$25 million in more effective conservation of more than 67,000 samples of beans, cassava, wild species related to these crops, and tropical forages. The budget includes a $4 million endowment to support genebank operations and efforts to strengthen national scientific capacity.

 “Safeguarding biodiversity requires more than just bricks and mortar,” said Joe Tohme, director of CIAT’s Agrobiodiversity Research Area. “This is why CIAT will invest in a world-class training program for the next generation of conservation experts – including the first-ever endowed position in the CGIAR Consortium.”

Alejandro Echeverri + Valencia, an architectural firm based in Medellín, Colombia, impressed the CIAT Board of Trustees with its creative plan for the building, which features a “double skin” or canopy-like structure that will create a cool microclimate, together with modules that allow for economy, flexibility, and expansion in subsequent stages.

future-genebank

The new building will be energy efficient, environmentally friendly, and fully capable of standing the test of time, with offices, tissue culture labs, glasshouses, seed processing areas, and a herbarium – all oriented to:

  • Conserving and characterizing crop genetic resources that contribute to sustainable food production and poverty reduction
  • Discovering new ways to safeguard and use agrobiodiversity, while also accelerating crop improvement in response to the needs of farmers and consumers
  • Educating the next generation of experts in genebank curation and strengthening scientific capacity, while also conveying strong messages to the public about the vital importance of crop diversity

Crop diversity come what may

Crop diversity is rapidly disappearing as a result of urbanization and other pressures, and is also threatened by climate change. Once biodiversity is lost, it’s gone forever. Since 1900, India has lost 90% of its rice varieties, and the USA has lost 90% of its fruit and vegetable varieties. While no one knows the total number of plant varieties that have disappeared, many can be found today only in genebanks like CIAT’s.

Maintaining the greatest possible amount of crop diversity is critical for securing food supplies in the face of unprecedented demand and pressures. We need this diversity to ensure that nutritious food will be available at stable and affordable prices, without expanding agriculture’s environmental footprint. The CIAT genebank is a key resource for meeting these challenges.

Agrobiodiversity impacts

  • With traditional fodder sources failing during times of drought, high-quality forage grasses are giving hope to millions of small farmers in Rwanda and other countries of Eastern and Central Africa, where livestock production must be intensified in response to rising demand for milk and meat.
  • Using germplasm from CIAT and other CGIAR collections, Brazilian researchers and international partners have developed biofortified varieties of crops that include sweetpotatoes, squash, beans, and cassava, which farmers in Itaguaí are growing to supply nutritionally enriched foods for 13 pre-schools with about 8,000 students.
  • Cassava breeders in Asia have developed new varieties that are better adapted to a wide variety of growing conditions, are resistant to pests and diseases, and offer higher starch content, making them more attractive for industrial markets.

cassava-farmer-gsmith

With your support

The Building on Biodiversity initiative is well underway but needs support. To this end, CIAT is reaching out to governments, foundations, the private sector, and individuals to establish a global genebank and knowledge hub for agrobiodiversity. We look forward to showing you around the iconic new home for humanity’s crop diversity in 2017.

beans-genebank-npalmer

See more:

CIAT E-Bulletin
View this email in your browser
Special Issue: Annual Report 2014-2015

alt
20 April 2015

altFeast your eyes and your mind on the online version of CIAT’s Annual Report 2014-2015: Pathways to Development Impact – our first virtual and fully interactive and responsive publication.

Like our printed annual reports of the past, this one offers a comprehensive overview of the Center’s achievements in the last year – including its contributions to the global research agenda of CGIAR – as viewed by our own leaders and scientists as well as from the perspective of partners and rural people across the tropics.
In this issue
More to see in the report:
  • Financials
  • Our people
  • Donors
  • CIAT and the International Year of Soils 2015
  • Gender Research Focus
  • Discover: The Biopacific Park

Go to the report 

Message from the Board Chair and Director general
alt
"Advances highlighted in CIAT Annual Report 2014-2015 represent key milestones along the path to eco-efficient agriculture. We invite all of our partners and donors to join us in making the arduous journey to this vital destination, which none of us can reach on our own..."
Read more →

At a Glance
alt
alt
alt
alt

Strategic Initiatives
Under its strategy for 2014–2020, CIAT has embarked on forward-looking strategic initiatives, whose aim is to open new avenues for enhancing the development impact of our research. The new initiatives are rapidly gaining buy-in through expanded partnerships, and major projects are underway in pursuit of their central aims.
alt
FoodLens
Sharpening the focus of research on sustainable food systems
alt
Ecosystem Action
Renewing rural landscapes for improved food security and livelihoods
alt
LivestockPlus
Fast-tracking tropical forages for twin-win agricultural systems

Our Stories
alt
Agrobiodiversity
alt
Decision and Policy Analysis
alt
Soils

Building on Biodiversity: New Genebank Project
alt
Safeguarding biodiversity is essential for achieving food security. We need crop diversity to be preserved both in farmers’ fields and in modern genebanks. And we need to make it available to all through an efficient global system, now and forever.
Read more →

CIAT and CGIAR
CIAT’s research feeds into the collective agenda of CGIAR. CIAT leads in particular the CGIAR Research Program on Climate Change, Agriculture and Food Security (CCAFS) and shares in the coordination of HarvestPlus, which is a major part of the CGIAR Research Program on Agriculture for Nutrition and Health; and contributes to other programs as well.



alt
CCAFS: On Track for Impact
CCAFS underwent significant reorientation in 2014, with a sharpened focus on developing detailed theories of change and impact pathways,and ensuring that all activities are linked to clear indicators of progress...
alt
HarvestPlus: Modern Crop Science Meets Popular Culture
In addition to relying on the power of modern crop science, farmers, technicians, and private sector entrepreneurs, last year, HarvestPlus also recruited a full cast of characters from the world of pop culture...

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

2082 chủng gen được công bố trong CSDL nguồn gen vi sinh vật toàn cầu Thứ bảy

  2082 chủng gen được công bố trong CSDL nguồn gen vi sinh vật toàn cầu Thứ bảy

Nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen là vấn đề gắn với nhiều lợi ích kinh tế, xã hội, cùng các giá trị về sinh thái, môi trường. Quản lý - bảo tồn và phát huy giá trị nguồn gen vi sinh vật của Việt Nam theo chuẩn quốc tế là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nguồn gen vi sinh vật có giá trị cao về đa dạng sinh học và là nền tảng cho ngành nghiên cứu khoa học sự sống, phát triển ngành công nghiệp sinh học của quốc gia và là một phần không thể tách rời của công tác an ninh, quốc phòng.

alt

Biểu đồ thống kê cơ sở dữ liệu quốc tế về nguồn gen vi sinh vật
http://gcm.wfcc.info/StatisticgraphServlet)

Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật Việt Nam (VTCC) thuộc Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (ĐHQGHN) được thành lập từ năm 1996. Từ các đề tài hợp tác nghiên cứu trong nước và Quốc tế, VTCC đã thu thập, lưu giữ và bảo quản các nguồn gen vi sinh vật có giá trị, có khả năng ứng dụng trong công nghiệp để sản xuất các sản phẩm thương mại có giá trị cao như probiotics, enzyme sử dụng trong chăn nuôi, chế phẩm dùng trong đấu tranh sinh học, mỹ phẩm và các chất kháng khuẩn.

VTCC là thành viên của Liên hiệp Bảo tàng Giống Vi sinh vật Quốc tế (WFCC) từ năm 2008 và hiện đang là thành viên tích cực của Trung tâm Dữ liệu nguồn gen Vi sinh vật Thế giới (WDCM). Hằng năm, VTCC không những cung cấp nhiều chủng giống vi sinh vật hữu ích cho các đơn vị nghiên cứu khoa học trong nước, các nhà máy sản xuất và các trường Đại học mà còn là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen quý từ nhiều đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước. Bên cạnh đó, VTCC thường xuyên mở các lớp đào tạo cơ bản và nâng cao về phân loại vi sinh vật theo các phương pháp hiện đại.

Nghiên cứu đa dạng và bảo tồn nguồn gen vi sinh vật là một trong những hoạt động khoa học quan trọng tại Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học từ nhiều năm qua. Hoạt động này đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ của lãnh đạo ĐHQGHN xuất phát từ vai trò lâu dài của nguồn gen vi sinh vật cho phát triển khoa học công nghệ nói chung và công nghệ sinh học nói riêng của đất nước.

Với mục tiêu xây dựng và quản lý nguồn gen vi sinh vật theo chuẩn quốc tế (WFCC) có giá trị cao về đa dạng sinh học và khai thác, làm nền tảng cho nghiên cứu phát triển khoa học sự sống và công nghiệp sinh học quốc gia, đến nay Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật Việt Nam (VTCC) đã phân lập, tuyển chọn được 9257 chủng vi sinh vật có giá trị có nguồn gốc trong và ngoài nước, đưa vào bảo quản.

Công tác tư liệu hóa nguồn gen đặc biệt được chú trọng, có trên 3300 nguồn gen được lưu trữ trong hệ thống cơ sở dữ liệu của Bảo tàng, sẵn sàng cung cấp cho các cán bộ khoa học và đơn vị trong nước có nhu cầu.

Trong số các chủng vi sinh vật đang được lưu giữ tại VTCC có 2082 nguồn gen đã đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế và đã đăng ký thành công vào cơ sở dữ liệu nguồn gen vi sinh vật toàn cầuhttp://gcm.wfcc.info.

Từ khi thành lập đến nay,  VTCC đã phát triển tiềm lực cơ sở vật chất thành một đơn vị có các trang thiết bị cơ bản, nguồn nhân lực có chuyên môn cao cho công tác định danh và quản lý nguồn gen

Bên cạnh đó, VTCC luôn tập trung cho việc xây dựng tiềm lực (nhân lực và vật lực), đồng thời, phát huy vị thế của ĐHQGHN trong việc mở rộng hợp tác quốc tế với các Trung tâm nguồn gen tại các nước phát triển có lịch sử lâu dài như Anh, Nhật, Bỉ giúp cho việc đào tạo lưc lượng cán bộ khoa học có chuyên môn cao trong công tác định danh và quản lý nguồn gen vi sinh vật. Thông qua các chương trình hợp tác cụ thể và hội thảo khoa học mà Ngân hàng gen vi sinh vật của VTCC đã  chuẩn hóa và phát triển từng bước vững chắc. VTCC đã là đầu mối hợp tác quốc tế về nguồn gen vi sinh vật trong mạng lưới ACM (Asian Consortium for the conservation and sustainable Use of Microbial Resources).

Với các kết quả trên, VTCC đã được Bộ KHCN tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong công tác quản lý nguồn gen vi sinh vật. Trong giai đoạn 2015-2020, VTCC thực hiện dự án nâng cấp Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật Việt Nam thành Trung tâm nguồn gen vi sinh vật Quốc gia nhằm đạt chất lượng quản lý nguồn gen vi sinh vật tương đương khu vực và đảm bảo chủ động cung cấp nguồn gen có giá trị, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của quốc gia.

FOODCROPS. TIN KHOA HỌC

IAS tin khoa học 406

OsCERK1 điều hòa tính miễn dịch trong kích hoạt chitin và cộng sinh với nấm AM của cây lúa

Một vài loài cây trồng có khả năng phát triển hệ thống miễn dịch bẩm sinh để tự vệ. Mặt khác, nhiều loài cây trồng có khả năng phát triển hệ thống cộng sinh với vi nấm có lợi thí dụ như nấm arbuscular mycorrhizal (AM) để cải tiến tính chất tăng trưởng của chúng. Làm thế nào, thực vật thực hiện quá trình tiến hóa các hệ thống ấy: đây là câu hỏi chưa được giải đáp. Nhóm nghiên cứu của nhà khoa học Tomomi Nakagawa thuộc Đại Học Meiji, Nhật Bản đã nghiên cứu các dòng đột biến lúa không thể hiện gen OsCERK1, một gen mã hóa receptor kinase rất cần thiết cho cây lúa để sự truyền tín hiệu chitin xảy ra. Các đột biến này làm tổn thương phản ứng tự vệ thông qua kích hoạt chitin và sự cộng sinh với nấm AM, cho thấy có một chức năng kép của OsCERK1 trong tự vệ và cộng sinh. Các thí nghiệm về sau cho thấy kinase domains của protein OsCERK1 và các dạng tương đồng (homologs) có trong loài thực vật không phải họ đậu (non-legume), thực vật có tính chất mycorrhizal cũng có thể kích hoạt sự tạo thành nốt sần (nodulation) giống như tương tác giữa thực vật họ đậu với vi khuẩn cộng sinh  (legume–rhizobium). Kết quả cho thấy OsCERK1 và các thể đồng dạng của nó (homologs) đóng vai trò công tắc bật mở kích hoạt bản chất tự vệ hoặc đáp ứng với yêu cầu cộng sinh tùy thuộc vào vi khuẩn hiện diện.

Xem: http://pcp.oxfordjournals.org/content/55/11/1864.full.

Thí nghiệm cho chuột ăn hạt thóc có Bt cho kết quả an toàn

Giống lúa biến đổi gen Bt (mfb-MH86) cho ra cry1Ab protein để kiểm soát sự phá hại của sâu đục thân màu hồng [Asiatic pink stem borer: Sesamia inferens], sâu đục thân sọc [Asiatic rice borer: Chilo suppressalis], sâu đục thân màu vàng [yellow stem borer: Tryporyza incertulas] và sâu cuốn là nhỏ [rice leaf folder: Cnaphalocrocis medinalis]. Huan Song và ctv. thuộc ĐH Nông Nghiệp Trung Quốc  đã sử dụng  bột gạo của những giống lúa Bt này và giống lúa nguyên thủy của nó là MH86, nuôi chuột suốt 90 ngày, loài chuột Sprague-Dawley. Họ chia ra thành những nghiệm thức cho ăn với liều lượng như sau 17,5, 35 and 70 % (w/w) (tính theo khối lượng). Sức khỏe tổng quát, khối lượng cơ thể chuột và thực phẩm đồng hóa vào máu được so sánh giữa hai nhóm cho ăn lúa mfb-MH86 và MH86. Khác biệt về các thông số huyết học (haematological) và sinh hóa học (biochemical) của những mẫu máu thu thập được ghi nhận, kết quả đều nằm trong giá trị cho phép tính theo kích cỡ chuột và giới tính chuột, không chịu ảnh hưởng của nghiệm thức thí nghiệm. Xem xét ở qui mô “macroscopic” và mô tế bào, không có kết quả khác biệt có ý nghĩa giữa hai chế độ ăn. Như vậy, Bt rice mfb-MH86 là an toàn và đầy dinh dưỡng giống như lúa không phải GM.

Xem bài tóm tắt http://link.springer.com/article/10.1007/s11248-014-9844-6.

Các nhà khoa học Trung Quốc giải mã cây táo Tàu (Jujube Tree)

Viện nghiên cứu genome Bắc Kinh BGI Tech và ĐH Nông Nghiệp Hồ Bắc hợp tác với nhau công bố họ đã thành công giải mã trình tự đầy đủ bộ gen cây táo Tàu (Jujube genome). Jujube là một trong những loài cây ăn quả có giá trị kinh tế cao thuộc họ Rhamnaceae, và đây là lần đầu tiên genome cây này được giải trình tự DNA trong họ Rhamnaceae (Buckthorn). Cây ăn quả này chiếm vị trí thứ ba tính về diện tích trồng tại Trung Quốc. Jujube giàu vitamin C hơn bất cứ cây ăn quả nổi tiếng nào khác, ví dụ như cam và kiwi. Nó kháng mặn và hạn tốt, thích nghi với đất cát, đất kiềm và vùng cận sa mạc (arid areas). Các nhà khoa học cho rằng chuỗi trình tự genome này sẽ giúp cho chúng ta sáng tạo nên việc cải tiến nhiều giống mới, ví dụ như giống cây cho hạt.

Xem thêm: http://www.genomics.cn/en/news/show_news?nid=104244.

Cải tiến giống thông Conifers thông qua nghiên cứu genomics

Dự án có tên ProCoGen là nội dung bao gồm các nghiên cứu hợp tác về genomics cây thông conifer của nhiều nhà khoa học Châu Âu. Dự án này nhằm mục đích xác định các gen và hệ thống gen hiện nay trong cây conifers. Nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ được cây phát triển và thích ứng với nhiều điều kiện môi trường khác nhau do biến đổi khí hậu toàn cầu. Conifer có một bộ gen khá phức tạp và lớn gấp bảy lần bộ gen người. Những loài thông conifers được nghiên cứu là Pinus sylvetrisPinus pinaster dĩ nhiên nó còn xem xét thêm loài thông Hoa Kỳ Pinus taeda. Thông qua dự án ấy, người ta đã sử dụng nhiều công cụ chuyên ngành genome học với hi vọng rằng người ta có thể thúc đẩy cây cho năng suất thông cao hơn và những tính trạng của cây thông cần thiết cũng được cải tiến thích nghi tốt với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Người ta hi vọng rằng thông tin chuyên sâu này có liên quan mật thiết đến khía cạnh kinh tế và nhưng cơ chế biến dưỡng.

Xem: http://www.youris.com/Bioeconomy/Forestry/Towards-Genetically-Improved-Conifers.kl.

Thông báo

Diễn Đàn Microbiome: Châu Á

Diễn đàn Microbiome Chấu Á lần đầu tiên (Microbiome Forum: Asia) sẽ được tổ chức vào ngày 19-20 tháng Giêng 2015 tại Kuala Lumpur, Mã Lai

Xem http://youtu.be/ZzSk5LEZ0hM

Đại Hội Genomics Thực Vật

Đại Hội Genomics Thực Vật sẽ được tổ chức tại Kuala Lumpur, Mã Lai vào ngày 19-20 tháng Ba 2015

  • Ngày 1 Stream 1 - NGS / Omic Technologies for Plant Research
  • Ngày 1 Stream 2 - Plant Genomic Case Studies
  • Ngày 2 Stream 1 - Bioinformatics, Data Analysis & Management
  • Ngày 2 Stream 1 - A) Plant Genomic Case Studies & B) Biofuel Research Case Studies

Liên hệ This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .

 

IAS tin khoa học 407

Sự thể hiện của gen CsALDH12A1 kích hoạt tính chống chịu khô hạn trong cây Arabidopsis

Aldehyde dehydrogenases (ALDHs) được người ta xem như những enzyme giải độc, enzyme này làm giảm stress phi sinh học trong sinh vật. Ví dụ gen ALDH12A, gen này mã hóa protein ngăn ngừa độc tính proline. Nhóm nghiên cứu của Yanrong Wang thuộc Đại Học Lanzhou thực hiện công việc tìm kiếm mỏ gen có chức năng đáp ứng với khô hạn từ loài cỏ hòa thảo ưa khô hạn (xerophyte), đó là loài cỏ Cleistogenes songorica (xem hình). Họ đã  dòng hóa thành công và phân tích dạng đồng phân ALDH12A (homologue) của C. songorica, CsALDH12A1. Kết quả cho thấy gen CsALDH12A1 biểu hiện ở dâng phân tử transcripts được tích tụ khá phong phú gấp 6 lần khi đáp ứng với stress khô hạn. Cây Arabidopsis biến đổi gen thể hiện gen CsALDH12A1 đã kích hoạt được tính chống chịu stress khô hạn. Hàm lượng Malondialdehyde (MDA) trong cây transgenic như vậy thấp hơn rất nhiều một cách có ý nghĩa so sánh với cây bình thường, điều ấy xác định được chức năng của ALDH12A1 trong việc giải độc những gốc aldehydes hoạt động. Kết quả còn cho thấy CsALDH12A1 có vai trò vô cùng cần thiết trong chống chịu stress phi sinh học.

Xem: http://www.pomics.com/zhang_7_6_2014_438_444.pdf.

Những “recorders” đóng vai trò băng ghi lại thực trạng genomics của E. coli

Các nhà nghiên cứu thuộc Michigan Institute of Technology đã phát triển cái gọi là “genomic tape recorders” (băng ghi lại genomics) trên bộ gen của vi khuẩn Escherichia coli. Công nghệ này có thể giúp người ta bảo quản và lưu trữ dài hạn, xóa và dễ dàng tìm lại các bộ nhớ từ phơi nhiễm hóa chất hoặc những sự kiện khác của phân tử DNA. Việc lưu trữ bộ nhớ được lập trình thông qua kỹ thuật di truyền (genetically engineering) vi khuẩn E. coli to để sản sinh ra enzyme recombinase. Enzyme này có khả năng chèn vào phân tử DNA hoặc bất kỳ trình tự nào khá đặc biệt của DNA trở thành một “target site”. Việc tạo ra DNA trong tiến trình như vậy chỉ kích hoạt khi có sự hiện diện của phân tử “predetermined” (được xác định từ trước) hoặc loại can thiệp hình khác thí dụ như ánh sáng. Sự phơi nhiễm này đang được lưu trữ thông qua chu kỳ sống của quần thể vi khuẩn và có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thông tin như vật sẽ được bảo quản và lưu trữ, chúng có thể được tìm lại thông qua trình tự của genome hoặc thao tác tại vị trí mục tiêu của trình tự để thay đổi chức năng của gen. Người ta cũng có thể xóa thông tin bằng cách kích thích tế bào kết nạp vào tại những vị trí khác nhau trong phân tử DNA.

Công nghệ này vô cùng cần thiết trong việc theo dõi hiện trạng của môi trường và thuốc.

Xem: http://newsoffice.mit.edu/2014/bacteria-storage-device-memory-1113.

Phân tích di truyền tính trạng phân nhánh của cây cao lương

Nguồn: Wenqian Kong, Hui Guo, Valorie H. Goff, Tae-Ho Lee, Changsoo Kim, Andrew H. Paterson

Theoretical and Applied Genetics; th 11.  2014, Volume 127, Issue 11, pp 2387-2403

Xác định các QTL ảnh hưởng đến kiến trúc của cây cao lương có giá trị trong chọn tạo giống có dạng hình lý tưởng đối với mục tiêu ổn định lương thực hoặc sản xuất sinh khối giàu cellulose, và chịu được sự biến đổi khí hậu. Nhóm tác giả trình bày kết quả nghiên cứu 3 năm để xác định QTL (quantitative trait loci) đối với tính trạng phân nhánh (vegetative branching) của cây cao lương, trong quần thể cận giao tái tổ hợp (RIL) của 161 dòng con lai từ hai nguồn bố mẹ, hai loài khác nhau: S. bicolor × S. propinquum. Họ đã lượng hóa số nhánh trên cơ sở vị trí hình thái và tình trạng sinh lý. Có nhiều bộ QTLs khác nhau ứng với những cách phân nhánh rất khác nhau đã được ghi nhận. QTLs được tìm thấy trên nhiễm sắc thể 1, 3, 7 và 8 ảnh hưởng đến biến thể phân nhánh thân rất đa dạng, điều này cho thấy các vùng giả định có thể chứa những gen kiểm soát đỉnh sinh mô trục nhánh (axillary meristem). Những vùng giả định khác chỉ có ảnh hưởng  đến tính trạng phân nhánh sinh thực, chứa các gen điều khiển tiến trình phát triển, đóng góp quan trọng vào những hợp phần đa dạng tạo nên dáng cây (kiến trúc cây). Các tác giả đã nghiên cứu mối tương quan giữa thành phần phân nhánh sinh thực (vegetative branching patterns) với tổng lượng chất khô. Họ đã kết luận rằng các chồi thân  trưởng thành mang bông và những nhánh thân thứ cấp chưa trưởng thành, mỗi thứ đều có mối tương quan thuận với tổng lượng sinh khối chất khô. Trong 19 gen liên quan đến sự phân nhánh thân như vậy của cây lúa, có 8 gen đồng dạng từ cây cao lương thuộc 7 gen của cây lúa được mô phỏng theo kiểu “synteny” (vùng tương đồng trên nhiễm sắc thể) với các quãng mô phỏng QTL điều khiển tính trạng đâm nhánh thân. Năm gen trong tám gen ấy định vị trên đoạn phân tử có độ lớn 700 kb theo chỉ thị SNPs, chúng liên kết có ý nghĩa với những cách phân nhánh khác nhau theo phương pháp phân tích mới hiện nay là “genome-wide association study” (GWAS) của một panel đa dạng bao gồm 377 mẫu giống cao lương. Ba mẫu giống trong số ấy có những biến dị di truyền giữa loài S. bicolor và loài S. propinquum, chúng tác động đến chức năng của gen đích. Người ta đã làm sáng tỏ các nguồn vật liệu di truyền này đối với tính trạng đâm nhánh thân, ngần ấy có thể giúp cho công việc chọn tạo giống hoàn hảo hơn  đối với mục tiêu ổn định lương thực, hoặc sản xuất sinh khối giàu cellulose ở cả hai điều kiện mấp mé hoặc tối ưu, điều này giúp cây chịu đựng được sự biến đổi khí hậu tốt hơn.

Xem http://link.springer.com/article/10.1007/s00122-014-2384-x

Một QTL xác định mức độ cảm ứng với quang kỳ và khả năng thích ứng khu vực của cây lúa

Nguồn: He Gao, Mingna Jin, Xiao-Ming Zheng, Jun Chen, Dingyang Yuan, Yeyun Xin, Maoqing Wang, Dongyi Huang, Zhe Zhang, Kunneng Zhou, Peike Sheng, Jin Ma, Weiwei Ma, Huafeng Deng, Ling Jiang, Shijia Liu, Haiyang Wang, Chuanyin Wu, Longping Yuan, and Jianmin Wan. PNAS 18-11-2014; vol. 111 no. 46: 16337–16342

Thời gian trỗ bông  là một trong những nghiên cứu hay nhất những tính trạng quan trọng có liên quan đến môi sinh trong điều kiện chọn lọc tự nhiên và chọn lọc do con người của sự thích nghi cây trồng ứng với điều kiện môi trường tại chổ có tính chất đặc thù. Mức độ cảm ứng với quang kỳ là một tính trạng nông học, mà tính trạng này phản ánh tăng trưởng và phát triển ứng với điều kiện khí hậu tại chổ. Do đó, nó có mức độ quan trọng đặc biệt cho năng suất và chất lượng cây trồng. Nghiên cứu này không chỉ xác định một QTL (quantitative trait locus) chủ lực có chức năng cảm ứng quang kỳ của cây lúa (ngày trổ bông số bảy) (Days to heading 7, DTH7) mà còn chứng minh được rằng những phối hợp khác nhau của haplotype tại locus DTH7số hạt trên bông, chiều cao cây, và heading date 7 (Ghd7) cũng như DTH8 tương quan chặt chẽ với ngày trỗ (thời gian sinh trưởng) và năng suất của các giống lúa dưới những điều kiện canh tác khác nhau. Kết quả này xây dựng một nền tảng khoa học giúp cho nội dung chọn tạo giống lúa cao sản có được mức độ cảm quang mong muốn và có được sự thích nghi tuyệt hảo với môi trường.

Thành tựu của nông nghiệp hiện đại gắn liền với sự phát triển của nội dung chọn tạo giống cây trồng có khả năng thích nghi môi trường tốt nhất và cho tiềm năng năng suất cao. Một trong những yếu tố hạn chế của canh tác cây trồng là thời gian trổ bông của chúng, nó bị điều tiết một cách mạnh mẽ bởi độ dài ngày (quang kỳ) và nhiệt độ. Ở đây, các tác giả báo cáo việc phân lập và định tính gen Days to heading 7 (DTH7), một locus di truyền có chức năng cảm ứng quang kỳ và năng suất lúa. Kỹ thuật map-based cloning cho thấy rằng DTH7 mã hóa một protein có tên là pseudo-response regulator và sự thể hiện của nó bị điều tiết bởi quang kỳ tính. Các tác giả đã chỉ ra rằng gen ngày dài DTH7 hoạt động có tính chất downstream của photoreceptor phytochrome B để ức chế sự biểu hiện của Ehd1, và điều tiết theo kiểu UP (up-regulator) của những gen có tính chất “florigen” (Hd3aRFT1), làm cho trì hoãn trỗ bông. Hơn nữa, họ còn tìm thấy những phối hợp của haplotype thuộc về gen DTH7 gắn với số hạt trên bông, chiều cao cây, và ngày trỗ số bảy (heading date 7: Ghd7) cũng như DTH8 tương quan chặt với ngày trỗ và năng suất lúa trong những điều kiện quang kỳ khác nhau. Số liệu này cho thấy không chỉ ở mức độ bao quát (macroscopic view) của sự điều khiển di truyền đối với cảm quang trong cây lúa mà còn là nền tảng khoa học phục vụ nội dung chọn tạo giống lúa tốt hơn đối với môi trường cụ thể nào đó.

Xem: http://www.pnas.org/content/111/46/16337.abstract.html?etoc

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam