Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Kinh Tế Thế Giới

IRRI và FAO từng bước nỗ lực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững

IRRI và FAO từng bước nỗ lực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững 

Chú trọng vào an ninh lương thực và giúp người nông dân nghèo bằng cách thúc đẩy khả năng hồi phục cây trồng và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) và Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã thống nhất hợp tác chặt chẽ hơn nữa để hỗ trợ sản xuất lúa gạo bền vững tại các quốc gia đang phát triển nhằm cải thiện an ninh lương thực và đời sống, đồng thời vẫn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Một thỏa thuận đã được ký kết nhằm mục đích kết hợp tốt hơn kiến thức khoa học và kỹ thuật của hai tổ chức để có thể mở rộng và tăng cường hiệu quả công việc trên phạm vi toàn cầu.

Mối quan hệ này chủ yếu hướng đến việc thúc đẩy hệ thống canh tác lúa gạo thông qua các hoạt động xây dựng năng lực – bao gồm hỗ trợ chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách và chiến lược tầm cỡ quốc gia và khu vực – để mang lại lợi ích cho nông dân quy mô nhỏ, đặc biệt là phụ nữ.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, lúa là cây lương thực thiết yếu đối với an ninh lương thực và xu hướng tiêu dùng đang gia tăng. Đồng thời, sản xuất lúa gạo là hoạt động dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của biến đỏi khí hậu, bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lũ lụt.

Cả FAO và IRRI đều tích cực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững thông qua sản xuất theo chuỗi giá trị - sản xuất, tiếp thị và tiêu dùng – để tối ưu hóa các đặc điểm dinh dưỡng, là công cụ cải thiện đời sống và giảm nghèo, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

FAO đã phát triển Sáng kiến khu vực đối với Châu Á và Thái Bình Dương để thúc đẩy khả năng hồi phục cây trồng trong khi vẫn gia tăng hiệu quả và thu nhập của nông dân. Tại khu vực châu Phi và Mỹ La tinh, tổ chức đã hợp tác khoa học và kỹ thuật bao gồm chia sẻ công nghệ và các biện pháp canh tác tốt nhất để tăng sản lượng và năng suất, giảm thất thoát sau thu hoạch và cải thiện chất lượng hạt gạo.

IRRI tập trung đẩy mạnh năng lực của tất cả các bên tham gia trong ngành lúa gạo thông qua các hoạt động phát triển năng lực, trong đó có Diễn đàn lúa gạo bền vững.

Diễn đàn lúa gạo bền vững là liên minh toàn cầu nhằm thúc đẩy hiệu quả nguồn lực và tính bền vững trong thương mại, sản xuất và tiêu thụ, và chuỗi cung trong ngành gạo toàn cầu. Diễn đàn lúa gạo bền vững vừa mới đưa ra bộ tiêu chuẩn đầu tiên của thế giới về lúa gạo bền vững. Thông qua Diễn đàn lúa gạo bền vững, IRRI hướng tới sử dụng các tiêu chuẩn về môi trường và kinh tế - xã hội để duy trì năng suất của người sản xuất lúa nhỏ, giảm tác động tới môi trường của việc canh tác lúa và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm và chất lượng.

FAO và IRRI sẽ cùng hỗ trợ các quốc gia sản xuất lúa gạo tiếp nhận các giống lúa cải tiến, cung cấp giống lúa được chứng nhận và chuyển giao kiến thức thông qua phương pháp tiếp cận có sự tham gia của trường học nông dân.

Hai tổ chức cũng sẽ đẩy mạnh quan hệ hợp tác trong vấn đề xử lý sau thu hoạch, giúp nông dân và nhà sản xuất gia tăng giá trị bằng cách phát triển và tiếp thị sản phẩm phụ từ lúa gạo để tạo ra các sản phẩm giàu năng lượng, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm khác

 

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực 

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức nghiêm trọng trên toàn cầu, việc đảm bảo đủ lương thực cho tất cả người dân là một trong những thách thức lớn mà nhiều nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) phải đối mặt.

Vì vậy, trong những năm gần đây, hợp tác để đảm bảo an ninh lương thực luôn được đề cao trong các hoạt động của APEC. Các nền kinh tế APEC đã đề xuất và thực hiện thành công nhiều sáng kiến về an ninh lương thực. Và với các sáng kiến mới nhất mà Việt Nam đưa ra trong Năm APEC 2017, nhiều người kỳ vọng APEC sẽ có bước tiến mới trong việc đối phó với thách thức này.

Mối lo không của riêng ai

Theo Liên Hợp Quốc (UN), năm 2009, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, số lượng người thiếu lương thực trên thế giới đã vượt ngưỡng 1 tỷ người. Trong bối cảnh dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,2 tỷ người hiện nay lên 9,6 tỷ người vào năm 2050, để đáp ứng được nhu cầu lương thực vào thời điểm đó, sản lượng lương thực toàn cầu sẽ phải tăng thêm 70%. Điều này đang đặt ra thách thức không hề nhỏ cho thế giới trong việc đảm bảo an ninh lương thực.

Đối với khu vực APEC, nơi hiện chiếm khoảng 40% dân số thế giới, mặc dù tỷ lệ người thiếu lương thực đã giảm còn 24% trong giai đoạn 1990-2006 nhưng các nghiên cứu mới nhất cho thấy đảm bảo đủ lương thực cho người dân vẫn là một vấn đề lớn đối với hầu hết các nền kinh tế thành viên.

Nguyên nhân chủ yếu là do khu vực châu Á-Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các thảm họa do thiên tai gây ra như mất mùa hay gián đoạn nguồn cung lương thực. Các số liệu thống kê chính thức cho thấy khu vực này phải hứng chịu 70% thiên tai trên thế giới. Phần lớn các nền kinh tế APEC đều nằm trên “Vành đai lửa Thái Bình Dương” và do vậy hứng chịu 90% các trận động đất trên toàn cầu.

Mặt khác, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn do tác động tiêu cực của hiện tượng biến đổi khí hậu, tình trạng thiếu nước và vấn đề đô thị hóa, trong khi đầu tư công vào lĩnh vực nông nghiệp lại đang có xu hướng giảm.

Tuyên bố Niigata

Nhận thức rõ thách thức mà các nền kinh tế APEC đang phải đối mặt, tháng 10/2010, các bộ trưởng phụ trách về an ninh lương thực của APEC đã nhóm họp lần đầu tiên ở Niigata (Nhật Bản) và thông qua Tuyên bố Niigata về an ninh lương thực. Đây được coi là kế hoạch toàn diện đầu tiên của APEC nhằm thúc đẩy các nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực bền vững trong khu vực.

Theo Tuyên bố Niigata, các nền kinh tế APEC dễ tổn thương trước các rủi ro về an ninh lương thực mà ví dụ điển hình là các cuộc biểu tình và bạo động diễn ra trong giai đoạn giá cả lương thực tăng cao vào các năm 2007 và 2008. Vì vậy, các bộ trưởng APEC khẳng định với tư cách là một diễn đàn có tầm ảnh hưởng lớn về hợp tác kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, APEC đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện an ninh lương thực khu vực và toàn cầu.

Trong Tuyên bố Niigata, các bộ trưởng APEC đã chỉ ra hai mục tiêu mà các nền kinh tế APEC sẽ theo đuổi gồm: Phát triển nông nghiệp bền vững; Tạo thuận lợi cho đầu tư, thương mại và thị trường, đồng thời chỉ rõ các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó.

Tuyên bố Niigata nhấn mạnh để đối phó với sự mất cân đối về cung-cầu lương thực do dân số và thu nhập tăng, cần phải tăng cường năng lực cung cấp lương thực, đối phó với thiên tai, biến đổi khí hậu và phục hồi, phát triển khu vực nông thôn.

Mặt khác, để đảm bảo an ninh lương thực, không thể thiếu sự phân phối lương thực ổn định, hiệu quả và công bằng. Các nền kinh tế thành viên APEC cần phải hợp tác xúc tiến thương mại nông sản, đảm bảo sự tin cậy của thị trường, chuẩn bị môi trường kinh doanh thuận lợi và đảm bảo an toàn thực phẩm, đồng thời cần xúc tiến đầu tư một cách có trách nhiệm vào lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, bảo vệ bản quyền.

Và những bước tiến của APEC

Kể từ sau thành công của Hội nghị Bộ trưởng APEC về An ninh Lương thực (AMMFS) lần thứ nhất ở Niigata, các bộ trưởng APEC đã nhóm họp định kỳ hai năm một lần. Tại mỗi hội nghị, các bộ trưởng APEC đều thông qua các kế hoạch hành động mới về an ninh lương thực.

Đáng chú ý, trong khuôn khổ Năm APEC 2014 ở Trung Quốc, các quan chức cấp cao APEC đã thông qua Lộ trình An ninh Lương thực APEC hướng tới năm 2020; trong đó đặt ra mục tiêu dài hạn là xây dựng cơ cấu hệ thống lương thực khu vực đủ để đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho các nền kinh tế thành viên, nâng cao năng suất và cung cấp lương thực ở mức giá có thể chi trả cho những người có thu nhập thấp.

Ngoài AMMFS, năm 2011, APEC đã thành lập diễn đàn Đối tác Chính sách về An ninh Lương thực (PPFS) để tăng cường sự phối hợp giữa Hội đồng Cố vấn Kinh doanh APEC (ABAC), khu vực tư nhân và các bên liên quan trong nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực khu vực một cách thực chất hơn.

Mặt khác, một số ủy ban và nhóm công tác của APEC cũng thường xuyên nhóm họp để thảo luận về các chủ đề liên quan tới an ninh lương thực, gồm Ủy ban Thương mại và Đầu tư (CTI) và các tiểu ban trực thuộc như Diễn đàn Hợp tác An toàn Thực phẩm (FSCF), Nhóm công tác về Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp (ATCWG), Nhóm Công tác về Đại dương và Nghề cá (OFWG) và Đối thoại chính sách cấp cao về Công nghệ Sinh học Nông nghiệp (HPLDAB).

Năm 2017, mặc dù AMMFS không nhóm họp nhưng với tư cách chủ nhà, Việt Nam vẫn lựa chọn “tăng cường an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu” là một trong 4 chủ đề ưu tiên nhằm giúp các nền kinh tế APEC ứng phó hiệu quả hơn các tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Và để cụ thể hóa chủ đề ưu tiên đó, tại diễn đàn Đối tác Chính sách An ninh lương thực ( PPFS) ở Nha Trang hồi tháng 2/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã đưa ra ba sáng kiến gồm: Kế hoạch hành động để thực hiện Chương trình APEC về an ninh lương thực và biến đổi khí hậu; Tuyên bố Cần Thơ về tăng cường phát triển bền vững và an ninh lương thực thích ứng với biến đổi khí hậu; Kế hoạch hành động để thực hiện Khung chiến lược của APEC về phát triển thành thị-nông thôn nhằm củng cố an ninh lương thực và tăng trưởng chất lượng.

Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra hai đề xuất gồm: “Phát triển kinh doanh nông nghiệp để hỗ trợ chuyển đổi lao động nông thôn tại các nền kinh tế thành APEC” và “Thích ứng biến đổi khí hậu: Tác động tới Chiến lược an ninh lương thực”.

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN bên lề diễn đàn, ông Trần Kim Long, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch PPFS, cho biết trong quá trình xây dựng sáng kiến và đề xuất, các nền kinh tế thành viên APEC đánh giá cao nước chủ nhà Việt Nam trong việc đưa ra các sáng kiến và đề xuất đúng trọng tâm, sự chuẩn bị chu đáo các tài liệu liên quan để triển khai hiệu quả PPFS.

“Điều này tạo tiền đề chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo của Năm APEC Việt Nam 2017; trong đó có Đối thoại Chính sách Cấp cao về an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ vào tháng 8/2017”, ông Long nói.

 

Báo cáo mới của Liên Hiệp Quốc: Mức độ khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới

Báo cáo mới của Liên Hiệp Quốc: Mức độ khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới

Liên Hiệp Quốc cho biết hôm thứ ba, nồng độ khí CO2 đang tăng cao, kéo theo việc các khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới trong năm 2013, trong khi các đại dương, nơi hấp thụ khí thải này, lại có tính axit cao hơn bao giờ hết.

Theo Michel Jarraud, người đứng đầu của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho biết trong một báo cáo vào thứ ba "Chúng ta không còn nghi ngờ gì về việc khí hậu của chúng ta đang thay đổi và thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn do các hoạt động của con người, như là đốt nhiên liệu hóa thạch".

"Chúng ta phải đảo ngược xu hướng này bằng cách cắt giảm phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác trên diện rộng", Jarraud cho biết trong một tuyên bố.

"Chúng ta đang sắp hết thời gian," ông cảnh báo.

Báo cáo cho biết, nồng độ tất cả khí carbon dioxide (CO2), mêtan và oxit nitơ đều phá kỷ lục mới trong năm 2013.

Nồng độ khí CO2 trên toàn cầu là thủ phạm chính gây ra sự ấm lên toàn cầu, tăng đến 396 phần triệu vào năm ngoái, tức là 142% so với mức độ thời tiền công nghiệp -  được xác định trước năm 1750.

Chỉ tính riêng từ năm 2012 đến 2013 đã tăng 2,9 phần triệu - mức tăng hàng năm lớn nhất trong vòng 30 năm, theo các bản tin về khí nhà kính -- Greenhouse Gas Bulletin.

Bản báo cáo cũng cho thấy, cái gọi là cưỡng bức bức xạ, hoặc hiệu ứng khí hậu ấm lên là do khí nhà kính gây ra như CO2 tăng 34 phần trăm từ năm 1990 đến 2013.

Một phần tư lượng khí thải được các đại dương hấp thụ, trong khi một phần tư lượng khí thải khác được hút vào sinh quyển, giúp hạn chế tỷ lệ các khí khiến cho khí quyển nóng

Nhưng các khí CO2 vẫn còn ở lại trong khí quyển hàng trăm năm và trong các đại dương thậm chí lâu hơn.

WMO cảnh báo, “Các chất khí được giữ lại trong các đại dương này cũng có ảnh hưởng rất lớn, bởi vì càng nhiều khí CO2 ở trong nước sẽ làm tăng nồng độ axit trong nước, làm thay đổi hệ sinh thái đại dương.

WMO cho biết, Mỗi ngày, các đại dương của thế giới hấp thụ khoảng bốn kg khí CO2 khiến cho mức axit hóa đại dương hiện nay tăng cao "chưa từng có trong vòng ít nhất 300 triệu năm qua".

Và mọi thứ đang trở nên tệ hơn, Jarraud nói.

Ông cho biết "Lượng khí thải CO2 trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai sẽ có một tác động lâu dài lên hiện tượng nóng lên toàn cầu và quá trình axit hóa đại dương" và cho biết thêm rằng "các định luật vật lý là không thể thay đổi được".

Chiến tranh lương thực năm 2050

Chiến tranh lương thực sẽ hoành hành vào năm 2050

Trong vòng vài ba thập kỷ nữa, thiếu hụt lương thực trầm trọng có thể dẫn đến xung đột quy mô toàn cầu, nhà khoa học thực vật hàng đầu của cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) cảnh báo. Có thể sẽ không đủ đất, nước và năng lượng để duy trì cuộc sống của 9 tỉ người dự kiến sẽ cùng chia sẻ hành tinh vào năm 2050.

“Vấn đề thực phẩm đang sẽ gây bất ổn chính trị vào năm 2050 như vấn đề năng lượng ngày nay”, Fred Davies nhà tư vấn khoa học cao cấp của Cục an ninh lương thực của USAID cho biết trong một thông cáo báo chí.

Công nghệ sinh học, cải thiện nhân giống và các tiến bộ trong kỹ thuật canh tác có thể không theo kịp dân số loài người ngày một gia tăng, theo Davies. Thậm chí nếu sản xuất trang trại có thể tăng lên nhờ công nghệ thì các các cải tiến đó có lẽ không tiếp cận xuống đến những nông dân sản xuất quy mô nhỏ, đối tượng cần sự giúp đỡ nhất để ngăn chặn nạn đói.

Lịch sử gần đây chỉ ra rằng thậm chí tăng sản xuất rất lớn cũng không giải quyết được nạn đói. Giữa thế kỷ trước, cuộc “Cách mạng xanh” đã làm tăng đáng kể sản lượng cây trồng. Nhiều giống lúa mì và ngũ cốc khác cho nhưng vụ mùa bộ thu nhưng vẫn đòi hỏi phải mua cây giống, phân bón và nhiều tư liệu sản xuất đắt đỏ khác.

Về lý thuyết thì thực phẩm đã đầy rẫy cho tất cả mọi người sau các tiến bộ nông nghiệp và nạn đói thực sự đã giảm ở nhiều khu vực. Tuy nhiên, đói kém vẫn còn tiếp tục vì bất bình đẳng về kinh tế và thiếu khả năng tiếp cận với các nguồn cung thực phẩm. Ngoài ra, các hộ nông dân nhỏ không có khả năng chi trả cho các công nghệ mới hay cạnh tranh được với các trang trại lớn vốn thừa khả năng đầu tư và phân bón và giống năng suất cao.

Giờ đây, sau chưa tới một thế kỷ, dân số loài người đã gia tăng chóng vánh nhờ được thúc đẩy bởi những vụ mùa bộ thu của công nghệ Cách mạng xanh. Một lần nữa, hệ thống lương thực toàn cầu đã đạt đến giới hạn sản xuất tối đa nhưng lần này có lẽ công nghệ sẽ không giải quyết được thách thức, Davies cảnh báo.

Một cách để xử lý một phần vấn đề có thể là chuyển dịch sản xuất nông nghiệp sang cây vườn có lợi nhuận như ớt cay thay vì sản xuất hàng hóa lớn như bắp, Davies gợi ý.

“Tập trung mạnh hơn là điều cần thiết trong sản xuất cây vườn giá trị cao. Chúng sẽ tạo ra công ăn việc làm và cơ hội kinh tế cho các cộng đồng nông thôn và thực hiện canh tác chuyên sâu có lợi nhuận cao hơn”, ông nói.

Trong nhiều nền văn hóa, các nhà xã hội học đã quan sát thấy sự giàu có gia tăng tương quan với tỉ lệ sinh giảm, một hệ thống được gọi là nghịch lý kinh tế nhân khẩu học. Mặc dù một quốc gia giàu có hơn như Nhật Bản có thể ủng hộ sinh nhiều con nhưng công dân lại có xu hướng sinh ít con hơn.

Bằng cách đưa con người thoát khỏi cái nghèo, chiến tranh lương thực của tương lai sẽ được ngăn chặn miễn sao những người giàu hơn trong tương lai không đòi hỏi cùng khối lượng thực phẩm tiêu tốn tài nguyên như thịt bò mà hiện nhóm dân số giàu đang đòi hỏi hiện nay.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Trợ cấp nông nghiệp của châu Á cao nhất thế giới

Trợ cấp nông nghiệp của châu Á cao nhất thế giới 

Theo dữ liệu năm 2012, trợ cấp nông nghiệp ở 21 nước sản xuất lương thực hàng đầu thế giới ước tính lên tới 486 tỷ USD.

21 nước này bao gồm các thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cùng với 7 quốc gia khác là Brazil, Trung Quốc, Indonesia, Kazakhstan, Nga, Nam Phi, Ukraine và hiện đang đảm bảo gần 80% tổng giá trị nông nghiệp toàn cầu.`

Thực tế, trợ cấp nông nghiệp không được phân bổ công bằng giữa các quốc gia trên thế giới. Châu Á là khu vực trợ cấp cho nông nghiệp nhiều hơn tỷ lệ cộng gộp của tất cả các châu lục còn lại, trong đó đứng đầu là Trung Quốc với mức trợ cấp cao chưa từng có 165 tỷ USD, kế đến là Nhật Bản 65 tỷ USD, Indonesia 28 tỷ USD và Hàn Quốc 20 tỷ USD.

Châu Âu cũng góp một phần đáng kể vào hoạt động trợ cấp cho nông nghiệp, chủ yếu lấy từ nguồn Chính sách Nông nghiệp Chung (CAP) của Liên minh Châu Âu (EU). Với hơn 50 tỷ USD năm 2011, trợ cấp CAP chiếm xấp xỉ 44% tổng ngân sách của EU. Con số trên không bao gồm các khoản trợ giá của EU nhằm giúp bình ổn giá nông sản nội địa, tạo động lực cho nông dân tăng gia sản xuất. Như vậy, tính cả các khoản trợ giá, số tiền mà EU sử dụng cho hoạt động trợ cấp nông nghiệp đã lên tới 106 tỷ USD.

Xếp thứ ba về mức độ trợ cấp trong nông nghiệp là Bắc Mỹ với gần 45 tỷ USD, trong đó Mỹ đứng đầu danh sách với hơn 30 tỷ USD trợ cấp, Canada và Mexico lần lượt là 7,5 tỷ USD và 7 tỷ USD.

Trong số 486 tỷ USD trợ cấp nông nghiệp toàn cầu năm 2012, riêng các quốc gia OECD đã chiếm 258,6 tỷ USD. Trên thực tế, tỷ lệ trợ cấp cho nông nghiệp của các nước này luôn ở mức cao và không ngừng gia tăng kể từ đầu thế kỷ XXI, tăng nhanh nhất vào giai đoạn 2001 – 2004 từ 216 tỷ USD lên hơn 280 tỷ USD.

Trái ngược với tốc độ phát triển cũng như tỷ lệ trợ cấp nông nghiệp của các nước công nghiệp, theo thông tin từ Hội thảo Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển, các quốc gia kém phát triển nhất đang có xu hướng chuyển từ vị thế các nước xuất siêu sang các nước nhập siêu nông sản.

Thống kê giai đoạn 2002 – 2008 cho biết, tổng giá trị nhập khẩu lương thực của các nước kém phát triển nhất trong giai đoạn trên đã tăng nhanh chóng từ 9 tỷ USD lên tới 24 tỷ USD. Đây có thể coi là một kết quả không mong đợi của tình trạng mất cân bằng trong phân bổ trợ cấp nông nghiệp.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình

 Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình

Một nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy nếu Chính phủ Nhật bãi bỏ chính sách hạn chế sản lượng gạo, giá gạo của Nhật sẽ giảm từ 13.000 Yen/60kg xuống còn 8000 Yen/60kg, tức là còn thấp hơn giá gạo sản xuất của Trung Quốc. Khi đó Nhật Bản sẽ không còn phải dựa vào thuế nhập khẩu để bảo vệ sức cạnh tranh của gạo nội địa, và thậm chí gạo Nhật Bản có thể còn được xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong những năm gần đây, gạo Nhật Bản đã được xuất khẩu sang Đài Loan và Hồng Kông. Gạo Nhật được nhiều nước ưa chuộng do ưu thế về chất lượng. Vì vậy, nếu chính sách hạn chế sản lượng được bãi bỏ khiến chi phí và giá thành sản xuất giảm xuống, người Nhật tin rằng ngành lúa gạo sẽ trở thành một ngành xuất khẩu có ưu thế của mình

Sau nhiều thập kỷ duy trì chính sách bảo hộ số đông những người nông dân canh tác trên quy mô nhỏ, ngành nông nghiệp Nhật Bản đã tự hạn chế việc triển khai các tiến bộ KH&CN và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của mình, nhưng những sức ép do xu hướng phát triển xã hội và khả năng gia nhập TPP đang buộc họ phải đối diện với lựa chọn khó khăn: cải cách hoặc suy thoái.

Cánh đồng lúa của Mutsuo Banba nằm ở quận Ishikawa, một khu vực ven biển phía Tây Bắc của Nhật Bản. Là một nông dân làm việc toàn thời gian và từng được chính phủ khen thưởng về tài quản lý sản xuất nông nghiệp, mỗi ngày ông đều đến chăm sóc cánh đồng của mình trong dịp mùa vụ. Nhưng nhiều nông dân Nhật Bản khác là những người làm bán thời gian và không chuyên tâm được như Banba. “Họ ở trong nhà có máy lạnh, trong khi lúa ngoài đồng bị khô nẻ, nứt cả hạt ra ngoài”, Banba phàn nàn. Điều này khiến ông bất bình, khi những người của hiệp hội địa phương đến thu hoạch, thóc lúa của mọi nhà được trộn lẫn và không thể phân biệt ai tốt ai xấu.

Tầm ảnh hưởng chính trị của những nông dân bán thời gian

Những người nông dân làm bán thời gian ở Nhật Bản thường không có động lực để toàn tâm cho đồng ruộng vì đa số đã có các công việc khác và chỉ ra đồng khi có thời gian rảnh. Thu nhập hằng năm của họ thường trên mức trung lưu của Nhật Bản và không phụ thuộc nhiều vào doanh thu sản xuất nông nghiệp, vì vậy họ không cần phải đầu tư nhiều cho công việc này, và hầu hết đều thỏa mãn với việc vĩnh viễn canh tác trên quy mô nhỏ. Chính sách bảo hộ của Chính phủ Nhật cho phép nông dân Nhật có thể không làm gì mà vẫn được trợ cấp – năm 2012, trợ cấp của Chính phủ Nhật cho nông dân chiếm tới 56% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp quốc gia này, chỉ thấp hơn so với Na Uy và Thụy Sỹ, theo số liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

Tuy nhiên, do không dành nhiều thời gian cho việc trồng trọt, nông dân làm bán thời gian trên quy mô nhỏ ở Nhật Bản có xu hướng dùng nhiều hóa chất trừ sâu và diệt cỏ hơn nông dân làm toàn thời gian trên diện tích canh tác lớn. Theo một thống kê từ năm 2000, trong số những nông dân canh tác dưới 1 hecta, chỉ có 20% có phương thức canh tác thân thiện với môi trường, trong khi với những nông dân làm tối thiểu 10 hecta thì tỉ lệ này là trên 50%.

Với số lượng chiếm một tỉ lệ áp đảo so với số nông dân làm toàn thời gian – trong tổng số 1,5 triệu nông dân Nhật chỉ có 420 nghìn người làm toàn thời gian – mặc dù không có nhiều cống hiến về năng suất trồng trọt nhưng đội ngũ nông dân bán thời gian ở Nhật Bản có ảnh hưởng chính trị đáng kể, thông qua một mạng lưới hiệp hội toàn quốc mang tên hội Nông nghiệp Nhật Bản (JA). Hiệp hội này có mối quan hệ mật thiết với Đảng Dân chủ Tự do và Bộ Nông nghiệp, với số thành viên lên tới 10 triệu người (tương đương khoảng 8% dân số Nhật), và nhân viên hiệp hội trên toàn quốc lên tới 240 nghìn người – JA thậm chí còn có một ngân hàng riêng, với tổng giá trị tài khoản tiền gửi lên tới 532 tỷ USD, ngang ngửa với một ngân hàng quốc tế lớn trên thế giới là Barclays – có thể coi là tổ chức vận động chính sách hùng mạnh nhất ở Nhật Bản.

JA và Đảng Dân chủ Tự do luôn cực lực phản đối việc Nhật Bản đàm phán để tham gia vào hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Bộ Nông nghiệp cũng đồng tình với họ với nhận định rằng TPP sẽ khiến Nhật Bản mất đi 9 phần 10 thị phần và sản lượng gạo, kéo theo mất đi 3,4 triệu công ăn việc làm. Với sự hậu thuẫn này, hiện nay, hội JA đang có chiến dịch vận động duy trì mức thuế rất cao đánh vào hàng nông nghiệp nhập khẩu: thuế gạo nhập khẩu lên tới 777,7%, thuế bơ nhập khẩu là 360%, thuế đường nhập khẩu là 328%.
 

Nghịch lý Nhật Bản: có năng lực công nghệ nhưng tự trói tay mình

Thay vì phải cố thủ dựa vào hàng rào thuế quan cao vượt bậc, người Nhật hoàn toàn có đủ năng lực để có thể triển khai công nghệ cao vào nông nghiệp, làm giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh nông sản. Ví dụ nông dân Nhật có thể áp dụng kỹ thuật quản lý canh tác bằng cách chia ô ruộng, dùng công nghệ định vị toàn cầu (GPS) để đo chính xác diện tích từng ô, rồi dùng công nghệ cảm biến để liên tục theo dõi, đánh giá chất lượng đất, đồng thời phân tích hàm lượng nitơ dựa trên cảm biến màu sắc của lá cây trồng, từ đó tính đoán ra lượng phân bón phù hợp cho từng ô ruộng, hoặc các thiết bị tự động có thể giúp theo dõi thời tiết, cho dữ liệu giúp dự đoán đợt bùng phát sâu bệnh để nông dân phun thuốc trừ sâu một cách hiệu quả và tiết kiệm.

Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn luôn bảo thủ với chính sách kiểm soát sản lượng để bảo vệ những người nông dân làm nông nghiệp ở quy mô nhỏ, khiến việc áp dụng công nghệ cao trở nên vô cùng đắt đỏ và không khả thi. Thậm chí một số loại công nghệ phố biến ở nước khác nhưng ở Nhật Bản lại bị hạn chế triệt để – ngay từ những năm 1970, việc nghiên cứu triển khai những giống lúa năng suất cao vẫn luôn là điều cấm kỵ đối với các nhà khoa học ở tầm trung ương cũng như địa phương. Hậu quả là hiện nay sản lượng gạo trên cùng một đơn vị diện tích ở Nhật Bản dưới mức 40% sản lượng gạo ở California, theo đó chi phí sản xuất cũng cao hơn trên 28%.

Nguy cơ suy thoái ngành nông nghiệp do chính sách bảo thủ

Do chính sách tự trói buộc mình nên nếu phải cạnh tranh với hình thức canh tác trên quy mô lớn kiểu Mỹ - ví dụ gieo hạt bằng máy bay – thì chắc chắn mô hình canh tác quy mô nhỏ của Nhật Bản sẽ sụp đổ, theo nhận định của ông Kozo Watanabe, một người đại diện của JA. Đây là lí do khiến vấn đề thuế nhập khẩu gạo là đề tài gây tranh cãi nhất ở Nhật Bản khi bàn về TPP, và JA không ngừng vận động để Chính phủ Nhật duy trì mức thuế nhập khẩu cao để ngăn chặn gạo nhập khẩu từ Mỹ và các nước khác, cho phép nông dân Nhật tiếp tục trồng lúa với quy mô nhỏ.

Những người vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như Watanabe thường lập luận rằng lúa gạo là “sản phẩm linh thiêng” của người Nhật, và hoạt động canh tác lúa gạo mang tính cộng đồng và trên quy mô nhỏ được coi là hệ quả tự nhiên của lịch sử đất nước (với đặc thù địa lý quốc gia nhiều đồi núi), đến nay đã trở thành một bản sắc văn hóa của dân tộc.

Thực tế thì số lượng hộ nông dân nhỏ ở Nhật tăng mạnh sau năm 1945, khi một cuộc cải cách ruộng đất quan trọng ở Nhật Bản đã phân phối lại đất nông nghiệp từ tay các lãnh chúa lớn vào tay nông dân. Tới giai đoạn sau này, người ta từng hi vọng các hộ nông dân nhỏ sẽ chuyển đổi cơ cấu ngành nghề sang các ngành công nghiệp khác, đồng thời sẽ bán đất hoặc cho các hộ nông dân khác thuê để làm nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, theo lời Masatoshi Wakabayashi, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp thời Chính phủ của Thủ tướng Abe nhiệm kỳ năm 2007. Tuy nhiên, trong thực tế giá đất đai ở Nhật Bản tăng vọt khiến nông dân có xu hướng giữ lại đất với hi vọng sau này có thể bán lại cho các dự án khu công nghiệp, đô thị, v.v. Luật đất đai nghiêm ngặt ở Nhật Bản cũng khiến việc mua bán đất diễn ra không dễ dàng.

Hậu quả là ngày nay khi các vùng nông nghiệp ngày càng thưa dân cư, có tới một phần mười đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Thế hệ trẻ đa số không muốn theo nghề nông khiến tuổi thọ trung bình của nông dân ngày càng cao: thống kê năm 2010 cho thấy tuổi thọ trung bình của nông dân là 70. Trước tình hình này, một quan chức Bộ Nông nghiệp Nhật Bản thừa nhận rằng nông nghiệp Nhật Bản đang phải đối diện với một lựa chọn không tránh khỏi: cải cách hoặc suy thoái.

Trong một báo cáo hồi tháng 5 năm ngoái, hai nhà kinh tế Randall Jones và Shingo Kimura của tổ chức OECD cũng đã viết: “Nếu không tiến hành cải cách một cách căn bản, nông nghiệp [Nhật Bản] sẽ tiếp tục suy thoái, mắc kẹt trong cái bẫy năng suất thấp, thu nhập thấp, và phụ thuộc vào chính sách trợ cấp và bảo hộ thương mại của Chính phủ”.

Gia nhập TPP: chất xúc tác để cải cách

Gia nhập TPP và giảm thuế là giải pháp duy nhất cho nông nghiệp Nhật Bản, Banba nói. “Những người nông dân giỏi của Nhật Bản không e sợ TPP”, ông khẳng định. Việc gia tăng cạnh tranh sẽ buộc những hộ nông dân nhỏ không chuyên tâm làm nông nghiệp bán lại đất, và những người làm nông nghiệp toàn thời gian như ông có thể gom được nhiều đất trồng trọt hơn. Hi vọng này của Banba không phải là vô căn cứ, một nông dân láng giềng của ông, nay đã 74 tuổi, cho biết sẽ để Banba thuê lại đất của mình ngay khi Nhật Bản ký vào hiệp định TPP, theo đó cho phép nhập khẩu gạo giá rẻ của Mỹ.

Nếu Nhật Bản gia nhập TPP, nhiều khả năng họ sẽ nỗ lực tìm cách đề nghị được trì hoãn vài năm trước khi xóa bỏ chính sách bảo hộ nông dân, đặc biệt đối với những sản phẩm được coi trọng như lúa gạo. Tuy nhiên, từ trước đó Nhật Bản đã phải triển khai những chính sách cải cách nông nghiệp quyết liệt, theo nhận định của Masayoshi Honma, giáo sư kinh tế Đại học Tokyo. Trước hết, Nhật Bản cần ban hành các chính sách giúp tập trung đất đai vào tay những người nông dân có năng lực. Những người mới bước chân vào nghề nông, bao gồm cả các doanh nghiệp, phải được quyền mua đất, thay vì chỉ được thuê lại.

Việc đàm phán tham gia TPP và tiến hành cải cách nông nghiệp sẽ phải được Chính phủ của Thủ tướng Abe triển khai đồng thời, vì nếu tham gia TPP và cho phép hàng nông sản nhập khẩu ồ ạt tràn vào thị trường trong khi người nông dân chưa kịp nâng cao năng lực cạnh tranh thì đó sẽ là thảm họa cho ngành nông nghiệp Nhật.

Trong khi đó, ở phía ngược lại, những nhà vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như hội JA sẽ tiếp tục tìm mọi cách để ngăn cản Nhật Bản cải cách nông nghiệp cũng như gia nhập TPP. Quyền lực và lợi ích của JA phụ thuộc vào số lượng thành viên của nó, vì vậy JA chắc chắn không muốn thay đổi hiện trạng cơ cấu đất nông nghiệp của Nhật Bản. Tuy nhiên, dù làm cách nào thì JA vẫn không thể thay đổi được thực tế là các thành viên của mình đang ngày càng già đi, và ảnh hưởng chính trị của nó cũng theo đó giảm dần.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Hệ thống mới lạ sử dụng vi khuẩn để xử lý và chiết xuất năng lượng từ nước thải

Hệ thống mới lạ sử dụng vi khuẩn để xử lý và chiết xuất năng lượng từ nước thải 

Mỗi ngày, các nhà máy bia và rượu vang thải ra hàng ngàn gallon nước thải, nước thải này được đổ xuống cống rãnh hoặc được chở đến các cơ sở xử lý nước thải với chi phí đắt đỏ.​

Nay, công ty Cambrian Innovation sẽ thương mại hóa 1 hệ thống xử lý mới lạ có tên là EcoVolt, hệ thống này sử dụng các vi khuẩn được sạc điện để xử lý và tạo ra năng lượng từ nước thải. Công ty này sẽ biến đổi hệ thống của họ để tạo ra giá trị từ nước thải trong lĩnh vực nông nghiệp và quân sự, và để biến đổi CO2 thành nhiên liệu cho các ứng dụng trên Trái Đất và trong không gian.

Cơ sở hạ tầng công nghiệp ngày nay điều khiển các nguồn cơ bản theo hướng tuyến tính, làm tăng chi phí của việc xử lý chất thải và gây hại cho môi trường. Nhưng 1 phương pháp tuần hoàn hơn – tại đây chất thải được sử dụng làm nguồn năng lượng – có thể đem lại lợi nhuận cao hơn và loại bỏ được sự căng thẳng giữa môi trường và kinh tế, tổng giám đốc điều hành Matt Silver của hãng này cho biết.

Silver cho biết: “Việc xử lý nước thải tiêu tốn hơn 3% lượng điện ở Mỹ, tuy nhiên các chất hữu cơ trong nước thải này có năng lượng mà có thể được chiết xuất và sử dụng cục bộ”.

Hệ thống EcoVolt có tính môđun và tự động, bao gồm 1 cống lấy nước, đây là nơi chứa nhiều máy tính để tự động hóa và điều khiển, và chứa khoảng 20.000 gallon đơn vị xử lý. Ở những đơn vị xử lý này, các vi khuẩn có tên là exoelectrogen sẽ thực hiện 1 quy trình lạ thường, được gọi là electromethanogenesis – quy trình này lần đầu tiên được sử dụng trong việc xử lý nước thải.

Exoelectrogen được phủ lên cực dương. Chúng ăn các chất ô nhiễm hữu cơ còn sót lại của nước thải rồi phát điện trong quá trình này. Điện này đi qua 1 mạch điện rồi vào cực âm được phủ bằng những vi khuẩn làm hao mòn lượng điện này – cùng với CO2 – để tạo ra khí sinh học ở tốc độ đến 100 foot khối/phút. Quy trình này làm thay đổi sự tiêu hóa kỵ khí xảy ra tự nhiên ở nước thải bởi vì nó làm ổn định việc xử lý, cải thiện chất liệu khí sinh học và cho phép mức tự động hóa cao hơn.

Khí sinh học đi vào 1 hệ thống đồng phát nhiệt-điện được kết nối để chuyển đổi năng lượng. Dựa vào một vài yếu tố, điều này tạo ra từ 30-400 kWh điện ở bất kỳ nơi đâu. Nước thải được xử lý sau khi ra khỏi lò phản ứng sẽ bị loại bỏ từ 80-90% chất ô nhiễm, vì thế nó có thể được sử dụng để tưới, rửa thiết bị cùng nhiều việc khác.

Hệ thống này có thể xử lý từ 10.000 đến 1 triệu gallon nước thải mỗi ngày.

Từ tháng 1 vừa qua, 2 nhà máy bia Bear Republic và Lagunitas đã mua hệ thống EcoVolt. Với tốc độ hiện tại, Cambrian ước tính hệ thống này sẽ phát đủ điện để đáp ứng từ 25-50% nhu cầu của 2 nhà máy bia này và cho phép tái sử dụng khoảng 25% nước thải của họ. Hệ thống này còn giúp giảm bớt 10 chuyến xe tải chở nước thải mỗi ngày cho Lagunitas.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Các biện pháp mới của Nhật Bản để chống lại sự nóng lên toàn cầu

Các biện pháp mới của Nhật Bản để chống lại sự nóng lên toàn cầu 

Chính phủ Nhật Bản vừa đưa ra các biện pháp để hạn chế tác động của hoạt động nông nghiệp và con người đối với biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia và địa phương. Quyết định này được thực hiện sau khi những kết luận vào tháng 9/2013 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho rằng các hoạt động của con người có ảnh hưởng đến sự nóng lên toàn cầu và các biện pháp hiện tại trên thế giới là chưa đủ.

Khí hậu toàn cầu nóng lên ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo của Nhật Bản. Thật vậy, trong những năm gần đây, nhiệt độ mùa hè trung bình vượt quá mức bình thường theo mùa và đã tác động đến sinh trưởng của lúa. Do đó, chất lượng gạo đã giảm dần. Để khắc phục điều này, một giống mới được phát triển nhờ lai hai giống lúa Nhật Bản. Thành công này là một trong những phương cách hỗ trợ tốt nhất trong hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.

Viện Quốc gia về Khoa học nông nghiệp - môi trường Nhật Bản dự đoán sẽ có sự sụt giảm chất lượng của gạo Nhật Bản vào cuối thế kỷ này do sự nóng lên toàn cầu và là một thách thức đáng kể cho phát triển trong các vùng sản xuất ở Kyushu và Chugoku. Nguy cơ lũ lụt cũng được xem xét nghiêm túc khi biến đổi khí hậu đe dọa các con đập. Do vậy một số biện pháp gia cố các con đập đã được đưa ra, như đập Tsuruda thêm vào các cửa xả qua đó cải thiện kiểm soát đập trong trường hợp lũ lụt.

Chính phủ nói rằng nguy cơ lũ lụt tăng lên từ 80 đến 340% vào cuối thế kỷ này do nhiệt độ tăng. 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Ngành thực phẩm hữu cơ Mỹ tiếp tục phát triển

Ngành thực phẩm hữu cơ Mỹ tiếp tục phát triển

Ngành hữu cơ ở Mỹ đang tiếp tục phát triển trong nước và trên toàn cầu, với hơn 25.000 hoạt động hữu cơ được chứng nhận tại hơn 120 quốc gia khác nhau trên thế giới.
 
Tổng cộng có 763 nhà sản xuất đã được chứng nhận hữu cơ trong năm 2013, tăng 4,2% so với năm trước, thông qua chương trình Hữu cơ Quốc gia của Cơ quan Tiếp thị Nông nghiệp.

Ngành công nghiệp hữu cơ hiện nay bao gồm 18.513 trang trại và các doanh nghiệp hữu cơ được chứng nhận tại Hoa Kỳ, đại diện cho một sự gia tăng 245% từ năm 2002, theo USDA.

Danh sách các hoạt động hữu cơ chứng nhận năm 2013 của USDA cho thấy một tỷ lệ tăng trưởng ở ngành công nghiệp này trong nước, tiếp tục xu hướng trước đó.

"Nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm hữu cơ đã phát triển theo cấp số nhân trong thập kỷ qua", Bộ trưởng Nông nghiệp Tom Vilsack cho biết.

"Với doanh số bán lẻ có giá trị ở mức 35 tỷ USD năm ngoái, ngành công nghiệp hữu cơ đại diện cho một cơ hội kinh tế to lớn cho nông dân, chủ trang trại và các cộng đồng nông thôn.

"Sự hỗ trợ mới trong Farm Bill 2014 sẽ tăng cường nỗ lực của USDA để giúp các nhà sản xuất và doanh nghiệp nhỏ tiến vào thị trường này và hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ khi nó đang ngày càng phát triển".

USDA đã công bố một số những nỗ lực mới và mở rộng để kết nối những người nông dân và các doanh nghiệp có nguồn lực để đảm bảo sự phát triển liên tục của ngành công nghiệp hữu cơ trong và ngoài nước.

USDA đã ký ba hiệp định thương mại lớn về các sản phẩm hữu cơ, đầu tiên với Canada và sau đó với Liên minh châu Âu và Nhật Bản trong chính quyền hiện tại và Mỹ tuyên bố rằng, các đối tác thương mại đang mong muốn thiết lập những chương trình hữu cơ tương đương với Mỹ bởi vì họ nhận ra sức mạnh của chương trình Hữu cơ Quốc gia và giá trị của nhãn hữu cơ của USDA.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Thiếu ong mật, sản lượng cây trồng nhiều nước bị đe dọa

Thiếu ong mật, sản lượng cây trồng nhiều nước bị đe dọa

Trong nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí PLOS ONE của Mỹ hôm 8/1, các nhà khoa học thuộc Đại học Reading, miền Nam nước Anh cảnh báo rằng nhiều nước châu Âu sẽ thiếu số lượng ong mật cần thiết để thụ phấn cho cây trồng do Liên minh châu Âu (EU) chuyển sang chính sách ưu tiên sử dụng năng lượng sinh học.

Khi so sánh số lượng tổ ong với nhu cầu thụ phấn bằng ong ở 41 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 2005-2010, các nhà khoa học phát hiện ra rằng số lượng ong mật không thể đáp ứng nhu cầu thụ phấn ở 22 quốc gia.

Trong số các nước được nghiên cứu, tình hình ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và các nước Balkan là khả quan hơn cả do các nước này có truyền thống nuôi ong tốt, có thể đáp ứng tới 90% nhu cầu thụ phấn cho hoa màu.

Trong khi đó, ở các nước vùng Baltic, ong mật chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu thụ phấn. Còn ở Pháp và Đức, tỷ lệ này là từ 25-50%.

Theo kết quả nghiên cứu trên, nhu cầu dùng ong mật để thụ phấn cho cây tăng 38% ở những khu vực trồng các loại cây hạt có dầu như cải dầu, hướng dương và đỗ tương. Trong khi đó, quần thể ong mật chỉ tăng 7% trong giai đoạn 2005 - 2010, từ 22,5 triệu đàn lên 24,1 triệu đàn.

Diện tích trồng các loại cây hạt có dầu được mở rộng năm 2003 khi EU yêu cầu mức sử dụng nguyên liệu sinh học phải chiếm 5,75% trong tổng tiêu thụ nguyên liệu của các phương tiện giao thông vào năm 2010 và diện tích này sẽ tiếp tục tăng khi EU đặt ra mục tiêu tăng sử dụng nguyên liệu sinh học lên 10% vào năm 2020.

Thực trạng trên làm cho nông dân ngày càng phụ thuộc vào các loài động vật thụ phấn hoang dã hơn là ong mật được thuần hóa trong thời kỳ thụ phấn của cây. Sự phụ thuộc này là đáng lo ngại do các loài côn trùng hoang dã luôn biến động về số lượng.

Hơn nữa, chúng dễ bị tổn thương do tình trạng thâm canh độc canh - ít trồng các loài cây có hoa để cung cấp thức ăn và nơi làm tổ cho các loài côn trùng này.

Trong khi đó, giống ong mật Apis mellifera được sử dụng để thụ phấn ở châu Âu đang bị ảnh hưởng do các loài côn trùng có hại và việc sử dụng thuốc trừ sâu.

Theo số liệu ước tính năm 2009, giá trị kinh tế mà côn trùng thụ phấn cho cây trồng tạo ra đạt tới 153 tỷ euro trong tổng giá trị cây trồng trên thế giới

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Phát huy tiềm năng nông nghiệp từ công nghệ cao

Phát huy tiềm năng nông nghiệp từ công nghệ cao

Thực tế và kinh nghiệm ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp của các nước trên thế giới đều hướng vào các sản phẩm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, có chất lượng, giá trị cao về kinh tế; có mối liên hệ chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ.

Từ kinh nghiệm thế giới

Các nước đã thành công trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như Hoa Kỳ, Israel, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… dựa trên 2 yếu tố chính: Lợi thế từ điều kiện thiên nhiên hoặc địa lý, gần thị trường tiêu thụ; lợi thế từ khoa học, công nghệ và khả năng tài chính. Trong đó, với các nước phát triển, lợi thế về khoa học, công nghệ và tài chính được phát huy triệt để.

Công nghệ cao được áp dụng ở tất cả các khâu của chuỗi sản xuất nông nghiệp như các nghiên cứu phát triển giống mới, các giống biến đổi gene kháng sâu, bệnh, công nghệ tưới tiêu tiên tiến, các công nghệ tiết kiệm đất như: Tăng cường sử dụng phân hóa học, trồng cây trong nhà kính, trong các giá thể… Ngoài việc phát triển “công nghệ cứng”, các nước cũng rất quan tâm phát triển “công nghệ mềm”, trong đó quan trọng nhất là công nghệ quản lý và tổ chức sản xuất, góp phần quản lý tốt hơn chất lượng nông sản, giúp nông sản có giá cao và ổn định hơn.

Các nước có điều kiện kinh tế xã hội tương tự nước ta cũng đã có chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khá thành công. Theo một nghiên cứu của Bộ NNPTNT, trong giai đoạn 1998-2006, Trung Quốc đã phát triển được 405 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ cấp tỉnh trở lên và hàng ngàn cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước. Các khu này đóng góp trên 40% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Trung Quốc là: Coi khoa học công nghệ là đòn bẩy, lấy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật làm gốc; đầu tư hạ tầng hiện đại và đồng bộ; thu hút, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào đầu tư; mở rộng hợp tác quốc tế để trao đổi công nghệ, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.

Đến thực iễn Việt Nam

Hiện Việt Nam có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được xây dựng, đưa vào hoạt động và quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, hoạt động của các khu này còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung, cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu hấp dẫn, sản phẩm chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng.

Thực tế đã xuất hiện một số mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có hiệu quả, đem lại lợi nhuận khá cao. Các mô hình thành công này đa phần là các cơ sở tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa như sản xuất giống tại Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình, Công ty Bảo vệ thực vật An Giang; mô hình nuôi bò và chế biến sữa của Công ty TH, Công ty sữa Mộc Châu, các công ty trồng hoa công nghệ cao tại Đà Lạt, Mộc Châu…

Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Nhà nước đã thành lập và hoạt động hiệu quả chưa cao do chính quyền cơ sở chưa đủ quyết tâm, lựa chọn mô hình, sản phẩm để sản xuất chưa phù hợp, khả năng tài chính chưa đủ mạnh để thực hiện đầu tư hạ tầng và thu hút doanh nghiệp. Một số địa phương có khả năng về tài chính nhưng lại sai lầm trong lựa chọn công nghệ (công nghệ lạc hậu hoặc công nghệ quá cao), chi phí đầu tư, vận hành quá đắt đỏ dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Điển hình là các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài, tuy nhiên quá trình chuyển giao công nghệ chậm, chi phí vận hành quá cao nên thất bại.

Từ kết quả của việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Việt Nam, mà trong đó phần nhiều là những thất bại đắt giá, Bộ NNPTNT và chính quyền các địa phương phải nhìn thẳng vào các yếu kém, tồn tại để có định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho phù hợp, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và tiến tới phát huy hết các tiềm năng sẵn có của sản xuất nông nghiệp.

Biện pháp trước tiên là phải nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong sản xuất nông nghiệp: Rà soát, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn với nghiên cứu thị trường, đảm bảo tính khả thi và tuân thủ quy hoạch, từng bước hạn chế việc sản xuất theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng được mùa rớt giá. Nâng cao hiệu lực trong việc quản lý chất lượng nông sản, vệ sinh an toàn thực phẩm, coi truy xuất nguồn gốc đối với hàng nông sản của doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp phải có trách nhiệm đầu tư vào vùng nguyên liệu.

Thứ hai là hoàn thiện các chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Cần sửa đổi chính sách liên kết sản xuất nông sản theo hợp đồng, trong đó xây dựng các chính sách liên kết đủ mạnh để giải quyết vấn đề phá vỡ hợp đồng. Đây là nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp không mặn mà và không “dám” đầu tư lâu dài vào lĩnh vực này. Nhà nước đóng vai trò trung gian điều phối, trọng tài, tăng lòng tin cho các bên tham gia liên kết.

Thứ ba là quyết liệt đổi mới trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong khối các cơ quan nghiên cứu khoa học công lập, thực hiện xã hội hoá những lĩnh vực có tiềm năng, đổi mới thủ tục hành chính trong triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học theo hướng gọn nhẹ, gắn với sản phẩm đầu ra, tạo điều kiện về thời gian cho các nhà khoa học, có cơ chế đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học đầu ngành, đổi mới cơ chế thuê chuyên gia nước ngoài, cả Việt kiều làm việc tại các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam.

Thứ tư là việc lựa chọn, quyết định thành lập các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương (điều kiện tự nhiên, thị trường, khả năng tài chính, công nghệ, nhân lực..). Nên phân kỳ đầu tư để có bước đi thích hợp, tạo tiền đề tích lũy kinh nghiệm, tài chính và công nghệ để nhân rộng mô hình.

Khi phát triển thành công các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm nông sản sạch, chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng; nâng cao giá trị gia tăng cho người sản xuất, hướng tới phát huy tiềm năng lợi thế của sản xuất nông nghiệp, hạn chế thiệt hại và thích ứng với các hình thái thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng cho sản.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Chuyển đổi hệ thống lương thực để có dinh dưỡng tốt hơn

Chuyển đổi hệ thống lương thực để có dinh dưỡng tốt hơn
M.D - Mard, Theo FAO.

 

Trong khuôn khổ hội nghị do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chủ trì, các vấn đề dinh dưỡng đang tác động đến hơn 50% dân số thế giới và hệ thống lương thực sẽ cần phải trải qua những thay đổi đáng kể nhằm cải thiện bữa ăn hàng ngày và cuộc sống của con người.

 

Sự kiện diễn ra từ ngày 13-15/11 là cuộc họp chuyên môn chuẩn bị cho Hội nghị Quốc tế về Dinh dưỡng lần thứ 2 (ICN2) dự kiến diễn ra vào ngày 19-21/11/2014. Mục đích của hội nghị nhằm tăng cường phối hợp các nỗ lực quốc tế để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, y tế, hệ thống lương thực và các lĩnh vực khác đang ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình ăn uống của con người.

José Graziano da Silva, Giám đốc FAO cho biết: “Rõ ràng là cách quản lý lương thực ngày nay không mang lại kết quả tốt, sự cải thiện về dinh dưỡng chưa đủ. Thực tế đáng buồn nhất là hơn 840 triệu người dân trên thế giới vẫn đang bị đói, mặc dù thế giới đã sản xuất đủ lương thực cho tất cả, và lãng phí 1/3 trong số đó. Tuy nhiên, đó chỉ là một phần câu chuyện. Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới bị tác động của một số dạng suy dinh dưỡng, bị đói, thiếu hụt hoặc dư thừa các vi chất dinh dưỡng cần thiết”.

Graziano cho biết thêm: “Tổng lượng lương thực sản xuất ra nhưng không tiêu thụ sẽ đủ để nuôi sống thêm 2 tỉ người. Sự thật của vấn đề là người tiêu dùng không nhận được tín hiệu đúng từ các chính sách hiện tại về cách làm thế nào để ăn lành mạnh. Đó là những gì chúng tôi cần phải nhấn mạnh”.

Trong khi 842 triệu người dân đang bị đói kinh niên, nhiều người đã chết hoặc bị bệnh do thiếu dinh dưỡng. Khoảng 2 tỉ người bị ảnh hưởng bởi thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Gần 7 triệu trẻ em chết trước tuổi 15 mỗi năm, 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị còi cọc, trong khi 500 triệu người bị béo phì.

Đánh giá tầm quan trọng của suy dinh dưỡng và tác động của nó trong sự phát triển bền vững, ông Graziano da Silva nhắc lại sự ủng hộ của FAO và hai tổ cơ quan lương thực và nông nghiệp có trụ sở tại Rome, Quỹ Quốc tế về Nông nghiệp và Phát triển (IFAD) và Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) vì mục tiêu an ninh lương thực và dinh dưỡng trong Chương trình nghị sự Phát triển sau năm 2015, theo kiến nghị của Hội đồng Tư vấn cấp cao về Đói nghèo, An ninh lương thực và Dinh dưỡng diễn ra vào tháng 4/2013 tại Madrid.

Tiến sĩ Hans Troedsson, Giám đốc điều hành Văn phòng Tổng giám đốc của WHO cũng kêu gọi xem xét lại cách quản lý hệ thống lương thực, nhấn mạnh bữa ăn hàng ngày là yếu tố then chốt trong việc giải quyết gánh nặng bệnh tật toàn cầu, và những thách thức đa chiều của dinh dưỡng sẽ cần được nhắc đến ở nhiều cấp độ, từ lúc mới sinh ra cho đến khi trưởng thành.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Sản phẩm công nghệ giúp người nông dân vượt qua những khó khăn khi sản xuất quy mô nhỏ

Công nghệ sinh học giúp người nông dân vượt qua những khó khăn khi sản xuất quy mô nhỏ
NMT - MARD, Theo FAO.

 

FAO đang kêu gọi các nỗ lực quốc gia và quốc tế lớn hơn trong việc đưa công nghệ sinh học nông nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nhỏ ở các nước đang phát triển. Ấn phẩm mang tựa đề “Công nghệ sinh học cho các nông hộ sản xuất quy mô nhỏ”. Nghiên cứu từ nước đang phát triển trong lĩnh vực cây trồng, vật nuôi và thủy sản khẳng định công nghệ sinh học có thể giúp các hộ gia đình cải thiện sinh kế và an ninh lương thực.

 

Ẫn phẩm về công nghệ sinh học nêu lên 19 trường hợp nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi, thủy sản được viết bởi các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Các bài viết mô tả thực tế và kinh nghiệm thực tế của việc nghiên cứu công nghệ sinh học và áp dụng ở các hộ trồng chuối, sắn, lúa, chăn nuôi gia súc, nuôi tôm quy mô nhỏ tại các nước đang phát triển. Các nghiên cứu chỉ ra một loạt các kỹ thuật công nghệ sinh học được áp dụng, bao gồm các kỹ thuật truyền thống như thụ tinh nhân tạo và lên men, và các kỹ thuật tiên tiến liên quan đến các phương pháp dựa trên DNA nhưng không áp dụng kỹ thuật biến đổi gien. “Với các thể chế và các giải pháp tài chính đúng đắn, các chính phủ, các viện nghiên cứu và các tổ chức có thể hỗ trợ mang lại các giải pháp công nghệ sinh học cho các hộ gia đình nông dân, nâng cao năng lực của người nông dân trong việc ứng phó với những thách thức như biến đổi khí hậu, các dịch bệnh ở thực vật và động vật và sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên”, ông Andrea Sonnino, Giám đốc nghiên cứu của FAO cho biết.
 
Bốn trường hợp nghiên cứu là ở Ấn Độ, hai trường hợp nghiên cứu ở Trung Quốc và mỗi quốc gia sau đều có một trường hợp nghiên cứu là Ác-hen-ti-na, Băng-la-đét, Bra-xin, Ca-mơ-run, Cô-lôm-bi-a, Cu-ba, Gha-na, Ni-giê-ri-a, Nam Phi, Sri Lan-ca, Tanzania và Thái Lan. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kiến thức về DNA để phát triển một giống lúa chịu lũ lụt ở Ấn Độ với sản lượng tiềm năng cao hơn từ 1-3 tấn mỗi ha so với các giống lúa được sử dụng trước đó trong điều kiện lũ lụt. Sau khi được đưa ra vào năm 2009, giống lúa mới Swarna - Sub1 đã được 3 triệu nông dân sử dụng trong năm 2012. Các giống lúa chịu được ngập úng cung cấp cơ hội để cải thiện và ổn định sản lượng tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, góp phần quan trọng đối với an ninh lương thực quốc gia. Uma Singh và các đồng nghiệp từ Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI ) đã thực hiện nghiên cứu này.
 
Ở Trung Quốc, cá chép Jian đã được lai tạo dựa trên biện pháp chọn lọc di truyền. Cá chép Jian hiện nay được nuôi ở khoảng 160.000 trang trại nuôi cá và chiếm hơn 50% sản lượng cá chép ở Trung Quốc. Ở miền Bắc Cameroon, việc sử dụng các công cụ chẩn đoán dựa trên DNA trong lĩnh vực này cho phép các cơ quan thú y nhanh chóng chẩn đoán sự bùng phát của dịch sốt trên động vật nhai lại, một căn bệnh do virút gây ra rất dễ lây lan ảnh hưởng đến dê và cừu. Việc chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác giúp dập tắt các ổ dịch và ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh gây tử vong cho đàn gia súc khác. “Nếu không có phản ứng nhanh này, hàng ngàn con cừu và dê có khả năng đã chết, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế”, Abel Wade và Abdoulkadiri Souley thuộc Phòng thí nghiệm thú y quốc gia (LANAVET) ở Ca-mơ-run cho biết.
 
Công nghệ sinh học có thể cải thiện cây trồng, sinh kế chăn nuôi và thủy sản bằng cách thúc đẩy năng suất và tăng cường tiếp cận thị trường. Việc giới thiệu công nghệ sinh học mới ở các trang trại gia đình cũng có thể giúp giảm chi phí sản xuất và cải thiện quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu đưa ra giúp hỗ trợ hoạch định chính sách trong việc đưa ra quyết định về các chương trình liên quan đến công nghệ sinh học. Tuyên bố của FAO cũng cho thấy quan hệ đối tác quốc tế và quốc gia là rất quan trọng để đạt được các kết quả mong muốn như là chia sẻ các nguồn tài nguyên về mặt di truyền, kỹ thuật và bí quyết qua biên giới quốc gia và lục địa.

 

FOODCROPS. HỌC MỔI NGÀY

Nông nghiệp: tăng sản lượng "vượt" thách thức

Nông nghiệp: tăng sản lượng "vượt" thách thức
Trần Quân - STINFO Số 10/2013.

Thế giới sẽ no đủ trong nhiều thập niên sắp đến nếu đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ không chỉ ở những nước tiên tiến mà ở khắp mọi nơi.

Julian Cribb, trong cuốn “The coming famine” - tạm dịch là nạn đói đang đến, năm 2010 đã tiên đoán rằng dù những cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào 2007-2008 chưa gây nạn đói nhưng lại là mối nguy hết sức to lớn của hành tinh, thậm chí còn khẩn cấp hơn cả nguy cơ biến đổi khí hậu. Nhà môi trường học Lester Brown trong cuốn “Full Planet, Empty Plates” - Hành tinh no nê, hành tinh đói kém, năm 2012 cũng đã nói rằng thế giới đang chuyển từ kỷ nguyên tràn trề lương thực sang thời khan hiếm. Từ năm 1968, trong cuốn “Population bomb” - Bom dân số, Paul R. Ehrlich từng cho rằng vào những năm 1970 hàng triệu người sẽ chết đói. Thực ra Ehrlich cũng chỉ “ăn theo” nhà kinh tế học lừng danh Thomas Malthus từ hai thế kỷ trước từng cảnh báo tình trạng dân số tăng theo cấp số nhân trong khi lương thực chỉ tăng theo cấp số cộng sẽ dẫn đến nạn đói, dịch bệnh và chiến tranh.

Điều đó đã không xảy ra và cũng sẽ không xảy ra trong tương lai gần mặc cho những cảnh báo bi quan về lương thực hiện nay. Có hai nguyên nhân chính: nông dân “cày” nhiều đất đai hơn và quan trọng hơn là đang“vắt” được nhiều lương thực hơn từ đó. Từ 1800 đến 1950, diện tích đất canh tác tăng khá tương đồng với tốc độ tăng dân số, nhưng từ 1950, tính trên đầu người, diện tích giảm mất một nửa trong khi lương thực tăng khoảng 30%. Mặt khác, hệ thống thương mại thế giới đã hết sức rộng mở để đưa lương thực từ những vùng dư thừa đến vùng thiếu hụt.

Tuy nhiên, năm 2001, giá lương thực thế giới đã tăng do một số biến động. Nguyên nhân là từ 1990, tốc độ tăng năng suất qua từng năm của những loại ngũ cốc chính như lúa mì và gạo đã giảm nhưng những nguyên nhân quan trọng hơn là do gia tăng nhu cầu lương thực của những nước phát triển mạnh như Trung Quốc và việc sử dụng hạt có dầu để sản xuất nhiên liệu sinh học. Dù vậy, chúng ta có những lý do thuyết phục để tin rằng sản xuất lương thực sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong ít nhất là vài thập niên nữa, tương ứng với thời gian dân số thế giới dự kiến đạt khoảng 10 tỉ.

Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ

Chắc bạn cũng biết rằng sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào khoa học và công nghệ nhưng có thể không rõ phụ thuộc như thế nào, mức độ ra sao. Đầu thế kỷ 20, thực chất của bất kỳ sự gia tăng sản lượng lương thực nào cũng là do tăng thêm những vùng đất canh tác mới. Cuối thế kỷ 20, hầu hết sự gia tăng sản lượng là do cải tiến về giống, hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tự động hóa và kỹ năng quản lý, tất cả từ thành quả nghiên cứu.

Điển hình là khám phá di truyền gen của vị tu sĩ người Áo Gregor Mendel giữa thế kỷ 19 và quy trình cố định đạm từ không khí của Haber-Bosch ở Đức đầu những năm 1900. Thiếu đạm là điểm khống chế quan trọng nhất đối với năng suất cây trồng và nếu loại trừ được điều đó sẽ tạo ra lượng lương thực nhiều hơn hẵn dù số lượng lao động và diện tích đất không đổi. Việc sử dụng phân đạm tổng hợp phát triển nhanh chóng, đặc biệt là sau Thế chiến thứ II vì nhiều nhà máy sản xuất đạn dược được chuyển qua sản xuất phân bón và các nhà khoa học đã tận dụng tiến bộ này bằng cách áp dụng những phát kiến của Mendel để lai tạo những giống cây trồng đáp ứng với liều lượng phân bón cao hơn. Trong đó có cả những giống bắp lai trồng với mật độ dày hơn; lúa, lúa mì “bán lùn” cho nhiều hạt hơn thay vì phát triển thân nhờ tăng khả năng hấp thụ đạm. Sự kết hợp này đã làm bùng nổ cuộc các mạng xanh vào khoảng những năm 1940 ở Bắc Mỹ và những năm 1960 tại các nước đang phát triển.

Để đẩy nhanh việc áp dụng những quy trình mới, chính phủ phải cung cấp những chương trình huấn luyện nông dân về phương pháp canh tác mới, cấp tín dụng để giúp họ đầu tư công nghệ mới và cơ sở hạ tầng như đường xá, điện nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường cũng như chất lượng cuộc sống. Thành quả cho những nỗ lực này cũng sẽ rất to lớn. Ví dụ, Trung Quốc đã gia tăng mạnh mẽ sản lượng khi chuyển những nông trang tập thể thành những trang trại gia đình giúp nông dân trực tiếp hưởng lợi nhiều hơn và đầu tư dài hạn vào các hệ thống tưới tiêu và bảo vệ đất v.v. ..Những thành quả như vậy ở các nước đang phát triển có ý nghĩa sống còn vì đang đóng góp 2/3 sản lượng nông nghiệp toàn cầu so với 42% vào năm 1961.

Quan trọng là TFP

Năng suất nông nghiệp thường được tính theo sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích hay nhân công. Mức năng suất cao nhất ở vài nước châu Á với tổng sản lượng thu hoạch của cây trồng và vật nuôi trên mỗi hecta gấp tám lần của Mỹ do nền nông nghiệp thâm canh với rất nhiều lao động, vốn và phân bón cũng như thu hoạch nhiều vụ trên mỗi hecta. Tuy vậy, năng suất cao nhất trên mỗi lao động là ở Bắc Mỹ nhờ áp dụng công nghệ để một nông dân có thể canh tác rất nhiều đất. 

Tuy nhiên, không phải để tăng năng suất thì chỉ cần ném vào đó nhiều tài nguyên hơn như tăng phân bón, hóa chất, máy móc và năng lượng; nên nhớ là sản xuất nhiều hơn nghĩa là phải chi phí nhiều hơn. Vấn đề là làm thế nào để thu được nhiều hơn với tổ hợp những yếu tố cho sẵn gồm đất, lao động, vốn, vật tư – chúng ta gọi đó là năng suất tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity). TFP tăng là sự phản ánh của những cải tiến về công nghệ và quản lý, đó thực sự là câu chuyện về khả năng biết cách thu được nhiều hơn dù đầu tư ít hơn.

Việc đo lường TFP đòi hỏi phải có dữ liệu chính xác về những gì mà người nông dân sản xuất và những gì họ dùng để sản xuất. Nó còn đòi hỏi phải có phương pháp hữu hiệu để tổng hợp mọi yếu tố đầu vào và đầu ra, vì một yếu tố đầu vào tăng giá có thể khiến nông dân giảm sử dụng và chuyển sang một số yếu tố khác. Mãi đến gần đây chúng ta mới có thể đưa mọi thứ vào mô hình tăng trưởng TFP nông nghiệp cho toàn thế giới. Kết quả rất đáng khích lệ, tính trên toàn cầu, tốc độ tăng năng suất đang gia tăng và hầu hết có nguồn gốc từ những cải thiện năng suất của các nước đang phát triển. Hiện nay, những nước này có thành quả tính theo TFP cũng ngang với những nước phát triển vào những năm 1960 và cũng đang bắt kịp mức năng suất của những nước công nghiệp hóa. 

Tin tốt là sản lượng nông nghiệp toàn cầu đã tăng gần gấp ba lần từ 1961 đến 2009. Tin còn tốt hơn nữa là chỉ khoảng 60% của sự cải thiện này là do sử dụng nhiều đất đai, lao động, vốn, vật tư hơn. Phần còn lại là do cải thiện trong TFP. Trong vòng 48 năm qua, đóng góp của TFP đã gia tăng và ở thập kỷ kết thúc vào năm 2009 đóng góp khoảng ¾ mức tăng hàng năm của nguồn cung lương thực thế giới.

Theo thời gian, nông dân đã tăng TFP bằng cách áp dụng chính xác hơn các yếu tố đầu vào như dùng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để gieo hạt và bón phân; hệ thống tưới tiêu dạng phun hay nhỏ giọt cần lượng nước ít hơn trước nhiều; thuốc trừ sâu cần liều lượng thấp hơn hẵn và chỉ dùng khi các mô hình máy tính tiên đoán cây trồng đang gặp nguy cơ v.v...  

 Tiềm năng tăng trưởng đã hết?

Nhiều chuyên gia nghĩ rằng những công nghệ đã được khẳng định trong nông nghiệp gần như đạt tới giới hạn. Nhưng những người lạc quan không cho là vậy. Nếu nhìn vào các nước đã công nghiệp hóa, chúng ta thấy đang có cách kết hợp mới giữa công nghệ sinh học, di truyền gen và công nghệ thông tin để giúp các nhà khoa học nông nghiệp phát triển công nghệ nhanh hơn và trên phạm vi rộng lớn hơn. Đó có thể là công nghệ biến đổi gen gây tranh cãi trên cây trồng và vật nuôi hay là những câu chuyện lớn hơn khi các nhà khoa học tìm ra sức sống mới cho những kỹ thuật cũ về lai tạo giống.

Tuy nhiên, lý do chính của sự lạc quan này là những bằng chứng cho thấy nhiều nước đang phát triển, nơi đang tạo ra khoảng 2/3 tổng sản lượng nông nghiệp toàn cầu, cũng đã nghiêm túc thực hiện những nghiên cứu của riêng mình, đặc biệt là những nơi có năng suất đất và lao động thấp. Khi những khu vực này đạt tốc độ tăng trưởng TFP hàng năm khoảng 2% đã thực sự tạo ra sự thay đổi tầm mức toàn cầu. Điều kỳ diệu nằm ở chỗ là tốc độ tăng trưởng hàng năm 1% sẽ tăng gấp đôi sản lượng trong 70 năm; tốc độ 2% sẽ tăng gấp đôi sản lượng trong 35 năm. Cải tiến của những nước đang phát triển để tăng sản lượng hàng năm chính là cách sử dụng tài nguyên, nên nếu họ đầu tư thêm tài nguyên thì mức tăng sản lượng có thể đạt hơn 3%/năm, nghĩa là tổng sản lượng sẽ tăng gấp đôi chỉ sau 23 năm.

Những điển hình phát triển là Trung Quốc, Brazil, Đông Nam Á, châu Mỹ La Tinh, Đông Âu v.v. Chỉ có vùng hạ Sahara của châu Phi là thất bại khi một số phân tích cho thấy đâu tư đất đai, lao động, vốn chỉ tăng khoảng 1% mỗi năm.

Tay làm hàm nhai

Đặc điểm nổi bật của những nước thành công nhất là gì? Có nhiều yếu tố nhưng rõ nhất là hai điểm: những viện nghiên cứu quốc gia và chính sách khích lệ, tăng cường mạnh mẽ khả năng tiếp cận thị trường của nông dân.

Tiến bộ nông nghiệp không như những lĩnh vực khác. Một chiếc xe “lai” có thể xuất xưởng ở Nhật và ngay sau đó chạy trên đường phố ở Hà Nội, nhưng những cải tiến nông nghiệp thì phải được “đóng ni, đo giày” theo từng người sử dụng. Cây trồng phải được lai tạo riêng cho từng vùng khí hậu, chiều dài ngày, loại đất trồng cũng như khả năng kháng sâu bệnh địa phương. Đó là lý do tại sao những nước đang phát triển đang nghiêm túc thực hiện những nghiên cứu nông nghiệp của chính mình.

Công nghệ nông nghiệp không giống với những ngành khác là cần phải đi trước thiên nhiên một bước. Côn trùng gây hại cây trồng và bệnh vật nuôi tiến hóa rất nhanh về khả năng kháng lại bất kỳ biện pháp kiểm soát nào của con người. Giờ đây không chỉ côn trùng gây hại đang thay đổi mà cả chính khí hậu cũng vậy. Điều này thực sự đe dọa nông nghiệp, đặc biệt là sau 2050 nếu mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu không bị khống chế. Việc nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp nông dân thích ứng với những thay đổi không chỉ về mặt cải tiến mà còn cả việc giữ được năng suất.

Lo lắng nhưng lạc quan

Những vùng đang tụt hậu so với các tiến bộ nông nghiệp như hạ Sahara châu Phi có thể học theo gương như của Brazil và Trung Quốc để khai thác kiến thức chuyên môn quốc tế, đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu của địa phương, thực hiện những cải cách quan trọng về chính sách và định chế, nhờ đó đẩy mạnh tức thời năng suất nông nghiệp.

Không có cải tiến nào về chế tạo, dược phẩm, dịch vụ, truyền thông hay giao thông có thể mang lại điều tốt đẹp là cuộc sống ấm no hơn cho hơn một nửa dân số thế giới lạc hậu thông qua việc tăng năng suất nông nghiệp, chúng ta cần luôn nhớ điều này.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Sản lượng của các giống cây trồng nông nghiệp mới vẫn đang tiếp tục gia tăng

Sản lượng của các giống cây trồng nông nghiệp mới vẫn đang tiếp tục gia tăng
K.P. - Mard, Theo Sciencedaily

 

Nghiên cứu về giống lúa mì đông, lúa mạch xuân, khoai tây trồng lấy tinh bột và củ cải đường đã được các công ty giống cây trồng khởi xướng ở Hà Lan từ năm 1980 đến năm 2010 cho thấy các giống cây trồng mới đang tiếp tục cho sản lượng nhiều hơn các giống tổ tiên của chúng.

 

Bất chấp những quan ngại gần đây cho rằng các giống cây trồng chủ lực tại các vùng có năng suất cao đã đạt mức sản xuất tối đa, sự gia tăng năng suất tiềm tàng của các giống cây mới vẫn chưa chững lại. Thực tế là việc lai tạo giống cây trồng vẫn có thể dẫn đến sự gia tăng về sản lượng đã được các nghiên cứu tại trường Đại học Wageningen chứng minh.

Các doanh nghiệp, chuyên gia tư vấn và các nhà khoa học đôi khi cũng tự hỏi liệu các nhà nhân giống cây trồng có thể làm tăng thêm nữa năng suất các loại cây trồng hiện nay như lúa mì đông và khoai tây hay không. Ngày càng có nhiều bài báo được đăng tải trên các bài điểm báo quốc tế cho rằng, sản lượng hầu như không tăng tại các quốc gia đã từng có năng suất cao. Quan điểm chiếm ưu thế là cây trồng không thể tiếp tục phát triển thêm nữa khi chúng đã phát triển tới mức tối đa, rõ ràng là phải đạt được một mức trần sản lượng. Các nhà khoa học tại trường Đại học Wageningen đã quyết định nghiên cứu sâu hơn vấn đề này.

Năng suất cây trồng phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, đất, khí hậu và chăm sóc, quản lý cây trồng. Các nhà khoa học đã phân tích các thử nghiệm chính thức trên các giống đã được thực hiện từ năm 1980 đến năm 2010. Một kỹ thuật thống kê cho phép họ tách ảnh hưởng của thời tiết, nồng độ CO2 và quản lý cây trồng khỏi ảnh hưởng của việc đưa ra các giống mới. Điều này cho thấy rằng, các giống mới được đưa ra từ năm 1980 đến 2010 trung bình đều có sản lượng cao hơn các giống cũ. Điều này được áp dụng đối với lúa mì đông, lúa mạch xuân, khoai tây trồng lấy tinh bột, củ cải đường, cũng như ở phạm vi hẹp hơn, để áp dụng với khoai tây hàng hóa. Trong giai đoạn được xem xét, năng suất của các giống lúa mì đông và lúa mạch xuân xuất hiện trên thị trường lần đầu tiên đã tăng khoảng 1% mỗi năm.

Nhân giống cây trồng vẫn đảm bảo một sự gia tăng tối đa về năng suất. Nhưng sản lượng thực tế của người nông dân đạt được trong một số trường hợp có vẻ tăng chậm hơn hoặc thậm chí chững lại. Nói cách khác, sẽ khó khăn hơn để khai thác đầy đủ tiềm năng của các giống mới. Điều này có nghĩa rằng, cái được gọi là khoảng cách năng suất giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế đang gia tăng. Vấn đề còn lại là liệu điều này có phải do thay đổi khí hậu, chất lượng đất, thay đổi quản lý cây trồng hay không, hay là do kết hợp của những yếu tố này.

Nông nghiệp trước ngưỡng cửa TPP

Nông nghiệp trước ngưỡng cửa TPP

Chúng ta đang nỗ lực thực hiện nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP, đặc biệt là với Hoa Kỳ, nước có vai trò chi phối nhiều mặt trong các nước thành viên sau này.

Đây là một trong những hiệp định đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế thương mại nói chung, trong đó có ngành nông nghiệp vốn là thế mạnh của chúng ta nhưng lại chưa phát triển bền vững.
Chế biến hạt điều xuất khẩu

Các tài liệu liên quan đến lịch trình đàm phán cho thấy trong năm này, trao đổi thương mại nông nghiệp hai chiều giữa Mỹ với mười quốc gia TPP khác đạt mốc 94 tỉ USD, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông nghiệp của Hoa Kỳ với thế giới. Trong đó, xuất khẩu nông nghiệp Hoa Kỳ vào 10 nước đối tác TPP đạt hơn 45 tỉ USD, tương đương 32% tổng lượng xuất khẩu Hoa Kỳ trên toàn thế giới.

Mặt khác, Hoa Kỳ cũng là một thị trường lớn. Các đối tác TPP cũng là nguồn cung cấp quan trọng các sản phẩm nhập khẩu nông sản vào Hoa Kỳ với kim ngạch xuất khẩu chiếm đến 47% nhập khẩu của Mỹ.
 
Một trong những vấn đề cơ bản quan trọng nhất trong việc tham gia TPP chính là việc chuẩn bị hạ tầng, kỹ thuật và khả năng quản lý trong nông nghiệp. 

 Bên cạnh đó, cạnh tranh gay gắt khi tham gia TPP cũng buộc Việt Namphải có những thay đổi tích cực để sản phẩm nông nghiệp ViệtNamcó chỗ đứng. Những cải cách đó bắt nguồn từ khâu cung ứng: cải cách phương thức sản xuất, công nghệ, bảo quản, tăng chất lượng; đến khâu xuất khẩu: phương thức tiếp thị, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tăng cường sản phẩm mới…

 Như vậy, nếu được gia nhập một sân chơi tập trung nhiều nước phát triển cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Singapore… đó sẽ là cơ hội lớn cho cải cách nông nghiệp Việt Nam. Đồng thời, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng có điều kiện tiếp cận thị trường chất lượng cao trong phân khúc thị trường thế giới, giúp nông nghiệp Việt Nam thoát khỏi hình ảnh “nông nghiệp giá rẻ”.

 Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, TPP có thể giúp thúc đẩy đầu tư của các nước trong khối vào Việt Nam, đặc biệt trong một số lĩnh vực Việt Nam mong muốn, trong đó có mục tiêu nâng cao trình độ của lĩnh vực nông nghiệp, tạo khả năng cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị trong khu vực và trên toàn cầu.

 Các nước châu Á – Thái Bình Dương nói chung là thị trường quan trọng của Việt Nam. Hai trong ba nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ và Nhật Bản, TPP sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các nước này cũng như các thành viên khác của TPP nhờ những cam kết mở cửa thị trường mạnh hơn.

 Tuy các nền kinh tế tham gia đàm phán TPP (Australia, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, Việt Nam và Nhật Bản) có sự phát triển không đồng đều, nhưng rõ ràng Việt Nam là một nước có thế mạnh trong nông nghiệp, điều kiện thiên nhiên thuận lợi, đại bộ phận người dân sống ở nông thôn gắn bó có tính truyền thống với sản xuất nông nghiệp.

 So sánh năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam và các nước tham gia đàm phán TPP thì chúng ta có thế mạnh trong xuất khẩu các sản phẩm của ngành trồng trọt. Trong các nước tham gia TPP, Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt và đối với chúng ta việc đàm phán với nước này có tính quyết định hơn cả.

 Theo ghi nhận của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Mỹ là đối tác lớn nhất của chúng ta trong khối TPP và cũng là thị trường xuất khẩu hàng nông sản lớn nhất. Việt Nam là một trong 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất sang Mỹ với các sản phẩm như cà phê, điều, tiêu, gạo và chè. Năm 2012, Mỹ là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, đạt 203,5 nghìn tấn, kim ngạch xấp xỉ 460 triệu USD.

 Theo số liệu mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm tháng đầu năm 2013, khối lượng xuất khẩu cà phê vào Mỹ đạt 101,7 ngàn tấn, giá trị đạt 235,42 triệu USD, tăng 30,1% về lượng và 24,7% về giá trị so với cùng kỳ.

 Trong các nước tham gia đàm phán thì Nhật Bản là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về ngũ cốc, hạt có dầu và chăn nuôi; và Nhật Bản là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ ba của Việt Nam trong TPP với các mặt hàng nông sản như cà phê, rau quả….

 Một số nước khác như Australia, Mexico cũng là những thị trường xuất khẩu nông sản lớn của Việt Nam trong khối TPP với các mặt hàng như điều, gạo, cà phê, hạt tiêu, rau quả…

 Về nhập khẩu của Việt Nam trong TPP, Australia là thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam với các sản phẩm lúa mì, bông, rau quả, sữa và sản phẩm từ sữa. Mỹ là thị trường nhập khẩu nông sản và nguyên liệu đầu vào lớn thứ hai của Việt Nam với các sản phẩm như bông, thức ăn gia súc, sữa, lúa mì, rau quả.

 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương có thể mang lại cho chúng ta thuận lợi trong một số lĩnh vực nông nghiệp này đồng thời cũng có thể tạo ra thách thức trong vài lĩnh vực nông nghiệp khác. Ngành có cơ hội hưởng lợi lớn nhất là ngành trồng trọt, nhất là lúa gạo.

 Thái Lan không tham gia đàm phán TPP, nên sẽ tăng cơ hội xuất khẩu gạo của Việt Nam vào TPP, nhất là thị trường Nhật Bản (nhu cầu nhập khẩu gạo của Nhật Bản đứng thứ 3 trong TPP). Đồng thời, đa số các thành viên TPP là các nước phát triển, nên đây cũng là thị trường tiềm năng cho hàng nông sản chất lượng cao, nhất là gạo chất lượng cao.

 Ngành gặp khó khăn lớn nhất là ngành chăn nuôi. Mỹ, Úc, Canada, New Zealand,… xuất khẩu ròng sản phẩm chăn nuôi, trong khi sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chất lượng chưa cao, hàng rào kỹ thuật của Việt Nam thấp. Do vậy, Nhà nước cần hỗ trợ để bảo vệ ngành này trước những thách thức mới, cũng như nâng dần năng lực cạnh tranh cho ngành.

 Mặt trái của TPP đối với nông nghiệp Việt Nam không phải là ít. Nông nghiệp Hoa Kỳ là một ngành có khả năng thâm nhập mạnh vào bất cứ thị trường nào nhờ chất lượng sản phẩm mang tính ưu việt, đồng thời cũng có khả năng phòng thủ rất tốt trước nông sản các nước. Cùng các rào cản kỹ thuật đặt ra khá khắc nghiệt, Hoa Kỳ hoàn toàn có thể duy trì và bảo vệ nền nông nghiệp quốc gia trước những thách thức về nhập khẩu.

 Đây chính là điều chúng ta phải đối phó để tránh thiệt hại cho nông dân. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước khác cũng đứng trước thách thức này. Như Nhật Bản chẳng hạn, trước khi tham gia vòng đàm phán gia nhập TPP, chính phủ nước này phải xem xét phương thức bồi hoàn thiệt hại cho nông dân. Những thâm hụt sản xuất trong ngành nông nghiệp – vốn được bảo hộ nhờ thuế nhập khẩu nông sản cao – sẽ là rất lớn, do TPP đã xóa thuế quan các mặt hàng nông nghiệp nhập khẩu.

 Tất nhiên trình độ phát triển của chúng ta không thể làm như Nhật mà phải kêu gọi, thu hút sự hỗ trợ và đầu tư của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, để giải quyết nhanh các vấn đề hạ tầng, kỹ thuật, quản lý. Muốn thế, chính sách thu hút đầu tư, thiện chí trong cải cách mở cửa phải được thực hiện mạnh mẽ và triệt để hơn nữa.

 Tuy vậy chỉ chừng ấy cũng chưa đủ và có thể bị lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, mà tự lực cánh sinh là bài toán phải tính đến. Cụ thể là chính sách cải cách nông nghiệp từ khâu ruộng đất, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, công nghệ, phương thức sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, tiếp cận thị trường đầu ra… phải được thực hiện nhằm tạo thế mạnh, sức chịu đựng và khả năng đối phó với sự xâm nhập của nông sản các nước trên thị trường nội địa.

 Những vấn đề đặt ra trên đây là chuyện lâu dài, còn trước mắt, trong giai đoạn đàm phán chúng ta phải lựa chọn thái độ nào đấy để thuyết phục được các đối tác.

 Theo cam kết TPP, Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước, tức phải loại bỏ 100% dòng thuế (thuế quan nhập khẩu) đối với các sản phẩm nông nghiệp, đồng thời các nước tham gia TPP cũng phải mở cửa cho nông sản Việt Nam.

 Hiện nay, các nước tham gia TPP đều có xu hướng đàm phán hạn chế, giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa. Cụ thể, với thị trường xuất khẩu, rào cản kỹ thuật của các nước sẽ khắt khe hơn, trong khi năng lực cạnh tranh của Việt Nam không cao nên khó tận dụng lợi ích từ việc giảm thuế quan.

 Về thị trường nội địa, do nền nông nghiệp nước ta lạc hậu, thu nhập không cao và nông dân là nhóm dễ bị tổn thương trong hội nhập, nên cần bảo hộ một số lĩnh vực nhất định trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Đáng nói là rào cản kỹ thuật lĩnh vực này của chúng ta chưa có hoặc không cao nên thị trường nội địa sẽ gặp bất lợi.

 Trong khi đó, hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) rất quan trọng đối với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt Nam.

 Tại sao vậy? Bởi dù thuế quan được cắt bỏ nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao gói… vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí rủi ro hơn nhiều hơn so với thuế quan.

 Để đưa ra những đề xuất thích hợp trong xây dựng phương án bảo vệ ngành nông nghiệp, nước ta cần có đánh giá đầy đủ về tương quan năng lực cạnh tranh của ngành này với các đối tác TPP, đặt trong bối cảnh các cam kết mở cửa thương mại hiện có của Việt Nam với các nước này.

 Và cũng đừng quên các quỵ định về sở hữu trí tuệ được bảo hộ chỉ dẫn địa lý cũng rất quan trọng mà nếu chậm chân từ bây giờ thì sau này nhiều nông sản của chúng ta như vải thiều Thanh Hà, thanh long Phan Rang, cam Vinh, cà phê Đắk Lắk… sẽ gặp khó khăn vào thị trường TPP nếu có ai đó nhanh chân đăng ký trước tên gọi.

Diễn biến đàm phán TPP từ 2009 đến nay

- Vòng đàm phán 1 và 2: Có tám nước tham gia: Australia, Mỹ, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Peru và Việt Nam.
- Vòng thứ 3 đến 14: Có chín nước tham gia, với thành viên mới là Malaysia. Từ sau vòng 3, Việt Nam chính thức là thành viên đầy đủ (trước đó chỉ là thành viên liên kết).
- Vòng thứ 15 và 16: Có 11 nước tham gia, với hai thành viên mới là Mexico và Canada.
- Vòng thứ 17: Có 12 nước tham gia với thành viên mới là Nhật Bản.
- Vòng thứ 18: Diễn ra tại Malaysia từ 14 đến 25-7-2013.

Nội dung đàm phán:

(1) Cạnh tranh, (2) Hợp tác và xây dựng năng lực, (3) Dịch vụ xuyên biên giới, (4) Hải quan, (5) Thương mại điện tử, (6) Môi trường, (7) Dịch vụ tài chính, (8) Mua sắm chính phủ, (9) Sở hữu trí tuệ, (10) Đầu tư, (11) Lao động, (12) Các vấn đề pháp lý, (13) Thương mại hàng hóa, (14) Thương mại dịch vụ.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Giải thưởng Food Prize 2013 thế giới hướng về cây chuyển gen

Ba nhà khoa học có công trong giống cây trồng GM nhận được giải thưởng FOOD PRIZE thế giới

Ba nhà khoa học thuộc lĩnh vực agri-biotechnology đã được tặng giải thưởng cao quý WFP 2013 (World Food Prize).

Đầu tiên là GS TS Marc Van Montagu, Founde nhà sáng lập và Chủ tịch IPBO (Institute of Plant Biotechnology Outreach), Ghent, Belgium. Công trình khoa học nổi bật của ông về bệnh “crown gall” một trong những khám phá vi khuẩn gây khối u cho thực vật sống trong đất (Agrobacterium tumefaciens) mang phân tử cấu trúc vòng đáng dấu DNA được biết với thuật ngữ "Ti plasmid". Người thứ hai là Bà Mary-Del Chilton, nhận giải thưởng WFP 2013, đã chứng minh được một phần của plasmid này được sao bản và chuyển vào genome của tế bào thực vật bị vi khuẩn tấn công.

Mary-Del Chilton, Nhà sáng lập và nhà nghiên cứu của công ty Syngenta Biotechnology, nhóm nghiên cứu của Bà đã tìm ra cơ chế của vi khuẩn Agrobacterium, Bà đã sử dụng cơ chế ấy để tạo ra được cây thuốc lá biến đổi gen đầu tiên. Công trình khoa học của Bà cung cấp cho loài người chứng cứ rằng genome cây trồng có thể được cải biên với mức độ chính xác theo như mong muốn so với cải tiến giống theo phương pháp truyền thống.

Người thứ ba là TS Robert T. Fraley, Phó Chủ Tịch điều hành và Trưởng cơ quan kỹ thuật của Monsanto. Nhóm nghiên cứu của Fraley sản xuất được những cây transgenic đầu tien thông qua chuyển nạp gen nhờ vi khuẩn Agrobacterium. Fraley đã được xem như một nhân vật chính của giống đậu nành GE kháng thuốc cỏ. Ông đặc biệt đã mang lại giống cây trồng GM cho những người nông dân sản xuất qui mô nhỏ.

 Xem chi tiết http://www.w  orldfoodprize.org/en/laureates/2013_laureates/

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

Mỗi năm thế giới đang lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực, tương đương với một phần ba sản lượng thực phẩm toàn cầu, báo cáo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) cho hay.

Tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, lượng thực phẩm bị mất mát tương ứng với 670 và 630 triệu tấn, ước tính thiệt hại lần lượt tương đương với 680 tỷ và 310 tỷ USD.

Người dân Australia lãng phí hơn 4 triệu tấn lương thực mỗi năm, trung bình gần 1 tấn trên mỗi hộ gia đình. Mỹ sản xuất 180 triệu tấn thực phẩm hàng năm và khoảng 50 triệu tấn, nghĩa là gần 1/3 phải bỏ đi.

Các hộ gia đình Anh lang phí khoảng 6,7 triệu tấn lương thực mỗi năm. Điều này có nghĩa là khoảng 32% tổng lượng lương thực được mua mỗi năm không được dùng tới 

Trong khi đó, báo cáo của FAO cũng cho biết, cả thế giới đang phải đấu tranh để cung cấp đủ lương thực cho 7 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 9 tỷ trong năm 2050. Hiện tại, cứ 7 người thì có 1 người đói và hơn 20 ngàn trẻ em dưới 5 tuổi chết vì đói mỗi ngày.

Việc lãng phí lương thực do đó là lãng phí tài nguyên thiên nhiên và gây ra những tác động xấu về môi trường. Hơn nữa, việc lãng phí này còn là vấn đề về mặt đạo đức.

Chính vì những lý do trên, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã quyết định chọn chủ đề “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm” (Think.Eat.Save) làm chủ đề cho Ngày Môi trường thế giới năm nay với mục đích khuyến khích mọi người trên toàn thế giới chú ý hơn đến những ảnh hưởng tới môi trường từ việc lựa chọn thực phẩm, tránh lãng phí và lựa chọn những loại thực phẩm ít tác động tới môi trường. Chủ đề này cũng sẽ là một chiến dịch toàn cầu nhằm chống lại sự lãng phí thực phẩm trên toàn thế giới.
 
“Để hướng tới một tương lai bền vững, chúng ta cần thay đổi phương thức sản xuất và tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, chúng tôi kêu gọi mọi người trên toàn thế giới cùng nỗ lực để nâng cao nhận thức và hành động thực tế ở gia đình, trên trang trại, trong các siêu thị, ở căng tin, trong khách sạn hoặc bất cứ nơi nào thực phẩm được tiêu thụ hằng ngày trong cuộc sống”, ông Achim Steiner, Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kiêm Giám đốc điều hành UNEP khẳng định.

Các hoạt động quốc tế hưởng ứng sự kiện Ngày Môi trường thế giới 2013 sẽ được tổ chức tại Mông Cổ, một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Tại Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và UBNN tỉnh Thừa Thiên – Huế sẽ phố hợp tổ chức nhiều hoạt động khác nhau nhằm hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2013 từ ngày 4-5/6/2013.

Các hoạt động chính sẽ được tổ chức bao gồm: Hội nghị tổng kết xây dựng và nhân rộng mô hình điểm khu dân cư bảo vệ môi trường, trao đổi kinh nghiệm xây dựng môi hình du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường, triển lãm tranh ảnh, các cuộc thi về môi trường,…

Lễ mít tinh quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới sẽ được tổ chức tại Nghinh Lương Đình bên bờ sông Hương, thành phố Huế vào sáng ngày 5/6. Tại đây, cũng sẽ diễn ra Lễ trao Giải thưởng môi trường Việt Nam năm 2013. Thông tin từ Bộ TN&MT cũng cho biết, cho tới thời điểm hiện tại, việc chấm giải cho các cá nhân tổ chức đã hoàn tất.

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Các chiến lược bảo tồn hệ sinh thái tại Mỹ và Canada

Các chiến lược bảo tồn hệ sinh thái tại Mỹ và Canad
TN - Mard, Theo phys.org

Một báo cáo mới từ Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã Canada (WCS Canada) đã đưa ra một chiến lược bảo tồn nhằm thúc đẩy khả năng phục hồi động vật hoang dã ở khu vực Nam Rockies Canada dưới tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai. Báo cáo tập trung vào các loài mang tính biểu tượng cho khu vực đó là loài cá hồi, gấu xám Bắc Mỹ, chồn gulô, dê núi và loài cừu hoang, các loài được xếp vào danh sách các loài dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
 
Nằm giữa khu Công viên quốc gia Glacier ở Montana và Vườn Quốc gia Banff ở Canada, khu vực Nam Rockies Canada (SCR) có cảnh quan ngoạn mục, là môi trường sống của một trong những cộng đồng đa dạng nhất của các động vật ăn thịt và động vật có vú ở Bắc Mỹ. Trong bản báo cáo mang tựa đề Môi trường sống an toàn cho các loài cá và các loài động vật hoang dã dễ bị tổn thương, các nhà khoa học lưu ý các loài động vật hoang dã cần có môi trường sống để thích nghi với những tác động của biến đổi khí hậu.

Những đường cao tốc chính tại khu vực này đang làm phức tạp thêm những hiệu ứng chuyển tiếp liên quan đến khí hậu và việc mở rộng mạng lưới các con đường rừng khiến cảnh quan tại khu vực bị phân mảnh. Việc cung cấp nơi trú ẩn an toàn trong môi trường sống an toàn và đa dạng và lối đi an toàn trên đường cao tốc cho các loài vật được coi là các chiến lược thông minh. Các nhà khoa học đã tiến hành đánh giá 16.978 km2 (6632 dặm vuông) cảnh quan tại đây nhằm đưa ra các giải pháp bảo tồn dựa trên nhu cầu của các loài dễ bị tổn thương.
 
Nhiệt độ mùa đông ấm hơn do biến đổi khí hậu sẽ làm giảm lượng tuyết bao phủ núi và giảm môi trường sống thích hợp cho loài chồn gulô thuộc diện quý hiếm, một loài vốn thích nghi với thời gian tuyết rơi kéo dài. Việc giảm dòng chảy và nhiệt độ dòng nước ấm hơn sẽ làm giảm môi trường sống của loài cá hồi, loài cá bản địa vốn thích nghi tốt với vùng nước lạnh.

Các nhà khoa học đề nghị một danh mục đất cần được đầu tư bảo tồn bao gồm khu vực Quản lý động vật hoang dã (WMA) tại nam Rockies, Canada nơi có thể bảo tồn 66% môi trường sống quan trọng. Các lưu vực sông Flathead xuyên biên giới Mỹ và Canada tiếp giáp với hồ Waterton cũng cần được quan tâm bảo tồn do sự đa dạng sinh học của khu vực này rất đáng chú ý. Việc xác định nơi trú ẩn an toàn không chỉ quan trọng đối với các loài động vật hoang dã hiện tại mà còn giúp tạo địa hình đa dạng cho các loài động vật trong tương lai. Báo cáo lập bản đồ chín địa điểm phù hợp qua dọc theo quốc lộ tại British Columbia và 16 đèo núi cung cấp sự kết nối động vật hoang dã quan trọng giữa Alberta và British Columbia. Báo cáo này sẽ là tư liệu hữu ích giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định về đất đai và quản lý tài nguyên tại khu vực nam Rockies Canada và Montana.


FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nhật Bản khai thác khí đốt tự nhiên từ băng cháy

Nhật Bản khai thác khí đốt tự nhiên từ băng cháy
Theo Vietnam+

Ngày 12/3, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho biết nước này đã chiết xuất khí đốt tự nhiên từ nguồn năng lượng mới có tên methane hydrate (hay còn gọi là băng cháy) ở đáy biển Thái Bình Dương, ngoài khơi miền Trung Nhật Bản.

Đây là trường hợp đầu tiên trên thế giới khai thác khí đốt từ một nguồn năng lượng như vậy.

Một quan chức thuộc bộ trên cho biết một lượng nhất định khí metal đã được sản xuất vào lúc 9 giờ (giờ địa phương).

Nếu nguồn khí đốt này được khai thác ổn định trong khoảng hai tuần thử nghiệm tại vùng nước cách bán đảo Atsumi, tỉnh Aichi 80km về phía Nam, đây sẽ là "một bước tiến lớn" hướng tới sự phát triển mang tính thương mại một nguồn tài nguyên trong tương lai.

Công việc chuẩn bị cho dự án khai thác này đã được một tổ hợp do Tập đoàn Dầu khí và Kim loại quốc gia Nhật Bản đứng đầu tiến hành hồi tháng 2/2012.

Theo dự án khai thác, tổ hợp này đã dùng phương pháp làm giảm áp suất của những địa tầng ở đáy biển có chứa khí methane hydrate để loại bỏ những chất rắn và thu được khí metal - thành phần chủ chốt của khí đốt tự nhiên.

Methane hydrate cấu tạo từ khí mêtan được nén chặt trong băng bên dưới đáy biển hoặc đóng băng vĩnh viễn, được xem như là một nguồn năng lượng mới đầy hứa hẹn.

Nguồn năng lượng mới này nằm trên một diện rộng ở đáy biển bao quanh Nhật Bản, với trữ lượng ước tính đủ để phục vụ nhu cầu tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Nhật Bản trong khoảng 100 năm.

Người ta hy vọng vào việc phát triển nguồn khí đốt này bởi Nhật Bản có rất ít nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, việc giảm chi phí trong việc khai thác như khoan giếng ở đáy biển.... vẫn là một thách thức đối với Nhật Bản

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY  

Nigeria xây trường học nổi

Nigeria xây trường học nổi
Theo Báo Tin Tức

Khi mực nước biển toàn cầu ngày càng cao và lụt lội ngày càng xảy ra nhiều, các kiến trúc sư đang hướng tới xây dựng các công trình trên mặt nước. Trường học nổi ở Makoko, Nigieria là một dự án như thế.

Từ lâu, người dân sống ở Makoko thuộc thành phố Lagos đã xây nhà nổi để sinh sống, buôn bán. Nhưng khu vực này chỉ có một trường tiểu học nên sáng kiến về trường học nổi được người dân nhiệt liệt hưởng ứng.

Trường học nổi thực ra là một công trình lắp ghép hình tam giác của NLE – một cơ quan có sứ mệnh thay đổi kiến trúc ở những thành phố đang phát triển.

Tòa nhà nổi 3 tầng này sẽ đứng trên mặt nước nhờ một hệ thống sàn làm từ 256 thùng nhựa. Tường và trần chủ yếu làm từ gỗ và trường học được thắp sáng bằng các tấm năng lượng mặt trời.

Trường học có đủ chỗ cho 100 học sinh và thậm chí còn có sân chơi và không gian trồng cây.

Theo kiến trúc sư Kunle Adeyemi thuộc NLE, sử dụng công trình nổi có nghĩa là không phải phụ thuộc vào nền đất vì nền đất quanh Makoko rất yếu.

Ông Kunle cho biết, do mực nước ở đây thay đổi thường xuyên nên họ muốn một thiết kế phù hợp với điều kiện này.

Ông Kunle hi vọng thiết kế của ông sẽ đi tiên phong trong quá trình phát triển bền vững ở Lagos và ông có tham vọng thay thế toàn bộ khu ổ chuột Makoko bằng một thành phố nổi.

Theo báo cáo tiến độ dự án, trường học nổi sẽ hoàn tất vào cuối tháng 3 này. Còn các ngôi nhà nổi sẽ được xây xong vào cuối tháng 9 và đến năm 2014, dự án cộng đồng nổi Lagos sẽ hoàn thành.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam