Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Học Mỗi Ngày

Tôi yêu đất nước tôi

Tôi yêu đất nước tôi

Alan Phan

 

“Đất nước tôi nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình…

Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui …

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi!”

 

Tôi nhớ năm lên 12 hay 13 gì đó, tôi chui lỗ chó vào rạp Quốc Tế, đường Trần Hưng Đạo bây giờ, để coi “cọp” một chương trình đại nhạc hội Tết rất hoành tráng. Tôi đã quên chi tiết của các màn trình diễn hay tên nghệ sĩ, chỉ còn nhớ điều duy nhất là một bài hát nghe lần đầu. Bài “Tình Ca” của Phạm Duy do Thái Thanh hát. Tôi bị cuốn hút ngay từ câu đầu…”Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời…” Cho đến giờ này, hơn 50 năm sau, tiếng hát vẫn quyện tròn quanh tôi trong những đêm về sáng.

 

Tuổi thơ Việt Nam

 

Thực ra, khi tôi sinh ra, không phải là giọng ru con êm đềm của Mẹ mỗi đêm mà là tiếng đại bác và bom đạn vọng về thường trực. Chiến tranh bùng nổ khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương năm 1945 và gia đình tôi phải chạy giặc liên tục. Một ký ức Mẹ thường kể lại là có đêm tôi bị lên “bẹn” khóc suốt buổi và các gia đình cùng chạy giặc phài bịt mũi tôi để giữ im lặng trong căn hầm trú ẩn. Đôi khi giặc sục sạo trên đầu và Mẹ cứ lo là tôi đã bị ngạt thở chết rồi. Có lẽ nó cũng giải thích lý do là tại sao trong suốt 40 năm đầu của cuộc đời, tôi thường hốt hoảng giật mình tỉnh giấc giữa đêm như đang bị ai bóp họng.

 

Lớn lên, tôi cũng an hưởng một tuổi thơ tương đối êm đềm dù nghèo khổ. Một ký ức khác từ Mẹ là cho đến năm tôi lên 3 tuổi, Mẹ đi bán rong mỗi ngày. Quầy hàng nặng ở một đầu gánh và tôi vui cười ở đầu gánh khác để Mẹ đươc cân bằng. Đứa bạn thân duy nhất của tuổi thơ đó là một con khỉ nhỏ đi lạc vào nhà, cho đến ngày nó bứt dây xích và biến mất. Trong những ngày tiểu học, vì thiếu ăn và nhỏ con, tôi luôn bị các bạn đồng lớp bắt nạt và đánh đập. Có lẽ nhờ vậy, kỹ năng đánh lộn và phá phách của tôi cũng được trau dồi nâng cấp khá ấn tượng.

 

Những năm hạnh phúc

 

Gia đình tôi dọn về Saigon khoảng 1950. Ở cạnh vườn Tao Đàn bây giờ, tôi có chút khung xanh để đuổi hoa bắt bướm, để nghe tiếng ve sầu mỗi hè, để nhìn lá me bay khắp phố mỗi mùa mưa. Cái tuổi thơ đó chắc cũng không khác gì những tuổi thơ của triệu triệu đứa bé khác trên trái đất, nô đùa và vui cười hay khóc nhè mà không cần biết đến những nổi trôi của đất nước. Thế giới của chúng tôi quay nhẹ qua những trận đá dế, ném bi…những lần trốn học bị đòn nát đít, những lần được cha mẹ cho đi ngoại ô dã ngoại (ngoại ô đây là công viên ở sân bay Tân Sân Nhất hay ven sông Nhà Bè…).

 

Rồi tình yêu cũng đến rất sớm trong cái nhút nhát rụt rè của …”em tan trường về, đường mưa nho  nhỏ”. Quen nhau 3 năm, ngày tôi rời Việt Nam qua Mỹ khi lên 18, tôi chỉ mới dám nắm tay nàng. Nhưng đã có Trịnh Công Sơn, Nguyên Sa, Mai Thảo…nói thay tôi những lời yêu thương mật ngọt, đã có ngàn hè phố bóng cây giữ cho chúng tôi dấu ấn, đã có trăm ghế đá công viên nghe câu chuyện tình ngây ngô …

 

Những ngày ra biển lớn

 

Dù đẹp và thơ mộng, cái tuổi mới lớn đó cũng khác gì nhiều với những thiếu niên đã lớn lên ở Boston, Bogota hay Belgrade. Quê hương Việt Nam của tôi không phải là vườn địa đàng của tuổi trẻ hay là một chùm khế ngọt ngào đặc thù nào. Cho nên, với tuổi còn say mê khám phá những chân trời lạ, xứ Mỹ vừa gặp qua phong cảnh mênh mông, văn hóa đa dạng và nhịp sống năng động làm tôi mau chóng quên đi những êm đềm của quê hương, dù mỗi đêm trên đài truyền hình, thời sự về Việt Nam đã được phát sóng không ngừng.

 

Con người tôi thich ứng khá nhanh. Từ một cậu học trò nhút nhát ham học, tôi thành một sinh viên tự tin, nhưng ham chơi và lười biếng. Tôi sống như người Mỹ, học như người Mỹ và chơi như người Mỹ. Là người Việt duy nhất trong số 42,000 sinh viên của trường, tôi cũng không có nhiều lựa chọn. Hòa nhập vào cộng đồng mới với một tư duy mới và nhiều cuộc tình ngắn ngủi nhưng cháy bỏng, tôi quên đi các tà áo dài trắng e ấp ngày nào bên sân trường Duy Tân. Viêt Nam thật xa và ký ức mờ nhạt.

Cho đến một ngày đẹp trời nào đó, tôi nhận một lá thơ của Bộ Ngoại Giao Mỹ nhắc nhở anh đã tốt nghiệp đại học, chúng tôi sẽ ngưng gởi tiền học bổng. Anh cũng lo mà về phụng sự nước mình đi chứ. Tôi quăng lá thơ vào sọt rác, điện thoại bạn bè hỏi cách ở lại Mỹ, hợp pháp và bất hợp pháp, rồi tiếp tục mê mết trong một cuộc tình đang nhiều thú vị với hai cô đồng tính (lesbians).

 

Quê hương tìm đến

 

Vài ngày sau, chị Loan gõ cửa phòng. Em chị là Chí, người bạn nối khố từ nhỏ của tôi từ trường tiểu học đến khi đậu Tú Tài 2. Chị qua Mỹ tu nghiệp và đi xe buýt cả 10 tiếng để đến thăm tôi. Tôi hồn nhiên hỏi thăm về Chí. “Nó hy sinh ở chiến trường Bình Giả hai tháng trước rồi em.” Tôi lặng người. Chị kể thêm về anh Quang, người yêu sắp cưới của chị, cũng đã gục ngã ở Quảng Nam. ‘Em còn nhớ con Thu Anh?” Ai mà không nhớ, hoa khôi Trưng Vương, niềm yêu thầm nhớ trộm của cả nhóm học sinh Petrus Ký lẫn Chu Văn An. Chúng tôi cứ nghĩ là ông nhạc sĩ nào đặt bài “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” là để dành riêng cho nàng. “Con bé đi thăm chồng đóng quân ở Pleiku, khi về, xe bị trúng mìn, nó cũng chết rồi em ạ”. Sau một tiếng, tôi không nhớ được con số bạn bè đã ra đi hay tàn phế. Trên cả sự chết chóc là một nỗi niềm tuyệt vọng vô bờ của lớp người trẻ đã lớn lên cùng tôi.

 

Đêm đó mưa xuân, nhẹ nhưng rả rich cả đêm. Tôi và chị ngồi co ro ngoài hiên nghe hơi gió hú. Suốt đêm không ngủ, nhưng hai đứa cũng không nói lời nào. Cái thanh bình riêng biệt mà tôi tự tạo mấy năm qua để quên đi những quằn quại của quê hương ngàn dặm giờ đang bị chị Loan xô đẩy. Cái hạnh phúc bé nhỏ của thế giới mới tôi đang an hưởng đã bị gánh nặng của ký ức và thực tại đè chìm. Tôi đã sống như trong một cơn mơ. Và đến giờ phải tỉnh giấc.

 

Bài hát ngày xưa

 

Tháng sau, tôi rời bỏ công việc mới, người tình mới, căn nhà thuê mới…khăn gói về lại Việt Nam. Tôi hoàn toàn không có ảo tưởng hay tham vọng gì về tiền bạc hay quyền lực hay sự nghiệp. Tôi cũng chắc chắn là mình sẽ không thay đổi được điều gì, tốt hay xấu, cho đất nước. Tôi chỉ có cảm giác là mình “thuộc về đây”, mình về để chia sẻ với bạn bè, gia đình, các người trẻ khác những khó khăn, đắng cay, tủi nhục và đau thương của những người đã “sinh nhầm thế hệ”.

 

Trước Tết Mậu Thân 1968, tôi lại tình cờ vào phòng trà nghe nhạc. Lần thứ hai, Thái Thanh lại làm nước mắt tôi lại lưng tròng với bài Tình Ca …” bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu..vài ngàn năm… khóc cười theo mệnh nước nổi trôi… nên tôi yêu biết bao người…Lý, Lê, Trần và còn ai nữa…”.

Tôi tự nhủ, “bao giờ quê hương mình mới hết hát nhạc buồn?”.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Alan Phan và sự thất vọng hiện giờ

FOODCROPS. Tranh luận tri thức tích cực để giúp tháo gỡ những hạn chế về nhận thức mỗi người, không chỉ có ích cho xã hội, đất nước mà còn có ích học hỏi cho chính họ. Đúng hay sai vẫn để lại những bài học giá trị lâu dài. Tương lai sẽ có đáp án chính xác về tầm nhìn của mỗi người. Thất vọng không phải là đúng hay sai mà là một sự im lặng tuyệt đối  (Alan Phan, 2013). Áp đặt, mập mờ, soi mói và ích kỷ cá nhân, nhóm chỉ tự gây thiệt hại cho chính mình. Ởđây là lợi ích của ai!  Thế giới công nghệ thông tin, sẽ giúp lưu giữ lại những bài học giá trị này. 

Sự thất vọng hiện giờ
Alan Phan-Blog Alan

Tuần qua, những lùm xùm BDS quanh gói cứu trợ  bao quanh tôi ngay cả những khi mình không ở VN. Đó là thế mạnh của công nghệ thông tin trong nền kinh tế kiến thức.

Xin nói ngay là tôi KHÔNG thất vọng vì lá thư trả lời của mình cho Hiệp Hội BDS không làm 1,000 ông bà thành viên CHƯA THỎA MÃN. Sau khi đọc tít lớn trên báo Tuổi Trẻ, bà vợ đã chỉ mặt tôi bảo “người duy nhất ông phải ‘thỏa mãn’ là tôi. Còn các ông bà kia, họ phải để họ tự lo ‘thỏa mãn’. Ông không được cứu trợ hay kích cầu gì đó. ”.

Tôi cũng KHÔNG thất vọng vì các ông bà này đáp trả bằng cách soi mói đòi tư của mình. Ngay cả khi họ bóp méo sự thật bằng cách đăng lời cáo buộc của SEC mà giấu đi việc tôi thắng kiện SEC tại Tòa Chung Thẩm. Sau 15 năm điều hành 1 công ty đại chúng tại Mỹ với 16,000 cổ đông, tôi đã quá quen thuộc vớí những trò ném đá dấu tay này.

Sau cùng tôi KHÔNG thất vọng vì những dư luận viên bẻ cong ngòi bút. Tôi hiểu áp lực của cơm áo gạo tiền và an sinh.

Thực ra, tôi rất phấn khởi, vì dù chỉ là vô tình, những bài viết và lời nói của mình tạo nên một khả năng “tranh luận trí thức” sôi động, rất cần thiết cho sự phục hồi dân trí và việc tìm giải pháp cho những vấn nạn đang đè nặng trên xã hội và kinh tế xứ này.

Tôi không quan tâm lắm đến việc thắng thua hay sai trúng. Mọi góc nhìn cần được quảng bá và phân tích để mọi người từ nhà cầm quyền đến nhân viên quản lý đến người dân đóng thuế có một nhãn quan và tư duy mới mẻ, đa chiều. Dù cá nhân tôi có bị ném đá, bôi nhọ…nhưng nếu các chuyên gia trí thức khác có một diễn đàn tự do và cởi mở, tôi cho đó là một thắng lợi lớn cho thế hệ này. Không phải chỉ chuyện BDS hay chuyện nợ xấu ngân hàng, mà còn tất cả vấn đề giáo dục, y tế, văn hóa…Việt Nam đang trực diện.

Tôi đã thực sự hy vọng là các viện đại học sẽ nắm bắt cơ hội để các bậc trí thức cùng sinh viên và các tầng lớp tiêu dùng khác tham gia và đóng góp cho kiến thức chung.

Nhưng tôi đã thất vọng. Phản ứng từ các tháp ngà…chỉ là một sự im lặng tuyệt đối.

Cá nhân tôi không có gì để được hay mất trong chuyện lùm xùm này. Tôi đang nghỉ dưỡng ở đây và thanh bình trong nội tại. Tôi yêu quê hương và mong đất nước này thăng hoa theo đúng tiềm năng của dân tộc. Có lẽ đó sẽ là một thất vọng khác. Nhưng đây không phải là đấu trường hay thương trường của tôi. Vài tháng nữa, nhu cầu kinh doanh và đam mê sẽ kéo tôi đi về một hướng khác, một nơi khác.

Chỉ xin ơn trên phù hộ và bảo trọng cho những người ở lại…

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Chuyện làng

Chuyện làng
Dong Ngan 23/1/2010

alt 

Có một lần ngồi trò chuyện lan man về văn hóa làng, tôi được một cụ trong thôn kể cho câu chuyện Bắc Ninh tứ vật , tóm tắt lại đó là: ”Vật giao Phù Lưu hữu/ Vật thú Đình Bảng thê/ Vật ẩm Đồng Kị thủy/ Vật thực Cẩm Giang kê”, có nghĩa là: Không kết bạn với người Phù Lưu/ không lấy vợ người Đình Bảng/ Không uống nước làng Đồng Kị/ Không ăn thịt gà của người Cẩm Giang. Bốn nơi này là bốn làng cổ của đất Kinh Bắc.

 Câu chuyện bốn không này đề cập những địa danh cụ thể, và nói đến mặt khuất của cuộc sống chưa thấy đề cập ở sách báo nào. Có lẽ người ta e ngại nếu thành văn tự sẽ gây nhiều phiền toái cãi vã mất lòng, mà chỉ có lưu truyền trong dân gian. Câu chuyện trên là thế này:

 Câu thứ nhất, Vật giao Phù Lưu hữu ( không kết bạn với người Phù Lưu) vì người Phù Lưu bị cho rằng có cách sống đãi bôi. Khách đến chơi không được mời vào nhà, chủ nhà cứ đứng chắn trước cửa hết chuyện nọ chuyên kia như rất thân tình nhưng không mời vào nhà, khi khách quay lưng ra về thì lại chèo kéo rất thân thiết: hôm nào bác lại chơi ạ. Hoặc khách đến nhà quá trưa đói meo nhưng mặc kệ. Đến khi khách nhổm đít đứng dậy thì lại đãi bôi: hay là để em nấu cơm bác ăn.

 Câu thứ hai : Vật thú Đình Bảng thê (không lấy vợ người Đình Bảng) vì hai lẽ: con gái Đình Bảng tháo vát, có nghề đi chợ buôn chuyến rất giỏi, nên thường làm chủ về kinh tế, có vị thế ở trong nhà, không dễ gì để cho ông chồng lên mặt, điều đó rất kị với thói gia trưởng của dân Kinh Bắc. Còn điều thứ hai mới quan trọng: đi buôn chuyến thì phải ăn đường nằm chợ dễ chung chạ với giai. Nên tốt nhất là tránh xa gái Đình Bảng.

 Câu thứ ba : Vật ẩm Đồng Kỵ thủy ( không uống nước Đồng Kỵ) vì người Đồng Kỵ xưa có nghề đi nhặt phân tươi, gọi là Kẻ cời (cời, tiếng cổ có nghĩa là cái gắp, cái kẹp thường làm bằng tre). Họ đem về trữ làm phân bón, nên môi trường bị ô nhiễm dễ làm bẩn nước ăn (là người thiên hạ nghĩ thế), nên cứ nói để cảnh báo cho mọi người cùng biết mà tránh.

 Câu thú tư : Vật thực Cẩm Giang kê ( không ăn thịt gà ở Cẩm Giang), theo giải thích thì người Cẩm Giang hay đãi khách bằng gà ăn trộm của hàng xóm, nên có khi vừa ăn lại phải vừa nghe chửi mất gà, vậy tránh đi là hơn.

 Đó là những câu chuyện xưa nảo nào ai mà biết, chỉ để lại trong tục ngôn như thế. Bây giờ về bốn nơi kia chẳng thấy có dấu vết gì như câu nói dân gian. Cuộc sống đã thay đổi tất cả, mọi nếp sống văn hóa rất thân thiện, chẳng thấy dấu vết nào như trong tục ngôn để lại.

 Một bạn ở Sài Gòn nghe chuyện nói với tôi :”Người trong miền Nam chỉ biết Bắc Ninh là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, là quê hương của câu ca Quan Họ. Không ngờ trong văn hóa ứng xử, người Bắc Ninh cũng chi li xét nét đến vậy à? Những thói xấu đãi bôi, lờn mặt chồng, ăn uống mất vệ sinh, hay ăn cắp vặt...thì vùng nào cũng có người vầy người khác; nhưng nâng lên ngang tầm "văn hóa địa phương" gắn liền với 1 địa danh cụ thể, thì đây là trường hợp đặc sắc Nhờ bác mà tôi mở thêm tầm mắt...” Tôi bảo với anh :”Bắc Ninh quả là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, như nhà văn Kim Lân, người Kinh Bắc, sinh thời từng nói chuyện, ông bảo “đất có lề, quê có thói, đâu cũng có cái tốt, đâu cũng có cái xấu, chỉ có điều người Bắc Ninh dám nói ra còn nơi khác thì không, đó là nét văn hóa đặc biệt Kinh Bắc, sòng phẳng và lành mạnh, chẳng giấu cái xấu cái dở của đất mình, biết sai thì sửa được, cho nên bây giờ còn có chuyện đó đâu. Đừng như con mèo giấu cứt. Có thể tự hào người Kinh Bắc không phải là giống mèo.”

 Có lẽ vì thế mà văn hóa Kinh Bắc không mai một, văn hóa vùng Kinh Bắc vẫn rạng rỡ tới ngày nay có lẽ ở tính trung thực trong cuộc sống cũng là vẻ đẹp đặc sắc của văn hóa vùng đất này.

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ

DẠY VÀ HỌC . Sơn Nam là nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu Nam Bộ, con người được mệnh danh là "ông già Nam Bộ", "ông già Ba Tri", “ông già đi bộ’, "pho từ điển sống về miền Nam" hay "nhà Nam Bộ học". Ông đã từ trần ngày 13 tháng 8 năm 2008 và kịp để lại cho đời một sự nghiệp trước tác đồ sộ trên 8000 trang sách của hơn 44 đầu sách đã in và trên 10.000 trang sách chưa in (ở thông tin cuối bài) mà với tôi ấn tượng nhất là "Bà Chúa Hòn", "Hương rừng Cà Mau" và bài thơ "Thay lời tựa" của "Hương rừng Cà Mau" hay ám ảnh: "Trong khói sóng mênh mông/ Có bóng người vô danh/ Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu/ Mang theo chiếc độc huyền/ Điệu thơ Lục Vân Tiên/ Với câu chữ:/ Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả/ Tới Cà Mau - Rạch Giá/ Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng/ Muỗi vắt nhiều hơn cỏ/ Chướng khí mù như sương/ Thân không là lính thú/ Sao chưa về cố hương?...".

alt 

NHỚ SƠN NAM
Đoàn Nam Sinh

 Hồi còn nhỏ, thập kỷ sáu mươi về trước, trong làng ấp xa xăm, tôi đã được đọc những bài viết của chú trên tờ Hương Quê, giấy báo trắng láng với màu mè, hình vẽ minh họa rất đẹp. Mẫu chuyện mà tôi nhớ đời là bà con xứ Nam kỳ đã lập thế nhử vịt câu sấu như thế nào, với giọng văn giản dị, tưng tửng. Ba tôi, người cũng từng dầu dãi sông nước giải thích chuyện trẻ nhỏ nghịch ý với cha mẹ thì thường bị quở là “đem câu sấu cho rồi”, tụi nhỏ tôi sợ lắm.

 Ông cậu vợ tôi sau này, ngày còn nhỏ nhà ngoại khá giả cho đi học trên Nam Vang, chắc có Pri-me rồi về Rạch Giá đi dạy học. Đổi vùng khắp chốn đến sau khởi nghĩa mới biết là đi theo cộng sản từ thời ông Giàu gây dựng đâu bên Xiêm bên Lèo. Cậu làm chủ tịch một xã ở Gò Quao, mà cái bằng “đẹp trai” không giấu được. Ở đâu chị em cũng bu theo. Cậu có lần kể “tao đi công tác với hai cô, mùa nước nổi chun nóp ngủ trên chòi gò, lần quần rồi tao quất cả hai”. Không biết có phải vì đào hoa, lăng nhăng hay sao đó cậu ở lại, không tập kết. Rồi tù tội liên miên. Có lần cậu nói “thằng cha này là Minh Tài, nó viết văn hay lắm, ham đi xuống thực tế, rồi ham viết, chẳng kể gì giờ giấc, chưng dọn. Người hổng biết nói chả ở dơ, lúc 9 năm chả hay về đây, tiếng Tây chỉ có mấy người biết, đủ để nói thầm, chả thân cậu lắm!”. Sau này tôi kể lại với chú cậu Trần Kỳ Ứng dưới Gò Quao hỏi thăm, chú nói chuyện “hồi đó ai cũng yêu nước, đánh Tây đặng giành độc lập. Có mấy người biết chữ đâu. Lớp đó là người theo đạo Thiên chúa cũng vào Đảng, làm lãnh đạo Việt Minh. Khi định biên lại khoảng năm 53, làm theo kiểu mấy anh Tàu nên nhiều người chán nãn…”.

 Lớn lên trong thời chiến, lại lo chuyện học hành, chuyện kiếm hiệp/võ hiệp kỳ tình tràn lan rồi phong trào hip-pi, phản chiến đến triết lý hiện sinh hiện tồn,…Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng, đảo chính, tăng quân, leo thang đánh phá,…Làng quê ứng phó bằng tích trữ khô muối, dầu đèn, trảng-sê hầm hào trước bom sai đạn lạc; phố chợ lung lay trước bao cuộc biểu tình, đình công bãi thị, học sinh bãi khóa, chống đàn áp Phật giáo rồi chống hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Nguyễn Khánh bán nước, đả đảo Thiệu-Kỳ-Có,…khiến tụi nhỏ tôi chẳng còn thời gian và lòng dạ nào dòm đến văn học miền Nam nữa.

 Sau 68, anh em tan tác người một ngã. Ngọn lửa tàn độc tràn qua thôn ấp ngày một hung tợn, ác liệt. Làn sóng tỵ nạn chiến tranh lan ra, người dân tản cư chạy vào khu dồn, lớp trẻ chúng tôi về Sài Gòn. Mấy năm sau tôi thấy chú trong phong trào chống chế độ kiểm duyệt báo chí của Sở Phối hợp Nghệ thuật, tổ chức biểu tình với khẩu hiệu “Ký giả đi ăn mày”, nhưng mỗi người một việc.

 Bẵng đi có chục năm liền, cũng vì mưu sinh chen chúc, tuy không xa nhưng khó dịp hàn huyên. Có lần gặp nhau tôi hỏi nghe chuyện vợ con chú sao đó, chú Sơn Nam buồn buồn ̶ “mình viết văn mà không hay thì ai đọc, làm sao sống? Mà lo chuyện viết lách thì bỏ bê, vợ con mấy người thông cảm”…Tới 97, đợt 300 năm Sài Gòn chú nhờ tôi tiếp mấy chuyện vặt. Lúc này chú thuê nhà ở Phan Văn Trị, một cái buồng dài và hẹp, bốn bề nước đái khai um. Cũng chỉ cái máy Olivetti gõ cọc cạch và bộn bề sách vở xếp chung quanh lan cả lên chiếc giường tám tấc. Gần đến ngày trả tiền nhà chú lúng túng, xốn xang cùng nổi lo trễ nãi bà chủ phiền.

 Chú Sơn Nam lúc này đã thấy già, nói chuyện vẫn bông lơn nhưng có phần cam chịu. Có bữa được ít tiền nhuận bút, “chú em chở dùm qua đi gửi cho thằng con, nó khổ lắm”. Lần khác thì “thằng con dưới Mỹ Tho hẹn lên xin mấy trăm về lo chuyện nhà”.

 Mấy lần chú xuất hiện trên phim, và khi đi ra quê Bắc tế cụ Nguyễn Hữu Cảnh, với bộ nam phục lụa màu xanh thấy ngồ ngộ, khác xa với “ông già đi bộ” thường ngày, lưng chú đã hơi còng rồi.

 Vài năm sau nữa, tôi nhớ bữa đưa tang Bùi Giáng ở Gò Dưa, sau bài ai điếu của Cung Văn là điếu văn của Hội Nhà Văn thành phố. Chú moi ra bài viết sẵn trên túi áo vét xanh nhầu nhỉ, sửa lại đôi kính cũng rầu rĩ như ông chủ và chú run run nói: “Anh Giáng ơi! Sáng nay anh NQS nói với tui anh là lớp trước, lại ở trong này, cũng ít dịp gần gũi. Anh đại diện cho Hội đọc dùm điếu văn này. Dậy đây là phần của Hội nghe anh Giáng…Tui đọc dậy là xong rồi, còn đây là của tui. Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy - Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!…”.

 Có lần hội thảo khoa học về cụ Trương Vĩnh Ký, như những lần hội thảo danh nhân Nam bộ khác, chú đã đọc tham luận. Không phải về những công trình bác học, đồ sộ hoặc luận về công/tội, chú nói đến chuyện sau cùng cụ TVK đã dành thời gian viết chuyện cho con nít đọc, “mà viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe”.

 Lúc Bé Tư mới ra cuốn Cánh đồng bất tận, một ông lão nghe chuyện hỏi tôi NQS ủng hộ lắm hả, cháu có không? Tui nghe chú Sơn Nam có bản photo. Mà lúc này ổng về ở dưới Lăng Ông rồi. Chở chú lại thăm giả chút. Hai người lớn nói chuyện văn chương, tôi mãi mê đọc báo. Chỉ nghe thoáng khúc cuối chú Sơn Nam nói “nó muốn đặt tên cho đứa nhỏ là Hiền, Lành gì đó chứ không Thù, Hận,…nghĩ lại không biết tụi mình là con hoang của vụ hiếp dâm nào?” Tôi xin phép hai ông chú ra về trước.

 Tự nhiên mấy năm gần cuối đời hai dái tai của chú dày ra, rộng hơn phát đỏ hồng, anh em mừng. Thì cũng có chuyện hợp đồng bán được tác quyền, sách được in lại đẹp đẽ, chú cũng mừng. Nhưng thường bữa, trừ đợt bịnh nặng, chú vẫn đến thư viện Gò Vấp cạnh cầu Hang tìm sách đọc, viết và nhờ mấy cháu đánh máy lại. Rủng rỉnh thì mời mấy cô bé đi ăn trưa, cơm dĩa. Sáng sáng lại ngồi cà phê đen xéo phía kia đường.

 Khúc cuối cùng cuộc đời, do có chuyện bình chọn để lãnh giải thưởng gì đó ngoài trung ương mới có chuyện “…Sơn Nam không được, vì nhờ biết tiếng Tây, đọc các bài viết cũ rồi viết lại chứ không có công trình gì…”. Từ hồi chữ quốc ngữ thịnh lên tới giờ, có biết bao nhà văn đọc rồi phóng tác; có bao người đọc để biết mà tránh viết giống người trước? Tôi thì biết rõ là chú Sơn Nam không đạo văn như cái án oan kiểu gây dư luận đó.

 Lại rủi cho chú khi đi đường bị xe của bọn trẻ chạy vong mạng làm gãy chân, chú chỉ nói buồn “tụi nhỏ chúc thọ ông già kiểu này ngặt quá!”.

 Mới đó mà chú đã đi xa một năm rồi, ngày đưa tang chú tôi từ Gia Lai về, mệt quá ngủ quên, khi anh em nhắc thì đã xong mọi việc. Tiếc và buồn! Thôi, đêm nay tôi nhớ chú, ngồi viết gọn mấy dòng dâu bể.

 Bình Dương, 10/08/09
 Nguồn : http://www.viet-studies.info/DoanNamSinh_NhoSonNam.htm

BÀI THƠ "HƯƠNG RỪNG CÀ MAU”
Huỳnh Kim bài đăng báo Tuổi Trẻ cuối tuần (tháng 8-2018)

 
Bài “Thay lời tựa” tập truyện ngắn nổi tiếng “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam là một bài thơ hay. Bài thơ dài 28 câu viết về cái thuở tiền nhân xưa từ miền Trung tha hương vào khai hoang mở cõi phương Nam. Đó là một bài thơ độc đáo hiếm thấy của nhà văn Sơn Nam mà nhiều người đã thuộc lòng vì cái điệu buồn chất chứa trong từng âm điệu, câu chữ.

 Nhưng có lẽ ít ai biết bài thơ đó nhà văn viết khi nào và ở đâu. Một hôm, cuối năm 2000, gần Tết, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, ông ghé thăm báo Cần Thơ và nhắn tôi qua chơi. Tôi chở ông về nhà mình, giở cuốn “Hương rừng Cà Mau” do nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 1986, có chữ ký tặng bằng mực đỏ của ông ngày nào, rồi hỏi:

 - Bài thơ này chú Tám làm hồi nào vậy?

 Ông nheo nheo mắt, nói:

 - Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi. Hồi đó chánh quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến.

 Rồi ông ngồi chép lại cả bài thơ trên mặt sau một tờ lịch lớn. Nét chữ của một ông già 75 tuổi mà bay bướm quá chừng. Cuối bài thơ, ông ghi: “Viết thơ này từ năm 1961, nay chép lại tặng Huỳnh Kim, bờ sông Hậu”. Tôi đã nhờ thợ phủ la-mi-na và ép tờ lịch ấy lên một tấm gỗ để lưu giữ được lâu dài bút tích của nhà văn Sơn Nam.

 Tôi treo kỉ vật này trên tường kế bên kệ sách và gắn kề bên nét chữ của ông, một chiếc lá cây khô hoang dã đã lìa cành tự khi nào. Chiếc lá ấy, nét chữ ấy, mỗi lần nhìn lên, như nghe có tiếng người xưa vọng lại:

 Trong khói sóng mênh mông
 Có bóng người vô danh
 Từ bên này sông Tiền
 Qua bên kia sông Hậu
 Mang theo chiếc độc huyền
 Điệu thơ Lục Vân Tiên
 Với câu chữ:
 Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
 Tới Cà Mau - Rạch Giá
 Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
 Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
 Chướng khí mù như sương
 Thân không là lính thú
 Sao chưa về cố hương?

 Chiều chiều nghe vượn hú
 Hoa lá rụng buồn buồn
 Tiễn đưa về cửa biển
 Những giọt nước lìa nguồn
 Đôi tâm hồn cô tịch
 Nghe lắng sầu cô thôn
 Dưới trời mây heo hút
 Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
 Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa

 Năm tháng đã trôi qua
 Ray rứt mãi đời ta
 Nắng mưa miền cố thổ
 Phong sương mấy độ qua đường phố
 Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

GẶP LẠI NHÀ VĂN SƠN NAM
Huỳnh Kim

 Nhà văn Sơn Nam đã về với đất, nhẹ như câu thơ của ông “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sáng nay, lục tìm trong ký ức và trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG), như gặp lại ông…

 1.

 Năm bảy năm trước, khi còn khỏe, nhà văn Sơn Nam có viết lai rai cho TBKTSG, thường là vào dịp Tết. Có một bài mà bây giờ đọc lại, thấy như ông nói chuyện đang xảy ra. Đó là bài “Làm tiền và xài tiền”. Mở đầu bài báo, ông viết: “Tuy không rành về kinh tế tài chính nhưng tôi dám phát biểu rằng không phải có nhiều vàng trong tay là mặc nhiên được đứng vào hàng ngũ tư sản Việt Nam trong giai đoạn mở cửa này”. Rồi ông nhận xét: “Mấy năm gần đây, phát sinh một hiện tượng ăn xài hoang phí trong một bộ phận dân cư ở Sài Gòn và các tỉnh, đến mức mà chính những nhà kinh doanh nước ngoài phải ngạc nhiên, thậm chí coi khinh. Trúng mối vài dịch vụ sang nhượng nhà đất, buôn lậu, tráo trở chứng từ, dành dụm được năm, mười cây vàng, hoặc hơn, làm tiền không đổ mồ hôi thì dĩ nhiên cần tiêu xài vô lý, dịp may hiếm có. Tiền sẽ vào túi, dễ dàng, cóc nằm há mồm là sung rụng ngay vào miệng, muốn khạc ra cũng không được. Đó là chưa kể một số cán bộ tiêu cực có bài bản, ăn chơi một buổi bằng một năm lương bổng của người làm công. Xài ô-tô hạng sang, quần áo thứ tốt, nhà cửa trang trí toàn đồ ngoại”.

 Một chỗ khác, ông mô tả rành rọt: “Rượu mạnh với nhãn hiệu đắt tiền, nốc vài chai đã là tốn bạc triệu. Gọi thức ăn đủ món, nhưng món nào cũng gắp thử một vài đũa, hoặc không gắp rồi chờ đem món khác! Ăn để phá của, vì của cải ấy làm ra không đổ mồ hôi, lắm khi không tiêu xài thì không phải lẽ, vì đó là tiền thù lao tập thể cho phép cả nhóm kết nghĩa! Tiêu xài để cho người đồng lõa thấy mình là người hào hiệp, thừa tiềm năng và thừa bản lãnh. Đến mức những người phục vụ cửa hàng tuy cười tươi ra mặt nhưng khi vào nhà bếp, họ cũng lắc đầu, khinh bỉ cái phong cách điên khùng của "thời đại". Chưa hết! Ăn uống bừa bãi, nửa ăn nửa bỏ, nôn mửa, lắm khi để xóa mặc cảm tội lỗi, họ lại cởi áo, dùng những lời lẽ phàm tục, nhờ điện thoại cầm tay để nói láo với bạn bè, với vợ con hoặc trêu chọc cô gái nào đó để ra vẻ mình... có máu văn nghệ. Chưa kể trường hợp say quá mức, họ lại đùa giỡn bằng cách chế diễu các cơ quan nhà nước và tự chế diễu mình”.

 Ông quan sát thấu đáo cả những kiểu sống như thế này: “Có tiền nhiều, nhưng không tin nơi ngày mai, hoặc quá tin vào tử vi, tuổi con rồng, gặp tháng con chuột. Họ cầu mong làm giàu thêm, không bỏ những dịp may có thể thoáng qua rồi mất. Con cái của họ cần được nổi danh trong khu phố, với bạn bè cùng trang lứa. Nào khiêu vũ, nào ăn điểm tâm ở khách sạn sang trọng nhất, xài đô-la chớ không xài tiền Việt, trong khăn mù-soa nhung nhúc những khoen lớn khoen nhỏ. Mất chiếc xe gắn máy đắt tiền này, lập tức cho con số tiền to để sắm trở lại chiếc khác, lắm khi còn đắt tiền và hợp thời trang hơn”.

 Gần cuối bài đó, nhà văn nhắc nhẹ: “Ở Việt Nam, xưa kia đã từng có xuất hiện vài nhà tư sản xứng đáng cho đời sau ghi nhớ. Thí dụ như ông Trương Văn Bền. Khi rảnh rang, ông tranh thủ đọc sách, nghiên cứu cách tiếp thị, phân phối sản phẩm theo đường dây hợp lý. Mỗi sáng, ông không quên tập thể dục”.

 2.

 Nhà văn Sơn Nam viết báo kinh tế như vậy đó. Còn các nhà báo kinh tế và doanh nhân thì lại hay trích văn của ông. Trong mấy chục bài của họ đã đăng trên TBKTSG, dễ gặp lại hình ảnh “ông già Nam bộ” Sơn Nam.

 Tỉ như trong bài “Như ngày xưa tiền nhân đi mở cõi”, ông Trần Kim Chung - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Quốc tế C&T - đại diện Tập đoàn Mỹ phẩm Amore - Pacific Hàn Quốc, tâm sự: “Có một bài thơ của nhà văn Sơn Nam luôn làm tôi liên tưởng rằng, chuyện khởi nghiệp kinh doanh ngày nay cũng tựa như chuyện tiền nhân ta ngày xưa đi mở cõi. Đó là đoạn đầu trong bài thay lời tựa tập truyện ngắn “Hương rừng Cà Mau” của nhà văn: Trong khói sóng mênh mông / Có bóng người vô danh / Từ bên này sông Tiền / Qua bên kia sông Hậu / Mang theo chiếc độc huyền / Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” / Tới Cà Mau, Rạch Giá / Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng…”.

 Hoặc trong bài “Quán Sơn Nam”, nhà báo Võ Đắc Danh kể: “Sáng thứ bảy, tôi tìm đến địa chỉ liên lạc thường nhật của ông, tức cái quán cà phê trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp. Khác với lệ thường, hôm nay sau khi uống xong ly sữa tươi và ly cà phê đen, nhà văn Sơn Nam ăn thêm một gói bắp nấu, rắc lên một ít đường cát và dừa nạo. Bắp nấu là món ăn sáng của người nghèo, hồi trước bắp nấu được gói bằng lá chuối, múc ăn bằng một miếng sóng lá dừa. Bây giờ là cây muỗng nhựa, bắp nấu gói trong bọc ny lông, bên ngoài gói thêm lớp giấy báo.

 Thấy ông ăn một cách ngon lành, tôi hỏi: “Tía tìm đâu ra món này, đã lâu rồi tôi không thấy?”. Ông nói ở gần nhà ông còn một người bán, nhưng phải dậy sớm mua mới có.

 Ông vừa ăn xong thì một thanh niên tìm tới, nói là ở tạp chí Điện ảnh đến nhận bài báo Tết theo đơn đặt hàng. Ông vừa lấy bản thảo trong túi ra, vừa cười nói: “Lấy tiền trước của họ, xài hết rồi mới viết”. Ông cho tôi xem trước khi giao nó cho khách hàng. Năm Giáp Thân, ông viết về khỉ. Thì ra, ông là một trong những cư dân Sài Gòn trực tiếp chứng kiến các chuyên gia người Pháp mang hai con khỉ đầu tiên đến Thảo cầm viên. Ông nói ông rất khoái câu nói của Gamzatov, đại ý: con khỉ muốn thành người phải trải qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm, nhưng con người muốn trở lại thành khỉ thì chỉ cần một chai rượu”.

 Hay trong bài "Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản", nhà báo Hưng Văn viết: “Nhà văn Sơn Nam đề nghị: Trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông Phan Thanh Giản; đủ tình đủ lý; gọi là tình huống đặc biệt của Nam bộ khi phải hội nhập với vùng Đông Nam Á và phương Tây quá sớm so với các vùng khác trong cả nước. Ông để lại cho đời sau chút gì khó quên, khó xóa nhòa, gọi là tâm linh, phóng khoáng, mơ mộng”.

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Ngành giáo dục chưa biết lắng nghe

NGÀNH GIÁO DỤC CHƯA BIẾT LẮNG NGHE
Nguyễn Thị Bình
Nguyên Phó Chủ Tịch Nước

alt 

Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) đã được Hội nghị lần thứ 6 của BCH TƯ Đảng khóa XI thảo luận, cho ý kiến. BCH TƯ cho rằng đây là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, bàn bạc một cách thấu đáo, cẩn trọng, tạo sự thống nhất cao để ban hành nghị quyết vào thời điểm thích hợp.

- Vừa qua Hội nghị TƯ 6 chưa thông qua Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT. Theo bà, đề án này cần tiếp tục hoàn thiện thêm những nội dung gì để được kỳ vọng về đổi mới giáo dục hiện nay?

Nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình: Vừa rồi đề án chưa được thông qua, chứng tỏ sự chuẩn bị chưa tốt. Tôi cũng tham gia đóng góp ý kiến cho đề án nhưng có nhiều nội dung đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học chưa được tiếp thu đầy đủ. Trong xây dựng đất nước, lĩnh vực nào cũng quan trọng, có nhiều điều mới mẻ nên còn nhiều khó khăn. Nhưng điều quan trọng là người lãnh đạo phải khách quan, phải biết lắng nghe. Tôi cho là ngành giáo dục hiện nay không biết lắng nghe.

Trong 5 - 7 năm qua, trong và ngoài nước, các ý kiến đóng góp rất nhiều cho giáo dục, tất nhiên trong đó có những ý kiến không phù hợp nhưng ý kiến tốt rất nhiều. Nhưng tôi thấy lãnh đạo ngành giáo dục không tiếp nhận các ý kiến đó. Lĩnh vực giáo dục rất khó, là vấn đề khoa học tổng hợp về con người, tự nhiên, xã hội, cho nên càng phải có sự nghiên cứu nghiêm chỉnh và phải biết lắng nghe ý kiến các nhà khoa học, nhà giáo dục. Nhưng hiện nay, khuyết điểm là chúng ta chưa huy động được trí tuệ tập thể, chưa lắng nghe nhiều. Tôi mong sắp tới phải giải quyết được điều này.

Đề án đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục phải là trí tuệ tập thể của đất nước chứ không phải chỉ của ngành giáo dục. Thậm chí, chỉ vài đồng chí phụ trách đề án này là không được đâu. Giáo dục nhằm đào tạo ra một lớp người toàn diện nên một ngành không thể nghĩ ra hết. Thế nên, tới đây phải biết huy động trí tuệ của tập thể thì chúng ta mới làm được. Tôi cho vấn đề giáo dục bức xúc lắm rồi, nó quyết định hết tất cả, vì thế cần phải cấp bách đổi mới.

Một vấn đề xã hội nhức nhối vừa qua là nhiều thanh niên vướng vào tệ nạn xã hội chẳng hạn. Vấn đề này có nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân từ giáo dục. Không phải chúng ta quy tất cả nguyên nhân cho nhà trường, nhưng phải thấy tất cả trẻ em đều qua nhà trường, qua ngành giáo dục. Dĩ nhiên, ở đây gia đình cũng có vấn đề do không quan tâm con em đầy đủ. Đổi mới giáo dục phải giải quyết được những vấn đề này.

- Theo bà, có nên thành lập ủy ban cải cách giáo dục?

Nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình: Trong tình hình hiện nay theo tôi phải có một ủy ban chỉ đạo vấn đề cải cách giáo dục. Ủy ban này không chỉ có ngành giáo dục mà phải có cả các nhà khoa học, nhà giáo dục trong và ngoài ngành để nghiên cứu một đề án tổng thể cả về giáo dục phổ thông, dạy nghề, giáo dục đại học. Đề án này phải được trình ra Trung ương, ra Quốc hội, với sự tham gia của các nhà chuyên môn, với những quan điểm đổi mới giáo dục rõ ràng. Phải hết sức quyết tâm, còn nếu cứ lơ mơ thế này rất khó thành công. Cần hiểu rằng, giáo dục chậm 1 năm là đất nước trễ hàng chục năm, ảnh hưởng đến cả một lớp người. Tôi rất quan tâm đến đề án này và mong đề án sớm được xây dựng một cách hoàn thiện. Tôi cũng mong muốn xã hội quan tâm hơn nữa đến giáo dục. Xã hội phải thấy giáo dục quyết định sự phát triển của chúng ta về tất cả các mặt.

- Lần này, bà mong muốn cải cách giáo dục Việt Nam theo hướng nào?

Nguyên PCT nước Nguyễn Thị Bình: Trước đây, nhiệm vụ độc lập, giải phóng đất nước là mục tiêu, mọi người đều theo hướng đó. Ngày nay, với nhiệm vụ phát triển, từng người phải phát triển tiềm năng của mình. Những tiềm năng đó sẽ được phát huy trong từng lĩnh vực, giúp tạo ra những sản phẩm một cách sáng tạo hơn, khoa học hơn. Chúng ta phải hình thành ra những lớp người tự chủ thì mới có một đất nước tự chủ. Tôi muốn giáo dục sẽ đổi mới theo hướng làm cho lớp thanh niên của Việt Nam có tự chủ. Con người tự chủ để xây dựng một đất nước tự chủ, chứ không thụ động. Còn hiện nay, giáo dục của chúng ta còn quá thụ động, chưa tự chủ.

Source:  http://www.Giáo dục.net Thứ hai 14/01/2013

Âm nhạc của Phạm Duy làm cho người Việt gần nhau hơn

Âm nhạc của Phạm Duy làm cho người Việt gần nhau hơn
Nguyễn Văn Tuấn Theo blog NVT

Vĩnh biệt người nhạc sĩ tài hoa đã làm cho cuộc sống của tôi (và nhiều triệu người Việt Nam) phong phú hơn. Xin có lời thành thật chia buồn cùng gia đình của Nhạc sĩ.

Mới nhận được tin từ anh ĐH, phóng viên báo Thanh Niên, cho biết Nhạc sĩ Phạm Duy vừa qua đời vào lúc 14:30 tại phòng cấp cứu Bệnh viện 115. Ông thọ 93 tuổi. Thế là người nhạc sĩ thiên tài đã ra đi về cõi vĩnh hằng, tiếp theo những người bạn của ông như Văn Cao, Hữu Loan, Trịnh Công Sơn, Hoàng Cầm, v.v. Mới hôm nào mình chúc ông thọ 100 tuổi, thế mà bây giờ thì, nói theo chính lời nhạc của ông, nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Dù Phạm Duy đã tắt thở, nhưng âm nhạc của ông thì chưa tắt và sẽ không tắt, và do đó, ông chưa chết. Qua âm nhạc, Phạm Duy đã đóng góp một phần tích cực trong việc làm cho người Việt xích lại gần nhau hơn.

 Tên người nhạc sĩ đại tài và những lời ca của ông đã đi vào tâm trí tôi từ hồi nào chẳng hay. Nhớ cách đây trên dưới 10 năm, phóng viên Trần Nguyên (lúc đó còn làm cho tạp chí Khám Phá) trong một lần phỏng vấn, hỏi tôi thích bài nhạc hay câu nhạc nào nhất, tôi nói ngay đó là bài Tình ca của Nhạc sĩ Phạm Duy, trong đó có câu Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu, Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh. Viết ra một cách tự nhiên, không cần suy nghĩ gì cả. Thế mới biết có những câu hát đã đi vào máu xương mình hồi nào mà không hay. 

Viết về Phạm Duy và nhạc của ông thì chắc phải cần đến nhiều luận án và nhiều sách. Trong 40 năm qua đã có nhiều tác giả, Việt Nam và nước ngoài, viết về sự nghiệp và những dòng nhạc của ông. Trung tâm nhạc Thuý Nga đã thực hiện hẳn hai chương trình nhạc chủ đề Phạm Duy, cũng là một cách vinh danh người nhạc sĩ số 1 của Việt Nam. Ở trong nước cũng đã có hàng loạt chương trình văn nghệ giới thiệu những tác phẩm của ông. Trong tương lai, chắc chắn sẽ có nhiều chuyên gia tiếp tục khai thác kho tàng nhạc của ông và cuộc đời đầy theo vận nước nổi trôi của ông.

Riêng tôi cũng có vài kỉ niệm nhỏ với ông. Năm 1997, trong một chuyến công tác bên Mĩ, một người bạn (anh NH) rủ tôi đến thăm ông ở Midway City, nơi mà ông gọi là “Thị trấn giữa đàng”. Lúc đó ông đang soạn trường ca minh hoạ Kiều. Ông nói một cách hào hứng về tác phẩm này, và hi vọng rằng ông sẽ phổ biến ở Việt Nam. Năm 2005, ông quyết định về sống bên Việt Nam. Thực ra, ông đã có ý định về sống bên nhà rất lâu rồi, chứ không phải chờ năm 2005 mới đi đến quyết định đó. Ông vẫn cho rằng ông phải ở Việt Nam mới có cảm hứng để sáng tác nhạc Việt Nam. Mười năm sau, trong một chuyến công tác bên nhà, tình cờ nói chuyện với một anh bạn là giám đốc bệnh viện tôi mới biết Nhạc sĩ Phạm Duy đang nằm điều trị trong bệnh viện của anh! Thế là chúng tôi kéo nhau đi thăm ông. Mười năm sau mà ông vẫn còn nhớ tôi. Hôm đó, ông rất vui vẻ khi có nhiều người đến viếng thăm. Ông còn chỉ một người đến thăm nói đùa rằng bà này là người tình của tôi! Ngay hôm đó, ông cũng có một người bác sĩ cá nhân chăm sóc cho ông khi về nhà.

Với tôi, một người trưởng thành cùng những ca khúc của ông, tôi xem Phạm Duy là một thiên tài về âm nhạc. Ông sáng tác hơn 1000 bài hát, một gia tài nghệ thuật đồ sộ ít ai sánh kịp. Không chỉ số lượng, mà còn phẩm chất âm nhạc của ông đáng để người đời sau chiêm nghiệm. Không như những nhạc sĩ khác, Phạm Duy sáng tác đủ thể loại: từ tình ca, thiếu nhi ca, đạo ca, tục ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, Bích Khê ca, Hàn Mặc Tử ca, đến những trường khúc để đời như Con Đường Cái Quan Kiều. Hình như chưa có một nhạc sĩ Việt Nam nào có sức sáng tác “khủng” như ông. Cũng chưa có một nhạc sĩ nào có thể chuyển hoá hàng trăm bài thơ thành những ca khúc bất hủ. Thật vậy, có những bài thơ chẳng ai biết đến nhưng đến khi qua tay của phù thuỷ âm nhạc thì trở nên nổi tiếng và để đời, như Thuyền viễn xứ Kỉ vật cho em. Khả năng phổ thơ thành nhạc của Phạm Duy chỉ có thể nói là thần tài.

Tôi có hẳn một thư viện nhạc của ông. Có thể nói không một ngày nào tôi không nghe nhạc của Phạm Duy. Có những bài đã đi cùng tôi từ thời thiếu niên đến bây giờ, từ dân ca đến tình ca. Không thể nào kể hết những ảnh hưởng của âm nhạc Phạm Duy đến đời sống tinh thần của cá nhân tôi. Nghe tin ông qua đời tôi thấy như mình mất một điểm tựa.

Cái tài và âm nhạc của Phạm Duy còn cảm hoá cả những người không hẳn cùng chính kiến với ông. Cách đây vài năm, trong một lần nói chuyện với một giáo sư y khoa ở Hà Nội, người từng là đồng chí của ông trong thời kháng chiến nhưng không hài lòng về việc Phạm Duy “dinh tê”, vị giáo sư này đưa ra một nhận xét đơn giản: đó là một thiên tài. Vị giáo sư đó còn nói thêm rằng âm nhạc của Phạm Duy là một tài sản của văn hoá Việt Nam.

Tôi nghĩ vị giáo sư đó nói không quá đáng chút nào. Nhạc Phạm Duy đi cùng năm tháng với vận nước. Trong một lần trả lời phỏng vấn đài RFA, ông nói rằng “Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình …. thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn.

Ông rất quan tâm đến chuyện hoà hợp hoà giải dân tộc, cũng là vấn đề thời sự hiện nay. Theo ông, âm nhạc là một phương tiện để làm cho người Việt xích lại gần nhau sau thời chiến. Thế nhưng trớ trêu thay sau 1975 thì nhạc của ông bị cấm đoán, thậm chí nhiều sách nhạc còn bị đem đi đốt. Mãi đến nay, dù ông đã về quê và tham gia biểu diễn nghệ thuật trong nước, mà số tác phẩm của ông được bổ biến một cách nhỏ giọt. Có một bài mà tôi nghĩ rất đáng làm ca khúc của dân tộc, đó là bài Việt Nam – Việt Nam với những lời ca kiêu hùng nhưng cũng dễ làm xúc động lòng người:

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói trên vành môi
Việt Nam nước tôi

Việt Nam Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời
Việt Nam đây miền xanh tươi
Việt Nam đem vào sông núi
Tự do công bình bác ái muôn đời

Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Việt Nam trên đường tương lai,
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời

Tình yêu đây là khí giới,
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người
Việt Nam Việt Nam
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam Việt Nam muôn đời

Bất cứ người Việt có chính kiến gì hay ở chiến tuyến nào cũng có thể xích lại gần nhau hơn khi cất tiếng ca lên bài hát đó. Khi được Mặc Lâm của RFA hỏi về bài này, ông giải thích: “Anh nhớ lại từng chữ từng câu trong bài ‘Việt Nam! Việt Nam!’. Tại sao đầu đề lại hai chữ ‘Việt Nam! Việt Nam!’? Bởi vì nước Việt Nam mình bị chia làm hai, thành hai thứ ‘Việt Nam – Việt Nam’. Bây giờ chỉ có một Việt Nam thôi thì tốt hơn. Trong khi đó tôi xưng tụng một nước Việt Nam như vậy, trong đó thì ‘tình yêu đây là khí giới’ mà, hai bên vẫn còn nghi kỵ nhau, vẫn chưa bắt tay nhau. Thành thử vấn đề là lòng người chưa thống nhất mà đất nước thống nhất rồi.”

Phạm Duy cũng quan tâm đến vai trò của nghệ thuật và tôn giáo trong quá trình hoà giải dân tộc. Trong một lần trả lời phỏng vấn trên Thuý Nga Paris by Night, ông phát biểu rằng chỉ có tôn giáo và nghệ thuật mới cứu vãn dân tộc ra khỏi tình trạng bế tắc hiện nay. Nói như anh bạn tôi, Hoàng Nguyên Nhuận, rằng “Tôn giáo và nghệ thuật không cướp chính quyền lịch sử. Tôn giáo và nghệ thuật chỉ hóa giải những cuồng vọng lịch sử, tạo những nhịp cầu chuyển hoá cho hận thù thành yêu thương, ngộ nhận thành thông cảm, tác hại thành xây dựng, xa cách thành cận kề. […] Nhưng tôn giáo cũng có thể là cái thắng của lịch sử, cũng như nghệ thuật vẫn có thể là yếu tố thức tỉnh những mê mờ cuồng vọng của ý thức hệ bất cứ màu sắc nào. Phải chăng với ý nghĩa đó mà Phạm Duy đã nghĩ rằng tôn giáo và nghệ thuật phải giữ vai trò tích cực trong việc tái dựng quê hương đổ nát cùng quẩn?” Phạm Duy đã đóng góp một phần cho nghệ thuật qua âm nhạc của ông, và đó cũng là một cách làm cho người Việt Nam gần nhau hơn.

Vĩnh biệt người nhạc sĩ tài hoa đã làm cho cuộc sống của tôi (và nhiều triệu người Việt Nam) phong phú hơn. Xin có lời thành thật chia buồn cùng gia đình của Nhạc sĩ.

N.V.T

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

GS Lân Dũng nhặt vội mấy dòng thơ tâm đắc

HỌC MỖI NGÀY. Giáo sư Lân Dũng vừa có bài "Những người làm thơ không chuyên" . Giáo sư viết: Tôi chỉ nhặt vội mấy dòng thơ mà sao thấy tâm đắc quá. Chẳng hạn như một cảm xúc đầy nhân bản của tác giả Trần Quê (Hàng không VN): Cụ cào ngao trên bãi biển này/ Trong dãy quán trên bờ bao người đang say/ Say mực, say tôm, say cua, say ghẹ/ Say rượu, say bia. Say..! Say bao thứ nữa/ Một lần say đủ cả tháng cụ cào/ Biển có say mà tung sóng ào ào/ Bãi có say mà lao xao tiếng cười, tiếng nói/ Dọc bãi biển cụ già chân mềm tay yếu/ Lặng lẽ kéo cào cóp nhặt những con ngao… Hay một bài Thất ngôn bát cú của chị QN, một phụ nữ đang sống xa xứ, mà có đủ mỗi sắc mầu cho từng câu thơ: Mây buồn xám xịt cả trời không/ Bất chợt thèm sao giọt nắng hồng/ Đất tổ mai vàng còn thắm nhụy/ Quê người tuyết trắng vẫn đầy bông/ Nghe mùi rượu đỏ hồn cay đắng/ Nhớ vị chưng xanh dạ ấm nồng/Nuốt nỗi oan trường cam khổ nhục/ Xuân đời tím tái giữa ngàn đông. Còn đây là tâm tư thật chua xót của thầy giáo Vũ Ngọc Huyên (Thanh Hóa) : Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Ăn rồi có nhớ những ngày cháo khoai ?/Bây giờ ăn cả tương lai/Nghĩ xem con cháu ngày mai ăn gì ?.. Cũng vậy , nhà giám sát công trình Nguyễn Vĩnh Tuyền đã tự giám sát mình: Ngày xưa.../ Khi Cha còn sống vẫn răn dạy tôi:/Hãy sống cho tử tế/ Khi Mẹ còn sống vẫn nhắc nhở tôi:/Hãy sống cho hẳn hoi/ Tôi nhớ Ngoại tôi 90 tuổi những năm tụt đáy 80/Người nhặt từng hạt gạo ai rơi vãi trên đường/ Người gom từng lá khô, que củi sau vườn/ Mũi chỉ, đường kim vá bao nhiêu thiếu hụt, rách tươm../ Để lành cho sạch/ Để rách cho thơm… Còn đây, thơ tình của sĩ quan cảnh sát hưu trí Trịnh Tuyên (Thanh Hóa): Chiều nay không hẹn mà chờ/ Không mê mà đắm, không thờ mà thiêng/ Chiều nay, mây núi ngả nghiêng/ Tôi đi về phía không em... Một mình…

alt

NHỮNG NGƯỜI LÀM THƠ KHÔNG CHUYÊN
Nguyễn Lân Dũng


Thơ xuất hiện trong Kinh Thi cách đây trên 3000 năm, còn văn xuôi có lẽ chỉ có sớm nhất từ thế kỷ thứ VII. Người Việt Nam mình hình như ai cũng biết làm thơ và phần lớn từ trẻ đến già đều ít nhiều thuộc lòng những vần thơ hay. Tôi đã gặp các cụ bà nhà quê không biết chữ mà thuộc như cháo cả Truyện Kiều dài dằng dặc.

Chính vì vậy hàng năm mới có hàng chục nhà thơ xếp hàng để được xét duyệt kết nạp vào Hội Nhà văn. Kể cũng lạ thật, trong khi các Hội khoa học chuyên ngành của chúng tôi thì ai muốn gia nhập đều được hoan nghênh hết, vậy mà sao gia nhập Hội Nhà văn khó khăn đến thế? Đâu phải cứ là hội viên các Hội chuyên ngành khoa học đều được coi là Nhà sinh học, Nhà toán học, Nhà hóa học…nếu không có nhiều uy tín được xã hội thừa nhận. Cũng thế thôi, một người mang danh thiếp là Nhà thơ hay Hội viên Hội Nhà văn thì đã dễ gì được mọi người thừa nhận nếu chẳng ai nhớ nổi một câu thơ hay cuốn truyện nào của người ấy. Tôi có một người bạn đã in hàng chục tập thơ và 22 cuốn tiểu thuyết từ các nhà xuất bản có uy tín nhưng nhất định không chịu viết đơn xin vào Hội Nhà văn (!). Tôi hỏi thì được trả lời anh ta chúa ghét tệ Xin-Cho và quan trọng đâu ở tấm danh thiếp, mà chính phải là ở tình cảm của độc giả dành cho mình. Điện thoại của Nhà văn ngoài Hội ấy là 0437182295.

Bước vào hiệu sách tôi thấy quá nhiều các tập thơ của biết bao nhiêu tác giả. Tôi đâu có quan tâm ai là người ở trong hay ở ngoài Hội Nhà văn. Tôi cũng chịu khó đọc và thấy các tác giả đều rất tâm huyết với thơ nhưng không hiểu vì sao mình khó cảm nhận được những rung động cùng với không ít tác giả. Các thơ đăng báo cũng nhiều nhưng tìm được những bài thơ hay, thậm chí những câu thơ hay thật không dễ. Tôi chợt nghĩ có lẽ rất ít người có đủ năng khiếu để trở thành những nhà thơ chuyên nghiệp như Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Nguyễn Bính… Trong khi có những nhà thơ mà chỉ có vài bài thôi nhưng hầu như không ai không biết đến, chẳng hạn như Minh Huệ (Đêm nay Bác không ngủ), Quang Dũng (Tây Tiến), Trần Hữu Thung (Thăm lúa), Nguyễn Đình Thi (Đất nước)…

Chính vì vậy tôi rất hay đặt câu hỏi vì sao có không ít những nhà thơ không chuyên mà lại có thơ hay đến thế. Có thể chỉ là tôi cảm thấy hay mà không hiểu người khác đánh giá thế nào. Tôi chỉ mới nhặt được một số các bài thơ này trên vài blogtiengviet.net và thích đọc đi đọc lại mãi những vần thơ ấy. Xin được dẫn ra vài trích đoạn mà tôi thấy thật quý giá. Chẳng hạn như một cảm xúc đầy nhân bản của tác giả Trần Quê (Hàng không VN): Cụ cào ngao trên bãi biển này/ Trong dãy quán trên bờ bao người đang say/ Say mực, say tôm, say cua, say ghẹ/ Say rượu, say bia. Say..! Say bao thứ nữa/ Một lần say đủ cả tháng cụ cào/ Biển có say mà tung sóng ào ào/ Bãi có say mà lao xao tiếng cười, tiếng nói/ Dọc bãi biển cụ già chân mềm tay yếu/ Lặng lẽ kéo cào cóp nhặt những con ngao… Hay một bài Thất ngôn bát cú của chị QN, một phụ nữ đang sống xa xứ, mà có đủ mỗi sắc mầu cho từng câu thơ: Mây buồn xám xịt cả trời không/ Bất chợt thèm sao giọt nắng hồng/ Đất tổ mai vàng còn thắm nhụy/ Quê người tuyết trắng vẫn đầy bông/ Nghe mùi rượu đỏ hồn cayđắng/ Nhớ vị chưng xanh dạ ấm nồng/Nuốt nỗi oan trường cam khổ nhục/ Xuân đời tím tái giữa ngàn đông. Còn đây là tâm tư thật chua xót của thầy giáo Vũ Ngọc Huyên (Thanh Hóa) : Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Ăn rồi có nhớ những ngày cháo khoai ?/Bây giờ ăn cả tương lai/Nghĩ xem con cháu ngày mai ăn gì ?.. Cũng vậy , nhà giám sát công trình Nguyễn Vĩnh Tuyền đã tự giám sát mình: Ngày xưa.../ Khi Cha còn sống vẫn răn dạy tôi:/Hãy sống cho tử tế/ Khi Mẹ còn sống vẫn nhắc nhở tôi:/Hãy sống cho hẳn hoi/ Tôi nhớ Ngoại tôi 90 tuổi những năm tụt đáy 80/Người nhặt từng hạt gạo ai rơi vãi trên đường/ Người gom từng lá khô, que củi sau vườn/ Mũi chỉ, đường kim vá bao nhiêu thiếu hụt, rách tươm../ Để lành cho sạch/ Để rách cho thơm… Còn đây, thơ tình của sĩ quan cảnh sát hưu trí Trịnh Tuyên (Thanh Hóa): Chiều nay không hẹn mà chờ/ Không mê mà đắm, không thờ mà thiêng/ Chiều nay, mây núi ngả nghiêng/ Tôi đi về phía không em... Một mình…Và đây nữa, tâm sự của người đã lên chức bà nội Bùi Thị Bình (Ninh Bình): Lá vàng có thưở rất xanh/ Biếc non mềm mại trên cành đung đưa/ Có sớm nắng, có chiều mưa/ Có hờn, có nhớ, có chờ, có mong/ Nghĩa tình trong trắng như bông/ Yêu cây đạm bạc nên lòng thiết tha/ Lá vàng tươi một màu hoa/ Để bên Ai mãi mặn mà có duyên…Rồi đây, những lời thơ buồn nhưng rất thật của Phan Thị Hoài Thủy: Ngu ngơ nước chảy qua cầu / Đem se kỷ niệm mà xâu nỗi niềm/ Phơi cho khô những ưu phiền.../ Sương khuya vẫn ướt cả miền chiêm bao /…Còn đây, nỗi xúc động của Vũ Nhang (Hải Phòng) khi thăm lại trường xưa: Tháng năm như sóng vỗ bờ/ Thầy tôi giờ đã mắt mờ chân run/ Ngày nào phấn trắng bảng đen/ Mà nay dáng hạc hom hem cuối chiều/ Cùng tôi mấy đứa bạn yêu/ Người xa viễn xứ những chiều tuyết rơi/ Quê người mỗi đứa một nơi/ Ấp iu kỷ niệm đầy vơi nỗi niềm/ Mối tình còn giấu trong tim/ Bạc đầu mà vẫn kiếm tìm lẫn nhau/ Bao năm giờ biết nơi đâu/ Để cho trang giấy nát nhàu tương tư/ Nay về thăm lại trường xưa/ Bâng khuâng nỗi nhớ ngẩn ngơ cõi lòng… Còn đây, Thanh Thủy, một cô giáo ở Đông Anh (Hà Nội) có tới vài chục bài thơ chưa in mà thật nhuần nhuyễn với lục bát: Ảo huyền câu lục nơi đây/ Câu bát phố núi ngọt say tình đời/ Bình minh rạng rỡ chân trời/ Nụ cười ánh mắt chơi vơi cõi lòng/ ầm ầm bằng sấp ngửa hư không/ Muà đông ấm lại trời hồng đang lên/ Một ngày mới rộn tiếng chim/ Hai đầu nỗi nhớ mình tìm đến nhau… Tình cảm rất thơ của chị cán bộ cầu đường Phạm Thu Hà thật đáng ngạc nhiên: Đông về rồi đó thật sao?/ Mùa sang chớm lạnh lùa vào tứ thơ/ Chiều giăng lãng đãng sương mờ/ Ai đem nhớ thả bên bờ sông quên ? Khóa lòng hờ hững gài then/ Cửa tương tư chợt để quên khép vờ/ Lỡ thuyền ta lạc bến mơ/ Cho xin nhé … nửa câu thơ làm chèo… Nhà thơ nữ không chuyên Chử Thu Hằng (Hà Nội) viết rất nhiều thơ và bài nào cũng chân thực đến nao lòng: Trót sinh làm kiếp con người/ Thôi đành... cam khổ, gượng vui, ngậm sầu/ Một mai bạc trắng mái đầu/ Cười khan một tiếng/ Cạn đau/ Ta về. Và đây nữa: Này ơi/ trời thẳm, đất gần/ Dành cho nhau chỉ còn ngần ấy thôi/ Phết lên màu sáng vẻ tươi/ Nhệch môi/ Ta vẽ nét cười/ Buồn tênh

Thế đấy, tôi chỉ nhặt vội mấy dòng thơ mà sao thấy tâm đắc quá. Hóa ra thơ hay đâu ở cái danh Nhà thơ, hay Hội viên này nọ. Thơ hay là tiếng nói chân thật đã được chưng cất một cách rất riêng của mỗi công dân, bất kể tuổi tác, nghề nghiệp, giàu nghèo.

Thật đáng tiếc thơ hay thường xuất hiện trên các trang blog, giống như kho tàng Nhật ký thơ của các tác giả không chuyên. Tôi chỉ mới đủ sức lướt qua một blogtiengviet.net , nghe đâu còn nhiều blog khác (như vnweblogs.com chẳng hạn) cũng đầy rẫy những nhân tài thi ca. Họ yên lặng sống với nghề nghiệp của mình, bằng lòng với cuộc sống vật chất còn đầy gian khổ của mình , nhưng biết tự thăng hoa trong vườn tao đàn thi ca để nâng cao chất lượng sống cho mình và chia vui cùng bè bạn. Liệu việc hái lượm, ươm ấp và vun xới cho những tài năng trong dân gian này có phải là trách nhiệm của xã hội, trước hết là của Hội nhà văn hay không?

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Trần Đăng Khoa ngoái nhìn năm cũ

NGỌC PHƯƠNG NAM. Trần Đăng Khoa vừa có bài viết “Ngoái nhìn năm cũ” bình luận những sự kiện nổi bật và rất đáng quan tâm trong năm 2011. Bài này cùng với những bài viết “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” của Hoàng Tụy là những phản biện khách quan, sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm.

alt 

NGOÁI NHÌN NĂM CŨ

Trần Đăng Khoa

Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch, Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365 ngày, với 8760 giờ – Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới – thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở LiBi, cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn mười vạn người Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở LIBI. Lần đầu tiên, chúng ta đã tổ chức thành công đưa hơn mười vạn người Việt Nam thoát khỏi lửa đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong năm vừa qua.

Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên sân khấu…Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa. Nhìn lại những thước phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có đến một ngàn bảy trăm đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác gia lớn, Chủ tịch của cả hai hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên ngành. Đó là điều rất không bình thường.

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc biệt với những tài năng lớn, họ yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ còn đi trước cả thời đại. Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954, Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh – ấy là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976, Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên. Bây giờ chúng ta mới học Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ, hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”. Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi…và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không tìm được hài cốt.

Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời – Sữa nuôi phần xác. Hát nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa thì hiểm họa khôn lường. Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng tượng được. Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa đã làm ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở lứa tuổi vị thành niên. Rồi ít ngày nữa, vụ án sẽ được đem ra xét xử. Theo Bộ Luật hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao? Nếu Luyện thoát được án tử hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi. Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người, giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.

Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời ngăn chặn. Năm nay là năm CON RỒNG. Chúng ta đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và phát triền. Cầu mong năm nay, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ và lòng nhân ái mà không có máu người…

Đọc tiếp
Suy ngẫm những bài viết ám ảnh
HỌC MỖI NGÀY. Ba bài viết ấn tượng và ám ảnh tôi đầu xuân 2012 là “Ôn cũ để biết mới “của Nguyễn Trọng Vĩnh, “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” của Hoàng Tụy và “Lại chuyện giao thông …” của Trần Đăng Khoa.

FOOD CROPS
Dạy và học BlogtiengViet
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Bùi Văn Bồng: Gửi gió trời Nam

DẠY VÀ HỌC. Cảm thơ Bùi Văn Bồng khi đọc "Khóc bên mộ cha" anh viết thật xúc động: Cha đi chưa buổi chiều tà Hưởng dương một kiếp mưa sa nửa đời Đàn con bảy đứa đơn côi Khóc cha chưa biết bậm môi nén lòng Một mình đội rá ăn đong Mẹ dốc hết lòng nuôi bảy con thơ Chị tôi chớm nụ mộng mơ Đàn em còn tuổi ngây thơ đầu đời Thương cha chỉ biết kêu trời Trời thu xanh thẳm nắng vơi cuối đồng Cảnh đời xa xót long đong Lạnh buồn chăn chiếu như không nóc nhà Mẹ tôi tần tảo bôn ba Nuôi con rau muống, lu cà, vại tương Cấy cày từ lúc mờ sương Tảo tần khuya khoắt lên giường chưa yên Nhiều khi mong gặp phép tiên Cho tôi thấy nụ cười hiền của cha Bướm vàng vừa đậu cành hoa Linh thiêng hãy hóa thành cha năm nào Hương trầm ướp gió đồi cao Xin làn hương nhẹ bay vào mộ cha Muối tiêu tóc gió chiều tà Rưng rưng đứng trước mộ cha khóc thầm. Gần đây, anh chọn 63 bài in thành tập với tựa đề "Gửi gió trời Nam". Lê Xuân nhận xét: "Thơ Bùi Văn Bồng có nỗi đau nhân tình thế thái, có buồn vui cùng muôn kiếp nhân gian, có hoài bão, khát khao về một tình yêu lớn, có suy tư, trăn trở trước nghịch cảnh cuộc đời. Anh đến với thơ như một sự tình cờ, không chủ định nhưng khá thành công. Đúng như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống rất nhiệt huyết và chân tình, gắn bó với đất và người miền Cửu Long Giang, đi nhiều, cảm nhiều, có vốn sống thực tế phong phú, nhưng trên hết anh có một tấm lòng rộng mở đón gió bốn phương, luôn nhìn, ngắm, nghĩ suy, xúc cảm chân tình để bật lên những điệu tâm hồn cộng hưởng, thăng hoa cùng con người và cuộc sống. Bạn đọc tin rằng đường thơ của anh còn rộng mở và bước xa hơn nữa. Ngôn ngữ thơ anh được chọn lọc khá kỹ, vừa giàu hình ảnh, gợi liên tưởng sâu xa cho người đọc, lại có nét độc đáo của Nam bộ mến thương. Hy vọng tập thơ “Gửi gió trời Nam” sẽ đem đến cho bạn đọc sự lắng đọng sâu sắc, những cảm xúc, những ghi nhận mới mẻ, trẻ trung và khó quên. Phải ghi nhận rằng, từ trước đến nay hầu như ít tác giả cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ trữ tình khá dày, chuyên đề về vùng đát phương Nam như tập “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng. Đây cũng là tiếng nói tri âm mà tác giả đã cảm nhận, nhớ ghi, gửi gắm đến con người “hào phóng dễ tin yêu” và thiên nhiên thơ mộng trên đất “Chín Rồng”. Tôi tâm đắc với cảm nhận của Lê Xuân. Gửi gió trời Nam của Bùi Văn Bồng là thơ hướng tâm linh con người vươn tới Chân Thiện Mỹ (HK)

alt

BÙI VĂN BỒNG MỘT HỒN THƠ LỘNG GIÓ PHƯƠNG NAM

Lê Xuân
Đọc tập thơ “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng - NXB Hội Nhà văn



Phương Nam kênh rạch trôi bình lặng
Con người hào phóng dễ tin yêu…


Hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ của vùng đất phương Nam đã thôi thúc nhà thơ, nhà báo - đại tá Bùi Văn Bồng cho ra mắt bạn đọc những bài thơ đầy rung cảm với thi pháp mang nét riêng khá độc đáo. Tất cả đều nhằm phản ánh cuộc sống sinh động, phong phú qua sự cảm nhận, liên tưởng, suy tư, là tiếng lòng tha thiết với tình yêu lứa đôi, tình yêu cuộc sống và quê hương đất nước. Anh làm thơ là để giãi bày tâm sự. Sau 4 tập truyên và thơ in riêng và hàng chục tác phẩm in chung trong các Tuyển tập thơ như: Thơ Việt Nam thế kỷ 20; Duyên thơ; Thơ tình Đà Lạt; Chúng tôi đánh giặc và làm thơ; Hợp tuyển thơ về Hồ Chí Minh; Nước non một dải; Tuyển tập thơ về Nguyễn Trãi, Nghìn năm thương nhớ…; lần này, anh cho ra mắt tập thơ “Gửi gió trời Nam” khá dày với 63 bài, một tập thơ chuyên đề viết về miền đất Cửu Long Giang hữu tình. Anh là người của xứ Bắc, nhưng đã cho ra đời tập thơ khá dày và chon lọc chuyên đề về vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đề tài, chủ đề của thơ Bùi Văn Bồng khá đa dạng và được thể hiện qua phong cách nghệ thuật trữ tình-lãng mạn kết hợp hài hoà với nội tâm sâu lắng, liên tưởng trong không gian ba chiều và có chất triết luận. Anh là lớp nhà thơ sáng tác từ cuối thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trưởng thành sau năm 1975. Vì thế, thơ anh luôn hướng tới những vấn đề lớn của cộng đồng và thời đại, dòng thơ nặng tình quê hương đất nước trong thời bình. Bởi thế, anh luôn luôn tâm niệm thơ là tiếng nói của tâm hồn, là điệu tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu (Tố Hữu). Và từ cái điệu tâm hồn hòa đồng ấy, thơ Bùi Văn Bồng khắc họa sâu đậm những cảm nhận giàu chất liệu hiện thực cuộc sống của một vùng mênh mang sông nước Cửu Long, đúng như tên gọi của tập thơ: Gửi gió trời Nam.

Với “Gửi gió trời Nam” tác giả đứng ở nhiều góc độ để quan sát, nhìn nhận, cảm xúc về con người và cuộc sống. Từ đó tình cảm thăng hoa bật lên những vần thơ khi trầm ngâm sâu lắng, khi reo vui rộn rã. Anh là người đã gắn bó với vùng đât phương Nam đã hơn 30 năm, đi đến nhiều xóm ấp nơi miền quê thanh bình, nơi biên giới Tây Nam hùng vĩ, chiêm nghiệm nhiều, nên chỉ với 63 bài thơ mà hàm chứa biết bao cảnh làng quê, sông nước xứ miệt vườn, những tên đất, tên làng, tên sông, tên núi ở miền đồng bằng châu thổ Tây Nam của Tổ quốc, nơi được coi như quê hương thứ hai của anh. Những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp được anh ghi lại như một ký hoạ bằng thơ đầy sắc màu của sự sống.

Đây là cảnh sắc vùng biên cương Bảy Núi, biển Ba Động nên thơ, kia là rừng tràm Trà Sư hoang dã, núi Cấm trầm mặc, Thạch Động uy nghiêm, mũi Cà Mau sóng vỗ, bưng biền Đồng Tháp mênh mang… Những rung động khẽ khàng trong cõi lòng sâu thẳm bỗng bật thành thơ. Dòng sông Hậu hiền hòa in hình cô gái Nam Bộ chèo xuồng ba lá, áo bà ba bay trước gió làm thổn thức hồn thơ của anh:

Dòng sông thì rộng mênh mông
Áo em lại thắt eo hông làm gì
Khen ai khéo chiết đường ly
Để cho tà áo thầm thì lời quê.
(Áo bà ba)


Đã có không ít tứ thơ, bài hát ngợi ca nét đẹp duyên dáng và độc đáo của chiếc áo bà ba Nam bộ, nhưng bài thơ này của Bùi Văn Bồng đã để lại ấn tượng lắng sâu trong lòng người đọc. Bài thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam với chất dân ca đâm đà, tình tứ, chỉ với 20 câu thơ đã toát lên vẻ đẹp bình dị nét quê lề đất của miền Tây Nam bộ. Đặc biệt, câu lục bát: Dòng sông thì rộng mênh mông / Áo em lại thắt eo hông làm gì - được trang web lụcbat.com chọn lọc vào tập thơ “Nghìn câu lục bát để đời” của 1.000 tác giả, viết bằng thư pháp, món quà tinh thần dâng Lễ kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long –Hà Nội. Câu thơ trên cũng là một trong 100 câu lục bát được chọn để tung lên trời trong đêm Nguyên tiêu tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám nhân Ngày thơ Việt Nam.

Một chút “Hương cau” của làng quê phả vào “Tiếng đờn đêm trăng” làm lung linh một “Huyền diệu trăng”. Có lúc anh “Lặng thầm” trước “tóc vờn bay trong gió” của cô gái xứ dừa Bến Tre:

Hồn anh chỉ còn em và sông nước
Với dừa xanh – những chiếc lược cài mây
Em đừng nói về con sóng ngược
Để hương dừa thơm mãi trong tay.
(Mái tóc hương dừa).

Viết về quê hương, anh không bị sa đà vào những hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình đã khá quen thuộc. Anh có cách cảm nhận về nét riêng thuần khiết mà thơ mộng của miền Tây Nam bộ như:“Đêm vùng lũ”, “Cánh đồng mùa lũ”, “Mùa bông điên điển”, “Khói đốt đồng”, “Bông súng”, “Những dấu chân xanh”, “Tây Đô xanh” hay những mùa nước nổi

Cuối mùa trào dâng nước lũ
Tha La, Trà Sư trắng xóa đập tràn
Mưa trắng đất, trắng trời vần vũ
Hòn Đất, Kiên Lương ngập chứa chan.
(Tứ giác trắng)


Tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình bè bạn trong thơ anh luôn đằm sâu. Dấu chân anh đã đi khắp đồng bằng châu thổ, được thưởng thức nhiều món ẩm thực đồng quê mới lạ ở xứ “vườn sinh kinh ngập” này, lòng anh càng nhớ về quê nội xứ Thanh, một nỗi “nhớ Bắc”, nhớ mẹ cha, chú bác da diết khi Tết đến xuân về: Bánh chưng xanh, bánh xu xê / Lá dong gói bánh thơm về cõi xa / Nén nhang thắp viếng ông bà / Lời quê đậm mãi chén trà đón xuân… Nhiều khi anh trở về với những kỷ niệm quê nhà một thời trai trẻ, nhớ đến những kỷ niệm của một thuở mới yêu:

Vườn nhà còn ngát hương cau
Giờ em đang ở nơi đâu cuối trời?
Mảnh mai chiếc lá vàng rơi
Cánh chim lạc gió về nơi mưa nhiều
(Hương cau)
Vượt sóng ra đảo xa Phú Quốc, anh ghi nhận được những nét đẹp của người lính biên phòng nơi hòn đảo tiền tiêu phía Tây Nam của Tổ quốc:

Những người lính biên phòng Phú Quốc
Trăm quê riêng về đảo nhỏ tiền tiêu
Thư ngược sóng tới phương trời thương nhớ
Hồng lên hương nắng ấm trong chiều.
(Biên phòng Phú Quốc)

Là người đã gắn bó gần 40 năm trong quân ngũ, hình ảnh người lính trong thơ anh thật đẹp, gần gũi và thân thương:

Người lính đồng bằng lên biên giới
Quân phục nhuộm xanh một khoảng trời
Thẳm sâu đáy mắt người trông đợi
Gặp gió bưng biền m
ằn mặn môi.
(Gửi gió trời Nam)

Cái tình của anh gửi tới bạn bè ở mọi miền đất nước, đặc biệt là đối với miệt vườn vùng đất Chín Rồng sâu nặng qua loạt bài: Chuyện tình Hai Lúa, Du lịch Phù Sa, Mùa cá dứa Cà Mau, Mùa hoa điên điển, Nhà Bác ở Cà Mau, Người Cà Mau đi dự lễ Đền Hùng, Núi Cấm, Qua phà sông Hậu, Quýt hồng Lai Vung, Sỏi trên Hòn Đất, U Minh rạng sáng, Trên thềm cổ Óc Eo, Xanh mát Ba Tri, Xuân miệt vườn, Xuồng ba lá… Phần lớn số bài của tập thơ anh dành nghĩa tình cho đất và người vùng miệt vườn sông nước Cửu Long - vùng đất gian lao mà anh dũng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Anh có những dòng thơ chân tình nhất, chia sẻ nỗi đau với những người nghèo khổ như: Người nông dân trong ngày lũ, người tàn tật, bất hạnh và những ngang trái của cuộc đời. Anh nghẹn ngào, thương tâm đến thắt lòng trước cảnh cực khổ của những người nông dân sống chung với lũ:

Mỗi năm một mùa nước nổi
Chạy lũ như dân du thuyền
Lênh đênh dẫu biết nguồn cội
Lũ dâng ngập nửa mái hiên…
(Làng mới vượt lũ).



Song, trước những cảnh tượng ấy, ta không hề thấy trong thơ anh có tiếng kêu não nuột, bi lụy, tuyệt vọng nào trước gian khó cuộc đời. Anh hướng nhân vật trữ tình tới muôn sự lạc quan:
Ngựa ô xưa khớp kiệu vàng
Anh rong xe máy về làng đón em
Tơ vàng ươm nắng ngõ quen
Phù sa sau lũ rực lên ánh vàng.
(Vàng trên đất lũ)


Con người Nam bộ vốn chân tình, bộc trực mà hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, tự tin, yêu đời từ ngày đi mở cõi. Với mùa lũ, mùa nước nổi họ vẫn coi như một quy luật, một lẽ đương nhiên của trời đất, như chuyện thường ngày, và luôn luôn chủ động “sống chung với lũ”. Đó là cái chất hiếm, đáng quý mà không phải cư dân vùng nào cũng có được.

Một đề tài anh rất tâm đắc là tình yêu- đề tài vĩnh hằng, biết bao nhà thơ trên thế giới này đã viết. Thơ tình Bùi Văn Bồng thể hiện tình yêu thật trẻ trung, say đắm và hết sức hồn nhiên, vô tư. Nhìn cô gái Nam Bộ mặc áo bà ba, chèo xuồng ba lá trên dòng Hậu Giang, anh như bị hút hồn:

Chẳng ai chuốc rượu đưa men
Mà sao ra bến lại quên lối về.


Đôi khi anh cũng như bao người đang yêu khác không lý giải được tình yêu, và cứ tự vấn:

Tình yêu là gì nhỉ
Bắt em chơi trốn tìm
Hạnh phúc nào bình dị
Mà rung hoài con tim?
(Lặng thầm).

Anh say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu đôi lứa gắn với tình quê đằm thắm lắng sâu. Đúng là anh đã có nhiều thành công với những bài thơ mang đậm tình quê, những bài thơ bày tỏ tấc lòng trước nỗi đau của những mảnh đời bất hạnh. Nó có chiều sâu trí tuệ và giàu tính nhân văn. Ngôn từ và hình ảnh như chảy ra từ gan ruột, từ nội tâm sâu sắc để bật thành thơ:

Em đi buổi ấy chiều im gió
Lặng phắc cây vườn lặng bến sông
Anh chạnh lòng trước dáng hình thon nhỏ
Mà đường xa biết mấy nẻo gập ghềnh?
(Chiều lặng gió)


Thơ Bùi Văn Bồng có nỗi đau nhân tình thế thái, có buồn vui cùng muôn kiếp nhân gian, có hoài bão, khát khao về một tình yêu lớn, có suy tư, trăn trở trước nghịch cảnh cuộc đời. Anh đến với thơ như một sự tình cờ, không chủ định nhưng khá thành công. Đúng như nhà văn Nam Cao đã nói: “Hãy sống đã rồi hãy viết”. Anh đã sống rất nhiệt huyết và chân tình, gắn bó với đất và người miền Cửu Long Giang, đi nhiều, cảm nhiều, có vốn sống thực tế phong phú, nhưng trên hết anh có một tấm lòng rộng mở đón gió bốn phương, luôn nhìn, ngắm, nghĩ suy, xúc cảm chân tình để bật lên những điệu tâm hồn cộng hưởng, thăng hoa cùng con người và cuộc sống. Bạn đọc tin rằng đường thơ của anh còn rộng mở và bước xa hơn nữa. Ngôn ngữ thơ anh được chọn lọc khá kỹ, vừa giàu hình ảnh, gợi liên tưởng sâu xa cho người đọc, lại có nét độc đáo của Nam bộ mến thương. Hy vọng tập thơ “Gửi gió trời Nam” sẽ đem đến cho bạn đọc sự lắng đọng sâu sắc, những cảm xúc, những ghi nhận mới mẻ, trẻ trung và khó quên. Phải ghi nhận rằng, từ trước đến nay hầu như ít tác giả cho ra mắt bạn đọc được một tập thơ trữ tình khá dày, chuyên đề về vùng đát phương Nam như tập “Gửi gió trời Nam” của Bùi Văn Bồng. Đây cũng là tiêng nói tri âm mà tác giả đã cảm nhận, nhớ ghi, gửi gắm đến con người “hào phóng dễ tin yêu” và thiên nhiên thơ mộng trên đất “Chín Rồng”.

Source: http://dayvahoc.blogspot.com/2011/11/bui-van-bong-gui-gio-troi-nam.html

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam