Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Chính Trị Xã Hội

Hạn hán đẩy giá thực phẩm tăng mạnh ở Đông Phi

Hạn hán đẩy giá thực phẩm tăng mạnh ở Đông Phi 

Hạn hán xảy ra trên toàn bộ khu vực Đông Phi gây tổn thất cho vụ thu hoạch và đẩy giá các loại ngũ cốc cùng các loại thực phẩm thiết yếu khác tăng cao bất thường. Điều này trở thành gánh nặng của các hộ gia đình và rủi ro đặc biệt đối với các nhà chăn nuôi trong khu vực.

Theo Bản tin Kiểm soát và Phân tích giá cả (FPMA) của Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO), giá ngô, lúa miến và các loại ngũ cốc khác hiện đang ở sát kỷ lục hoặc kỷ lục ở các quốc gia Ethiopia, Kenya, Somali, Nam Sudan, Uganda và Cộng hòa Tanzania.

Lượng mưa không đủ ở hầu hết khu vực đã ảnh hưởng đến đàn gia súc và người chăn nuôi. Tình trạng sức khỏe gia súc kém do thiếu đồng cỏ và thiếu nước, cộng với việc phải giết mổ gia súc chết “bất đắc dĩ” khiến người chăn nuôi thu nhập kém hơn nữa khi phải bỏ tiền ra mua thực phẩm cơ bản.

Xu hướng này ở Đông Phi, nơi mà giá ngũ cốc đã tăng gấp đôi ở một số chợ thị trấn, trái ngược với xu hướng ổn định của Chỉ số giá thực phẩm của FAO, đo lường sự thay đổi hàng tháng về giá quốc tế của giỏ hàng thực phẩm.

Sự chênh lệch này là do hạn hán đang tác động tiêu cực đến khu vực Đông Phi, nơi mà dự trữ lương thực đã cạn kiệt do El Nino trong năm ngoái. Lượng mưa ít và không ổn định trong vài tháng gần đây đang ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp. Ước tính, sản lượng thu hoạch ngô và lúa miến của Somali giảm 75% so với mức bình thường, đồng nghĩa với khoảng 6,2 triệu người dân nước này hiện đang phải đối mặt với bất ổn lương thực, với phần lớn dân số bị ảnh hưởng sống ở các vùng nông thôn.

Bản tin FPMA theo dõi xu hướng giá thực phẩm đối với các loại ngũ cốc có hạt và trên thị trường địa phương, tập trung chủ yếu vào giá các mặt hàng thực phẩm tăng mạnh hoặc tăng bất thường.

Tại Mogadishu, giá ngô đã tăng 23% trong tháng 1/2017 và thậm chí còn tăng cao hơn ở vùng trồng ngô chính Lower Shabelle. Nhìn chung, tại các khu chợ chính ở miền trung và miền nam Somali, giá ngũ cốc thô trong tháng 1/2017 đã tăng gấp đôi so với một năm trước. Với dự trữ tại các hộ gia đình cạn kiệt dưới mức bình thường trong suốt các tháng giáp hạt và dự báo thời tiết không mấy sáng sủa về mùa mưa sắp tới, giá cả có thể sẽ tiếp tục leo thang.

Giá ngô tại Arusha, Cộng hòa Tanzania đã tăng gần gấp đôi kể từ đầu năm 2016, trong khi tăng hơn 25% trong 12 tháng ở thành phố lớn nhất Tanzania là Dar Es Salaam.

Tại Nam Sudan, giá thực phẩm hiện cao hơn 2 – 4 lần so với mức giá một năm trước, do bất ổn ngày càng tăng và sự phá giá đồng nội tệ.

Tại Kenya, nơi vùng đất thấp phía đông và ven biển cũng như một số khu vực phía tây Thung lũng Rift đều không nhận đủ lượng mưa, giá ngô hiện tăng hơn 30%, chưa kể đến mức tăng đã được hạn chế phần nào bởi ngô nhập khẩu từ Uganda.

Không chỉ có ngũ cốc tăng giá. Các loại đậu hiện nay cũng tăng giá 40% ở Kenya so với một năm trước, trong khi ở Uganda – nơi mà giá ngô hiện tăng tới 75% so với một năm trước , giá các loại đậu và bột sắn đều tăng 25% so với một năm trước ở thành phố thủ đô Kampala.

Biến đổi khí hậu gây tổn thương nông nghiệp

Biến đổi khí hậu gây tổn thương nông nghiệp

Năm 2016, chúng ta phải đối phó nhiều loại hình cực đoan của thời tiết, biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn và cực đoan hơn so với kịch bản đã công bố năm 2012. Ngay từ những ngày tháng đầu của năm 2016, trận rét đậm rét hại lịch sử nhiều chục năm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 14 tỉnh miền núi phía Bắc.

Năm 2016, chúng ta phải đối phó nhiều loại hình cực đoan của thời tiết, biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn và cực đoan hơn so với kịch bản đã công bố năm 2012.

Ngay từ những ngày tháng đầu của năm 2016, trận rét đậm rét hại lịch sử nhiều chục năm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 14 tỉnh miền núi phía Bắc.

Cơ quan khí tượng nhận định, đây là đợt rét đậm rét hại mạnh nhất 40 năm qua với hàng loạt kỷ lục được ghi nhận. Ngày 24/1, trạm khí tượng Sa Pa (Lào Cai) ghi nhận nhiệt độ -4oC; Mẫu Sơn (Lạng Sơn) cũng -4oC. Tại Hà Nội, lần đầu tiên đỉnh núi Ba Vì tuyết rơi kéo dài, ở trạm Hà Đông chỉ 5,4oC.

Nhiều vùng cao ở Thanh Hóa, Nghệ An được cho là hiếm gặp thì nay tuyết bao phủ trắng xóa như huyện Bá Thước, Mường Lát; Tương Dương, Quế Phong. Đợt rét đã ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp, thống kê thiệt hại 52.000 trâu bò chết, 150.000ha lúa đã cấy bị chết, thiệt hại ước tính 400 tỷ đồng.

Biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của El Nino khiến năm 2016 xâm nhập mặn chưa từng có ở khu vực ĐBSCL và hạn hán kỷ lục tại khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

Theo tổng kết của Tổng cục Thủy lợi, tại những khu vực này, lượng mưa đã giảm 20 – 30% so với trung bình nhiều năm. Lượng nước trữ trong hệ thống thủy lợi và các vùng thấp trũng đều bị thiếu hụt do năm trước lũ không về.

Dòng chảy Mê Kông về Việt Nam giảm 50%, khiến mực nước xuống thấp nhất trong 90 năm qua. Nước biển lấn sâu vào đất liền, có nơi tới 70 – 90km, sâu hơn trung bình nhiều năm 15 – 20km.

Tình trạng xâm nhập mặn ĐBSCL được đánh giá là đặc biệt nghiêm trọng trong 100 năm qua. Nó xuất hiện sớm hơn gần 2 tháng so với cùng kỳ, với phạm vi vào sâu đất liền 90km – chưa từng xuất hiện trong lịch sử quan trắc. Đã có 11/13 tỉnh thành phố bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Và thiệt hại nặng nề nhất của thực trạng này vẫn là ngành nông nghiệp.

Theo thống kê, diện tích bị ảnh hưởng là 2.056.192ha (chiếm 52,7% so với diện tích tự nhiên của vùng), cao hơn khoảng 23% (tương đương 883.000ha) so với năm 2015. Tổng diện tích lúa thiệt hại các vụ cuối năm 2015 và năm 2016 là 405.000ha, hoa màu 8.100ha, cây ăn quả 28.500ha, 82.000ha diện tích nuôi tôm… Lúc cao nhất có 390.000 hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt. Tổng cộng thiệt hại qui tiền do ảnh hưởng hạn hán, xâm nhập mặn ở khu vực ĐBSCL là 7.900 tỷ đồng.

Hiện tượng El Nino dài nhất trong lịch sử cũng khiến Nam Trung bộ và Tây Nguyên phải đối mặt với tình trạng khô hạn nghiêm trọng nhất trong vòng 10 năm qua. So với trung bình nhiều năm, lượng mưa thiếu hụt khoảng 30 – 50%, có nơi 80%. Tổng cộng có 2.900ha đất canh tác lúa phải dừng sản xuất, 157.000ha cây trồng bị hạn hán, số hộ thiếu nước sinh hoạt lúc cao nhất là 115.000 hộ.

Biến đổi khí hậu khiến lũ lụt tiếp tục hoành hành ở miền Trung kèm theo những diễn biến lạ thường hơn. Ông Hoàng Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương phải thốt lên rằng “lần đầu tiên chúng tôi phải dùng từ đặc biệt lớn với đợt lũ này và nó đang lặp lại lịch sử của năm 2013”. Theo nhiều chuyên gia, lượng mưa năm 2016 ở miền Trung phổ biến cao hơn so với trung bình nhiều năm 20 – 40%, cá biệt có nơi cao hơn 40 – 90% như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi…

Đợt mưa lũ trong tháng 10 và 11/2016 cũng gây ra những hậu quả nặng nề cho đồng bào các tỉnh miền Trung, thống kê thiệt hại ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị… thiệt hại hơn 2.000 tỷ đồng. Những ngày cuối năm, 8 tỉnh khu vực Nam Trung bộ tiếp tục chìm trong lũ nhiều ngày, thiệt hại chưa có con số thống kê chính xác nhưng chắc chắn là hết sức nặng nề.

Theo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, từ đầu năm 2016 đến nay, thiên tai khiến 235 người chết và mất tích, thiệt hại hơn 37.600 tỷ đồng.

Nói về tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành, trong các cuộc hội thảo với nhiều chuyên gia quốc tế, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường khẳng định: Năm 2016 là một năm điển hình chúng ta phải đối phó với các dạng hình cực đoan, dị hình của thời tiết – một mức điển hình của tác động biến đổi khí hậu đối với Việt Nam từ trước đến nay. Những vấn đề này đang đặt ra thách thức lớn đối với Việt Nam.

Cũng trong năm 2016, lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam đã phải kêu gọi các tổ chức quốc tế hỗ trợ, huy động nguồn lực để thực hiện Kế hoạch ứng phó khẩn cấp đối với các địa phương bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Tổng nguồn lực huy động cho ứng phó khẩn cấp đến nay đáp ứng 54,4% của nhu cầu hỗ trợ 48,5 triệu USD như trong kế hoạch đưa ra hồi tháng 4/2016.

Và trong kế hoạch phục hồi từ nay cho đến năm 2020, theo tính toán của 18 tỉnh bị ảnh hưởng và tổng hợp của Bộ NN-PTNT, cần tới hơn một tỷ USD (khoảng 23 nghìn tỷ đồng) để ứng phó BĐKH hiệu quả.

 

 

 

Tháp Tự Do giấc mơ Mỹ

alt

Tháp Tự Do ở New York 13 năm sau vụ khủng bố 11/9 được mọc lên từ đống tro tàn, là tòa nhà cao nhất tại Mỹ khi hoàn thành. Tháp Tự Do cùng với Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York và những di sản lịch sử văn hóa đặc sắc tại thủ đô Washington, D.C. không chỉ là biểu tượng quốc gia mà còn là thông điệp cuộc sống giấc mơ Mỹ.

alt
Sự kiện 11 tháng 9 và hình ảnh tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Mỹ bị không tặc tấn công là ấn tượng ám ảnh hàng tỷ người trên khắp hành tinh, là lời cảnh báo những hiểm họa toàn cầu trong thế giới ngày nay. Chiến tranh và hòa bình, xung đột và tranh chấp, di cư và tị nạn, khủng hoảng năng lượng và an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống là các vấn nạn nhức nhối của cuộc sống.

Giấc mơ Mỹ có từ thuở lập quốc, từ George Washington vị tổng thống đầu tiên của nước Mỹ (1789– 1797). Người với tư cách là tổng tư lệnh Lục quân Lục địa đã lãnh đạo người Mỹ chiến thắng Vương quốc Anh trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, và đã trông coi việc viết ra Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787. Người có một viễn tưởng về một quốc gia hùng mạnh và vĩ đại, xây dựng trên những nền tảng của nền cộng hòa, sử dụng sức mạnh của liên bang. Người được giới sử học lựa chọn là một trong hai hoặc ba vị tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ.

Giấc mơ Mỹ đến từ Thomas Jefferson vị tổng thống thứ 3 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại.  Người đã thông qua Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ trong đại hội các đại biểu của 13 bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ngày 4 tháng 7 năm 1776. Bản Tuyên ngôn này đã truyền cảm hứng cho nhiều bài phát biểu nổi tiếng khác như của Martin Luther King Jr.Abraham Lincoln. Bản Tuyên ngôn cũng ảnh hưởng đến tuyên ngôn độc lập của Việt NamZimbabwe.

alt

Giấc mơ Mỹ có trong những di sản lịch sử văn hóa đặc sắc tại thủ đô Washington, D.C. Đại học Georgetown; trên phải: Tòa Quốc Hội Hoa Kỳ; giữa: Tượng đài Washington; dưới trái: Đài tưởng niệm nội chiến người Mỹ gốc châu Phi; dưới phải: Đền Quốc gia.

Giấc mơ Mỹ thể hiện trong nổ lực tái thiết Tháp Tự Do. Tổng thống Mỹ kêu gọi gia tăng nỗ lực chống cực đoan và khủng bố. Tổng thống Obama khẳng định nước Mỹ không phải đang ở trong một cuộc chiến với thế giới Hồi giáo mà chỉ là trong cuộc chiến với những kẻ lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hành động cực đoan và khủng bố.

alt
“Tòa Tháp Đôi” (hình) bài thơ của David Lehman, tôi chép lại dưới đây, rút trong bài viết “Thơ ca Hoa Kỳ tưởng niệm 9.11” do anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada gửi cho anh Ngô Minh, chủ nhân blog Quà Tặng Xứ Mưa.

TOÀ THÁP ĐÔI

David Lehman
Tôi chưa bao giờ thích Trung tâm Thương Mãi
Nó càng vươn cao tôi càng chê bai cười cợt
Cũng như nhiều người Nữu Ước
Tòa tháp đôi quả là thứ kiến trúc cồng kềnh
Thiếu mỹ thuật, thiếu phong cách thanh tao
Của Empire cao ngất, cũng không bằng
Tòa nhà Chrysler, được mọi người yêu mến,
Với đỉnh nhọn mỹ miều, duyên dáng
Trung tâm Thương Mãi đúng là sai lầm
Điển hình cho kiến trúc kiểu Mỹ
Nó đứng chễm chệ như thế hai mươi lăm năm trời
Cho đến một ngày, vào buổi chiều thứ Sáu, tháng Hai
Bom nổ, tòa tháp đôi kia, đổ nát
Trở thành biểu tượng của chúng ta, của đất nước, như bức
Tượng Nữ thần Tự do. Tất cả thái độ của tôi
Bắt đầu thay đổi. Tôi yêu cách nó hiện ra
Trong tầm mắt, khi bạn lái xe qua đường số Sáu
Từ bất cứ ngã rẽ nào, cái cách đỉnh cao
Của tháp đôi biến mất, trong bầu trời trắng xóa
Về phương Đông, khi bạn bắt đầu qua sông Hudson
Chạy vào thành phố, băng ngang cầu George Washington

Tháp Tự Do giấc mơ Mỹ làm chúng ta liên tưởng đến những ước mơ cuộc sống…

Hoàng Kim

Bài liên quan
Tôi có một giấc mơ

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Lương tri tỉnh thức

Luongtritinhthuc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Hiện nay, thế giới đang bùng nổ di cư và tị nạn tại châu Âu theo điểm tin của TIME ngày 10 tháng 9 năm 2015. Điều này tiếp sau những hiểm họa toàn cầu: An ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống.

Theo  những tuần gần đây, hỗn loạn tại các cửa khẩu, nhà ga, điều kiện bẩn thỉu trong các trại tị nạn tạm thời và một bức ảnh đau lòng của một đứa trẻ chết đuối Syria đã đưa cuộc khủng hoảng người di cư tị nạn đến châu Âu vào tầm ngắm toàn cầu. Theo UNHCR, hơn 380.000 người di cư và người tị nạn đã đổ bộ lên bờ biển phía nam của châu Âu trong năm nay, tăng 216.000 lượt người trong cả năm 2014. Họ đang chạy trốn khỏi cuộc đàn áp, nghèo đói và xung đột mà cơn giận dữ vượt ra ngoài biên giới của châu lục, nhưng không phải tất cả mọi sự quản lý đều đạt được an toàn. Chỉ riêng năm nay, 2.850 người đã bị chết đuối ở Địa Trung Hải. Dẫu vậy, điều đó vẫn không thể ngăn được làn sóng người di cư đang ồ ạt làm hồ sơ xin tị nạn vào châu Âu.

Vì sao châu Âu phải đối mặt với một trong những thách thức khó khăn này trong nhiều thập kỷ. 5 câu hỏi lớn về khủng hoảng di cư và tị nạn của châu Âu theo  là:

1. Sự khác nhau giữa người tị nạn và di cư là gì? 2. Những người di cư và tị nạn từ đâu đến? 3. Vì sao châu Âu là điểm đến của cuộc khủng hoảng di cư và tị nạn? 4. Các nước châu Âu đối phó với cuộc khủng hoảng này như thế nào? 5. Mỹ có thể làm gì?

Tôi chỉ tóm lược vấn đề, lược dịch, trích dẫn để cùng bạn suy ngẫm. Ngạn ngữ phương Đông có câu: “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách” (Ba mươi sáu kế, chạy là hơn cả). Hơn một nửa trong số tất cả những người tị nạn trên toàn thế giới trong năm 2014 là dân của ba nước Syria, Afghanistan và Somalia đã chạy trốn khỏi sự xung đột. Những cuộc khủng hoảng và leo thang khác tại Cộng hòa Dân chủ Congo, Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, Ukraine và Iraq đang làm mạnh mẽ thêm vào làn sóng di cư và dân tị nạn.

Syria đứng đầu trong số người di cư và dân tị nạn. Kể từ khi cuộc nội chiến Syria bắt đầu từ năm 2011, có hơn 4 triệu người Syria đã tìm nơi trú ẩn tại các nước láng giềng và khoảng 7,6 triệu người khác đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ nhưng vẫn sống quanh quẩn bên trong nước Syria. Sự gia tăng các cuộc tấn công của lực lượng Tổng thống Assad Basher và sự phát triển của ISIS đang thúc đẩy chiến tranh leo thang, và người dân đang cố thoát ra khỏi cuộc chiến này, vì rõ ràng sự xung đột không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn.

Điều tương tự cũng xẩy ra đối với các cuộc xung đột hiện đại (ngoài Syria) đã góp phần thêm vào hơn một nửa số người tị nạn thế giới đã lưu vong trong năm năm qua.

Các nước Lebanon, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ là những nơi che chở chính cho khoảng 3,6 triệu người tị nạn Syria, hiện tại đang bị ngợp bởi tràn ngập; Viện trợ nhân đạo quốc tế rơi rất xa dưới mức nhu cầu. Châu Âu đang thành điểm đến cho làn sóng người tị nạn.

Luongtritinhthuc2
Người di cư biến Budapest thành điểm nghẽn của cuộc khủng hoảng người tị nạn (hình).  Một châu Âu đang bị gãy bởi chen lấn, xô ngã. Mỗi nước và cộng đồng Liên minh châu Âu đang phải đối mặt, tìm cách xử lý thỏa đáng với cuộc khủng hoảng di cư leo thang.

Mỹ đã tái định cư cho 1,554 người tị nạn Syria trong số hơn 4 triệu người đã bỏ chạy kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh dân sự trong năm 2011. Các tổ chức quốc tế đã cố gắng thuyết phục chính phủ liên bang Mỹ để tiếp nhận nhiều hơn, nhưng Nhà Trắng vẫn chưa đưa ra một cam kết chính thức để làm như vậy. Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ nói với TIME rằng Hoa Kỳ có thể nhận tổng số 1.500 – 1.800 người tị nạn Syria trong tháng Mười và hy vọng sẽ tăng số này nhiều hơn trong năm tài chính tới.

Ngoại trưởng John Kerry nói ngày 9 tháng 9 năm 2015 là Mỹ sẽ phải cam kết tăng số lượng người tị nạn lên khoảng ​​70.000 đến 75.000 người, một phần trong số này là từ Syria, nhưng ông đã không đưa ra bất kỳ chi tiết cụ thể nào. Người tiền nhiệm của ông Kerry, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ là bà Hillary Clinton, đã kêu gọi “một nỗ lực toàn cầu phối hợp” để giảm bớt cuộc khủng hoảng.

Lương tri thức tỉnh trước những hiểm họa toàn cầu: Chiến tranh và hòa bình, xung đột và tranh chấp, di cư và tị nạn, cần nỗ lực toàn cầu phối hợp để giải quyết, với an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống.

Nhà nhân đạo và nông học Norman Bourlaug có nói: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.”

Hòa bình xanh, cách mạng xanh mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

Nguồn trích dẫn: (TIME) The 5 Big Questions About Europe’s Migrant Crisis
(hình ảnh từ bài viết trên của TIME)

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Tình hình biển Đông có gì mới ?

alt

Tình hình biển Đông có gì mới ? được tiếp nối trên trang Tình yêu cuộc sống với các bài mới đáng chú  ý : 7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì? (Hải Đăng, VHNA 30 3 2015)  Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển  Đông (VOA 2 4 2015); Sóng ngầm địa chính trị khu vực và sự lựa chọn của Việt Nam (Lê Hồng Hiệp. Nghiên cứu Quốc tế 28. 12. 2014); Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam (RFI, 2.3. 2015);  xem tiếp...



VN cập nhật báo cáo cho Công ước khung về biến đổi khí hậu

VN cập nhật báo cáo cho Công ước khung về biến đổi khí hậu

Ngày 23/1, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường giới thiệu Báo cáo cập nhật của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (BUR1). Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Văn Tuệ cho biết, trong quá trình tham gia Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 13 tại Bali, Indonesia vào năm 2007 đến Hội nghị lần thứ 19 tại Ba Lan vào năm 2013, các nước đang phát triển được khuyến khích xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển Carbon thấp và tự nguyện thông báo cho Ban thư ký Công ước khí hậu các đề xuất về các Hành động giảm nhẹ khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (gọi tắt là NAMA). Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện các hoạt động nghiên cứu, phát triển các NAMA tại Việt Nam.

Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (BUR1) có 4 chương, gồm: Bối cảnh quốc gia; Kiểm kê quốc gia khí nhà kính; Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Nhu cầu tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực và trợ giúp nhận được cho các hoạt động biến đổi khí hậu.

Theo BUR1, tổng lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương bao gồm lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và 266 triệu tấn CO2 tương đương không bao gồm LULUCF. Phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 53,03% tổng lượng phát thải không tính LULUCF, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp chiếm 33,20%. Phát thải từ các lĩnh vực công nghiệp hóa và chất thải tương ứng là 7,97% và 5,78%.

BUR1 còn có các phương án giảm nhẹ khí nhà kính trong từng lĩnh vực như: Năng lượng; nông nghiệp; LULUCF. Cùng với đó là những nhu cầu tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực và trợ giúp nhận được cho các hoạt động biến đổi khí hậu.

Trước đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng công bố Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với Biến đổi khí hậu.

Theo ước tính, trung bình mỗi năm Việt Nam phải chịu từ 6 đến 7 cơn bão. Từ năm 1990 đến 2010 đã xảy ra 74 trận lũ trên các hệ thống sông. Hạn hán nghiêm trọng, xâm nhập mặn, sạt lở đất, và nhiều thiên tai khác cũng đã và đang gây trở ngại cho sự phát triển của các vùng miền trên cả nước.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, các thiên tai mang tính cực đoan đã xảy ra nhiều hơn, gây thiệt hại nhiều hơn về người và ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế đất nước.

Thông tin về cực đoan khí hậu trong tương lai, đại diện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho biết, theo kịch bản nồng độ khí nhà kính cao, số ngày nắng nóng dự tính đến giữa thế kỷ 21 tăng phổ biến từ 20-30 ngày; đến cuối thế kỷ, số đợt nóng (3 ngày liên tiếp) dự tính sẽ gia tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, đặc biệt là khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên với mức tăng có thể lên tới 6-10 đợt.

Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan cũng nhận định, tình hình hạn hán có khả năng xuất hiện nhiều và kéo dài hơn trong thế kỷ 21 ở hầu hết các vùng khí hậu trên cả nước.

Cùng với sự gia tăng của nhiệt độ và các hiện tượng cực đoan, số lượng bão hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam có thể giảm về tần suất nhưng tăng về cường độ và số lượng bão mạnh. Số ngày rét đậm, rét hại cũng có xu thế giảm, tuy nhiên số lượng các đợt rét lại biến đổi phức tạp và biến động mạnh từ năm này qua năm khác

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Toàn thế giới sẽ thiếu nước vào năm 2040

Toàn thế giới sẽ thiếu nước vào năm 2040

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Nước được sử dụng trên toàn thế giới để sản xuất điện, nhưng các kết quả nghiên cứu mới nêu rõ sẽ không có đủ nước trên thế giới để đáp ứng nhu cầu nước vào năm 2040, nếu trước thời điểm này, tình hình sản xuất điện năng không được cải thiện.

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Hai báo cáo nghiên cứu mới về mối quan hệ giữa điện và nước trên toàn cầu vừa được công bố. Nghiên cứu do nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học Aarhus ở Đan Mạch, Trường Luật Vermont và Công ty CAN ở Hoa Kỳ thực hiện trong vòng 3 năm tại Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Ấn Độ nêu rõ, đến năm 2040 sẽ không có đủ nước trên thế giới để xóa tan cơn khát của người dân trên toàn thế giới và để duy trì các giải pháp năng lượng, nếu con người tiếp tục hành động như hiện nay. Đây là mâu thuẫn tranh giành những thứ thiết yếu, giữa nhu cầu nước uống với nhu cầu năng lượng.

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Trong hầu hết các nước, điện là nguồn tiêu thụ nước lớn nhất vì các nhà máy điện cần các chu trình làm mát để hoạt động. Chỉ có các hệ thống năng lượng gió và mặt trời là không cần đến các chu trình làm mát, do đó, một trong những khuyến nghị chính mà các nhà nghiên cứu đưa ra là thay thế các hệ thống điện cũ bằng hệ thống điện gió và điện mặt trời bền vững hơn. Một phát hiện đáng ngạc nhiên của nghiên cứu, đó là hầu hết các hệ thống điện thậm chí không thống kê lại lượng nước được sử dụng để duy trì họat động của hệ thống. GS. Benjamin Sovacool thuộc trường Đại học Aarhus nói: "Vấn đề lớn nằm ở chỗ ngành điện thậm chí không xác định được lượng nước họ đã tiêu thụ. Cùng với thực tế là chúng ta không có tài nguyên nước vô hạn, nên có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nếu không hành động sớm".

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> 

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Kết hợp các kết quả nghiên cứu mới với những dự báo về tình trạng thiếu nước và dân số thế giới cho thấy, đến năm 2020, nhiều nơi trên thế giới sẽ không được sử dụng nước uống sạch. Vào thời điểm 2020, khoảng 30-40% dân số thế giới sẽ bị thiếu nước và theo các nhà nghiên cứu, biến đổi khí hậu có thể làm cho tình trạng này thêm tồi tệ. “Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ phải quyết định nên sử dụng nước của chúng ta vào việc gì trong tương lai. Chúng ta muốn sử dụng nước vào việc duy trì các nhà máy điện hay để uống? Chúng ta không đủ nước để làm cả 2 việc này”, GS. Benjamin Sovacool cho biết. Các báo cáo nghiên cứu nhấn mạnh đến 6 khuyến nghị chung cho các nhà ra quyết định để ngăn chặn sự phát triển theo chiều hướng tiêu cực và giải quyết cuộc khủng hoảng nước trên thế giới, đó là:

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Cải thiện hiệu suất năng lượng,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Nghiên cứu các chu kỳ làm mát thay thế,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Ghi lại lượng nước các nhà máy điện sử dụng,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Đầu tư lớn cho năng lượng gió,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Đầu tư lớn cho năng lượng mặt trời,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Xóa bỏ các nhà máy sản xuất điện bằng nhiên liệu hóa thạch tại tất cả các địa điểm bị áp lực về nước (có nghĩa là một nửa hành tinh).

640) {this.resized=true; this.width=640;}">FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

FAO: Giá lương thực toàn cầu suy giảm năm thứ ba liên tiếp

FAO: Giá lương thực toàn cầu suy giảm năm thứ ba liên tiếp

Chỉ số giá lương thực toàn cầu của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã giảm trong cả năm 2014, đánh dấu sự suy giảm năm thứ ba liên tiếp.

Sau ba tháng ổn định, chỉ số giá lương thực toàn cầu đã giảm 1,7% vào tháng 12/2014 do nguồn cung dồi dào, đồng USD mạnh lên trong khi giá dầu giảm mạnh.

Chỉ số này của FAO theo dõi giá của các loại lương thực như ngũ cốc, thịt, các sản phẩm liên quan đến sữa, dầu thực vật và đường trên thị trường quốc tế. Tính chung cả năm 2014, chỉ số này đạt mức trung bình 202 điểm, giảm 3,7% so với 2013.

Giá thịt tháng 12/2014 đã giảm 1,9% so với tháng trước đó do đồng USD mạnh hơn tác động đến giá thịt bò và cừu nhập từ châu Đại dương và thịt lợn nhập từ châu Âu.

Tuy nhiên, tính chung cả năm 2014, giá các loại thịt vẫn tăng tới 8,1%. Chỉ số giá đường đã giảm 4,8%, xuống còn 219 điểm vào tháng 12/2014, chủ yếu do nguồn cung dư thừa và giá dầu thô giảm khiến nhu cầu đường để sản xuất ethanol ít đi.

Giá dầu thô giảm cũng tác động tiêu cực tới các loại hàng hóa được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học như mía đường và dầu cọ.

Giá ngũ cốc cũng giảm tới 12,5% trong cả năm 2014 do sản lượng tăng cao kỷ lục, trong khi giá sữa cũng ở mức thấp nhất kể từ 2009 do nhu cầu nhập khẩu sụt giảm từ Trung Quốc và Nga. Sự suy giảm mạnh nhất được chứng kiến đối với các mặt hàng sữa bột, bơ và pho mát.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Hạn hán khiến sản lượng thóc gạo Thái Lan sụt giảm trên 30%

Hạn hán khiến sản lượng thóc gạo Thái Lan sụt giảm trên 30% 

Theo báo cáo mới nhất của Văn phòng Kinh tế nông nghiệp Thái Lan, hạn hán sẽ khiến xuất khẩu gạo vụ sắp tới của nước này sụt giảm trên 30%.

Thái Lan là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, song sản lượng thu hoạch giảm đi cũng khó có thể tác động lớn tới giá gạo toàn cầu do nguồn dự trữ thóc gạo dồi dào tại Thái Lan và sản lượng cao từ các nhà xuất khẩu như Ấn Độ và Việt Nam.

Vụ thu hoạch thứ hai của Thái Lan kéo dài từ tháng 11 đến tháng Tư sau khi vụ chính được thu hoạch và cần tưới tiêu nhiều do trong thời gian này lượng mưa rất thấp.

Tuy nhiên, Thái Lan đang trải qua tình trạng hạn hán tại tám tỉnh, trong khi chính phủ nước này thông báo không cung cấp nước cho công việc tưới tiêu dọc sông Chao Phraya trong giai đoạn từ tháng 10 tới tháng Tư.

Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết sản lượng thóc gạo vụ sắp tới của nước này sẽ giảm xuống 6,7 triệu tấn trong năm 2015 so với mức 9,7 triệu tấn của năm 2014.

Một nhà giao dịch tại Singapore nhận định "tác động của tình hình đó sẽ là không lớn vì Thái Lan phải cạnh tranh với các nhà xuất khẩu khác. Một lợi thế khác là sản lượng gạo giảm thì chính phủ Thái Lan sẽ bớt đau đầu hơn," do chính phủ nước này vẫn đang phải nỗ lực bán lượng thóc gạo tồn trữ trong kho được mua từ thời chính phủ tiền nhiệm trong kế hoạch hỗ trợ người nông dân (bằng cách trả giá mua thóc gạo cao hơn giá thị trường).

Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO), Thái Lan có thể đã vượt qua Việt Nam và Ấn Độ để trở thành nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2014, với lượng xuất khẩu lên tới 10,2 triệu tấn so với mức tương ứng 10 triệu tấn của Ấn Độ./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

G20 ra thông cáo về an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu

G20 ra thông cáo về an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu

An ninh năng lượng phải trở thành ưu tiên của Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) và sự ổn định của các thị trường là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng của nhóm.

Đây là khẳng định được nêu ra trong tuyên bố chung sau phiên bế mạc của Hội nghị cấp cao G20 ngày 16/11, diễn ra tại thành phố Brisbane, bang Queensland, Australia.

Đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo G20 dành hẳn một phiên họp để thảo luận các vấn đề năng lượng toàn cầu.

Cho đến nay, các nước thành viên G20 chiếm tới hơn 80% mức tiêu thụ năng lượng thế giới, khoảng 60% sản lượng dầu khí và hơn 90% sản lượng than đá toàn cầu.

Tuyên bố chung nhấn mạnh sự ổn định lâu dài của các thị trường dầu mỏ được nhìn nhận là yếu tố cốt lõi để đảm bảo thành công của những cải cách mà các thành viên G20 đã cam kết, qua đó có thể đạt mục tiêu nâng tăng trưởng kinh tế của cả nhóm lên 2,1% trong 5 năm tới.

Các nhà lãnh đạo G20 nhất trí ưu tiên trong tăng cường hợp tác năng lượng, đồng thời kêu gọi tiến hành một cuộc họp bộ trưởng năng lượng các nước vào năm 2015 nhằm thảo luận cải cách trong hệ thống năng lượng thế giới.

Cùng ngày, Hội nghị G20 cũng ra tuyên bố chung về biến đổi khí hậu, trong đó hối thúc hành động mạnh mẽ và hiệu quả trong vấn đề này.

Tuyên bố tái khẳng định sự hỗ trợ của các nước G20 nhằm huy động tài chính cho các chương trình về môi trường như Quỹ khí hậu xanh của Liên hợp quốc. Đây là chương trình nhằm kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước phát triển đối với các nước nghèo để chống lại những tác động của biến đổi khí hậu. Nhật Bản đã đồng ý đóng góp 1,5 tỷ USD trong khi Pháp và Đức mỗi nước sẽ đóng góp 1 tỷ USD cho quỹ.

Bên cạnh đó, G20 cũng ra tuyên bố chung về sự cần thiết tăng cường các thể chế tài chính toàn cầu với mục đích nâng cao mức tăng tưởng toàn cầu và tạo nhiều việc làm có chất lượng.

Các nhà lãnh đạo G20 hoan nghênh việc tăng cường sự hiện diện của các nền kinh tế đang nổi trong Hội đồng ổn định tài chính (FSB), đồng thời kêu gọi tiến hành nhanh chóng kế hoạch cải tổ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Ngoài ra, các nước thành viên G20 cũng nhất trí hợp tác nhằm đảm bảo các thỏa thuận đa phương, song phương và khu vực được thực hiện một cách minh bạch, đóng góp cho hệ thống thương mại đa phương vững mạnh trong khuôn khổ các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)./

Ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững

Ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững

Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát tại Phiên họp giải trình về khoa học - công nghệ trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới (NMT), diễn ra sáng nay (8/4), tại Hà Nội.

Phiên họp do Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, dưới sự chủ trì, điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng.

Phát biểu khai mạc Phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã khẳng định vai trò, vị trí của khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên những tồn tại, thách thức của nông nghiệp Việt Nam trước xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có những giải pháp lâu dài cũng như trước mắt phù hợp để từng bước phát triển hiệu quả, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: Phiên họp giải trình lần này là cơ hội để Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cùng Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, một số bộ, ngành liên quan giải đáp các thắc mắc của đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước liên quan tới nội dung khoa học – công nghệ, phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM.

Giải trình về các nội dung liên quan, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã trả lời chất vấn, tập trung vào việc tổ chức thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại vào phát triển nông nghiệp; chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản; xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam; đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ chăn nuôi trong nước (cây ngô, cây đậu tương); vấn đề cây trồng biến đổi gen, quản lý các loại vật tư nông nghiệp, gia tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng cường sức cạnh tranh và nâng cao đời sống của người nông dân...

Thống kê hiện nay cho thấy, nông nghiệp chiếm 47,5% tỷ trọng sản xuất với hơn 22 triệu lao động, trong đó có tới 10 triệu nông hộ với tổng diện tích đất nông nghiệp xấp xỉ 700.000ha. Đây là một thuận lợi và cũng là thách thức của ngành Nông nghiệp nước ta trong hội nhập ngày càng sâu rộng. Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, những năm qua, Đảng và Nhà nước cũng quan tâm đặc biệt phát triển tiềm năng sẵn có trong nông nghiệp, nhưng ngành Nông nghiệp vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng (tăng mạnh về số lượng, sản lượng cây trồng, vật nuôi). Đơn cử, năm 2013, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam đạt 28 tỉ USD, là một trong 15 nước xuất khẩu nông sản hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, do phát triển theo chiều rộng nên hiệu quả đối với nông dân và đất nước còn hạn chế và không được như mong đợi. Thực tế này đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh sang phát triển theo chiều sâu (nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng nông sản).

 
Trả lời chất vấn của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội), Huỳnh Minh Hoàng (Cà Mau), Bộ NN&PTNT cho rằng, việc phát triển nông nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn phải hướng tới đảm bảo đời sống, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Do đó, Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đã xác định, khoa học – công nghệ là khâu then chốt để nâng cao chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản nước ta. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp, đó là: Sản xuất nông nghiệp phải hướng tới sản xuất hàng hóa, có khả năng cạnh tranh quốc tế với các sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao trong từng sản phẩm.
 
 Cũng theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, đã đến lúc phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, chuyển từ sản xuất dựa trên phát huy khả năng hộ nông dân là chính, sang tổ chức lại liên kết nông dân – doanh nghiệp – các đối tác kinh tế, hình thành chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ nhằm phục vụ sản xuất ổn định và phân phối lợi ích công bằng hơn.

 Bộ trưởng Cao Đức Phát chỉ ra, cần chọn lựa những cây trồng, vật nuôi nông nghiệp mà Việt Nam có lợi thế để phát triển và gia tăng giá trị, xây dựng thành thương hiệu, như: Trong lĩnh vực thủy sản, hiện nay, ngành tập trung vào cá tra, tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) để có những rà soát, quy hoạch, huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nghiên cứu đưa ra mô hình cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện, yêu cầu của từng vùng, từng loài cũng như nâng cao năng lực của các Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học để phát triển các loại giống chất lượng cao.

Giải đáp thắc mắc của các đại biểu: Trần Xuân Hùng (Hà Nam), Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình), Nguyễn Bắc Việt (Ninh Thuận) về bất cập của ngành chăn nuôi hiện nay, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng: Trong điều kiện thực tế hiện tại, một mặt, duy trì phát triển chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Nhưng mặt khác, khuyến khích phát triển chăn nuôi lớn, tập trung, từng bước chuyển từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, phát triển khoa học – kỹ thuật tiến bộ, trong đó, tập trung nghiên cứu chọn, tạo và phổ biến, hướng dẫn tới bà con nông dân những giống vật nuôi có lợi thế của Việt Nam.

 Để khắc phục tình trạng nhập khẩu chủ yếu nguồn thức ăn chăn nuôi hiện nay, Bộ NN&PTNT cũng đang xây dựng phương án và thực tế, đã triển khai phát triển nhanh hơn sản xuất ngô và đậu tương có khả năng cạnh tranh, chú ý tới cây trồng biến đổi gen, tận dụng thành tựu khoa học của thế giới để tạo ra nguồn thức ăn chăn nuôi năng suất, chất lượng …

Ngoài ra, các nội dung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo lực lượng nông dân mới có trình độ khoa học – công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng được Bộ quan tâm, chú ý triển khai.

Liên quan tới công tác khuyến nông, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết: Hiện nay, hệ thống khuyến nông bao phủ 80% số xã với lực lượng 39.000 người, có nhiều đóng góp lớn trong phát triển nông nghiệp, nhưng cũng còn nhiều tồn tại. Do đó, tới đây, Bộ cũng chỉ đạo rà soát lại các tổ chức khuyến nông, tập trung triển khai hoạt động hướng vào các mục tiêu chính của từng địa phương, nâng cao chất lượng mà không chạy theo số lượng. Đặc biệt, sẽ rà soát, điều chỉnh lại cơ chế, chính sách để lực lượng làm công tác khuyến nông gắn bó, bám sát hơn với các nội dung hoạt động, cũng như gắn kết mật thiết với bà con nông dân./.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Liên Hiệp Quốc công bố Báo cáo về tình hình thời tiết trong năm 2013

Liên Hiệp Quốc công bố Báo cáo về tình hình thời tiết trong năm 2013
N.T.T - VISTA

 

Ngày 13/11/2013, Liên Hiệp Quốc đã công bố Báo cáo về tình hình thời tiết 2013 với những cảnh báo nghiêm trọng về khí hậu thế giới. Báo cáo cho biết, năm 2013 là một năm chứng kiến nhiều hiện tượng thời tiết diễn biến bất thường và khắc nghiệt, với nhiều cơn bão lớn, điển hình là cơn bão Haiyan tàn phá Philipin.

 

Báo cáo cho biết, những số liệu tạm thời được Tổ chức Thời tiết Thế giới (OMM) công bố năm 2013 đang trở thành một trong mười năm nóng nhất kể từ năm 1850. Ngoài ra, mực nước biển dâng cũng ở mức cao kỷ lục. Các chuyên gia của cơ quan chuyên trách về khí hậu của Liên Hiệp Quốc cảnh báo, mực nước biển trung bình đến tháng 3/2013 đã đạt kỷ lục, tăng 3,2 mm/năm, gấp đôi với số liệu ghi được trong thế kỷ 20 là 1,6 mm/năm. Nhiệt độ trung bình trong năm cũng đạt mức cao nhất. Hầu hết các vùng trên Trái đất đều có nhiệt độ cao hơn mức trung bình, đặc biệt trong  các khu vực như Ôxtrâylia, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Bắc Phi. Trong 9 tháng đầu năm 2013 cũng được ghi nhận nóng hơn thời gian tương ứng ở các năm 2011 và 2012.

 

Ông Michel Jarraud, Tổng thư ký của OMM, cho biết, mực nước biển sẽ còn tiếp tục tăng do băng tan chảy. Hơn 90% lượng nhiệt bắt nguồn từ khí gây hiệu ứng nhà kính vẫn được đại dương hấp thụ. Chính vì thế mà nước biển sẽ ấm lên làm đại dương giãn nở ra trong hàng trăm năm. Ngoài ra, hàm lượng CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính đã đạt mức đỉnh năm 2012 và trong năm 2013 con số này sẽ còn đạt mức kỷ lục mới. Điều này cho thấy khí hậu thế giới còn nóng hơn nữa trong tương lai.

 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Cần một giải pháp xây dựng đội ngũ khoa học mới

Cần một giải pháp xây dựng đội ngũ khoa học mới
Trần Gia Ninh - Tiasang.

 

Trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam ta thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn.

 

Từ nhiều năm nay, Bộ KH&CN đã mong muốn có được một chính sách sử dụng, trọng dụng nhà khoa học nhằm tạo điều kiện để nhà khoa học phát huy tối đa năng lực và được hưởng lợi ích xứng đáng từ kết quả hoạt động KH&CN. Nhưng để những chính sách đó có tính khả thi thì trước hết cần có giải pháp xây dựng một đội ngũ khoa học mới. 

 

Không chỉ riêng Việt Nam, nhân loại từ lâu cũng đau đầu về việc nghĩ ra cách để đánh giá trình độ tài năng qua bằng cấp và tuyển chọn, bổ nhiệm, từ đó có chính sách ưu đãi và trọng dụng nhà khoa học tài năng:
 

Với nhóm nước có truyền thống đào tạo giáo dục chính thống lâu đời như nhóm quốc gia châu Âu lục địa (Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Nga…) thì họ chọn việc tôn trọng bằng cấp đi kèm với thi cử chặt chẽ và chính danh bổ nhiệm. Ở những nước này, nhân tài trên Đại học (không tính cấp Thạc sĩ) phải được lọc qua hai cấp: Tiến sĩ (gọi chung cho Phó tiến sĩ, Ph.D, Dr.Rer nat…) và mức Tiến sĩ Khoa học (gọi chung cho Tiến sĩ Khoa học, Dr.habil, Dr.d’Etat…). Ở trình độ TSKH là mức tài năng cao nhất cho nghề nghiệp giảng dạy Đại học (Professur) việc bổ nhiệm làm Giáo sư (Professor) là đương nhiên nếu có ghế trống, Tiến sĩ cũng có thể bổ nhiệm GS như là ngoại lệ. Ở những quốc gia này, bổ nhiệm Giáo sư là việc do nhà nước (Liên bang hoặc Bang) thực hiện theo tiến cử của một số nhà khoa học độc lập có uy tín nhất. Ngay Einstein muốn được bổ nhiệm Giáo sư (có ghế hoặc thỉnh giảng) cũng phải hoàn thành luận văn Habilitation. Như vậy, nếu nhà nước muốn giữ quyền tuyển chọn và bổ nhiệm thì bộ lọc nhân tài phải nghiêm cẩn thứ bậc, minh bạch và chặt chẽ.

Ở những quốc gia theo xu hướng thực dụng, đánh giá theo thực lực (nhóm Anglo-Saxon như Anh, Mỹ) thì chỉ có một cấp Ph.D và hoàn toàn phân quyền, cạnh tranh tự do về tài năng. Đại học và Viện Nghiên cứu mọi loại hình sở hữu đều tự trị. Giáo sư là một chức vụ nghề nghiệp, lấy Ph.D là một điều kiện nhưng quyết định lại là tài năng thực sự, do trường tự chọn, tự chịu trách nhiệm và tự bổ nhiệm, hết dạy là hết chức danh. Nhà nước không can thiệp ngoài sự hỗ trợ tài chính theo luật định. Dễ nhận thấy rằng, dù là hệ thống nào thì cũng phải bảo đảm có hai vế: Động lực và Kiểm soát. Nếu động lực, đánh giá là sự ban phát của nhà nước thì bằng cấp phải được kiểm soát chặt chẽ, thực chất, qua nhiều bộ lọc độc lập có trách nhiệm. Nếu bằng cấp là thả nổi thì xã hội và thị trường nhân lực là hệ thống kiểm soát đánh giá theo thực chất, nhà nước không can thiệp. Nhà nước chỉ tạo chính sách để thu hút nhân tài cho quốc gia kể cả rút ruột các quốc gia khác.

 

Dù đã được thiết kế chặt chẽ và hợp lý như vậy nhưng không có hệ thống nào được coi là hoàn thiện mà không phải liên tục cải tiến. Huống hồ trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn. 

Những năm gần đây nhiều lâu đài của khoa học cũng không còn tự trọng, chăm lo cho uy tín của mình nữa, vì không ít lãnh đạo các đơn vị nhà nước đó không lo bị xã hội đào thải và chẳng còn động lực gì ngoài đồng tiền. Đến mức như Đại học Quốc gia… thậm chí còn liên kết đào tạo, bán bằng rởm, điển hình như hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ ĐH Irwin (rởm), ĐH Giggs. Có lãnh đạo chuyên ngành ở Viện Hàn lâm nọ được xác định gian trá trong khoa học lại được nhà nước đưa lên nắm giữ những trọng trách như Tổng Cục trưởng chính cái ngành chuyên môn anh ta đã gian trá, hoặc có anh khác lại làm Viện trưởng các Viện lớn hơn nữa… Đó thật sự là nhạo báng nhân tài.

Đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là một quá trình dài hạn, có tính thừa kế liên tục. Cha nào con nấy, thầy nào trò nấy… Nếu không nhìn nhận sự thật cay đắng đó và có những quyết sách quyết liệt trong việc thanh lọc lại đội ngũ hiện có và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ mới thì mọi chính sách về ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ KHCN, nếu có đề ra, cũng chỉ là vẽ rắn thêm chân.

Cần phải thành thật nhìn nhận rằng trong đội ngũ cán bộ KH&CN hiện nay, có nhiều người đang thực sự là vật cản vô hình chính yếu đối với mọi hoạt động KHCN. Việc đánh giá, thanh lọc đội ngũ này là cấp thiết nhưng rất khó khăn, nhất là các tổ chức KHCN ở nước ta hiện nay chủ yếu là công lập hoặc nằm trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Tất cả các tổ chức này đã hành chính hóa nặng nề, không thể tự cải tổ được. Do vậy việc cải tổ phải là một quá trình áp đặt từ bên ngoài. 

Để thực hiện chính sách cải tổ áp đặt này nhà nước có thể chọn mời cỡ 50-60 nhà khoa học thật sự, đã trực tiếp làm khoa học cho đến nay (kể cả số đã nghỉ), có thành quả cụ thể (không phải chỉ nói hay) đủ uy tín với giới chuyên môn trong và ngoài nước (chứ không phải với quan chức nhà nước). Họ phải không có hoặc không còn có tham vọng quyền lực hành chính. Những nhân vật này sẽ được giao đề xuất một chính sách và giám sát thực thi việc thanh lọc và xây dựng đội ngũ khoa học công nghệ mới một cách thực chất, vô tư. 

Khi hiện trạng đã được cải tổ, lực lượng KHCN mới thực sự manh nha và phát triển dần, từ đó mới có đất cho những chính sách ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ phát huy tác dụng.

***

Mấy năm trước, báo chí Việt Nam viết về câu chuyện “Tiến sĩ trẻ người Việt trên đất Đức” có đăng bức thư của một giáo sư Đức gửi cơ quan ngoại vụ Đức, xin trích1 “…Tôi đã tìm trong hơn 6 tháng qua mà không thể tìm thấy một ứng cử viên nào có khả năng và kiến thức được như vậy trong lĩnh vực này. Vì những lý do đó tôi yêu cầu quý ngài giải quyết nhanh nhất hồ sơ của kỹ sư Hoang Hung Tran.

Tôi muốn lưu ý các ngài rằng, theo kinh nghiệm cá nhân của tôi thu nhận được trong thời gian tôi điều hành một số công ty  ở Mỹ thì lĩnh vực trên đây đang là nơi cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty của Mỹ và Đức.

Trong điều kiện nói chung rộng mở rất hấp dẫn của nước Mỹ đối với các kỹ sư nước ngoài thì sẽ có nguy cơ mất kỹ sư Hoang Hung Tran vào tay một công ty hoặc trường Đại học của Mỹ nếu quý ngài giải quyết quá chậm chạp…”

Thư yêu cầu gửi cơ quan ngoại vụ Đức (Auslandsamt) của Giáo sư M. Schroeter, chủ nhiệm bộ môn Vi điện tử (hết trích dẫn).

Bài báo cho biết là lập tức Chính phủ bang Sachsen ký ngay một hợp đồng tuyển dụng nhà khoa học 26 tuổi người Việt này với bậc lương viên chức BAT. Điều đáng chú ý là ngay đối với các kỹ sư Đức trẻ tuổi cũng khó có vị trí như vậy, huống chi là người nước ngoài, nhất là lúc tỷ lệ thất nghiệp của người Đức ở đây cao hơn 15%.  

Liên tưởng với câu chuyện hành xử linh hoạt, vì nhân tài này ở nước Đức, một nước điển hình cho quy chuẩn và nguyên tắc cứng nhắc, thử hỏi, liệu có một Giáo sư Việt Nam nào có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam tuyển dụng đặc cách ngay với một chàng trai trẻ tài năng nào đó, người Việt thôi chứ không phải là người nước ngoài, để giữ một trọng trách khoa học với một sự tôn trọng và đãi ngộ thích đáng đủ để giữ chân anh ta lại trong nước. Chưa nói đến sẵn sàng linh hoạt hành xử như người Đức nguyên tắc, mà chỉ riêng việc tin tưởng và tôn trọng ý kiến nhà khoa học cũng là việc hầu như ít thấy ở các quan chức hành chính Việt Nam. 

Vì vậy, trong quá trình xây dựng chính sách ưu đãi sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, những ý kiến của những nhà khoa học được giao nhiệm vụ đó và của cộng đồng khoa học, cần được những quan chức quản lý KHCN (như Bộ KH&CN chẳng hạn) tôn trọng, lắng nghe.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Bảy trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore

FOODCROPS. Những bài học từ sự phát triển quyền lực của Singapore làm rõ ra những tiêu chuẩn sai lầm tư tưởng của những người đướng đầu đất nước thời độc lập và sự mê muội điều hành từ Khổng giáo, chọn lựa trực quan đầy cảm tính không xuất phát từ tâm huyết đại đòan kết dân tộc mà là lợi ích riêng từng phần. So sánh trình độ cũng như tầm nhìn từ những lãnh đạo xuất chúng có thể nhận định rõ những sai lầm trong bộ máy chính trị do lệch lạc tư tưởng. Ba yếu tố chính trong quản lý đất nước của chính sách Singapore là chính sách đãi ngộ nhân tài, tính thực dụng và lòng chân thành. Quản lý luật pháp đặt pháp luật cao hơn chính phủ để dĩ công vi thượng. Quản lý đa văn hóa minh bạch, công bằng, tôn trọng để đạt đại đòan kết về dân tộc.  Phát triển giáo dục lấy tiếng Anh làm chính để theo sát tiến bộ nhân lọai. Quản lý môi trường lấy sinh thái làm trọng để bảo đảm môi trường cộng đồng.  Quản lý kinh tế lấy mở và quốc tế hóa làm đầu để thu hút nguồn vốn. (Kishore Mahbubani, 2013).

Bảy trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore

Nhật báo "Strait Times" của Singapore số ra ngày 9/11 đã đăng tải bài viết của ông Kishore Mahbubani - Hiệu trưởng Trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore - nhận định về 7 trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore.

Tác giả Mahbubani cho rằng trụ cột quyền lực mềm đầu tiên rất rõ ràng: đó là một ban lãnh đạo xuất chúng. Theo ông, các nhà lập quốc Singapore tài năng không thua kém các nhà lập quốc Mỹ. Một trong số đó, Tiến sĩ Goh Keng Swee, thậm chí còn trở thành cố vấn cho lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Cũng không có gì phải nghi ngờ rằng Lý Quang Diệu là một trong những nhà lãnh đạo toàn cầu nổi bật nhất. Ông rất được tôn trọng ở phương Tây và không ngần ngại nói thật. Rõ ràng, Lý Quang Diệu đã "đặt" Singapore lên bản đồ thế giới.

Trụ cột thứ hai là khả năng quản lí đất nước. Theo ông Mahbubani, sự thành công của Singapore nằm ở ba yếu tố chính: chính sách đãi ngộ nhân tài, tính thực dụng và lòng chân thành. May mắn là dù quy định luật pháp là một khái niệm phương Tây, song nó vẫn hoạt động hiệu quả trong các xã hội phương Đông. Ông Mahbubani nhấn mạnh rằng tại Singapore, luật pháp đứng trên chính phủ. Toàn bộ Nội các cũng là một đối tượng của những bộ luật được áp dụng cho toàn bộ người dân đất nước.

Trụ cột thứ ba là tính đa văn hóa. Tác giả nhấn mạnh tới việc bốn nền văn minh lớn thế giới đang tương tác với nhau mỗi ngày ở một Singapore nhỏ bé: Trung Quốc, Malay-Hồi giáo, Ấn Độ và phương Tây. Sẽ không dễ dàng để những người từ nhiều văn hóa khác nhau có thể cùng chung sống. Vì thế, luật pháp tại Singapore được áp dụng để chống phân biệt sắc tộc và tôn giáo, cũng như nhiều quy định được đưa ra để đảm bảo cộng đồng thiểu số được đại diện tại mỗi khu nhà công cộng. Không nhiều xã hội khác trên thế giới có thể sánh với thành tích của Singapore trong việc quản lí đa văn hóa.

Trụ cột thứ tư là tiếng Anh. Thực tế, người dân Singapore có kĩ năng nói tiếng Anh tốt nhất châu Á. Mỗi đứa trẻ Singapore đều được dạy cả tiếng Anh lẫn ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Việc tiếp xúc với tiếng Anh không chỉ giúp người dân có được kỹ năng ngôn ngữ, nó còn mở ra cánh cửa tới kho tàng di sản giàu có của văn minh phương Tây, giúp người Singapore có được lợi thế cạnh tranh khác.

Trụ cột thứ năm là đồ ăn, như câu nói nổi tiếng của cựu Ngoại trưởng George Yeo, ăn uống là “đạo” của Singapore. Người dân Singapore thoải mái ăn nhiều món ăn theo phong cách ẩm thực khác nhau trong cùng một ngày, thậm chí trong cùng một bữa ăn.

Trụ cột thứ sáu là môi trường xanh. Singapore chỉ có diện tích bằng 1/5 Rhode Island, tiểu bang nhỏ nhất tại Mỹ. Tuy nhiên, Singapore lại có nhiều loại thực vật hơn cả 48 bang lục địa của Mỹ gộp lại. Singapore cũng có Ngày Trồng Cây hàng năm, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc phủ xanh.

Cuối cùng, trụ cột thứ bảy là Singapore là quốc gia mở và toàn cầu hóa nhất thế giới. Tổng kim ngạch thương mại của Singapore hiện gấp 3,5 lần Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP). Đây là lí do khiến Ngân hàng Thế giới xếp Singapore là quốc gia tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh dễ dàng nhất thế giới. Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc tập đoàn "Nhà Kinh tế" hiện xếp Singapore là thành phố có sức cạnh tranh thứ ba thế giới, sau New York và London.

Theo ông Mahbubani, quyền lực mềm phụ thuộc nhiều vào bối cảnh toàn cầu. Trong thế kỉ 19, khi châu Âu vượt trội, London và Paris thu hút cả thế giới bằng quyền lực mềm của họ. Tuy nhiên, thời đại đã thay đổi. Quyền lực đang chuyển từ Tây sang Đông. Song phương Tây vẫn chưa kết thúc. Đó vẫn là nền văn minh mạnh nhất thế giới trong một khoảng thời gian tới. Vì thế, các thành phố có quyền lực mềm tốt là sẽ những nơi có thể kết hợp những phẩm chất tốt nhất của cả phương Đông và phương Tây. Đây chính là vị trí của Singapore. Người Singapore đang có một bản sắc kép đặc biệt khi sống ở một quốc gia hiện đại nhất châu Á và cũng Tây hóa nhất. Nếu thành công với quyền lực mềm của mình, Singapore hoàn toàn có thể đạt được vị thế có ý nghĩa toàn cầu. 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY  

Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn

FOODCROPS. Đứng trên vai những người khổng lồ tiên phong. Phương Tây mới thực sự là cái nôi của các ngành khoa học công nghệ cao. Tư duy mở, hợp tác trao đổi công nghệ nhiều hơn trong nghiên cứu mới có thể xây dựng được thế giới khoa học ngôn ngữ cho người Việt. Khỏang cách do sự khác biệt ngôn ngữ, yếu kém trong đào tạo giáo dục, tư duy đóng trong chia sẽ kiến thức, hạ tầng không đồng bộ ... là vấn đề chính gây cản trở trong nghiên cứu thực tế. Việt Nam khác Trung Quốc ngay từ nền tảng. Không thể chỉ học tập theo mô hình đóng của Trung Quốc trong phát  triển khoa học kỹ thuật mà phải gắn chặt hơn vào sự cởi mở của khoa học phương Tây bằng việc mở rộng ngôn ngữ giáo dục chính quy có tôn trọng và kế thừa. Lịch sử để lại của nước Trung Hoa không phải là một sự thuần khiết cho giáo dục hiện đại.  Nên tiến đến lấy ngôn ngữ tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính từ bậc Trung học lên Đại học.  Đẩy mạnh các phương thức giáo dục song ngữ Anh - Việt kết hợp ngôn ngữ truyền thống tiếng Hoa ngọai khóa tiến theo mô hình giáo dục từ Singapore sẽ giúp thế hệ trẻ vượt lên, thóat khỏi thiếu sót từ hệ thống giáo dục thiếu động lực do những hạn chế của quá khứ để lại cho đất nước. 

Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn

Phùng Văn Quân
Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ, thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ

Việt Nam hiện có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức chỉ khoảng 2.000 kết quả có tiềm năng ứng dụng thực tế.

Thực trạng kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tại các kỳ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X "phát triển thị trường Khoa học và công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm khoa học và công nghệ (từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển ) trở thành hàng hóa. 

Để thực hiện chủ trương trên, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, hệ thống luật và các văn bản hướng dẫn luật, nghị định. Điều này có tác động tích cực nhất định đối với việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam. Một số viện nghiên cứu và phát triển đã thành công trong chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Xét số nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp hàng năm, các tổ chức nghiên cứu trong nước thực hiện khoảng 2.000 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đóng góp kết quả vào nguồn tài sản trí tuệ có thể khai thác thương mại phục vụ phát triển sản xuất.

Theo nguồn thông tin chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, riêng số lượng các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tại các trường đại học, mỗi năm, khối các trường đại học đào tạo khoảng 15.000 thạc sĩ, 1.000 tiến sĩ. Nếu coi mỗi luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ là một kết quả nghiên cứu, thì hàng năm khối các trường đại học đóng góp vào kho kết quả nghiên cứu khoảng 16.000 kết quả.

Đối với các sáng chế, giải pháp hữu ích có nguồn gốc nước ngoài được các tổ chức, cá nhân đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, theo thông tin từ Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia, tính đến tháng 10 năm ngoái, đơn vị này đã cấp khoảng 12.000 văn bằng bảo hộ.

Đối với kho tài sản trí tuệ mở của thế giới, hiện Cục Sở hữu trí tuệ đang lưu trữ gần 30 triệu bản mô tả sáng chế (tương ứng 30% số sáng chế lưu giữ tại WIPO đang lưu giữ tại NOIP), trong đó có 31.500 bản đã được dịch ra tiếng Việt sẵn sàng cho tra cứu khai thác. Đây là nguồn tài sản trí tuệ rất lớn đóng góp vào nguồn các kết quả nghiên cứu, sáng chế phục vụ cho khai thác thương mại, phát triển sản xuất ở nước ta.

Ngoài các nguồn trên, một nguồn khá lớn các kết quả nghiên cứu, giải pháp hữu ích đến từ các nhóm đơn lẻ, các cá nhân, thường được biết đến với cái tên “sáng chế nông dân”. Những kết quả nghiên cứu này đến từ quá trình tìm tòi, sáng tạo của người lao động nhằm giải quyết các vấn đề kĩ thuật liên quan đến lao động sản xuất của họ. Nhiều kết quả nghiên cứu loại này có tiềm năng ứng dụng lớn vì nó xuất phát từ bài toán thực tiễn sản xuất. Theo ước tính sơ bộ, các nghiên cứu loại này mỗi năm có hàng nghìn kết quả.

Như vậy, xét về số lượng, có thể thấy, hiện chúng ta đang sở hữu một kho kết quả nghiên cứu, sáng chế rất lớn. Ước tính, hàng năm các tổ chức cá nhân trong nước đóng góp thêm vào kho tài sản trí tuệ khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, sáng chế.

Tuy nhiên, hướng nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu theo tiêu chí ứng dụng vào khu vực doanh nghiệp sản xuất là điều cần phải quan tâm. Hiện Việt Nam có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức là chỉ khoảng 2.000 kết quả là có tiềm năng ứng dụng thực tế, số còn lại là các nghiên cứu không phải nghiên cứu ứng dụng, hoặc những nghiên cứu chưa thiết thực với thực tế sản xuất trong nước.

Ngoài ra, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ các tổ chức khoa học và công nghệ vào doanh nghiệp còn rất hạn chế.

Theo kết quả của một cuộc điều tra về thị trường công nghệ, trên 50% số doanh nghiệp trả lời có quá ít các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước cung cấp công nghệ cho thị trường và nếu có thì thường chỉ là các công nghệ nhỏ lẻ, ít tạo thành các dây chuyền công nghệ đồng bộ, đủ sức tạo ra sản phẩm hàng hóa cạnh tranh với nước ngoài.

Theo đánh giá của các cơ quan quản lý, các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước thường nghiên cứu tiếp nhận những thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và vận dụng vào Việt Nam, ít công trình sáng tạo. Ngay cả những đề tài nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn, số kết quả nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện cấp bằng bảo hộ trí tuệ không nhiều.

Theo thống kê, mỗi năm số hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng thực hiện thành công chỉ khoảng 20 – 30 hợp đồng. Nếu kể cả các khai thác theo thỏa thuận giữa các nhóm nghiên cứu với các doanh nghiệp không qua các hợp đồng chuyển nhượng, con số khai thác thành công các kết quả nghiên cứu cũng chỉ tính theo đơn vị hàng trăm.

So với con số tiềm năng khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, 13.000 nhu cầu đổi mới công nghệ mỗi năm, có thể thấy việc khai thác thương mại kết quả nghiên cứu, sáng chế trong nước là quá nhỏ so với tiềm năng.

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu trên thế giới

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, chình quyền liên bang Hoa Kỳ đã có những thay đổi to lớn trong chính sách, chiến lược liên quan đến việc khai thác và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. 

Để thực hiện điều này, việc đầu tiên, Mỹ ban hành các điều luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Ví dụ, để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980, Mỹ ban hành Luật Bayh-Dole. Từ khi đạo luật này ra đời, các trường đại học của Mỹ đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của họ.

 Theo các nhà nghiên cứu, cứ một đô la đầu tư vào tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ, trường đại học nhận được trên 6 đô la thu nhập từ các dịch vụ chuyển giao công nghệ. Hiện Mỹ có hơn 200 trường đại học hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ trong trường. Ngoài ra, chính quyền liên bang còn rất chú trọng trong việc kết nối các doanh nghiệp với các trường đại học. Mối liên kết này được thực hiện qua việc đầu tư một phần của doanh nghiệp vào hoạt động của các trung tâm nghiên cứu tại trường Đại học. Về phần mình, trường Đại học chịu áp lực từ hội đồng khoa học Quốc gia, chủ động kết nối với doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu – triển khai. Đây là điểm thể hiện mối liên kết bền chặt giữa Nhà nước – trường đại học và doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được chú trọng ở nhiều nước châu Á. Đầu năm 2000, Hàn Quốc ban hành Luật Thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhằm đẩy mạnh việc thương mại hóa công nghệ được tạo ra từ các tổ chức khoa học và công nghệ. Thông qua các biện pháp miễn, giảm thuế, hỗ trợ tài chính, Hàn Quốc hỗ trợ thành lập các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ như Trung tâm Chuyển giao công nghệ quốc gia, các văn phòng chuyển giao công nghệ trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập.

Để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Malaysia đã xây dựng Chương trình hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Chương trình tài trợ một phần kinh phí thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển trong nước.

Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện những biện pháp mạnh để thúc đẩy tiến trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trung Quốc thực hiện một số biện pháp cải cách hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ. Hiện nhiều viện nghiên cứu truyền thống buộc phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng dành một khoản ngân sách đáng kể để khuyến khích và hỗ trợ các viện nghiên cứu tiến hành thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình và đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ cho các sáng chế.

Chính sách của các nước góp phần quan trọng gia tăng tốc độ giao dịch mua bán công nghệ (bao gồm kết quả nghiên cứu và phát triển). Ở một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia, tăng trưởng về giao dịch mua bán công nghệ đang diễn ra với tốc độ cao.

Đặc biệt, giao dịch mua bán công nghệ trên thị trường Trung Quốc trong hơn 20 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng trên hai lần so với tăng trưởng GDP. So với các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, ở các nước như Trung Quốc, Malaysia và nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, sự can thiệp của nhà nước trong việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học mạnh hơn.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Thực phẩm bền vững - Chìa khóa bảo đảm an ninh lương thực

Thực phẩm bền vững - Chìa khóa bảo đảm an ninh lương thực

 

Nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO - 16/10/1945-16/10/2013), Ngày Lương thực Thế giới năm nay có chủ đề: "Thực phẩm bền vững giúp bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng".

 

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 870 triệu người bị thiếu dinh dưỡng trường diễn và cộng đồng quốc tế đang hết sức nỗ lực xóa đói giảm nghèo. Các phương thức phát triển không bền vững đang làm suy thoái môi trường tự nhiên, đe dọa các hệ sinh thái và đa dạng sinh học vốn rất cần thiết cho việc cung ứng lương thực, thực phẩm trong tương lai.

 

Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực và dinh dưỡng sẽ được quan tâm giải quyết theo cách bền vững.

Các hệ thống thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp. Một hệ thống thực phẩm là một chuỗi hoàn chỉnh bao gồm tất cả các khâu từ trồng, chế biến, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ, bán, mua, và tiêu thụ thực phẩm. Các hệ thống thực phẩm sẽ là bền vững khi chúng không gây hại cho môi trường và đem lại mức lợi nhuận hợp lý cho những nỗ lực mà tiểu nông bỏ ra.

 

FAO cho rằng các hệ thống thực phẩm bền vững là chìa khóa đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng, nên chủ đề “Các hệ thống thực phẩm bền vững giúp đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng” sẽ là hoạt động trọng tâm của Ngày Lương thực Thế giới 2013. Đây cũng là dịp giúp nâng cao hiểu biết về các vấn đề tồn tại cùng giải pháp trong công cuộc nỗ lực xóa đói nghèo.

 

Năm nay, tổ chức FAO tại Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm Ngày Lương thực Thế giới cùng Bộ NNPTNT tại xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Việc tổ chức lễ kỷ niệm tại xã đã đạt chuẩn nông thôn mới ở nước ta nhằm đưa ra một thông điệp: "Xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới mặc dù là vấn đề khó, nhưng nếu quyết tâm và nỗ lực cao, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện thành công".

 

Nhân dịp này, FAO đã trao các giải Nhất, Nhì, Ba và giải Khuyến khích cho 8 tác phẩm xuất sắc tham dự cuộc thi ảnh "Các hệ thống thực phẩm bền vững giúp người dân Việt Nam nâng cao đời sống".

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC 

Hơn 500 triệu người có thể đối mặt với sự khan hiếm nước do biến đổi khí hậu

FOODCROPS. Biến đổi khí hậu đặt nhân lọai vào mối quan hệ cộng hưởng có tác động mạnh đến các mặt của xã hội gây nguy cơ bất ổn chính trị cao. Nếu chỉ tập trung giải quyết các nhu cầu chính trị và đứng ngòai mối quan hệ hợp tác với các quốc gia cộng động, đất nước sẽ bị cô lập và không tìm được giải pháp cho chính mình. Ngay cả khi nóng lên toàn cầu được giới hạn trong mức tăng nhiệt là 2oC, 500 triệu người vẫn có thể đối mặt với tình trạng khan hiếm nước, số người phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng thêm 8%. Với một quốc gia như Việt Nam thì hệ thống phân phối nước từ trách nhiệm của nhóm điều hành các dịch vụ công sẽ giải quyết thế nào để đảm bảo nhu cầu sinh họat của người dân vùng xa, và những vùng nằm trong tác động của biến đổi khí hậu!

 

Hơn 500 triệu người có thể đối mặt với sự khan hiếm nước do biến đổi khí hậu

 

Cả hai nguồn cung cấp nước ngọt cho hàng triệu người và sự ổn định của hệ sinh thái như vùng lãnh nguyên Siberia hoặc đồng cỏ Ấn Độ đang đối diện với những rủi ro do biến đổi khí hậu. Ngay cả khi nóng lên toàn cầu được giới hạn trong mức tăng nhiệt là 2oC, 500 triệu người vẫn có thể đối mặt với tình trạng khan hiếm nước. Con số này sẽ tăng thêm 50% nếu lượng phát thải khí nhà kính không được cắt giảm sớm. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên 5oC, gần như tất cả các vùng đất không có băng trên thế giới có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hệ sinh thái.

 

Điều này được thể hiện qua các nghiên cứu được các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Tác động khí hậu Potsdam (PIK) công bố. Nghiên cứu chỉ ra, khi nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 2oC, số người phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng thêm 8%. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng 3,5oC, điều này có khả năng xảy ra nếu lượng khí thải của các quốc gia chỉ được giảm ở mức cam kết hiện tại, tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số thế giới. Mức tăng 5oC có thể làm số người dân bị ảnh hưởng tăng lên 13%.

Nhà nghiên cứu Gerten chỉ ra rằng: Nếu tốc độ tăng trưởng dân số vẫn tiếp tục, vào cuối thế kỷ này, theo như kịch bản như bình thường, hơn một tỷ con người sẽ phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước. Người dân tại các khu vực châu Á và Bắc Phi, Địa Trung Hải và Trung Đông là những người đặc biệt dễ bị tổn thương.

Các khu vực có nguy cơ biến đổi hệ sinh thái sẽ tăng gấp đôi khi nhiệt độ toàn cầu tăng khoảng 3 – 4oC, Lila Warszawski, tác giả chính của một nghiên cứu khác nói về những hậu quả có thể có do biến đổi khí hậu gây ra đối với các hệ sinh thái tự nhiên. Mức gia tăng nhiệt độ 5oC có khả năng xảy ra trong thế kỷ tới nếu biến đổi khí hậu tiếp tục không suy giảm. Mức gia tăng nhiệt độ này sẽ đặt gần như tất cả các hệ sinh thái tự nhiên trên mặt đất có nguy cơ bị thay đổi nghiêm trọng.

Các khu vực có nguy cơ gặp nhiều rủi ro nếu quá trình nóng lên toàn cầu không suy giảm, bao gồm các khu vực đồng cỏ của Đông Ấn Độ, các vùng đất cây bụi của cao nguyên Tây Tạng, các khu rừng của miền Bắc Canada, các thảo nguyên của Ethiopia và Somalia và các khu rừng nhiệt đới Amazon. Nhiều khu vực trong số này là các khu vực sinh học đa dạng, phong phú và độc đáo.

Các nghiên cứu sử dụng một phương pháp tiếp cận mới, đưa ra các rủi ro dựa trên những thay đổi của cấu trúc thảm thực vật, các dòng chảy của nước và lượng các-bon lưu trữ. Các mô hình mô phỏng sinh quyển đã được sử dụng để so sánh hàng trăm kịch bản biến đổi khí hậu và chỉ ra các khu vực đầu tiên có thể phải đối mặt với các tác động quan trọng của biến đổi khí hậu.

Hans Joachim Schellnhuber, một trong những đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: “Tình trạng khan hiếm nước ngày một nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của một số lượng lớn người dân, trong đó những người nghèo là dễ bị tổn thương nhất. Do đó, lượng phát thải khí nhà kính phải được giảm đáng kể trong thời gian ngắn”.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Tiềm năng và tiềm ẩn

Tiềm năng và tiềm ẩn

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng Việt Nam đang ở dưới mức "tăng trưởng tiềm năng" khi GDP chỉ xoay quanh mốc 6% và có thể xuống mức 5% trong hai năm tới.

Trong buổi công bố cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam mới diễn ra hôm cuối tuần trước, WB cho biết "mức tăng trưởng tiềm năng" của nền kinh tế Việt Nam là 7% với điều kiện thực hiện tốt những cải cách về cơ cấu, thể chế.

Đánh giá này có thể coi là một hồi chuông cảnh báo quan trọng bởi nhiều năm qua, không ít người đã bị “ru ngủ” trong những nhận định có cánh về “tiềm năng” tăng trưởng của nền kinh tế.

Không chỉ đánh giá chung về nền kinh tế mà hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực khác của Việt Nam cũng được cho rằng có “tiềm năng lớn” để tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

Thế nhưng, thực tế cho thấy sau nhiều năm phát triển, những “mức tăng trưởng tiềm năng” trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và thậm chí là của cả nền kinh tế vẫn chỉ dừng ở mức “tiềm ẩn” khi hàng loạt mặt hàng vẫn xuất khẩu dưới dạng thành phẩm thô, chưa qua tinh chế. Các ngành da giày, dệt may còn nặng về gia công chứ chưa chú trọng đến giá trị gia tăng của sản phẩm.

Đến cả các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm thị phần lớn trên thị trường quốc tế như gạo, cà phê, hồ tiêu, hải sản… cũng chưa giành được vai trò chi phối thị trường mà vẫn bị phụ thuộc vào các đối tác, thương lái nước ngoài.

Đứng trước thực trạng này, các chuyên gia cũng thẳng thắn thừa nhận một trong những nguyên nhân chính là do hầu hết các ngành đều đang thiếu quy hoạch phát triển tổng thể, dẫn đến tình trạng các cá nhân, doanh nghiệp đều đang phát triển manh mún, tự phát, thiếu sự liên kết, mạnh ai nấy làm.

Điều đáng nói là những vấn đề này đã được thảo luận nhiều lần, trong hàng trăm các cuộc hội nghị, hội thảo lớn nhỏ được tổ chức rầm rộ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sau khi các cuộc hội thảo đó kết thúc trong tiếng vỗ tay mừng thành công vang dội của các quan khách, đại biểu thì mọi chuyện dường như vẫn đâu vào đấy. Nông dân vẫn loay hoay với bài toán trồng cây gì, nuôi con gì; được mùa mất giá, được giá mất mùa, bị thương lái, thậm chí cả thương lái nước ngoài chèn ép.

Công nhân các nhà máy, khu công nghiệp vẫn vật lộn với công cuộc mưu sinh hàng ngày khi nguy cơ thất nghiệp ngày càng lớn trong tình cảnh số lượng doanh nghiệp phá sản liên tục tăng. Còn người dân cả nước nói chung hàng ngày vẫn phải đương đầu với các tín hiệu không mấy khả quan của nền kinh tế.

Như vậy, có lẽ đã đến lúc Việt Nam cần rũ bỏ những hào quang của quá khứ về một quốc gia đang phát triển có "tốc độ tăng trưởng ấn tượng” hay "thành công đáng ghi nhận” để thực sự bắt tay vào việc biến những “tiềm năng” thành kết quả thực tế chứ không chỉ mãi là “tiềm ẩn” như bây giờ.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

 

Biết mình biết người

Biết mình bết người 
Hoàng Lực

(GDVN) - Theo GS Ngô Đức Thịnh - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, trong quá khứ Việt Nam từng giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vì chúng ta “biết mình – biết người”, hiểu mình mạnh và yếu gì để phát huy, khắc phục.

Điều gì làm nên sự hùng cường một dân tộc, đó là văn hóa, bản sắc riêng không lẫn vào đâu được. Đứng trước ngưỡng cửa tiến ra thế giới sức mạnh văn hóa dân tộc sẽ đưa con tàu Việt Nam tiến biển lớn nhờ cái “mỏ neo” văn hóa bền vững được xây dựng từ hơn 4.000 năm qua. Chính nhờ cái “mỏ neo” văn hóa, dân tộc Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm lịch sử lần lượt chiến thắng những kẻ thù xâm lược sừng sỏ nhất.

Mất văn hóa nghĩa là mất tất cả


GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Sự quật cường của dân tộc Việt Nam trong quá trình chống giặc ngoại xâm được vun đúc ngay từ sớm khi dân tộc Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Kể từ thời Hùng Vương, Việt Nam luôn đứng trước mối họa này, do vậy ngay từ ban đầu trong mỗi người Việt Nam hình thành chủ nghĩa yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm.

“Tôi cho rằng có hai hình tượng rất đắt để nói về tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm trong văn hóa Việt Nam đó là Thánh Gióng và Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nhưng sau hết cái mà muốn nhấn mạnh ở đây là biết mình biết người”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết.

Theo GS Ngô Đức Thịnh, trong quá khứ Việt Nam từng giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vì chúng ta “biết mình – biết người”, hiểu mình mạnh và yếu gì để phát huy, khắc phục. Hơn nữa trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm Việt Nam luôn ở thế kẻ yếu, “lấy yếu chống mạnh”, “lấy nhu thắng cương” đã trở thành sách lược chung để chống ngoại xâm.

Văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng làm nên sức mạnh của dân tộc “như người ta vẫn nói mất nước đó là điều tai họa nhưng mất văn hóa còn tai họa hơn, mất nước nhưng bằng sự quyết tâm, kiên trì thì một nghìn năm sau chúng ta vẫn giành lại được nhưng mất văn hóa nghĩa là mất tất cả, mất văn hóa mất bản sắc sẽ không phân biệt giữa ta và và kẻ xâm lược, giữa dân tộc này với dân tộc kia”, GS Ngô Đức Thịnh nói.


Xâu chuỗi đến ngày nay, bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm để xây dựng bảo vệ Việt Nam, đưa Việt Nam trở nên hùng cường, theo GS Ngô Đức Thịnh văn hóa chính là nền tảng ở đó chúng ta phải luôn “biết mình biết ta” biết đánh giá đúng cái hay cái dở của mình để phát triển.

Nói đến tinh hoa văn hóa Việt Nam, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: văn hóa còn bao hàm nhiều ý là thái độ của con người với môi trường, thái độ con người với con người. Kết tinh tất cả những cái đó trở thành tinh hoa văn hóa dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa cởi mở, không đóng kín. Vì tinh hoa văn hóa Việt Nam nằm chính trong con người Việt Nam đó là tinh thần học hỏi và ứng dụng.

“Người Việt Nam ham học hỏi nhưng học để ứng dụng. Ngay từ trong lịch sử, để chống ngoại xâm chúng ta phải học kẻ thù để tăng cường sức mạnh cho mình. Phải nói rằng người Việt Nam có năng lực rất lớn trong việc tiếp thu và sáng tạo để ứng dụng vào thực tế – GS Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trong quá trình tiếp thu học hỏi cái mới người Việt Nam cũng bộc lộ hạn chế như chưa học đến nơi đến chốn, áp dụng tùy tiện… “Người Việt Nam không có năng lực sáng tạo ra cái gì đó thật lớn hoặc có những rất ít, điều đó không phải để nói tổ tiên chúng ta kém mà vì hoàn cảnh lịch sử. Ngay từ khi chúng ta bước ra khỏi thời kỳ nguyên thủy thì bên cạnh chúng ta đã có những nền văn hóa đồ sộ là Trung Hoa và Ấn Độ. Vì vậy không thể bắt tổ tiên ta sáng tạo ra điều gì khác họ mà phải học cái của họ biến thành cái của ta”, GS Thịnh phân tích.

Lối sống duy tình khiến nhiều người Việt “hoài nhớ quá khứ”

GS Thịnh nhìn nhận, nét văn hóa “thương người như thể thương thân”, sống thiên về tình cảm cũng là nét đẹp văn hóa Việt Nam. Trong quá khứ có thể “một sống một chết” với kẻ thù nhưng sau đó người Việt Nam vẫn sẵn sàng bắt tay xây dựng hòa bình với kẻ thù, đó là nét đẹp riêng chỉ có ở văn hóa Việt Nam mà không phải đất nước nào cũng có được.

Nhưng bất cứ điều gì cũng có hai mặt của nó. Lối sống duy tình, văn hóa cảm xúc khiến nhiều người không nhìn thẳng vào sự thật mà hoài nhớ quá khứ. “Tư tưởng “chín bỏ làm mười” có nhiều cái dở trong xã hội hiện đại vì vậy bên cạnh phát huy yếu tố chữ tình trong cuộc sống với nhau nhưng phải trên cơ sở pháp luật, một nền văn hóa duy lý hay duy tình đều có mặt mạnh và mặt yếu nhất định vấn đề là chúng ta nhận thức được nó, phát huy được nó trong hoàn cảnh nhất định”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết thêm.

Vốn quý nhất của dân tộc Việt Nam đó là nền văn hóa nhưng nói đến việc “giữ gìn bảo tồn văn hóa dân tộc”, hiện nay chúng ta mới chỉ quan tâm khôi phục, bảo tồn giá trị văn hóa vật thể là chủ yếu. Theo GS Thịnh, trong kho tàng giá trị văn hóa Việt Nam chia ra giá trị vật thể và phi vật thể. Giá trị văn hóa vật thể như đình, chùa, miếu, mạo cảnh quan tự nhiên là những thứ nhìn thấy được nhưng lâu nay việc bảo tồn khôi phục vẫn chưa tìm ra được phương sách hay dẫn đến di tích văn hóa bị hư hỏng, người dân xin trả di tích như tại Đường Lâm (Sơn Tây – Hà Nội)…

“Trong khi đó các giá trị văn hóa phi vật thể không nên hiểu chỉ là những làn điệu dân ca, những câu hò, bản nhạc mà giá trị văn hóa phi vật thể còn là tinh thần yêu nước, quật cường chống ngoại xâm ẩn chứa trong mỗi con người, hay thái độ sống của con người Việt Nam với nhau, văn hóa ứng xử… tất cả thứ đó nằm trong tâm tưởng, tư tưởng phải ở hoàn cảnh lịch sử cụ thể mới được phát huy. Nhưng hiện nay việc truyền bá, bảo tồn giá trị văn hóa này vẫn bị xem nhẹ” – GS Ngô Đức Thịnh cho biết.

Vì vậy theo GS Ngô Đức Thịnh việc bảo tồn văn hóa là phải song song hai giá trị vật thể và phi vật thể, cùng với đó không chỉ là bảo tồn mà phải phát huy nền văn hóa đó.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Bảo tồn văn hóa là đừng đánh mất mình

Bảo tồn văn hóa là đừng đánh mất mình
Hoàng Lực

(GDVN) - "Bảo tồn văn hóa đó là đừng đánh mất chính mình, nhất là với thế hệ trẻ", GS Nguyễn Lân Dũng nhấn mạnh.

Nhìn vào thực trạng văn hóa hiện nay, không ít người cho rằng, họ đang thấy một mớ hỗn độn giữa văn hóa truyền thống và văn hóa lai căng. Dẫu biết rằng, các giá trị văn hóa truyền thống không phải tất cả đều đúng và hợp lý trong cuộc sống hiện đại, cũng không phải tất cả văn hóa du nhập đều xấu, tuy nhiên nhiều người vẫn băn khoăn: "Làm thế nào để nhận ra tinh hóa văn hóa Việt Nam để giữ gìn, bảo tồn và phát huy?".

Ở góc nhìn của mình, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng - Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa X, XI, XII. cho rằng: Khi nói đến Văn hóa Việt Nam là nói đến văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, trong đó người Việt (người Kinh) chiếm tuyệt đại đa số.

Theo nhiều học giả nước ngoài thì nước ta có trên 2.500 năm lịch sử (không phải 4.000 năm). Đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài và đủ để tạo dựng nên một nền văn hóa có bản sắc riêng, không giống các quốc gia khác. Bản sắc ấy biểu hiện qua phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, ẩm thực, trang phục,ngôn ngữ, kiến trúc, võ thuật, văn học, nghệ thuật...  mặt nào cũng có những tinh hoa riêng.
 
Rất khó để nói đâu là cái tinh hoa nhất. Tất nhiên qua một quá trình lịch sử lâu dài văn hóa Việt Nam cũng chịu tác động của các nền văn hóa trên thế giới nên có những biến đổi không ngừng và cần có một sự vận động để duy trì những bản sắc cốt lõi của văn hóa Việt.

Vì thế, việc bảo tồn văn hóa ở đây là đừng đánh mất chính mình, nhất là với thế hệ trẻ. Chúng ta có thể giỏi nhiều ngoại ngữ, điều đó rất quan trọng. Tuy nhiên tiếng Việt đủ phong phú và đã đủ sức giảng dạy tại bậc Đại học và sau Đại học. Không có lý gì một số bọn trẻ thích nói lẫn lộn tiếng Việt và tiếng Anh trong đời sống cộng đồng.

Ngôn ngữ tuổi teen có cái thú vị riêng khi nhắn tin, nhưng tuyệt đối không thể lạm dụng trên ngôn ngữ viết. Chẳng hạn Nhân dịp Năm mới mà viết "x dịp 5 mới" thì thật không thể chấp nhận được. Còn trong đời sống nhiều bạn trẻ đã làm hỏng ngôn ngữ, kiểu như "Yết Kiêu vừa thôi(!), Tiền ăn bữa này Campuchia nhé(!)" ...

Trong kiến trúc không nên đánh mất những Làng tôi xanh bóng tre để thay vào đó những kiểu nhà có chóp, có mái lửng (chỉ nhô lên ở mặt tiền), chỉ quét vôi phía trước bất chấp mọi quy hoạch (của đô thị và Thủ đô).

Việc thế hệ trẻ quay lưng lại với dân ca và nhạc cách mạng để chạy theo lối âm nhạc "thời thượng" với lời ca vô nghĩa làm thế hệ lớn tuổi không sao hiểu nổi. Văn học, nghệ thuật lai căng với danh nghĩa "hậu hiện đại" làm biến mất các tinh hoa truyền thống. Nhìn vào điệu múa của các nước biết ngay là thuộc dân tộc nào, còn vũ đạo Việt Nam chỉ được nhận ra do có tờ áo dài, nón lá hay tung quốc kỳ... (!) Về đạo đức thì sự suy thoái làm mất hết truyền thống "Đói cho sạch, rách cho thơm" của dân ta. Chỉ cần làm thật nghiêm việc giải trình tài sản của mọi viên chức và xử lý thật nghiêm cũng đủ loại trừ ngay "bầy sâu" như đánh giá của Chủ tịch Nước... Việc thiếu bồi dưỡng cán bộ trẻ khiến khi lớp giáo sư đầu ngành nghỉ hưu thường tạo nên sự hẫng hụt ở nhiều trường Đại học, nhiều Viện nghiên cứu  cũng là điều đi ngược lại với truyền thống "Con hơn cha là nhà có phúc"...

Song, nếu bỏ qua cái nhìn quá khắt khe, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng khẳng định: Với đa số người dân lao động, nhất là lớp người cao tuổi, phần lớn cư dân nông thôn thì văn hóa truyền thống vẫn được tự giác bảo tồn.

Đó là lòng yêu nước, yêu lao động, tôn sư trọng đạo, yêu trẻ kính già, nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách, tin vào luật Nhân quả để tránh làm điều bất nhân, duy trì văn nghệ dân gian địa phương,... Còn với nhiều người thuộc diện thoái hóa, biến chất, hoặc với lớp trẻ đang thiếu sự hướng dẫn chu đáo thì truyền thống văn hóa đang bị sói mòn như đã dẫn chứng ở phần trên.

Nếu muốn nhìn sự tha hóa gần đây của một bộ phận làng quê vốn dĩ yên bình hàng nghìn năm lịch sử chỉ cần đọc cuốn "Trinh tiết Xóm Chùa" (NXB Hội Nhà văn, 2005) của nữ nhà văn Đoàn Lê cũng đã đủ thấy rõ.

Tuy nhiên, có một thực tế: Hiện nay, trong tiến trình hội nhập, giới trẻ Việt Nam đang tiếp nhận rất nhanh văn hoá các nước trên thế giới. Điều này khiến nhiều ý kiến lo lắng Việt Nam đang tồn tại một nền văn hóa hỗn độn. Thừa nhận điều này, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng cho rằng ông thấy hết sức lo ngại và nuối tiếc. "Tất nhiên về mặt tốt thì ai cũng thấy rõ. Tôi tự hào về chuyện sau khi về hưu đã góp phần xây dựng được một Viện nghiên cứu cấp Nhà nước với 40 cán bộ trẻ mà trong đó nhiều bạn thực sự đã giỏi giang hơn tôi và đang từng bước tiếp cận với trình độ khoa học và kỹ thuật hiện đại", GS Nguyễn Lân Dũng chia sẻ.

Không ít TS nếu ở lại nước ngoài làm việc có thể nhận mức lương mức lương tháng 5.000-6.000 USD nhưng đã vui vẻ về nước phục vụ với mức lương tháng 150-200 USD. "Không phải nước ta chỉ có một Ngô Bảo Châu mà các bạn của Châu từ hồi học cấp I (khi đó tôi làm Chủ tịch Hội phụ huynh học sinh) mà tôi theo dõi đều thấy rất thành đạt trên nhiều cương vị khác nhau (bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, nhà văn hóa, nhà doanh nghiệp, nhà ngoại giao...). Tuy các bạn này không làm vinh dự được cho nước nhà được như Châu, nhưng cống hiến cho nhân dân thì chắc chắn là không thua kém gì Châu", Giáo sư Dũng cho biết.

Về mặt tiêu cực, khi hội nhập quốc tế trong bối cảnh thì ai cũng có thể kể ra vô vàn chuyện đau lòng. Hãy bình tĩnh đọc chậm rãi cuốn "Mười lẻ một đêm" của nhà văn đang được yêu thích Hồ Anh Thái, cũng đủ hình dung ra nghịch cảnh của việc hội nhập thiếu chọn lọc trong giai đoạn toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Âm vang Tây Nguyên giữa lòng Thủ đô Bắc Kinh

Âm vang Tây Nguyên giữa lòng Thủ đô Bắc Kinh

alt 

Lần đầu tiên không gian văn hóa cồng chiêng-di sản văn hóa phi vật thể thế giới được các lưu học sinh Việt Nam mang đến hòa chung cùng 26 nền văn hóa khác nhau từ 5 châu lục tại Lễ hội văn hóa quốc tế lần thứ 12 do trường Đại học Nhân Dân Trung Quốc tổ chức.

Đến với lễ hội, khách thăm quan được thỏa sức khám phá các nền văn hóa trên thế giới, từ phương Đông đến phương Tây, từ nghệ thuật hội họa đến trang phục dân tộc, từ văn hóa ẩm thực đến trò chơi dân gian..., tất cả được hội tụ tại đây để bè bạn năm châu hiểu biết lẫn nhau, chung tay vì một thế giới tuổi trẻ và hòa bình.

Anh Đào Ngọc Báu, Phó Chủ tịch Hội lưu học sinh Việt Nam tại Bắc Kinh kiêm phụ trách lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Nhân Dân Trung Quốc cho biết với chủ đề "Thanh xuân", lễ hội văn hóa quốc tế năm nay muốn ghi dấu những kỷ niệm của lưu học sinh khi học tập tại ngôi trường này.

Với hai gian hàng triển lãm, trại Việt Nam được thiết kế rất công phu, nhằm giới thiệu văn hóa và ẩm thực của Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

Chi đoàn và Chi hội lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Nhân Dân Trung Quốc đã lấy cảm hứng từ văn hóa Tây Nguyên như nhà rông, cồng, chiêng...nét văn hóa nguyên sơ nhưng vô cùng mạnh mẽ để thiết kế trại triển lãm. Một lý do nữa là  “Đại ngàn Tây Nguyên” cũng sẽ là chủ đề cùa Năm du lịch quốc gia Việt Nam 2014.

Ngoài ra, gian hàng của lưu học sinh Việt còn trưng bày một số hiện vật, tranh ảnh giới thiệu đất nước con người Việt Nam.

Lưu học sinh Việt Nam nhiệt tình giới thiệu cách thức đánh cồng với các bạn bè quốc tế, những âm thanh phát ra từ chiếc cồng chỉ đơn giản thánh thót từng tiếng chứ chưa phải những bản nhạc tấu quen thuộc của người dân Tây Nguyên, nhưng đã gây sự chú ý của nhiều khách thăm quan.

Sinh viên Ali Djirdrien, người Cộng hòa Chad tâm sự: “Tôi thực sự xúc động khi lại được tận tay đánh cồng, ngày bé tôi đã từng nghe ba tôi giới thiệu về cồng chiêng của Việt Nam.”

Đặc biệt, trại triển lãm Việt Nam còn thu hút rất đông khách thăm quan bởi mùi thơm từ những chiếc nem rán, món ăn truyền thống của người Việt Nam, hương thơm nồng của cà phê Buôn Mê Thuột, hay những cốc chè đỗ xanh ngọt mát ngậy mùi sữa dừa.

Sinh viên Kim Pa Som, người Hàn Quốc tỏ ra rất thích thú khi được nếm món nem do chính các lưu học sinh Việt Nam trổ tài. Som nói: “Nem rất giòn và thơm, gian triển lãm Việt Nam là nơi có rất nhiều đồ ăn ngon.”

Khi thưởng thức cà phê Buôn Mê Thuột, Steven Brown, sinh viên mang quốc tịch Canada nhận xét: “Cà phê Việt Nam rất ngon, đậm đà, đúng hương vị thật của cà phê chứ không bị pha tạp. Tôi rất thích uống.”

Lễ hội không chỉ là dịp để các lưu học sinh quốc tế giao lưu học hỏi, tìm hiểu văn hóa của nhau, mà còn là  điểm đến của sinh viên và người dân Trung Quốc với mong muốn khám phá văn hóa thế giới đa sắc màu.

Lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới giữa rừng cờ của 26 quốc gia như Pháp, Bỉ, Đức, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Mông Cổ.... Đó chính là niềm tự hào dân tộc và động lực thúc đẩy để các lưu học sinh học tập và phấn đấu sánh ngang các cường quốc năm châu theo lời Bác Hồ đã dạy./.

 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module