Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Kinh Tế VN

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

Cần cách làm mới, tư duy mới

Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ (KH-CN) có vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, muốn áp dụng KH-CN vào nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất, cần có những cách làm mới và tư duy mới.

Đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch

Với nền nông nghiệp Việt Nam, câu chuyện công nghệ sau thu hoạch yếu kém, làm thương hiệu và phân phối các sản phẩm nông nghiệp chưa được chú trọng đã được thừa nhận. Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho biết đó chính là điểm hạn chế, yếu kém nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm vừa qua. Bộ KH-CN đã xây dựng bản đồ công nghệ sản xuất lúa ở Việt Nam và chỉ ra rằng, trong tất cả các khâu, thì thất thoát ở khâu thu hoạch - bảo quản - chế biến rất lớn. Việt Nam thất thoát hơn 14%, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 6%-7%.

Một ví dụ khác là cây thanh long ở Bình Thuận. Năm 2016, doanh thu cây thanh long ở Bình Thuận đạt khoảng 7.000 tỷ đồng/năm. Trong đó 60%-70% là do thương lái Trung Quốc thu mua, với mức giá khoảng 400USD/tấn. Người Trung Quốc mang về nước, tiến hành phân loại và chiếu xạ khử trùng. Loại 1, họ mang sang Nga và các nước Bắc Âu bán với giá 4.500 USD/tấn; loại 2 bán ở thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia với mức giá từ 2.500 - 3.500 USD/tấn; còn người Trung Quốc dùng loại 3 với mức giá 400-500 USD/tấn. Như vậy, chính trái thanh long do người nông dân Việt Nam sản xuất, đã được người Trung Quốc thu mua và sau khi xử lý họ đã bán với mức giá cao gấp 10 lần tại Việt Nam.

Không chỉ lúa và thanh long, nhiều cây trồng, vật nuôi khác cũng đang rơi vào tình trạng như vậy. Những mặt hàng nông sản, ngư nghiệp của Việt Nam bị mua ép với giá thấp và nước ngoài mua về để đóng gói, xử lý bán lại cho thị trường thế giới với giá cao, dưới tên một thương hiệu khác. Để khắc phục và làm tốt được những vấn đề đó, cần phải định hướng cụ thể và có sự đầu tư thích đáng cho ngành công nghiệp sau thu hoạch, nhất là ngành cơ khí, máy móc nông nghiệp. Bài toán về công nghệ chế biến và sau thu hoạch hiện nay là thấy rõ, nhất là nhận thức của doanh nghiệp và người sản xuất trong lĩnh vực này.

“Bộ KH-CN và Bộ NN-PTNT đang đặt quyết tâm thay đổi vấn đề này trong thời gian tới, nhất là đối với công nghệ sau thu hoạch và đảm bảo chất lượng hàng hóa nông nghiệp. Cần phải tăng giá trị gia tăng rong hàng hóa nông nghiệp Việt Nam, đảm bảo thu nhập của doanh nghiệp và người nông dân, cũng như tạo ra nguồn lợi nhuận đủ lớn để tái đầu tư cho ngành này”, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng khẳng định.

Tập trung vào chất lượng và chuỗi giá trị

Việt Nam có hơn 70% dân số làm nông nghiệp, đóng góp khoảng 20% GDP trong khi ở những quốc gia phát triển, như Hà Lan, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp chỉ chiếm 2%-4% dân số, nhưng đóng góp tới 40% GDP.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, GDP nông nghiệp Việt Nam đang giảm, tốc độ tăng năng suất chậm lại, trong khi khoảng cách về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đang nới rộng. Để có thể thay đổi được điều này, ngành nông nghiệp Việt Nam cần có một cách nhìn và cách làm mới.

Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho rằng, thời gian qua nông nghiệp Việt Nam đã tập trung vào tăng sản lượng và năng suất, nhưng bây giờ đã thay đổi, tập trung vào tăng chất lượng và chuỗi giá trị gia tăng. Để có thể cạnh tranh hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp đã tập trung vào việc tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi liên kết, làm cơ sở để thúc đẩy việc ứng dụng KH-CN, kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất ở các mặt hàng có lợi thế. Sự tham gia vào sản xuất nông nghiệp của một loạt các tập đoàn, doanh nghiệp lớn thời gian vừa qua; hay sự canh tác, nuôi trồng một số giống cây con đặc chủng để xuất khẩu đi những thị trường đặc thù  là biểu hiện của sự thay đổi đó.

Theo Bộ KH-CN, thành công của những mô hình sản xuất tôm giống ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Đầu tư thủy ản Nam Miền Trung; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa, giống hoa của Công ty CP Rừng hoa Đà Lạt; mô hình liên kết chuỗi giá trị trong chăn nuôi của Công ty TNHH Hùng Nhơn, trang trại chăn nuôi bò, nuôi tôm thịt đến trồng chuối xuất khẩu Huy Long An… đều xuất phát từ tư duy mới và áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào quá trình sản xuất, canh tác, chế biến…

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch CLB Nông nghiệp công nghệ cao DAA (Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam) cho rằng, cần phải có cách làm mới trong nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết giá trị, doanh nghiệp hóa nông nghiệp, nông dân. Cách làm mới này sẽ góp phần thay đổi ngành nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao; từ ngành có giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng thấp sang ngành có giá trị vượt trội so với các ngành công nghiệp truyền thống; hình thành một chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả cạnh tranh cung cấp sản phẩm có chất lượng. Những thay đổi này sẽ mang lại cuộc sống khỏe mạnh, an toàn và sung túc hơn cho người dân Việt Nam và nâng tầm vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên thế giới một cách bền vững.

Nông nghiệp công nghệ cao góp phần hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

Nông nghiệp công nghệ cao góp phần hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 

Ngày 2-12, tại TP Đà Lạt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phục vụ hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn”.

Hơn 200 đại biểu đại diện bộ, ngành trung ương; các tỉnh, thành phố có nền nông nghiệp phát triển trong cả nước; cùng các doanh nghiệp, nhà nông ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tham dự hội thảo.

Nông nghiệp có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy, việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là hướng đi tất yếu. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thuộc chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, đạt mức tăng trưởng hàng năm hơn 3,5%, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.

Thời gian qua, các đề tài, dự án thuộc chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đều tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, nhằm mang lại giá trị gia tăng cao. Đặc biệt là sản xuất rau, quả ứng dụng công nghệ tự động, bán tự động phục vụ xuất khẩu; công nghệ tưới tiết kiệm kết hợp cung cấp dinh dưỡng cho cây; công nghệ sản xuất rau, hoa trong nhà kính chủ động thời tiết, với hệ thống kiểm soát độ ẩm, ánh sáng tự động…

Hiện, cả nước có hai khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Hậu Giang và Phú Yên; ba địa phương là: Thái Nguyên, Thanh Hóa và Lâm Đồng thuộc quy hoạch tổng thể đã xây dựng đề án thành lập khu nông nghiệp công nghệ cao; 25 doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đã có hàng nghìn tỷ đồng đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao từ trung ương đến địa phương và các doanh nghiệp, nhà nông trong cả nước.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh cho rằng: “Thời gian qua, các địa phương, doanh nghiệp rất chủ động, sáng tạo, tìm tòi các biện pháp thúc đẩy phát triển công nghệ cao. Đến nay đã khẳng định được ưu thế của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cả về khía cạnh phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và xã hội hóa sâu rộng. Đây là những tín hiệu tốt, tạo diện mạo mới cho nền nông nghiệp Việt Nam, xu thế tất yếu trong phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại trong thời gian tới”.

Riêng tại Lâm Đồng, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá là tỉnh đi đầu cả nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Hiện, Lâm Đồng có hơn 49 nghìn ha sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Trong đó, hơn 21 nghìn ha rau, hoa, cây đặc sản ứng dụng tưới phun tự động; 50 ha hoa, dâu tây áp dụng công nghệ cảm biến, tự động đồng bộ; 6,5 ha rau thủy canh và 41 ha canh tác trên giá thể; hơn 2.200 ha chè ứng dụng hệ thống đồng bộ hệ thống tưới, bón phân tự động; 18.781 ha cà phê ứng dụng công nghệ cao được chứng nhận 4C, UTZ, Rainforest…

Theo đánh giá mới đây của địa phương, năng suất bình quân nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng đến 50% so với sản xuất thông thường, đạt từ 200 đến 300 triệu đồng/ha/năm. Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh có 11 nghìn ha đạt hơn 500 triệu đồng/ha/năm; trong đó, 700 ha đạt từ một đến ba tỷ đồng và 10 ha cho doanh thu hơn ba tỷ đồng trên một ha mỗi năm. Hiện, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đạt 30% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Lâm Đồng. “Đến nay, có thể khẳng định nông nghiệp công nghệ cao đã tạo bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp tại Lâm Đồng, tỷ trọng xuất khẩu chiếm tỷ lệ 80%. Lâm Đồng có tám doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm 30% trên cả nước. Nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn Lâm Đồng”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S, cho biết.

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao cả nước nói chung và tại Lâm Đồng vẫn tồn tại một số hạn chế như: tổ chức sản xuất chưa đồng bộ, giá trị sản xuất chưa cao; khoa học công nghệ chưa phát huy vai trò động lực, là đòn bẩy trong sản xuất, sự gắn kết giữa khoa học công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều bất cập. Công tác chuyển giao khoa học - kỹ thuật chưa theo kịp yêu cầu thực tế; sản xuất nông nghiệp còn bị tác động điều kiện ngoại cảnh.

Sự hỗ trợ của nhà nước trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế. Nhà nông và doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao còn thiếu vốn đầu tư. Việc xây dựng khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao toàn quốc và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chưa đáp ứng kế hoạch đề ra…

Theo Giám đốc Công ty TNHH Đà Lạt G.A.P Lê Văn Cường: “Có thể khẳng định, nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng và một số tỉnh, thành phố trong nước phát triển rất tốt, nhưng sự hỗ trợ của nhà nước mới ở mặt tinh thần, còn vật chất chưa có, kể cả hỗ trợ về lãi suất vay ngân hàng, nhập khẩu thiết bị, giống mới… Những chính sách từ trung ương về đến địa phương là quãng đường khá dài”.

Thời gian qua, việc liên kết “bốn nhà” trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp công nghệ cao còn là câu chuyện dài, sự “đánh đồng” giữa nông sản công nghệ cao và nông sản sản xuất kiểu truyền thống trên thị trường, khiến nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp gặp khó khăn. “Hiện, việc xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn nhiều hạn chế. Sản phẩm rau VietGAP đang được thị trường tiêu thụ ngang bằng rau truyền thống, gây khó khăn cho đơn vị sản xuất”, Giám đốc HTX Tiến Huy (Đức Trọng, Lâm Đồng), ông Võ Tiến Huy, bộc bạch.

Nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước, thời gian tới, ngành nông nghiệp đặt ra các giải pháp như: tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; chính sách hợp tác công - tư, liên kết tổ chức khoa học - công nghệ với doanh nghiệp; xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa nhà nông với doanh nghiệp; tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao; nâng cao năng lực các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp; tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh phát triển thị trường… Với mục tiêu, phát triển nền nông nghiệp đồng bộ, hiện đại, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và sự phát triển kinh tế đất nước.

Lợi thế của cây điều trong khô hạn

Lợi thế của cây điều trong khô hạn 

Đợt khô hạn lịch sử vừa qua tác động lớn đến sản xuất nhiều loại cây trồng. Lần đầu tiên sản xuất nông nghiệp tăng trưởng âm, chủ yếu là trồng trọt, 6 tháng đầu năm giảm trên 6%, 1,3 triệu tấn lúa so bị thiệt hại, khoảng 100.000ha cà phê bị ảnh hưởng đến năng suất... Nhưng cây điều lại tỏ ra thích nghi và phù hợp tốt với bối cảnh biến đổi khí hậu.

Ứng xử chưa phù hợp

Các nhà nhập khẩu cho biết, chưa thấy nhân điều ở nước nào có hương vị thơm và ngon như của Việt Nam nên khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn. Đây là lợi thế lớn so với hai đối thủ của ngành là điều Ấn Độ và Brazil trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bước qua năm thứ 10 liên tục, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dẫn đầu thế giới về nhân điều và chiếm trên 50% tổng giá trị thương mại nhân điều toàn cầu (khoảng 5 tỷ USD). 4 năm liên tiếp đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, 2 năm qua trên 2 tỷ USD. Nhân điều Việt Nam có mặt hơn 50 nước và không phụ thuộc chính bất cứ thị trường nào; trong đó, Mỹ (30% thị phần), EU (25%), Trung Quốc (20%).

Diện tích trồng điều từ 5.000ha năm 1982, đến năm 2007 đạt 444.000ha do sản phẩm thu hoạch bao nhiêu đều được các doanh nghiệp mua hết để chế biến. Nhưng do cả Nhà nước và người dân chưa có cách ứng xử phù hợp, khi ngay từ đầu chỉ xem điều là cây trồng xóa đói giảm nghèo, người trồng điều không có điều kiện hoặc không chú ý chăm sóc, chỉ xem là cây lâm nghiệp phủ xanh đất trồng đồi trọc nên năng suất rất thấp, dù có giai đoạn nhờ thâm canh năng suất có lúc lên 1,1 tấn/ha, nhưng sau đó giảm còn khoảng 0,8 tấn/ha. Trong khi công suất chế biến của nhà máy tăng dần, nguyên liệu trong nước sụt giảm. Năm 2000, các doanh nghiệp nhập khẩu 25.000 tấn điều thô về chế biến, 10 năm sau là 350.000 tấn và đến 2015 con số này là 867.000 tấn. Điều thô nhập khẩu để chế biến đã gấp hơn hai lần so với nguồn nguyên liệu trong nước. Việt Nam trở thành nước nhập khẩu điều thô thứ 2 thế giới, số lượng nhập gần bằng nước nhập khẩu lớn nhất là Ấn Độ và gấp hơn 10 lần nước nhập khẩu thứ 3 là Brazil.

Có thể nói đây là nghịch lý của ngành điều. Ngành hàng có thể nói gần như là duy nhất không chỉ dẫn đầu về chế biến và xuất khẩu nhân điều trên thế giới mà còn là nước đi đầu và xuất khẩu thiết bị chế biến hạt điều (mặc dù vẫn còn gây tranh cải về việc này). Sự lệ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu khiến ngành điều dễ trở thành ‘‘con tin” của những nước xuất khẩu điều thô ở châu Phi. Thời gian qua, do tranh mua điều thô của Việt Nam, nhiều doanh nghiệp châu Phi, nhất là Bờ Biền Ngà, nước xuất khẩu điều thô lớn nhất thế giới đã “bẻ kèo” khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi không giao hàng và đòi thêm giá hoặc phải đặt cọc trước thay vì chỉ mở L/C khi ký hợp đồng như thông lệ quốc tế.

Quỹ phát triển điều bền vững

Mới đây, tại đại hội Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) nhiệm kỳ 2016-2020, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh nhấn mạnh, trong khi nhiều loại cây trồng bị thiệt hại nặng nề đợt khô hạn lịch sử vừa qua thì cây điều lại cho thấy khả năng và lợi thế khi biến đổi khí hậu ngày càng tỏ ra cực đoan. Vẫn giữ vững năng suất và lần đầu sau nhiều năm diện tích cây điều không còn bị chặt phá hàng loạt để chuyển qua cây trồng khác mà gần như được giữ nguyên. Ba năm qua, cùng với sự vào cuộc của Bộ NN-PTNT, hiệp hội và nông dân trong việc thâm canh, cải tạo giống đã giúp năng suất điều tăng thêm 3 tạ/ha/vụ lên 1,3 tấn/ha/vụ; thu nhập từ cây điều đã được nâng lên. Ông Lê Quốc Doanh cho rằng, chưa cần tăng diện tích nhưng sản lượng điều đã tăng lên. Đây là dấu hiệu tích cực, cần tạo điều kiện để người trồng điều tiếp tục thâm canh, tuyển chọn cây giống tốt để đưa năng suất điều bình quân lên 2 tấn/ha và hơn nữa.

Theo ông Nguyễn Minh Họa, Phó Chủ tịch Vinacas, dư địa cho vùng trồng điều còn nhiều trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Nếu có sự đầu tư và chính sách đúng, diện tích và năng suất điều sẽ còn được cải thiện. Bà Nguyễn Thị Kim Nga, Chủ tịch Hiệp hội Điều tỉnh Bình Phước, Trưởng ban Nông nghiệp và nông dân trồng điều Vinacas cho rằng, khi các nước hạn chế xuất thô (cách mà hơn 20 năm trước Việt Nam đã làm) ngành chế biến điều Việt Nam sẽ gặp khó. Vì vậy phải chủ động nguồn nguyên liệu trong nước mới đảm bảo phát triển điều bền vững. Điều này là trong tầm tay một khi quyết tâm làm. Với 300.000ha điều hiện nay, nếu tăng 2 tấn/ha đã có khoảng 600.000 tấn. Thực tế hiện có nhiều mô hình 3 đến hơn 4 tấn/ha sẽ là mục tiêu từng bước nâng dần lên, qua đó có thể gần như chủ động nguồn nguyên liệu. Nhưng bà Nga cho rằng, vấn đề hiện nay là đất đai chưa được ổn định. Việc cấp giấy quyền sử dụng đất gặp khó khăn. Nếu diện tích lớn phải thuê nên gặp khó khi cải tạo vườn do không yên tâm. Ngay trong chuỗi giá trị, cần làm mạnh hơn việc liên kết doanh nghiệp với nông dân. Khi doanh nghiệp cùng nông dân bắt tay, hỗ trợ một phần vốn và nhận hỗ trợ một phần từ Nhà nước.

Vinacas đề xuất thành lập quỹ phát triển điều bền vững nhằm mục đích giúp ổn định sản xuất điều, đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp - nông dân trồng điều. Nguồn thu của quỹ gồm hỗ trợ của Nhà nước, phần thu trên đầu tấn xuất khẩu của tất cả doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (1-2 USD/tấn nhân điều xuất khẩu), nguồn tài trợ và nguồn thu khác. Khoảng 50%-70% kinh phí của quỹ dùng để hỗ trợ cho chương trình thâm canh cải tạo vườn điều và nghiên cứu giống, hỗ trợ nông dân trồng điều, 30% - 50% còn lại chi cho việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ, chế tạo thiết bị chế biến điều, nâng cao chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường trong nước.

 

Nhà nông bao giờ đủ giống?

(Thời báo Kinh Doanh) - Không ai có thể phủ nhận về điều kiện phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, song có một thực tế đáng buồn là ngành nông nghiệp của chúng ta vẫn chỉ mạnh về lượng. Một trong những nguyên nhân là do sự yếu kém ngay từ con giống. 

Cách đây không lâu, Gs.Ts. Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho biết Việt Nam đang phải chi tới 500 triệu USD mỗi năm để nhập khẩu giống, trong đó 80% hạt giống lúa lai trong nước phải mua của nước ngoài. Ông cũng cảnh báo, Việt Nam còn phải lệ thuộc vào hạt giống nhập khẩu trong một thời gian dài nữa.

Lệ thuộc giống ngoại 

Tại Hội nghị tổng kết giống cây trồng vật nuôi vừa được Bộ NN&PTNT tổ chức mới đây, một lần nữa bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT “hâm nóng” vấn đề này khi đưa ra nhận định: Hệ thống sản xuất giống trong nước tuy nhiều nhưng năng lực hạn chế, về cơ bản còn chưa đáp ứng yêu cầu cho sản xuất hàng hóa trong nước, chưa nói tới mục tiêu “hướng mạnh” ra xuất khẩu như mục tiêu ngành đề ra. “Nhìn chung, các giống vật nuôi chính ở nước ta hiện nay chủ yếu có nguồn gốc nhập khẩu: giống gà trên 90%, giống lợn khoảng 74%, 21% số bò thịt được nhân ra từ phương pháp thụ tinh nhân tạo có nguồn gốc nhập khẩu từ Úc”, bà Hồng cho biết...

Thậm chí, trong chăn nuôi, người dân sử dụng giống thương phẩm làm đàn bố mẹ khá phổ biến: 70 - 75% với lợn, gần 60% với gà, 15,7% với thủy cầm. Trong thủy sản, các cơ sở nhân giống cá rô phi chỉ đáp ứng trên 70%; con giống nhuyễn thể đáp ứng được 50% nhu cầu thả nuôi. Đặc biệt, tại ĐBSCL - một trong những vựa lúa lớn nhất nước nhưng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần chỉ đạt 40% và ở Đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 60%, phần còn lại là do nhân dân tự sản xuất.

Ông Phạm Đồng Quảng, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định mặc dù Việt Nam tiếp cận các giống lúa lai từ những năm 1990 và đã cố gắng đầu tư nghiên cứu lúa lai nhưng chúng ta vẫn đi sau Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác. Hơn nữa, sản xuất giống lúa lai gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào thời tiết nên các DN ngại đầu tư. Chính vì thế, bên cạnh nghiên cứu và sản xuất trong nước thì Việt Nam vẫn phải nhập khẩu giống lúa lai để đáp ứng nhu cầu.

Trong khi đó, ông Hàng Phi Quang, Tổng giám đốc công ty CP Giống cây trồng miền Nam, thừa nhận sản phẩm của công ty lai tạo chưa tạo được đột phá trong nhóm sản phẩm bắp vàng, hạt giống rau thiếu nguồn gen tốt và phù hợp; trong khi thị phần của hai nhóm sản phẩm này đang do các công ty nước ngoài chi phối. “Cùng với đó, chi phí đầu tư cho nghiên cứu rất lớn, và ẩn chứa nhiều rủi ro, đối với một công ty cổ phần, mức độ đầu tư nghiên cứu luôn bị giới hạn vì phải cân đối với lợi nhuận của các nhà đầu tư và thu nhập của người lao động”, ông Quang cho biết.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Việt - Úc, chia sẻ dù Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu tôm, song chúng ta lại không thể tự chủ về nguồn tôm và chất lượng. Bằng chứng từ năm 2008 đến nay là 6 năm nhưng ngành thủy sản nói chung cũng như tôm nói riêng chưa có giống mới nào được tạo ra. Thêm vào đó, các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày, còn cây dài ngày chưa được quan tâm đúng mức, một số đối tượng còn bỏ trống. Số lượng giống được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. 

Doanh nghiệp kêu khó 

Theo các DN, hoạt động nghiên cứu của các DN giống cây trồng vật nuôi đang khó trăm bề do không tạo ra được các dòng ưu tú, không tiếp cận kịp thời các công nghệ chọn tạo giống tiên tiến để lai tạo ra được các giống lai tốt phù hợp với nhu cầu thị trường, cạnh tranh được với các giống lai nhập nội… dẫn đến lai tạo giống của Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước trong khu vực.

Khi được hỏi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận chính sách về nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống chưa phát huy hết năng lực của toàn xã hội, đặc biệt là các DN và cá nhân, một số chính sách đã được ban hành nhưng triển khai thiếu đồng bộ. Quá trình chuyển giao giống mới vào sản xuất còn thiếu sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu với các đơn vị sản xuất giống, nhất là DN. Trên thực tế, DN là cầu nối tiếp nhận giống mới từ các viện nghiên cứu để sản xuất giống thương phẩm cung cấp cho sản xuất đại trà nhưng thời gian vừa qua liên kết này còn thiếu chặt chẽ.

Những bất cập ấy được ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Công ty giống cây trồng Thái Bình (TSC), cụ thể hóa bằng nhận định “Các DN sản xuất và cung ứng giống nước ngoài đang ào ạt vào Việt Nam. Họ có vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý và nguồn nhân lực tốt. Đặc biệt là khả năng tiếp thị của họ hơn hẳn các DN trong nước. Khi Việt Nam chưa có hệ thống chính sách đầy đủ để bảo hộ ngành giống trong nước, thì các DN nội thua trên sân nhà là chuyện dễ hiểu”.

Vì vậy, ông Báo cho rằng Bộ NN&PTNT cần quy định nếu giống thương phẩm đưa vào Việt Nam sau 3 năm mà không tổ chức sản xuất tại Việt Nam thì phải cấm nhập khẩu và lưu hành. Đồng thời, để ngành giống thật sự là động lực phát triển nền nông nghiệp thì Nhà nước cũng phải giúp các DN và các tác giả bảo vệ bản quyền giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa.

Có thể thấy nông nghiệp Việt Nam đã đến lúc cần phải thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt là khối nghiên cứu từ các DN. Mà theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, để thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành thì công tác giống không chỉ cần được tăng cường mà còn phải được điều chỉnh. Ngành trồng lúa thay vì tập trung chọn tạo giống có năng suất cao ngắn ngày thì tập trung vào những giống lúa có chất lượng thể hiện qua sự đánh giá của thị trường. “Chỉ những giống lúa có đặc tính tốt, ổn định, được trồng với quy mô lớn thì mới tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng hình ảnh của một nước sản xuất lúa gạo chất lượng tốt, các DN mới có điều kiện xây dựng những thương hiệu bền vững”, Bộ trưởng nói.

---------------------------------------- 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát 

Chúng tôi đang cố gắng để giảm tới mức tối thiểu việc nhập giống thương phẩm và yêu cầu các DN nhập khẩu giống thương phẩm sau 3 năm phải tổ chức sản xuất trong nước. Quy định này nhằm thúc đẩy các DN tổ chức sản xuất trong nước chủ động cung cấp giống kịp thời cho nông dân và bám sát yêu cầu trong nước. 

Ts. Trần Công Xuân, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam

Yếu kém nhất của chăn nuôi Việt Nam, theo tôi, chính là hệ thống giống, kể cả giống Trung ương lẫn địa phương, cứ mạnh ai nấy làm, cuối cùng chẳng giống nào ra giống nào. Việt Nam có nhiều giống nội quý, chất lượng cao nhưng năng suất thấp, các giống thuần hầu như không còn mà đã bị lai tạp, mức độ thuần khiết thấp. Để nâng cao năng suất, chất lượng con thương phẩm, Việt Nam buộc phải nhập giống gia cầm nước ngoài và nhập rất nhiều. Đáng tiếc là Việt Nam không đầu tư cho giống thuần, chỉ nhập con giống ông bà, bố mẹ, sau đó sản sinh ra thương phẩm là hết và lại phải nhập lại. 

Gs. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam 

Cần thẳng thắn thừa nhận, chúng ta đang thiếu những cán bộ chọn tạo giống xuất sắc và cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp này còn rất hạn chế. Trong suốt một thời gian dài, chúng ta chưa có cơ chế để đảm bảo cho cán bộ nghiên cứu giống có thể “sống khỏe” với công việc mình đang làm nên khó thu hút nhân tài vào lĩnh vực này. Thành ra, ngoài việc cố gắng tạo ra những giống cây như cam không hạt, vải thiều chín sớm…, các nhà chọn tạo giống còn phải chạy đôn chạy đáo làm thêm việc này việc nọ để kiếm sống.

 

Đòi hỏi công tác giống chuyển biến mạnh, thích ứng với hội nhập

 Đòi hỏi công tác giống chuyển biến mạnh, thích ứng với hội nhập

“Công tác về giống có vẻ lủng củng ngay từ đầu”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát nhận xét đầy ẩn ý trong lời mở đầu Hội nghị Giống cây trồng, vật nuôi tổ chức ngày 5/12, tại Hà Nội.

Quả thực, theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, 15 năm trước Bộ đã đề xuất khởi động chương trình giống, trong đó tập trung cao độ việc cải thiện công tác giống với mục tiêu chọn tạo nhiều giống tốt hơn, năng lực sản xuất cung ứng kịp thời các loại giống thương phẩm có chất lượng. Mặc dù, đã có chuyển biến, năng suất cây trồng vật nuôi tăng, một số giống có năng suất đạt tầm thế giới, tuy nhiên, ngành giống vẫn còn nhiều vấn đề đang đặt ra.

“Quốc hội, nhân dân yêu cầu nhanh chóng có những giống với những đặc tính cao hơn về năng suất, chất lượng đặc biệt thích ứng với hoàn cảnh mới. Nâng cao năng lực tổ chức sản xuất cung cấp kịp thời cho nhu cầu trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài”, Bộ trưởng nói.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế về nông nghiệp, Việt Nam đang đàm phàn nhiều Hiệp định về thương mại tự do với EU, Nga, Belarus…, và từ năm 2015 nền nông nghiệp sẽ mở cửa hội nhập  ngày càng sâu rộng, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, nền nông nghiệp cần chuyển biến mạnh mẽ, đáp ứng những yêu cầu mới, các sản phẩm nông nghiệp phải bám sát yêu cầu cả về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

 

“Để tái cơ cấu ngành, công tác giống không chỉ tăng cường mà phải điều chỉnh năng lực chọn tạo cả về cách tiếp cận và cơ cấu các loại giống sẽ cung cấp. Ví dụ, lúa thay vì giống có năng suất cao ngắn ngày thì cần hơn tới yếu tố chất lượng, thông qua đánh giá của thị trường có giá cao hơn, bền vững hơn với quy mô lớn, xây dựng hình ảnh một nước Việt Nam sản xuất thương hiệu lúa tốt bền vững”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tương tự với các ngành chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp cần có các cây, con giống tốt, năng suất, chất lượng tiếp cận với trình độ quốc tế.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Cao Đức Phát yêu cầu các đơn vị tập trung làm rõ 3 vấn đề: Định hướng phát triển giống với các loại cây con chủ lực. Định hướng đổi mới cơ chế chính sách, đặc biệt khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu chọn tạo giống. Trong 15 năm qua dù đã quan tâm nhưng phần lớn vẫn ưu tiên cho các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước. Cuối cùng phải tìm được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giống.

Theo ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình, cần sớm xây dựng Luật về Giống cây trồng và đổi mới thủ tục công nhận và phát triển giống mới; hệ thống hóa văn bản pháp luật, đồng thời xây dựng Chiến lược phát triển ngành giống nông nghiệp Việt Nam, trong đó xác định vai trò vị trí của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này từ quản lý, nghiên cứu, chuyển giao, thương mại và công nghiệp hóa ngành giống, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và sở hữu trí tuệ.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Việt – Úc - đơn vị dẫn đầu trong cung cấp tôm giống chất lượng cho thị trường Việt Nam, cho biết: Tôm là một trong những ngành mũi nhọn trong lĩnh vực thủy sản với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 ước đạt 3,8 tỷ USD, trong đó tôm thẻ chân trắng đóng góp tới hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, ngành thủy sản vẫn chưa có thêm giống mới nào, đây cũng là động lực lớn cho các doanh nghiệp thủy sản cạnh tranh phát triển.

“Công nghệ lai tạo tôm thẻ chân trắng hiện đại của Tập đoàn có thể cạnh tranh với thế giới, nhưng giống tôm bố, mẹ vẫn phải nhập khẩu. Tập đoàn đã có Chương trình phát triển giống tôm bố mẹ, nếu được thông qua trong năm 2015 thì Việt Nam là một trong số ít nước có thể cung cấp tôm bố mẹ. Điều này là rất quan trọng”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Ông Đặng Quốc Tuấn cũng mong muốn, ở Việt Nam cần có từ 8 - 10 Tập đoàn hàng đầu để nâng tầm thương hiệu tôm Việt Nam.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển sản xuất giống cây trồng nông, lâm nghiệp , giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan cùng các địa phương triển khai nhiều hoạt động và đạt được một số kết quả thiết thực.

Công tác quy hoạch hệ thống cơ sở nghiên cứu, sản xuất của Chương trình giống đạt được mức tăng khá cao: Tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi (giống bò thịt và dê tăng từ 45% năm 2011 lên 58% năm 2014); giống tôm sạch bệnh có chất lượng cao sản xuất trong nước tăng từ 51,8% năm 2011 lên 65% năm 2014 (so với mục tiêu năm 2020 là 75%); trong lâm nghiệp 72% giống cung cấp cho trồng rừng được công nhận (mục tiêu năm 2020 là 80%).

Tuy nhiên, theo đánh giá chung, công tác giống cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế như: hệ thống sản xuất giống chưa đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất hàng hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu. Giống liến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt từ 30 – 40%, ở đồng bằng sông Hồng khoảng 60%. Số lượng giống cây trồng vật nuôi được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. Các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày. Nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu chọn tạo và sản xuất giống chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành. Nguồn vốn đầu tư phát triển cho khoa học công nghệ khoảng 50 – 60 tỷ đồng/năm, chỉ đáp ứng được khoảng 30- 35% nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu của các Viện. Chương trình giống được bố trí khoảng 500 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển/năm cho tất cả các dự án Trung ương và địa phương, mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu…/.

Trồng dâu tây kiểu Bỉ

Trồng dâu tây kiểu Bỉ 

Thêm một phương pháp trồng dâu tây mới theo phong cách châu Âu, đó là trồng dâu tây trong nhà kính hở. Đây chính là kết quả mà những chuyên gia nông nghiệp Vương quốc Bỉ chuyển giao cho người trồng dâu Đà Lạt theo cam kết hỗ trợ của tỉnh Đông Flander - Vương quốc Bỉ với Lâm Đồng.
 
Thăm vườn dâu tây của Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa Đà Lạt, nhiều nông dân rất ngạc nhiên trước những luống dâu được trồng “nửa kín nửa hở”, cho trái rất sai và đẹp. Ông Trần Huy Đường, chủ trang trại tại Măng Ling, phường 7 cho hay, theo quan niệm của bà con, dâu New Zealand chỉ trồng được trong nhà kính kín hoàn toàn. Còn ở đây, dâu được trồng trong những dàn mà lưới chỉ che vừa luống dâu. Và thực sự, trái dâu rất nhiều so với các vườn dâu nhà kính khác. Để giải thích nguyên nhân, anh Cao Đình Dũng, cán bộ kỹ thuật trực tiếp thực hiện kỹ thuật trồng dâu trong nhà kính hở chia sẻ, đây là phương pháp canh tác của Bỉ nói riêng và châu Âu nói chung, nơi điều kiện khí hậu có nét tương đồng với Đà Lạt. Với phương pháp canh tác trong nhà kính này, có thể mở ra nhiều triển vọng cho người trồng dâu.

Trồng dâu trong nhà kính hở không khó, giá thể, hệ thống tưới nhỏ giọt… tương tự như trồng dâu trong nhà kính kín. Chỉ khác duy nhất là thay vì nhà kính lớn bao phủ toàn bộ diện tích đất, mỗi luống dâu được che phủ bởi một mái che bằng kính rộng chừng 0,5-0,6m, cao khoảng 1,65m. Trong khoảng không gian ấy, cây dâu phát triển bình thường và theo thực nghiệm đối chứng với nhiều cách trồng khác như trồng ngoài trời, trồng trong nhà kính kín, cây dâu phát triển tốt hơn. Anh Cao Đình Dũng cho biết: “Cây dâu ưa sáng, ưa mát, chỉ bị ảnh hưởng bởi mưa lớn. Vì vậy, trồng trong nhà kính hở thoáng khí hơn, cây nhận được nhiều ánh sáng giúp quang hợp tốt hơn mà vẫn đảm bảo không bị mưa làm hư hại. Qua khảo nghiệm, chúng tôi nhận thấy  cây dâu kết hoa, ra quả sớm hơn so với nhà kính kín và năng suất tăng hơn”. Đặc biệt, côn trùng gây hại chủ yếu ở dâu tây là bọ trĩ đỏ, khi trồng trong nhà kính kín thì có nhiều nhưng với nhà kính hở thì giảm đáng kể. Nguyên nhân có lẽ là do bọ trĩ ưa nóng, nhà kính hở nhiệt độ thấp hơn nên mật độ bọ trĩ đỏ giảm. Các chuyên gia Bỉ cũng đánh giá mô hình trồng dâu trong nhà kính hở tại Đà Lạt là thành công. Họ cũng khuyến cáo, trồng cây theo phương pháp nhà kính hở ít ảnh hưởng tới môi trường hơn so với trồng cây trong nhà kính kín, đây cũng là vấn đề nông nghiệp Lâm Đồng cần quan tâm trong quá trình xây dựng một nền nông nghiệp xanh, bền vững và thân thiện với môi trường.

Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa đang tích cực chuyển giao kỹ thuật trồng dâu tây trong nhà kính hở cho nông dân và đã tư vấn cho nhiều nông hộ khu vực Thái Phiên, phường 12, Đà Lạt xây dựng nhà kính hở. Nhiều nông dân chia sẻ, ngoài việc thu dâu trái, làm nhà kính kiểu này sẽ rất thu hút khách du lịch do đẹp, dễ hái trái và chụp hình hấp dẫn. Vừa kết hợp cung cấp dâu, vừa kết hợp làm du lịch sinh thái là một hướng làm ăn hiệu quả. Với nông dân, việc làm nhà kính kín tốn chi phí lớn hơn, diện tích đất lớn hơn và đòi hỏi phải bằng phẳng. Còn với nhà kính hở, bà con có thể tận dụng được cả những nơi đất thiếu bằng phẳng, đất đồi dốc để dựng nhà kính hở. Đặc biệt, nhiều khu du lịch đã rất ưa thích mô hình trồng dâu nhà kính hở, vì có thể trồng một diện tích không lớn phục vụ du khách. Tuy chỉ là bước đi đầu tiên nhưng với kỹ thuật trồng dâu tây theo công nghệ này, người nông dân Đà Lạt có thêm một lựa chọn, làm phong phú cho nền nông nghiệp địa phương, đồng thời sẽ mang tới cho du khách sự thích thú với loại trái đặc sản phố núi.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

FAO: Chỉ số giá lương thực giảm xuống mức thấp trong 4 năm

FAO: Chỉ số giá lương thực giảm xuống mức thấp trong 4 năm

Chỉ số giá lương thực hàng tháng của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) đã ghi nhận một mức thấp mới trong tháng 8/2014, tiếp tục xu thế giảm kéo dài đã 5 tháng và chạm mức thấp nhất kể từ tháng 9/2010.

Chỉ số của tháng 8/2014 đạt trung bình 196,6 điểm, giảm 7,3 điểm (3,6%) so với tháng 7/2014. Ngoại trừ mặt hàng thịt, giá cả tất cả các mặt hàng đều sụt giảm mạnh.

Giá sữa dẫn đầu danh sách, với chỉ số giá tháng 8/2014 đạt trung bình 200,8 điểm, giảm 25,3 điểm (11,2%) so với tháng 7/2014 và giảm 46,8 điểm (18,9%) so với một năm trước, chủ yếu là do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu nhập khẩu giảm.

Lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm sữa của Nga được đưa ra hồi đầu tháng đã khiến giá sữa giảm mạnh, trong khi hoạt động nhập khẩu sản phẩm sữa bột nguyên kem của Trung Quốc (nhà nhập khẩu sữa lớn nhất thế giới) cũng góp phần làm thị trường sữa đi xuống.

Chỉ số giá ngũ cốc tháng 8/2014 đạt trung bình 182,5 điểm, giảm 2,8 điểm (1,5%) so với tháng trước và 24,2 điểm (11,7%) so với tháng 8/2013. Năm 2014 trở thành một năm được mùa nữa đối với sản xuất lúa mỳ, giá của mặt hàng lương thực thiết yếu này tiếp tục giảm, chạm mức thấp nhất kể từ tháng 7/2010. Tương tự, các điều kiện gần như lý tưởng ở các vùng sản xuất chính, cộng với nguồn cung dự trữ dồi dào đã khiến giá ngô tụt xuống mức thấp của 4 năm.

Tuy nhiên, giá gạo có đôi chút khác biệt, tăng nhẹ trong tháng 8/2014, phản ánh nhu cầu nhập khẩu tăng, lượng gạo dự trữ được tung ra thị trường bởi Chính phủ Thái Lan ít hơn so với dự kiến, cùng với thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến vụ gieo trồng ở châu Á.

Chỉ số giá lương thực của FAO là một chỉ số chủ yếu dựa vào tình hình thương mại, tính toán giá của 5 mặt hàng lương thực trên thị trường quốc tế: ngoài theo dõi giá cả mặt hàng ngũ cốc, còn là mặt hàng thịt, các sản phẩm sữa, dầu thực vật và đường.

Chỉ số giá dầu thực vật tháng 8/2014 đạt 166,6 điểm, giảm 14,5 điểm (8%) so với tháng trước và là mức thấp nhất kể từ tháng 11/2009.

Chỉ số giá đường tháng 8/2014 đạt 244,3 điểm, giảm 14,8 điểm (5,7%) so với tháng trước, song vẫn cao hơn 2,2 điểm (1%) so với một năm trước.

Cuối cùng, chỉ số giá thịt đạt trung bình 207,3 điểm vào tháng 8/2014, giảm 2,5 điểm (1,2%) so với tháng 7/2014, nhưng tăng 25 điểm (14 điểm) so với năm ngoái.
 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Cây trồng biến đổi gen: Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Cây trồng biến đổi gen: Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Cây trồng biến đổi gen (GMC) hay sinh vật biến đổi gen (GMO) đã và đang gây nhiều tranh cãi trên thế giới và cả ở Việt Nam về hiệu quả cũng như hiểm họa mà nó mang lại. Bài học ở Châu Âu và Trung Quốc khẳng định rằng thắng lợi chỉ thuộc về những người nắm giữ công nghệ. Cần phải thận trọng và cảnh giác với những phương thức kinh doanh kiểu mới của những “ông Trùm” thế giới sử dụng các con bài “sinh tặc” hiện nay.

Theo thống kê, đến năm 2010, sau 15 năm kể từ khi giống cây trồng biến đổi gen (BĐG) đầu tiên được đưa vào sản xuất đã có 29 quốc gia trồng cây BĐG với diện tích canh tác ước tính vào khoảng 148,0 triệu ha gieo trồng mỗi năm đối với hàng chục loại cây trồng khác nhau như ngô, lúa, đậu tương, bông, cải dầu... 
Trong đó, 3 cây trồng BĐG có diện tích lớn nhất là đậu tương 73,3 triệu ha, ngô 46,8 triệu ha, bông vải 21 triệu ha. So với tổng diện tích canh tác các cây trồng toàn cầu ước tính lên đến trên 4,8 tỷ ha thì diện tích này quả là còn rất nhỏ bé, nhưng con số 148 triệu ha lại không hề nhỏ đối với một vài quốc gia và vài công ty xuyên quốc gia - những người nắm công nghệ.

Tranh cãi kéo dài nhưng chưa ngã ngũ

Đã có những tranh cãi gay gắt giữa một bên là các công ty sở hữu công nghệ và các sản phẩm BĐG và bên kia là các nhà khoa học lo ngại về khả năng rủi ro, không an toàn của các sản phẩm BĐG đối với sức khỏe con người và môi trường canh tác và sinh hoạt. Sự tranh cãi này diễn  ra ở nhiều nơi, nhiều lúc, cả ở châu Âu lẫn châu Á, cả ở nước phát triển và các nước đang phát triển.

Cứ mỗi khi các nhà khoa học hay các nhà thực hành sản xuất khám phá ra những rủi ro liên quan đến các sản phẩm BĐG, hoặc chứng minh lợi ích của các sinh vật BĐG không lớn như những gì mà người ta quảng cáo thì ngay lập tức các ông chủ sở hữu công nghệ và bản quyền các sản phẩm BĐG lại đưa ra các bằng chứng phản bác lại, đẩy các cuộc tranh cãi kéo dài hàng thập kỷ nay không chấm dứt.

Trên thực tế, ngoài những lo ngại sản phẩm BĐG có thể tác động xấu đến sức khỏe con người, còn có rất nhiều lo ngại khác, cụ thể là: 
1) khả năng tác động xấu đến môi trường canh tác, mất an toàn cho người sử dụng; 
2) Khả năng để mất quyền kiểm soát lương thực vào tay nước ngoài;
3) Nguy cơ độc quyền kinh doanh đầu vào sản xuất đối với sản phẩm BĐG (giống, phân bón và hóa chất đi kèm) có thể làm giảm hiệu quả sản xuất và tăng gánh nặng hỗ trợ của các chính phủ; và 
4) Nguy cơ xảy ra các tranh chấp thương mại, dựa vào đó các hàng rào kỹ thuật, phi thuế quan sẽ được thiết lập nhằm hạn chế hay tẩy chay sản phẩm của các đối thủ vốn có lợi thế cạnh tranh hơn.

Nghiên cứu của giáo sư Gilles-Eric Seralini về ngô BĐG NK603 trên chuột

Ứng xử của các bên liên quan

Đầu thập niên 1980, Pháp kiên quyết phản đối cây trồng BĐG nhưng đến thập niên 2000 khi Pháp đã làm chủ được công nghệ BĐG thì hàng chục giống ngô BĐG đã được trồng khá phổ biến ở đây nhưng hầu hết đều là các giống do Pháp sản xuất, chỉ duy nhất giống MON89034 của tập đoàn Monsanto được cấp phép ở đây.

Trung Quốc cũng là nước đã dành rất nhiều tiền để nghiên cứu về GMO. Vào cuối thập niên 1990 những tranh cãi về khả năng mất an toàn của sinh vật BĐG cũng rất gay gắt, tuy nhiên đến đầu những năm 2000 thì điều này đã dịu xuống. 
Trước đây, khi chưa làm chủ được công nghệ BĐG thì chính phủ Trung Quốc đã tìm mọi cách để hạn chế nhập khẩu, kể cả thời kỳ trong nước thiếu hụt, giá đậu tương lên cao ảnh hưởng đến người tiêu dùng nhưng Trung Quốc vẫn hạn chế nhập khẩu, chấp nhận hỗ trợ tiêu dùng nhưng đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu sản xuất sản phẩm BĐG trong nước.
Đến nay, Trung Quốc đang dần xuất khẩu công nghệ BĐG và các sản phẩm BĐG của họ. Các công ty giống trong nước của Trung Quốc hiện nay cũng đang cung cấp phần lớn giống cho nhu cầu của nông dân. Xin lưu ý, khi thị trường trong nước thiếu hụt, thì Trung Quốc vẫn nhập khẩu các sản phẩm BĐG nhất là đậu tương, nhưng không phải là nhập giống đậu tương BĐG vào để trồng ở trong nước.

Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Theo PGS Nguyễn Thị Trâm, Việt Nam cần thận trọng chọn cách tiếp cận một cách thông minh về cây BĐG. Trong khi Việt Nam là nước nghèo, mọi trang thiết bị, vật liệu, hóa chất, phương pháp nghiên cứu phải nhập khẩu 100%, mà thường khi đi nhập hay bị mua phải công nghệ lạc hậu thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ tiếp thu công nghệ cần được đào tạo đồng bộ, toàn diện về lý thuyết, thực hành và triển khai. 
Vì vậy, trước mắt chúng ta phải chọn cách đi chậm (tuần tự) và thận trọng, không nên đi tắt đón đầu để tránh sự lệ thuộc triền miên vào các công ty nước ngoài về giống BĐG mà nông dân ta là những người phải đi mua giống để trồng hoặc Nhà nước phải bỏ tiền mua gen cho các Viện nghiên cứu trong nước tạo giống chuyển gen để bán cho nông dân.
Trước mắt, chúng ta hoàn toàn có khả năng tập trung nội lực nghiên cứu phát triển các cây lương thực, thực phẩm có lợi thế, đồng thời tập trung đầu tư để nâng cao giá trị xuất khẩu của lúa gạo, cà phê, rau, hoa, quả, thủy sản... bù cho việc nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi và bông cho công nghiệp dệt. 
Đầu tư nghiên cứu tạo giống hoặc nhập sản phẩm cây trồng BĐG dùng làm nhiên liệu, nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, xăng sinh học nhưng phải đảm bảo các quy định về an toàn sinh học, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật. Vì tầm quan trọng của lương thực thực phẩm cho con người, nên các chính sách liên quan tới cây trồng BĐG sẽ phải dựa trên những cuộc tranh luận cởi mở và trung thực có sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội.
Theo thiển nghĩ của người viết bài này, cơ sở vật chất và khả năng nghiên cứu về cây BĐG của Việt Nam còn rất hạn chế, trong khi trong nước cũng chẳng thiếu giống tốt và phù hợp với điều kiện địa phương nhưng lại để cho các công ty xuyên quốc gia đem giống của họ vào cạnh tranh với mình. 
Họ là những ông lớn có tiềm lực kinh tế sẵn sàng bóp chết các công ty nhỏ xíu trong nước. Sẽ là sai lầm khi thực hiện trồng ngô BĐG trong nước để thay thế nhu cầu nhập ngô BĐG làm thức ăn chăn nuôi. Sản xuất ra ngô BĐG thay thế nhu cầu nhập khẩu là câu chuyện khác hoàn toàn với nhập khẩu ngô BĐG nguyên liệu để bù đắp sự thiếu hụt.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp & PTNT thường nhắc đi, nhắc lại điệp khúc: ”Phải nâng cao giá trị cho sản phẩm, phải sản xuất ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao” thế nhưng ai có thể khẳng định ngô BĐG là cây trồng mang lại giá trị gia tăng cao hơn ngô thường của Việt Nam? 
Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam không hiểu vì lý do gì cứ viện cớ thiếu ngô làm thức ăn chăn nuôi để biện luận cho việc phải đưa ngô BĐG vào sản xuất đại trà. Ngô BĐG không làm cho năng suất và sản lượng tăng lên, do vậy sẽ không giải quyết được vấn đề thiếu hụt ngô nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, chưa kể giả sử nếu cứ cho trồng ngô BĐG tại Việt Nam thì cũng chẳng thể nào cạnh tranh nổi với ngô BĐG của Mỹ, Achentina, v.v... là những nước có điều kiện đất đai, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật hơn hẳn Việt Nam.

Tại sao Việt Nam không đơn giản áp dụng chính sách thuế để xử lý tình huống thiếu hụt nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như những nước khác vẫn làm?. Ví dụ, khi nào trong nước thiếu thì giảm thuế nhập khẩu, còn khi trong nước đến vụ thu hoạch thì tăng thuế xuất thuế nhập khẩu lên để bảo hộ người sản xuất trong nước. Hiện tại, Việt Nam cũng đã sản xuất được tới gần 5 triệu tấn ngô, với sản lượng như vậy mà đến thời vụ thu hoạch, nông dân bán còn khó, nếu trồng ngô BĐG thì cạnh tranh sao nổi với ngô BĐG nhập khẩu có giá rất cạnh tranh.

Có ý kiến đặt cho rằng các công ty đa quốc gia tìm mọi cách để vào Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thức ăn chăn nuôi, giá thức ăn gia súc của họ chưa bao giờ ngừng tăng. Họ luôn viện cớ giá đầu vào tăng để tăng giá thức ăn chăn nuôi, đến mức không thể tăng hơn được nữa vì người nông dân kiệt quệ vì lỗ vốn thì họ lại xin được miễn VAT nhưng thử xem miễn VAT rồi thì giá thức ăn chăn nuôi có giảm được không? Đừng có mơ mà vỡ mộng.

Thay cho lời kết

Những bài học ở Châu Âu và Trung Quốc khẳng định rằng thắng lợi chỉ thuộc về những người nắm giữ công nghệ. Cần phải thận trọng và cảnh giác với những phương thức kinh doanh kiểu mới của những “ông Trùm” thế giới sử dụng các con bài “sinh tặc” hiện nay.

 

Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa

Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa

Trong năm 2014-2015, cả nước chuyển đổi khoảng 260 ngàn ha diện tích gieo trồng lúa sang cây trồng khác và kết hợp nuôi trồng thủy sản.

Đây là mục tiêu đặt ra tại quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa giai đoạn 2014-2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa phê duyệt.

Quy hoạch cũng nêu rõ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa nhằm mục tiêu vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa duy trì quỹ đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo nguyên tắc chuyển đổi nhưng không được làm mất các yếu tố phù hợp để trồng lúa, khi cần thiết có thể quay lại trồng lúa mà không phải đầu tư lớn; cây trồng chuyển đổi phải có thị trường tiêu thụ, có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo vùng

Theo quy hoạch, vùng Đồng bằng sông Cửu Long tập trung chuyển đổi mô hình chuyên lúa sang mô hình luân canh 2 lúa – màu, 1 lúa – 2 màu; chuyên rau, màu và lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản. Năm 2014-2015, chuyển đổi khoảng 112 ngàn ha diện tích gieo trồng lúa, trong đó chuyển sang trồng ngô 30 ngàn ha, đậu tương 8 ngàn ha, vừng, lạc 11 ngàn ha; rau, hoa 27 ngàn ha…Giai đoạn 2016-2020, tiếp tục chuyển đổi khoảng 204 ngàn ha.

Vùng Đồng bằng sông Hồng, tập trung chuyển đổi mô hình 2 lúa sang trồng các loại rau, hoa, màu; mô hình 1 lúa chuyển sang trồng rau màu, mô hình trồng lúa sang lúa – cá và tăng diện tích cây màu vụ Đông trên đất trồng lúa.

Vùng Trung du miền núi phía Bắc, chuyển đổi một số diện tích 2 vụ lúa sang trồng rau các loại, hoa; chuyển đổi mô hình 1 lúa sang trồng rau, màu, tăng cường cây vụ Đông trên đất trồng lúa.

Vùng Bắc Trung bộ, trong năm 2014-2015 chuyển đổi khoảng 26 ngàn ha đất lúa sang trồng ngô, đậu tương, vừng, lạc…Giai đoạn 2016-2020 chuyển đổi tiếp 34 ngàn ha đất lúa sang các cây trồng khác.

Đối với vùng Duyên hải Nam trung bộ, giai đoạn 2014-2020, chuyển đổi khoảng 105 ngàn ha đất lúa sang các cây trồng khác.

Đối với vùng Tây Nguyên, chuyển đổi khoảng 15 ngàn ha đất trồng lúa sang trồng ngô và các cây trồng khác.

Vùng Đông Nam bộ, tập trung chuyển đổi mô hình chuyên lúa sang các loại cây có giá trị kinh tế cao như hoa, cây cảnh, rau an toàn…

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Cần sản xuất thêm nhiều trái cây và rau củ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu

Cần sản xuất thêm nhiều trái cây và rau củ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu 

Lượng tiêu thụ rau quả mỗi ngày thấp là nhân tố nguy cơ hàng đầu gây tử vong và bệnh tật trên toàn cầu, và góp phần vào khoảng 1,7 triệu cái chết mỗi năm trên thế giới. Với các khuyến nghị trên toàn cầu hiện nay về việc tiêu thụ ít nhất 5 khẩu phần trái cây và rau củ mỗi ngày, các nghiên cứu gia đã phân tích xem việc cung cấp trái cây và rau củ có đủ để đáp ứng các nhu cầu hiện tại trong tình trạng dân số ngày càng gia tăng này hay không.

“Có 1 mối quan hệ mạnh mẽ giữa việc tiêu thụ nhiều trái cây và rau củ với tỷ lệ tử vong thấp”, nghiên cứu gia Karen Siegel đến từ Trường Y tế Rollins cho biết. “Mối quan hệ này kéo sang nhiều căn bệnh mãn tính chủ yếu, như bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường và một số bệnh ung thư nào đó. Mặc dù phần lớn người dân trên thế giới đều không tiêu thụ đúng khẩu phần trái cây và rau củ như được khuyến nghị nhưng nếu các chuyên gia y tế khuyến khích điều này thì chúng tôi cũng phải xem xét đến việc thiếu hụt nguồn cung”.

Bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu về dân số và nông nghiệp trên toàn cầu, nhóm nghiên cứu đã so sánh nguồn cung cấp trái cây và rau củ trên toàn cầu với liều lượng tiêu thụ mỗi ngày cho năm 2012. Họ cũng lên kế hoạch cho việc cung cấp và nhu cầu trái cây và rau củ cho năm 2025 và 2050.

Các kết quả cho thấy rằng nguồn cung cấp trái cây và rau củ trên toàn cầu thiếu 22% nhu cầu của toàn dân và thiếu khoảng 95% ở các quốc gia có thu nhập thấp. Và đến năm 2025 và 2050 thì nguồn cung này thiếu hụt lần lượt là 34% và 43% nếu như vẫn duy trì mức độ sản xuất như hiện tại.

“Nghiên cứu của chúng tôi rất có ý nghĩa bởi vì nó cho thấy rằng sự thiếu hụt này chỉ có thể tồi tệ hơn theo thời gian, đặc biệt đối với các quốc gia có thu nhập thấp”, bác sĩ y khoa K.M. Venkat Narayan cho biết. “Thông tin này đặt nền tảng cho các phân tích sâu xa hơn và đem lại cái nhìn sâu sắc hơn về các chính sách tăng sản xuất và nguồn cung cấp trái cây và rau quả”.'

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Xuất khẩu điều nhân: Đột phá thị trường thế giới

Xuất khẩu điều nhân: Đột phá thị trường thế giới

Theo Bộ Công thương, 6 tháng đầu năm cả nước xuất khẩu 133.000 tấn điều nhân các loại, kim ngạch xuất khẩu 847 triệu USD, tăng 20,1% về lượng và tăng 22,1% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2013. Với tình hình này, Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) dự báo, cả năm 2014 có thể xuất 270.000 tấn điều nhân các loại, với kim ngạch 1,8 tỷ USD, nếu cộng thêm các mặt hàng khác dầu vỏ hạt điều và những sản phẩm chế biến sâu thì kim ngạch xuất khẩu điều cả nước khoảng 2,2 tỷ USD, con số này năm 2013 là 1,8 tỷ USD.

Do lệ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc nên những người kinh doanh các mặt hàng nông sản chủ lực đứng ngồi không yên khi cao su đang “chết đứng” vì giá thấp, trái cây và khoai mì thấp thỏm, mặt hàng gạo lại thất thường vì buôn bán tiểu ngạch, nhưng mặt hàng điều nhân lại có cơ cấu khá lý tưởng, không quá lệ thuộc vào một thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.

Trao đổi với PV Báo SGGP, ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas, cho biết, điều nhân và các sản phẩm chế biến sâu của hạt điều xuất khẩu đến 40 quốc gia, trong đó Mỹ là thị trường nhập khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 40%; các nước châu Âu gần 30%, kế đến là Trung Quốc khoảng 20%, Úc hơn 11%. Lợi thế của mặt hàng điều là thực phẩm khô, nếu có vấn đề ở thị trường nào đó vẫn không làm ảnh hưởng lớn đến toàn ngành. Sau 30 năm xuất khẩu điều nhân, các doanh nghiệp (DN) đã hình thành mạng lưới khách hàng rộng khắp các nước.

Trung Quốc là thị trường có tốc độ phát triển khá ấn tượng, trên dưới 10%/năm, nhưng nếu xét về thị phần lại có xu hướng giảm dần. Năm 2000 mới nhập khoảng 11.000 tấn điều nhân, lúc đó chiếm 32,6% tổng lượng điều xuất khẩu Việt Nam; năm 2013 lên đến trên 52.000 tấn, nhưng thị phần giảm xuống còn 20%. 6 tháng đầu năm 2014, cũng ở con số này. Theo nhận định của Vinacas, có thể thời gian tới tỷ lệ này sẽ dao động trên dưới 20%. Một điều có thể nhận thấy, lúc mới khởi nghiệp, với các DN Việt Nam, Trung Quốc là thị trường để DN tìm đến vì là nước giáp với Việt Nam ở phía Bắc nên việc vận chuyển khá dễ dàng, chỉ sau 1 tuần hàng đã đến Trung Quốc và khách hàng khá dễ dàng chấp nhận nên những mã hàng các nước phát triển “chê” được bán sang Trung Quốc. Những DN từng buôn bán điều nhân lâu năm lại tìm cách thoát ra khỏi thị trường này, điển hình như Công ty cổ phần Nhật Huy. Ông Phạm Văn Công, Chủ tịch HĐQT cho biết, từ năm 1998 đến năm 2005 gần như 100% là bán qua Trung Quốc, nhưng sau đó giảm dần, từ năm 2010 đến nay chỉ còn 5%, trong khi 75% là xuất khẩu sang Mỹ và các nước châu Âu, còn lại là Nhật Bản, Úc và các nước khác.

Lý do mà ông Phạm Văn Công chủ động chuyển hướng là do cách làm ăn của DN Trung Quốc chưa có kế hoạch cụ thể, mang tính chụp giựt, không theo tiêu chuẩn cụ thể mà theo cảm quan nên khó chuẩn xác. Khi cần hàng mua ồ ạt, nhưng cũng ngưng mua đột ngột nếu hàng bán chậm; nhà nước Trung Quốc điều chỉnh thuế biên mậu liên tục. Trong khi giao dịch với DN các nước phát triển Âu Mỹ thì buôn bán kỳ hạn rõ ràng, dễ cho việc hoạch định sản xuất.

Nhu cầu tiêu thụ thị trường Trung Quốc tăng rất nhanh. Nếu năm 2000 Trung Quốc nhập khẩu 11.200 tấn điều nhân của Việt Nam thì năm 2013 con số này là 52.000 tấn và sẽ còn tăng mạnh thời gian tới khi mà bình quân mỗi người dân Trung Quốc chỉ mới tiêu thụ 0,04kg/người/năm, trong khi Mỹ là 0,26kg/người/năm. Chỉ cần tăng gấp đôi con số hiện nay, tức là chưa tới 1/3 lượng tiêu thụ của dân Mỹ, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu hơn 100.000 tấn/năm để đáp ứng cho hơn 1,3 tỷ người dân. Vì vậy, từ lâu Trung Quốc đã quan tâm đến công nghiệp chế biến hạt điều nhưng do không có thế mạnh để phát triển cây điều như Việt Nam nên họ đang trong quá trình hình thành công nghiệp chế biến từ nguyên liệu điều nhập khẩu các nước châu Phi, kể cả mua điều nhân Việt Nam về chế biến sâu để xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Đức Thanh, thị trấn Mao Minh của tỉnh Quảng Đông dành khu đất 10ha để lập trung tâm chế biến điều nhân; ngoài ra còn đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Châu… đã làm mấy năm nay và có dấu hiệu muốn đẩy nhanh hơn. Vì là khách hàng truyền thống của Việt Nam, một số nơi tiếp nhận người của Trung Quốc qua tiếp cận, học hỏi công nghệ chế biến điều theo thỏa thuận hợp tác giữa 2 DN. Họ cũng đã mua thiết bị Việt Nam về nghiên cứu và có thành công bước đầu. Tất nhiên để làm được như Việt Nam không thể một sớm một chiều. Giám đốc Công ty TNHH Bình Sơn 1, ông Tạ Quang Huyên (Bình Phước), tự tin cho rằng, có thể lượng nhập khẩu giảm nhưng chất lượng hạt điều Việt Nam được khách hàng nước ngoài thừa nhận là ngon nhất, trở thành thương hiệu mà người tiêu dùng các nước châu Âu, Mỹ ưa chuộng. Vấn đề còn là công nghệ và phương pháp chế biến, là “hồn cốt” sản phẩm, những lợi thế không thể có của nước khác. 

Ngay cả Ấn Độ, nước chế biến hạt điều lớn nhất thế giới nhưng do đẩy mạnh tiêu thụ nội địa nên xuất khẩu sau Việt Nam cũng tìm cách tiếp cận và mua thiết bị chế biến hạt điều của Việt Nam, kể cả lập nhà máy chế biến tại Việt Nam. Theo nhận định của Vinacas, Ấn Độ sẽ là đối thủ cạnh tranh bởi nghề chế biến điều của nước này đã hình thành cả trăm năm, có hệ thống thu mua hạt điều (thô) ngay tại những nước châu Phi để bán cho Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam dù là đất nước chế biến điều khoảng 30 năm nhưng công nghệ chế biến lại đi đầu trên thế giới nên những đối thủ này luôn tìm cách học hỏi lợi thế Việt Nam để cạnh tranh. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao tiêu thụ thị trường nội địa và giữ vững thị trường truyền thống, DN chế biến điều Việt Nam không thể chủ quan, cần có chiến lược kinh doanh lâu dài dựa trên lợi thế sẵn có.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020

Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020 

Đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì và ổn định ở mức 50 ngàn ha, diện tích cho sản phẩm 47 ngàn ha, năng suất đạt 30 tạ/ha, sản lượng đạt 140 ngàn tấn, sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90%. Về cơ cấu sản phẩm, tiêu đen chiếm 70%, tiêu trắng 30%; kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2-1,3 tỷ USD.

Đó là những mục tiêu chính của Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát ký phê duyệt tại Quyết định số 1442/QĐ-BNN-TT ngày 27/6/2014.

Theo định hướng Quy hoạch, căn cứ mục tiêu về diện tích hồ tiêu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, phải tiến hành rà soát, đánh giá các điều kiện sinh thái thích nghi với cây hồ tiêu, loại bỏ diện tích ít thích hợp và không thích hợp để phát triển ổn định và bền vững.

Đến năm 2020, vùng trồng hồ tiêu trọng điểm chiếm diện tích 41.500 ha, tương ứng 83% tổng diện tích hồ tiêu cả nước, gồm các địa phương: Bình Phước: 10 ngàn ha; Đồng Nai: 7 ngàn ha; Bà Rịa-Vũng Tàu: 7 ngàn ha; Đắk Nông: 7 ngàn ha; Gia Lai: 5.500 ha, Đắk Lắk: 5 ngàn ha.

Ngoài vùng trồng hồ tiêu trọng điểm, diện tích 8.500 ha tương ứng 17% diện tích hồ tiêu cả nước, phân phối tại các địa phương như sau: Quảng Trị: 2.200 ha, Bình Thuận: 1.900 ha, Quảng Binh: 1 ngàn ha, Kiên Giang: 500 ha, Phú Yên: 400 ha, Tây Ninh: 400 ha, Bình Dương: 400 ha, Nghệ An: 300 ha, Quảng Nam: 300 ha, Bình Định: 300 ha, Thừa Thiên – Huế: 250 ha, Lâm Đồng: 200 ha, Quảng Ngãi: 100 ha, Kon Tum: 100 ha, TP.Hồ Chí Minh: 50 ha, TP.Đà Nẵng: 30 ha, Khánh Hòa: 30 ha, Hà Tĩnh: 20 ha, An Giang: 20 ha.

Về chế biến hồ tiêu, đầu tư cải tạo nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có, sử dụng hiệu quả thiết bị công nghệ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm; nâng tỷ lệ tiêu chất lượng cao lên khoảng 90%, tỷ lệ tiêu trắng lên 30% và tỷ lệ tiêu nghiền bột lên 25% vào năm 2020.

Cũng theo Quyết định, Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ định hướng quy hoạch ngành hồ tiêu toàn quốc tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh rà soát, xây dựng quy hoạch phát triển hồ tiêu tại địa phương; tổ chức thực hiện phương án quy hoạch được duyệt. Đối với diện tích hồ tiêu già cỗi, thoái hóa cần có kế hoạch trồng tái canh. Hồ tiêu trồng ở những nơi điều kiện sinh thái không thích hợp, hồ tiêu bị nhiễm các bệnh khó phòng trị và không nằm trong vùng quy hoạch được duyệt, cần khuyến khích chuyển sang trồng cây khác theo quy hoạch địa phương./.

Thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp

Thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp 

Thúc đẩy khu vực tư nhân hợp tác với người nghèo là hết sức cần thiết để người nghèo cải thiện thu nhập. Theo đó, Cơ quan hợp tác và phát triển Thụy Sĩ (SDC) tập trung cải thiện mối quan hệ hợp tác với khu vực tư nhân để mang lại lợi ích bền vững cho các cộng đồng nông thôn còn đang trong tình trạng nghèo dai dẳng ở Việt Nam.

Đó là nhận định của ông Samuel Waelty, Giám đốc quốc gia của SDC vừa cho biết tại Hội thảo về thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo nằm trong khuôn khổ hoạt động chương trình “Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho người nghèo nông thôn thông qua phát triển chuỗi giá trị“ (gọi tắt là MARP) do chính phủ Thụy Sĩ tài trợ.

Theo Giám đốc Samuel Waelty, nông thôn là thị trường có nhiều rủi ro, chi phí giao dịch lớn và thiếu những liên kết thị trường bền vững, do đó huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân cho phát triển bền vững vì người nghèo vẫn là một thách thức.

“Những chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của quốc tế và Việt Nam ngày hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm ra giải pháp tốt nhất để hợp tác với khu vực tư nhân nhằm tăng thu nhập bền vững cho người nghèo ở vùng nông thôn và bản thân khu vực tư nhân,” ông Samuel Waelty nhấn mạnh.

Chia sẻ kinh nghiệm của mình ông Javier Ayala, Giám đốc điều hành Quỹ thách thức doanh nghiệp Việt Nam cho rằng, kinh doanh cùng người thu nhập thấp (IB) là mô hình kinh doanh huy động nhóm thu nhập thấp trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp với vai trò là nhà cung ứng, khách hàng, nhà phân phối và công nhân bằng cách tạo ra các giá trị chia sẻ.

Mặt khác, kinh doanh cùng người thu nhập thấp bằng cách hỗ trợ nông dân quy mô nhỏ là cách hiệu quả nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo, bởi 70% lương thực thế giới sản xuất bởi nông dân quy mô nhỏ.

Ông Javier Ayala nêu rõ, những chuỗi giá trị có sự tham gia giữa doanh nghiệp và những đối tượng có thu nhập thấp đã tạo ra những lợi ích đáng kể như công ty ngành chè đã góp phần tăng thu nhập cho người thu nhập thấp lên 60% (trước đó chỉ 0,5 USD/ngày) cho ít nhất 800 nông hộ (giai đoạn thử nghiệm, tiềm năng cho hơn 2.000 hộ). Năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, các hợp đồng thương mại bền vững.

Theo đó, các doanh nghiệp tham gia cũng có lợi nhuận tăng trên 50% và cung ứng chè chất lượng cao, ổn định, cải thiện tiếp cận các thị trường mới đối với chè tự nhiên chất lượng cao, cải thiện mối quan hệ với chính quyền địa phương.

Ông Samuel Waelty cũng cho biết, chương trình MARP khởi động vào tháng 7 năm 2013 với tổng ngân sách là 5,2 triệu USD nhằm hỗ trợ cho các dự án và các tổ chức, chủ yếu tại Việt Nam và một phần tại Lào và Myanmar. Mục tiêu của chương trình là hỗ trợ các hộ gia đình nông thôn nghèo tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp phù hợp để tăng thu nhập.

Đánh giá kết quả sau 10 tháng triển khai chương trình MARP đến nay, ông Samuel Waelty nhấn mạnh chương trình đã được triển khai tại 8 tỉnh ở Việt Nam với tám chuỗi giá trị nông nghiệp là: chè, mây, tre, vải lụa, vải thổ cẩm, thảo quả, quế và hồi. Hiện, MARP đã tiếp cận được 6.870 hộ gia đình tại 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong đó 90% là người dân tộc thiểu số, 32% người hưởng lợi là phụ nữ./.

Để cây điều Việt Nam phát triển bền vững

Để cây điều Việt Nam phát triển bền vững

Sản phẩm thuộc ngành hàng nông nghiệp, nhưng cây điều được xếp vào cây trồng công nghiệp lâu năm. Từ nhiều năm nay, kim ngạch xuất khẩu của hàng nông phẩm này xếp thứ tư sau gạo, cà phê, cao su, đã tạo nhiều công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân. Thực tế, hiện nay vẫn còn nhiều bất cập trong đầu tư cho cây điều, cần phải có chiến lược phát triển phù hợp, tương xứng với tiềm năng của những vùng đất sản xuất điều trong thời gian tới.

Thực trạng sản xuất điều nước ta

Cây điều ở nước ta phát triển rất nhanh, từ thập niên 80 thế kỷ trước đã được đưa vào cơ cấu cây trồng thuộc ngành lâm nghiệp. Đến năm 1990, trở thành một trong những cây công nghiệp lâu năm xuất khẩu chủ lực, có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng thấp Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và một số vùng đất cao ở đồng bằng sông Cửu Long. Là cây đa mục tiêu (phát triển kinh tế, phòng hộ đất, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo…), sinh trưởng nhanh, rễ phát triển mạnh, tán rộng che phủ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn rất tốt.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh, năm 2013 cả nước có 310.000 ha điều, trong đó diện tích điều trồng tập trung khoảng 60,8%, phân tán 39,2%, năng suất bình quân đạt 9,1 tạ/ha, sản lượng 285.000 tấn hạt, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,654 tỷ USD (hạt điều, dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm chế biến từ điều) đến 95 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 35% thị phần, Trung Quốc 20%, EU 20%, còn lại 25% là các quốc gia khác; với 330 đơn vị xuất khẩu, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (số doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu dưới 5 triệu USD/năm, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu); tiêu thụ nội địa chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 4%. Nước ta đang chuyển từ nước sản xuất nguyên liệu sang nước chế biến điều của thế giới.

Những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận và cho phép sản xuất thử 10 giống điều mới. Hiện nay, các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, tuyển chọn giống mới có nhiều ưu điểm nổi bật, vừa đạt năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh, thích nghi với điều kiện sinh thái của từng vùng và chịu đựng tốt với sự biến đổi khí hậu, đang được nhân rộng trong thời gian tới. Số liệu điều tra cho thấy, chỉ có khoảng dưới 34,4% diện tích điều hiện nay được trồng bằng các giống điều mới, diện tích điều trồng bằng cây thực sinh, giống cũ vẫn đang chiếm diện tích lớn, khoảng trên 65,6%, phần lớn diện tích điều này chất lượng giống kém, rất ít được chăm sóc, đã có một số biểu hiện sự thoái hóa. Những vườn điều mới trồng, đa số nông dân trồng bằng giống ghép, mới, nhưng khâu quản lý nguồn gốc xuất xứ, chất lượng giống còn nhiều bất cập, một số cơ sở cung cấp giống không đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật làm cho người trồng điều chưa thật sự yên tâm khi chuyển sang trồng giống điều ghép, mới.

Nhiều tiến bộ kỹ thuật về cây điều đã được các cơ quan chuyên môn, hệ thống khuyến nông, Hiệp hội điều chuyển giao thông qua nhiều hình thức như xây dựng mô hình thâm canh, cải tạo vườn điều cũ, chăm sóc, bón phân, tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh… đã tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo, thăm quan, tuyên truyền quảng bá. Nhiều nông dân trồng điều học tập, làm theo và đã đạt kết quả rất khả quan, nhất là nông dân các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, nhiều diện tích điều được trồng từ những năm 80 - 90 thế kỷ trước với mục đích phủ xanh theo chương trình 327, 661, hiện nay đều đã lớn tuổi, chất lượng giống không bảo đảm, khoảng cách mật độ trồng không hợp lý, chăm bón kém… đã dẫn đến thực trạng năng suất, sản lượng thấp, thậm chí một số vườn điều nông dân tiến hành đầu tư thâm canh nhưng năng suất tăng không đáng kể, đã ảnh hưởng đến tâm lý và thu nhập của nông dân.

Hiện nay, cả nước có trên 465 cơ sở chế biến điều, trong đó 30 doanh nghiệp chế biến đạt tiêu chuẩn HACCP, ISO 9001, ISO14000, ISO 22000, BRC. Để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng yêu cầu về công nghệ chế biến hạt điều theo tiêu chuẩn xuất khẩu, giảm áp lực về lao động, 100% doanh nghiệp lớn đã đầu tư tự động hóa nhiều khâu trong dây chuyền sản xuất (cắt, tách vỏ hạt, bóc vỏ lụa); đổi mới công nghệ chế biến. Năm 2013, các doanh nghiệp thu mua hạt điều sản xuất trong nước 285.000 tấn, giá bình quân từ 20.000 đến 23.000 đồng/kg, đáp ứng 30% nhu cầu chế biến của các nhà máy, số còn lại nhập khẩu; nhìn chung, chất lượng hạt điều nhập khẩu không đồng đều, nhiều lô hàng có chất lượng kém so với điều trong nước (về tỷ lệ nhân thu hồi, cỡ hạt, độ ẩm, tạp chất).

Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất điều

Là ngành hàng phát triển trên quy mô rộng, diện tích lớn, giải quyết việc làm cho hơn 900.000 lao động, trong sản xuất nông nghiệp và chế biến, kim ngạch xuất khẩu xếp hạng thứ 4 sau lúa gạo, cà phê, cao su, nhưng đến nay, hầu hết các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chưa tổ chức, đầu tư xây dựng được vùng nguyên liệu, chưa ký kết hợp đồng thu mua sản phẩm để ổn định nguyên liệu có chất lượng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà chủ yếu thu mua qua tầng nấc trung gian, ảnh hưởng đến giá thu mua trực tiếp từ người sản xuất.

Phần lớn diện tích đất trồng điều được bố trí trên chân đất không thuận lợi. Đất xấu, độ dốc lớn, không có nước tưới, khó có điều kiện thâm canh và thậm chí có những vùng sinh thái điều kiện khí hậu, đất đai không phù hợp.

Trên 65,6% diện tích điều hiện nay được trồng bằng cây thực sinh, và giống chất lượng kém, không được chọn lọc… có năng suất thấp, chất lượng hạt thu hoạch kém. Các giống này có đặc điểm ít quả, quả bé, dễ nhiễm sâu bệnh, ra hoa tập trung trong thời gian ngắn dễ bị ảnh hưởng của thời tiết bất lợi như mưa trái vụ lúc ra hoa. Một số giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đang được khuyến khích, nhưng khâu quản lý chất lượng giống chưa được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra, diện tích điều đã già cỗi (trên 20 năm tuổi) chiếm tỷ lệ cao khoảng 29,5%, sâu bệnh nhiều, trồng phân tán (trên 39,2% diện tích) nên năng suất thấp.

Mấy năm gần đây do sự biến đổi khí hậu đã phát sinh nhiều loại sâu bệnh như bọ xít muỗi, sâu róm đỏ, bọ đục chồi, xén tóc đục thân cành, rệp sáp, bệnh thán thư, bệnh khô cành… gây hại ở mức độ nặng hơn cho cây điều, làm giảm năng suất, sản lượng.

Phần lớn các vườn điều không được đầu tư chăm bón theo đúng yêu cầu kỹ thuật và nhu cầu của cây. Thiết kế vườn cây không hợp lý, không có biện pháp bảo vệ đất chống xói mòn, mật độ cây không bảo đảm, quá dày 400 cây/ha, hoặc quá thưa 70 cây/ha, không xới xáo, bón phân, tưới nước (trừ một số vườn trồng xen), không tiến hành tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh không triệt để và đúng cách đã làm cho vườn cây nhanh suy kiệt, năng suất thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

Giá bán hạt điều thấp, biến động nhiều, bình quân khoảng 20.000-23.000 đồng/kg, phải qua nhiều khâu trung gian; trong lúc giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công liên tục tăng cao… ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng điều, làm giảm tính cạnh tranh của cây điều so với nhiều cây trồng khác.

Để cây điều phát triển được bền vững

Với quan điểm, phát triển ngành điều bền vững, theo hướng hiện đại, đồng bộ, sản xuất hàng hóa lớn với các sản phẩm đa dạng có chất lượng, mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp, từ nay đến năm 2020, ngành sản xuất điều phấn đấu tổng diện tích trồng điều khai thác 350 ngàn ha (phân bố ở 9 tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Bình Định), trong đó diện tích thu hoạch 300 ngàn ha, chiếm 85,7%; cho năng suất 15-17 tạ hạt/ha; tổng kim ngạch xuất khẩu ngành điều 2,5 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu trên, ngành cần thực hiện một số nhóm giải pháp chính, đồng bộ. Đó là:

1. Đối với sản xuất điều

Rà soát, điều chỉnh vùng quy hoạch trồng điều. Hình thành vùng trồng trọng điểm, tập trung đầu tư thâm canh, hướng tới xây dựng vườn điều lớn; đầu tư xây dựng giao thông, thủy lợi, mạng lưới thu mua, chế biến. Phân loại các vườn điều hiện có: diện tích điều già cỗi, sâu bệnh nhiều, giống không đạt yêu cầu cần trồng tái canh, cải tạo; diện tích có đủ điều kiện thì tập trung thâm canh, tăng năng suất.

Để từng bước nâng cao chất lượng vườn điều, tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao đời sống cho người dân, từng địa phương xây dựng kế hoạch thâm canh phù hợp ở mức cao nhất nhằm phát huy tiềm năng lợi thế, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây điều và xây dựng kế hoạch, bước đi cụ thể để tái canh, cải tạo, khôi phục vườn điều già cỗi, nhiễm sâu bệnh, giống không đạt yêu cầu hoặc chuyển sang trồng cây lâm nghiệp hoặc cây trồng khác đối với diện tích điều trồng nơi không phù hợp, hiệu quả thấp hơn.

Chú trọng trồng xen, nuôi xen tổng diện tích điều với các cây trồng, vật nuôi phù hợp. Cụ thể, trên đất có nước tưới bổ sung sẽ trồng điều xen ca cao; trên đất có điều kiện giữ ẩm sẽ trồng điều xen gừng, nghệ, sa nhân; trên đất dốc, sườn đồi, ven biển sẽ trồng điều kết hợp nuôi gà thả vườn, nuôi ong lấy mật…

Nghiên cứu chọn tạo và đưa vào sản xuất giống điều có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái, chống chịu một số sâu bệnh chủ yếu và thích nghi với sự biến đổi khí hậu. Xây dựng vườn đầu dòng, vườn nhân giống gốc. Đối với giống ghép, 100% cành ghép, gốc ghép phải lấy từ cây đầu dòng có chứng nhận; thường xuyên kiểm tra, đánh giá cây giống bảo đảm yêu cầu. Đơn vị được chọn nhân, cung ứng giống phải cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và chịu trách nhiệm vật chất về chất lượng cây giống.

Tổ chức lại sản xuất theo hướng tăng cường liên kết ngang giữa các nông hộ trồng điều với nhau, hình thành các tổ chức sản xuất: hợp tác xã, tổ kinh tế hợp tác, tổ đoàn kết sản xuất, câu lạc bộ trồng điều năng suất cao, liên minh nông dân trồng điều...Tập hợp được các nông hộ trồng điều (hiện cả nước có 456.410 nông hộ trồng điều) nhằm tạo sự đồng thuận để họ tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật; thông tin thị trường, giá cả; tiếp nhận các chính sách của Nhà nước và phối hợp cùng nhau thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Tăng cường liên kết giữa người trồng điều với doanh nghiệp, xây dựng mô hình vườn điều mẫu lớn, tiến đến xây dựng vùng nguyên liệu điều cho từng doanh nghiệp.

2. Đối với chế biến điều

Quy hoạch, sắp xếp lại các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu điều theo hướng giảm đầu mối, hình thành các cơ sở chế biến lớn, thiết bị và công nghệ hiện đại.

Khuyến cáo không thành lập mới cơ sở chế biến và không tăng thêm công suất chế biến hạt điều khi thị trường cung cấp hạt điều nguyên liệu trong nước còn chưa phát triển vượt công suất chế biến.

Xây dựng mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO, HACCP, GMP, BRC và quy chuẩn kỹ thuật cơ sở chế biến hạt điều, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

3. Đối với tiêu thụ

Đẩy mạnh tiêu thụ điều trong nước, tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm chế biến có chất lượng và giá trị cao. Ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.

Mở rộng hệ thống thông tin giúp nông dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, khuyến khích xuất khẩu thông qua Hiệp hội Điều Việt Nam. Chuyển từ chính sách trợ cấp xuất khẩu sang hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của điều Việt Nam, chuẩn bị điều kiện tốt để tham gia hiệp định TPP.

4. Giải pháp về chính sách

Để thực hiện trồng tái canh, cải tạo, khôi phục và trồng mới, trồng xen cây thuộc vùng quy hoạch điều, phía nhà sản xuất rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ Nhà nước bằng các chính sách cụ thể. Đó là, hỗ trợ 80% giá trị cây giống đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cho nông dân được sản xuất từ các đơn vị cung ứng giống được chỉ định; 40% phân bón cho trồng điều trong năm đầu tiên khi thực hiện cải tạo, khôi phục diện tích điều và trong 3 năm đầu sau khi trồng tái canh. Về vốn vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất vay ưu đãi 6%/năm với thời gian 7 năm đối với vốn đầu tư trồng tái canh, cải tạo khôi phục và trồng mới bằng giống mới có chất lượng, thời gian hoàn trả vốn và lãi bắt đầu từ năm thứ 4 và kết thúc vào năm thứ 7.

Bên cạnh sự hỗ trợ về vốn, các nhà sản xuất điều cũng mong muốn có được những cơ chế, chính sách bảo đảm cho phát triển sản xuất được ổn định: các cơ quan hữu quan sớm xây dựng, ban hành giá sàn thu mua hạt điều hằng năm để làm căn cứ các doanh nghiệp thu mua giá an toàn; hình thành Quỹ Bảo hiểm rủi ro ngành điều, bằng cách huy động từ các nguồn hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước, đóng góp của doanh nghiệp điều và các nguồn đóng góp khác; giảm thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm điều tiêu thụ trong nước./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

 

Phát triển nghề cá để nuôi sống nhân loại

Theo bản tin của FAO ngày 09 tháng Sáu 2014 – Người ta chưa bao giờ tiêu thụ nhiều cá đến như vậy hoặc lệ thuộc vào ngành cá quá lớn để nuôi sống mình như cách làm hiện nay. Cá là một ngành hàng thực phẩm có giá trị thương mại lớn nhất trên thế giới, khoảng 130 tỷ đô la Mỹ năm 2012 – con số này vẫn sẽ tiếp tục gia tăng.

- Mức tiêu thụ cá tính trên đầu người của thế giới là 9,9 kg trong thập niên 1960 đã tăng lên 18,9 kg vào năm 2010, với dự đoán sau 2012 đạt trên 19,2 kg.

- Trong 130,1 triệu tấn cá thỏa mãn cho nhu cầu của loài người năm 2010, Châu Phi được cung cấp thấp nhất, trong khi Châu Á tiêu dùng hai phần ba tổng lượng cá của thế giới, với 89,8 triệu tấn (21,6 kg trên đầu người), ngoài Trung Quốc là 45,4 triệu tấn (16,1 kg / người).

- Trung Quốc là nước xuất khẩu cá và sản phẩm chế biến từ cá lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, kể từ năm 2011, TQ đã trở thành nước nhập khẩu cá đứng hàng thứ Ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản.

- Cộng Đồng Châu Âu là thị trường nhập khẩu cá và sản phẩm chế biến từ cá lớn nhất thế giới, sự lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu ngày càng lớn.

- Tính trung bình, năng lượng dinh dưỡng từ cá khá thấp so với tổng calories nạp vào, ước khoảng 33 calories / người.

- Cá và sản phẩm chế biến từ cá là nguồn protein động vật có giá trị cao, cứ 150 g cá sẽ cung cấp khoảng  50–60 % nhu cầu protein mỗi ngày cho người trưởng thành.

- Có khoảng 25 triệu tấn rong tảo biển được thu hoạch hàng năm để sử dụng làm thực phẩm, mỹ phẩm và phân bón, chúng được chế biến để ly trích ra chất đặc hoặc sử dụng làm nguồn bổ sung trong thức ăn gia súc.

- Chỉ trừ một vài trường hợp ngoại lệ của vài loài cá nào đó, nhìn chung cá chứa rất ít chất béo bảo hòa, ít carbohydrates và cholesterol. Cá không những cung cấp protein chất lượng cao mà còn nhiều chất dinh dưỡng cần thiết khác, đó là các vitamins (D, A và B), các chất khoáng (calcium, iodine, kẽm, sắt và selenium) đặc biệt là omega 3 (polyunsaturated omega-3 fatty acids).

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển

Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển 

BẤT KHUẤT TRƯỜNG SA

KỲ II- ĐÔ THỊ GIỮA BIỂN

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”. Đó là nội dung mật lệnh ngày 7/4/1975 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng ít người biết rằng, 3 ngày truớc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một mật lệnh chỉ đạo “chiến dịch Hồ Chí Minh trên biển”, giải phóng quần đảo Trường Sa."

Ngày 11/4/1975, một phân đội của Đoàn 126 đặc công Hải quân, được tăng cường lực lượng của Tiểu đoàn 471 đặc công Quân khu 5, do Trung tá Mai Năng, Đoàn trưởng Đoàn 126 chỉ huy hành quân ra Trường Sa, trên 3 tàu vận tải của Đoàn 125 hải quân, giả dạng tàu cá Hồng Công. Với phương châm “thần tốc, táo bạo, bí mật, bất ngờ”, sáng 14/4 quân ta giải phóng đảo Song Tử Tây sau 45 phút nổ súng, mở màn chiến dịch giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ.
 
Đẹp và hiện đại
 
Nhìn trên bản đồ vùng biển Việt Nam, đảo Song Tử Tây nằm ở cực Bắc quần đảo Trường Sa, vĩ độ 11025’55 Bắc, kinh độ 114018'00’’ Đông. Đảo có hình bầu dục theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, dài khoảng 630m, rộng 270m, khi thủy triều xuống thấp nhất, mặt đảo cao 4m - 6m so với mặt biển, diện tích tự nhiên khoảng 12 ha, lớn thứ hai trong các đảo (sau đảo Trường Sa Lớn). 
 
Là đảo được chọn để giải phóng đầu tiên, Song Tử Tây cũng là đảo hiện đang giữ nhiều kỷ lục của Trường Sa, như: có hải đăng đầu tiên trên quần đảo Trường Sa (đưa vào hoạt động tháng 10/1993); âu tàu hiện đại với sức chứa lớn nhất; nhà lưới trồng rau xanh cùng hệ thống tưới tự động hiện đại nhất…   
 
Với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, phối cảnh hài hoà giữa công trình doanh trại, khu dân cư xen kẽ cây xanh, không gian khiến toàn cảnh đảo đẹp và bình yên như một khu đô thị sinh thái được quy hoạch bài bản chứ không phải một đảo tiền tiêu nơi đầu sóng ngọn gió.
 
Thượng tá Nguyễn Trọng Bình, Chính trị viên đảo Song Tử Tây cho biết: Dự án “Sản xuất thử nghiệm một số giống cây trồng, vật nuôi ở quần đảo Trường Sa” do Bộ NN-PTNT thực hiện, là một trong những hoạt động nhằm góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân nơi biển đảo tiền tiêu. Mục tiêu của Dự án là sản xuất thử nghiệm và mở rộng sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi thích hợp, góp phần tự túc được một phần rau xanh, thực phẩm và tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp tại một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Cùng với đảo Trường Sa Lớn và đảo Sinh Tồn, đảo Song Tử Tây được đầu tư xây dựng nhà kính diện tích 156m2  dùng trồng rau quanh năm; nuôi các loại gia cầm như vịt, gà, ngỗng; nuôi bò lai và trồng thử nghiệm một số loại hoa sứ, cúc, sống đời và hoa giấy trên đảo. 

 
Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển
 
Về phát triển đàn bò, năm 2011, Bộ NN-PTNT đã tặng đảo ba con bò giống lai Sind, sau đó cấp thêm bốn con. Sau hơn ba năm, đàn bò đã sinh sôi đông đúc, béo khoẻ như được chăn nuôi tốt tại các trang trại trong đất liền. 
 
Chiến sĩ Võ Hoàn Vinh phụ trách chăn nuôi tâm sự: “Điều kiện ở đảo khó khăn, không có cỏ tươi nên thức ăn của bò là cơm canh thừa nấu thành cháo. Nhưng đôi khi bò thèm cỏ quá, ăn cả quần áo cũ, giấy báo và bao xi măng, vậy mà con nào con nấy cứ “ú na ú nần”, “múp rụp” đầu đuôi ”.

 
Thượng uý Nguyễn Phú Huyến, Trợ lý Hậu cần cho biết, để có được khu nhà vườn, hơn 30 tấn hàng gồm khung nhà kính, giá thể (mụn xơ dừa, đất), phân bón, giống rau, gà và ngỗng giống, thức ăn chăn nuôi… đã được vận chuyển từ đất liền ra đảo. Từ khi nhà kính được đưa vào sử dụng tháng 7/2013, bộ đội tích cực trồng xen canh các loại rau, bình quân mỗi tháng thu được từ 30-35kg rau xanh trên diện tích 10m2 được chia cho mỗi phân đội, thường xuyên đáp ứng khoảng 80% nhu cầu rau xanh, thậm chí vào dịp tháng 7, tháng 8 còn thừa rau bán cho nhà bếp.
 
Trực tiếp ra đảo nuôi, trồng, cán bộ của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (Bộ NN-PTNT) cũng đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho hàng chục lượt cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên đảo. Dự án đã đạt hiệu quả bước đầu, góp phần cải thiện bữa ăn cho quân và dân, tăng cường sức khoẻ để xây dựng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. 
 
Nhờ thành tích tốt trong huấn luyện phục vụ chiến đấu, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây  dựng và bảo vệ Tổ quốc, xã đảo Song Tử Tây đã vinh dự được tặng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước, của Bộ Quốc phòng, trong đó có danh hiệu cao quý đơn vị “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” năm 1999. Đảo Song Tử Tây cũng là đơn vị nhiều năm liên tục được tặng danh hiệu đơn vị quyết thắng, đơn vị huấn luyện giỏi.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

Mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích canh tác còn thấp.

Ngày 25/4 tại Cần Thơ, Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tổ chức hội thảo “Cánh đồng lớn”.

Đại diện Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Hội nông dân Việt Nam, Sở Nông nghiệp các tỉnh thành Đông, Nam bộ cùng đông đảo các nhà khoa học ở các Viện, trường Đại học tham dự.

Phát biểu tại Hội thảo ông Tăng Minh Lộc –Chánh văn phòng điều phối- Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho rằng mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích đất canh tác bình quân đầu người còn thấp và ruộng đất manh mún do phân tán cho nhiều hộ.

Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản, nâng sức cạnh tranh trên thị trường. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất hàng hóa là liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.

Tại hội thảo nhiều đại biểu đặt ra câu hỏi là làm thế nào để nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất lúa gạo tại các cánh đồng lớn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đệ - Phó trưởng khoa Phát triển nông thôn, Đại học Cần Thơ cho rằng, trong thời gian qua việc xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng với doanh nghiệp theo Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ hiệu quả đem lại chưa cao. Quyền lợi giữa doanh nghiệp và nông dân chưa được hài hòa nên tính liên kết thiếu bền vững. 

Bên cạnh đó nhiều đại biểu cũng lo lắng khi các “Cánh đồng lớn”  sản xuất ra lượng hàng hóa lớn, thu hoạch đồng loạt, nhưng thực tế giải pháp sau thu hoạch chưa đảm bảo. Cụ thể như máy gặt đập, máy sấy, bảo kho quản chưa đáp ứng, tình trạng nông dân bán lúa tươi hiệu quả thu nhập thấp, lúa bảo quản không đảm bảo dẫn đến gạo kém chất lượng. Việc thu hoạch số lượng lớn cùng thời điểm làm cho giá lúa bị giảm. 

Theo ông  Nguyễn Duy Lượng - Phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, cả nước hiện có 150 doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Do vậy ông đề xuất Chính phủ cần có chính sách để các doanh nghiệp đều có kế hoạch xây dựng vùng nguyên liệu riêng. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ cho các doanh nghiệp này vốn đầu tư giống lúa, phân bón và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm lúa hàng hóa cho nông dân. Làm như thế nông dân sản xuất an tâm đầu ra, lúa sản xuất đồng loạt một loại giống, đủ tiêu chuẩn và chất lượng xuất khẩu; doanh nghiệp từng bước xây dựng được thương hiệu lúa gạo Việt Nam.

Để mô hình cánh đồng lớn đạt hiệu quả cao, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bãnh – Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đề xuất trong thời gian tới cần xác định rõ vai trò chủ yếu của đối tác trong quan hệ liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã và các nhà khoa học, ngân hàng…. để có biện pháp quản lý, hỗ trợ, nâng cao hiệu quả liên kết; Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ các đối tượng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phâm chủ lực, trong đó ưu tiên  hiện mô hình “Cánh đồng lớn”./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Xuất khẩu nông sản đạt gần 9,7 tỷ USD

Xuất khẩu nông sản đạt gần 9,7 tỷ USD 

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 4 ước đạt 2,63 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành 4 tháng đầu năm 2014 lên 9,69 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 4,74 tỷ USD, tăng 5,8%.

Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 2,22 tỷ USD, tăng 31,2%.

Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 2 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong số các nhóm hàng nông sản chủ lực mặt hàng cà phê tăng trưởng mạnh về cả lượng và giá trị xuất khẩu. Trong 4 tháng đầu năm xuất khẩu cà phê ước đạt 826 nghìn tấn và 1,65 tỷ USD, tăng 39,6% về khối lượng và tăng 30% về giá trị so cùng kỳ năm 2013. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2014 với thị phần lần lượt là 13,7% và 9,29%. Thị trường Pháp có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp gần 46 lần so với 3 tháng đầu năm 2013.

Trái với mặt hàng cà phê mặt hàng gạo vẫn chưa có nhiều tín hiệu khả quan về tăng trưởng. Khối lượng gạo xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2014 ước đạt 2,04 triệu tấn và 931 triệu USD, giảm 6,9% về khối lượng, và giảm 4,7% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gạo xuất khẩu bình quân tháng 3 năm 2014 đạt 460,3 USD/tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2013. Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong 3 tháng đầu năm với mức tăng gấp 6 lần về khối lượng và tăng 6,68 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Với mức tăng trưởng này, Philippin vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 26,87% thị phần (đứng thứ nhất là thị trường Trung Quốc với 38,37% thị phần), tiếp đến là Gana, Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 4,8% và 3,79%.

Cao su đạt 189 nghìn tấn với giá trị đạt 378 triệu USD.

Khối lượng xuất khẩu chè 4 tháng  ước đạt 33 nghìn tấn với giá trị đạt 51 triệu USD, giảm 13,2% về khối lượng và giảm 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Giá chè xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2014 đạt 1.541 USD/tấn, tăng 2,49% so với cùng kỳ năm 2013. Khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan - thị trường lớn nhất của Việt Nam giảm 13,06% về khối lượng và giảm 0,91% về giá trị.

Bốn tháng lượng hạt điều xuất khẩu đạt 73 nghìn tấn với 456 triệu USD, tăng 14,5% về khối lượng và tăng 15,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2014 đạt 6.182 USD/tấn, tăng 1,76% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 28,44%, 20,01% và 9,12% tổng giá trị xuất khẩu. 

Sắn và các sản phẩm từ sắn có lượng xuất khẩu ước tính khoảng 305 nghìn tấn, với giá trị đạt 88 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 4 tháng đầu năm đạt 1,4 triệu tấn với giá trị 429 triệu USD, giảm 16,9% về khối lượng và giảm 17,9% về giá trị so cùng kỳ năm 2013.

Giá trị xuất khẩu sản và các sản phẩm sắn sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm mạnh, ngoại trừ thị trường Malaysia tăng (tăng 20,23% về khối lượng và tăng 14,44% về giá trị) so với cùng kỳ năm 2013. Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 89% thị phần./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

PPP: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản

PPP: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản 

Mô hình đối tác công-tư (PPP) đang được kỳ vọng là một đáp án hiệu quả để liên kết chuỗi giá trị, tăng cường đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy giá trị gia tăng của nông sản.

Ông J.V. Raman, Tổng Giám đốc Unilever Việt Nam, Trưởng nhóm PPP về chè cho hay, nhằm nâng cao chất lượng chè Việt Nam khi xuất khẩu, Chương trình PPP về chè đã lồng ghép hướng dẫn kỹ thuật canh tác và chế biến vào trong chuỗi sản xuất của ngành hàng.

Nông dân trồng chè và các chủ nhà máy chế biến chè quy mô nhỏ đã được đào tạo về canh tác nông nghiệp bền vững để đạt các chứng nhận quốc tế. Các tập đoàn đa quốc gia trong nhóm này đã đầu tư 440.000 euro để đào tạo và liên kết mô hình sản xuất với hơn 23.000 nông dân ở các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Yên Bái, Vĩnh Phúc và Nghệ An.

Đến nay, mỗi năm Unilever đã mua 30.000-35.000 tấn chè được chứng nhận quốc tế từ nông dân để xuất khẩu.

Hiệu quả từ PPP

Không chỉ có nhóm PPP về chè cho hiệu quả cao mà các nhóm về thuỷ sản, cà phê, cây lương thực… cũng đang cho thấy hiệu quả rõ rệt từ mô hình này.

Nhóm PPP thủy sản do Metro Cash & Carry Vietnam chủ trì, bắt đầu từ dự án chuỗi cung ứng cá tươi, nhằm cung cấp cho người tiêu dùng thủy sản đạt chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Các đối tác tham gia nhóm PPP này gồm: Metro, Cargill, Fresh studio, Bộ NNPTNT.

Theo ông Philippe Bacac, Giám đốc điều hành của Metro Cash & Carry Việt Nam, đến nay đã đào tạo và cấp chứng chỉ cho trên 2.000 nông dân nuôi trồng thủy sản và 400 thương lái chuyên thu gom thủy sản. Nông dân đã nắm vững kỹ năng kiểm soát môi trường, thuốc và sử dụng hóa chất, quản lý chất thải. Hoạt động thu hoạch cá, xử lý, đóng gói và vận chuyển cũng được kiểm soát chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc trước khi vận chuyển cá tươi đến trung tâm Metro. Mỗi năm có hơn 4.000 tấn thủy sản sạch của chương trình được tiêu thụ trong hệ thống siêu thị Metro và các siêu thị trên toàn quốc.

Nhóm PPP về cà phê đã thu hút được sự tham gia của các tập đoàn Bayer, Nedcoffe, Coex, Simexco, hiện đang triển khai Dự án sản xuất cà phê chứng nhận tại 5 tỉnh. Đến nay đã thành lập 150 mô hình nhóm nông dân trình diễn.

Nông dân tham gia vào mô hình được hỗ trợ các giống cà phê mới cao sản, đồng thời được hỗ trợ 50% kinh phí tái canh phục tráng các vườn cà phê đã già cỗi, được hướng dẫn kỹ thuật tưới tiêu mới tiết kiệm 40% lượng nước tưới, những kỹ thuật bón phân cân bằng dinh dưỡng, sử dụng thuốc diệt nấm để hạn chế phun thuốc trừ sâu… Với kỹ thuật canh tác mới này đã giúp cây cà phê tăng năng suất thêm 480 kg/ha (tương đương 11,4%), tăng doanh thu thêm hơn 18 triệu đồng/ha (tương đương với lợi nhuận tăng 14%).

Nhóm PPP về cây lương thực làm thức ăn chăn nuôi có sự tham gia của các tập đoàn Monsanto, Syngenta, Bunge với mục tiêu tăng 30% năng suất ngô tại các vùng trồng trọng điểm. Lãnh đạo Tập đoàn Monsanto cho biết, tập đoàn này đầu tư 1 triệu USD cho chương trình PPP tại Việt Nam trong 5 năm, vào các khâu cung cấp giống ngô lai, đào tạo kỹ thuật canh tác mới đến 150.000 nông dân.

Nhiều giống ngô lai mới của Dekalb chuyển giao cho nông dân trồng đã đạt năng suất bình quân hơn 10 tấn/ha, cao gấp hơn 2 lần so với năng suất ngô bình quân cả nước hiện nay. Với phương pháp làm đất tối thiểu, đã giúp tiết giảm 80% chi phí vật tư và lao động. Tính hiệu quả kinh tế, mỗi ha trồng ngô cho lợi nhuận 17 triệu đồng/vụ (3 tháng). Trong khi trồng lúa trước đây, mỗi vụ nông dân chỉ lãi 4,7 triệu đồng/ha.

PPP: Thúc đẩy chính sách có lợi cho nông dân

Theo nhận định của Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Mới trải qua 3 năm triển khai, nhưng lợi ích PPP đem lại cho nông nghiệp rất lớn, đang là nhân tố chiến lược giúp tăng sức cạnh tranh của các chuỗi nông sản. Thông qua chương trình này, các tập đoàn đa quốc gia đã đầu tư vào đào tạo tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, thiết lập cơ sở hạ tầng thị trường, giúp xây dựng kênh tiếp thị hiệu quả” .

Hiện nay, Bộ NNPTNT đang phối hợp với 17 Tập đoàn đa quốc gia, công ty quốc tế triển khai mô hình “Đối tác công-tư ngành nông nghiệp” với 5 nhóm hàng hóa và 1 nhóm tài chính vi mô, bao gồm: Cà phê, chè, rau quả, thuỷ sản, cây lương thực làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.

Tham gia vào các mô hình PPP, người nông dân được nâng cao nhận thức trong quá trình canh tác, sản xuất. Trên hết, thu nhập của nông dân được đảm bảo vì sự gắn kết quan trọng nhất trong PPP chính là sự kết nối giữa những doanh nghiệp tiêu thụ và nông dân. Thông qua mô hình này, các nhà quản lý cũng có cái nhìn tổng thể và thước đo kinh tế chính xác hơn khi xây dựng và áp dụng các chính sách cho nông nghiệp.

Ngay như ở nhóm cây lương thực, hiệu quả của trồng ngô được  tính toán cho giá trị nổi bật hơn hẳn so với trồng lúa. Theo tính toán của nhóm này thì ngay khi bán gạo ở mức giá cao nhất và bán ngô ở mức thấp nhất, thu nhập từ ngô vẫn cao hơn 2,5-6 lần so với trồng lúa.

Chính vì hiệu quả kinh tế rõ ràng này, nhóm PPP cây lương thực đã dễ dàng kết nối thị trường đầu ra cho ngô. Hiện nay nhóm đã có sự tham gia của các Công ty Bunge, Vinasoy và Vinamilk để tiêu thụ các sản phẩm ngô và đậu tương, giảm được nhập khẩu.

Hiệu quả từ mô hình của nhóm cây lương thực đã thúc đẩy Bộ NNPTNT đẩy nhanh quá trình thực hiện chính sách chuyển đổi cây trồng để tăng thu nhập cho nông dân. Cụ thể, trong năm 2014, Bộ NNPTNT đã có chủ trương sẽ mở rộng diện tích trồng ngô lên 1,23 triệu ha, tăng 73 ngàn ha so với năm 2013 theo hướng tiếp tục đưa các giống ngô mới có năng suất cao, kết hợp thâm canh nhằm đạt sản lượng khoảng 5,66 triệu tấn.

Khi người nông dân và doanh nghiệp bắt tay trở thành một chuỗi gắn kết, các chính sách bổ trợ cho toàn chuỗi sẽ giúp từng mắt xích trong chuỗi được hưởng lợi. Đây là quá trình mà chính sách sẽ tác động theo hướng nâng cao thu nhập cho nông dân.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Cây lúa và chiến lược tăng trưởng mới

Cây lúa và chiến lược tăng trưởng mới

Ngành gạo Việt Nam cần có giải pháp “xuôi” (bắt đầu từ khách hàng), chứ không phải giải pháp “ngược” (bắt đầu từ sản xuất).
 
 Gạo, một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đã nếm nỗi đau khi kết thúc năm 2013, xuất khẩu chỉ đạt 6,61 triệu tấn với giá trị 2,95 tỉ USD, giảm 17,4% khối lượng và 19,7% giá trị so với năm 2012.

 Viễn cảnh năm 2014 cũng không mấy sáng sủa khi nguồn cung thế giới đang dư thừa, trong khi cầu lại không tăng nhiều. Gạo Việt Nam cũng đang bị cạnh tranh dữ dội bởi sản phẩm của Ấn Độ, Myanmar, Pakistan và cả Campuchia. Nhưng đối thủ lớn nhất mà Việt Nam cần dè chừng trong năm nay là Thái Lan, khi quốc gia này đang có kế hoạch bán ra một lượng lớn lúa gạo từ kho dự trữ khổng lồ của mình.

Thái Lan xả hàng, Việt Nam lãnh đủ

 Theo Thông tấn xã Thái Lan, lượng xuất khẩu gạo trong 2 tháng đầu năm nay của Thái Lan đã phục hồi đáng kể, đạt 1,8 triệu tấn, cao hơn Việt Nam và Ấn Độ. Theo dự đoán của Công ty CP Intertrade, Thái Lan sẽ sớm giành lại ngôi vị số 1 thế giới về xuất khẩu gạo trong năm nay khi có thể đạt tới 8,5 triệu tấn, nhờ chất lượng gạo cao và giá gạo giảm.

 Việc Thái Lan đẩy mạnh xuất khẩu khiến gạo tiếp tục chịu sức ép giảm giá. Theo ông Sumet Laomoraporn, Tổng Giám đốc CP Intertrade, giá gạo thế giới đang tiến gần tới mức thấp nhất và tiếp tục giảm xuống còn 360-380 USD/tấn vào tháng 3 và tháng 4 khi Ấn Độ và Việt Nam bước vào mùa thu hoạch. Chỉ từ nửa cuối năm nay, giá gạo mới có cơ hội phục hồi khi nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia tăng lên cũng như do tác động của hiện tượng El Nino đến sản xuất.

 Trong những năm qua, Thái Lan đã trợ giá lúa gạo cho nông dân và việc treo giá xuất khẩu quá cao khiến cho kho gạo dự trữ của nước này ngày càng phình to ra. Hiện nay, với khoảng 20 triệu tấn gạo dự trữ và giá gạo thế giới giảm, Chính phủ Thái Lan đang phải đối mặt với khoản nợ khổng lồ. Do đó, áp lực bán bớt để trả nợ cho nông dân là điều tất nhiên.

 Thế nhưng, việc bán ra của Thái Lan có thể sẽ gây tác động tiêu cực không chỉ đến nông dân Việt Nam, công ty xuất khẩu mà còn đến các đối tượng khác có liên quan như ngân hàng. Một ngân hàng có thị trường hoạt động chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, chẳng hạn, đã thay đổi chính sách cho vay theo hướng giảm bớt tín dụng cho khu vực nông thôn trong năm nay.

 Thực ra, điều này không mới. Theo một cuộc khảo sát nhỏ của NCĐT, không ít ngân hàng cho rằng khu vực nông nghiệp - nông thôn chưa phải là thị trường hấp dẫn, ngay cả đối với khối ngân hàng quốc doanh, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Bằng chứng là tỉ trọng cho vay đối với nông lâm thủy hải sản ở VietinBank, Vietcombank và BIDV chỉ dao động trong khoảng 2-5% tổng dư nợ tín dụng tính đến cuối năm ngoái.

 Riêng Agribank có tỉ trọng cho vay khu vực nông nghiệp - nông thôn lên đến hơn 70% (tính đến cuối tháng 10.2013) với dư nợ hơn 365.000 tỉ đồng. Thế nhưng, Agribank cũng là ngân hàng có nợ xấu thuộc hàng cao nhất Việt Nam, lên đến hơn 12%, theo báo cáo gần đây của Thanh tra Chính phủ.

 Điều này có thể đẩy nông dân trồng lúa vào tình cảnh khó khăn hơn bao giờ hết khi không có vốn để đầu tư.

 Vậy còn các chương trình cho vay ưu đãi của Chính phủ để thu mua tạm trữ lúa gạo như gói 8.000 tỉ đồng thì sao?

 Theo Tiến sĩ Đặng Kiều Nhân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, số tiền trên, nếu được sử dụng đúng mục đích, sẽ giúp một bộ phận nông dân bán được lúa và giữ giá lúa không giảm thêm, ít nhất là trong ngắn hạn. "Tuy nhiên, 8.000 tỉ đồng thì chỉ có thể đáp ứng khoảng 15% sản lượng lúa đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long", ông cho biết.

 Ở một góc độ khác, Giáo sư Võ Tòng Xuân đặt vấn đề là nông dân được hưởng lợi 30% trên mức giá nào. Đối với hộ nông dân làm theo tiêu chuẩn GAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt) như VietGap, GlobalGap, giá thành sản xuất chỉ khoảng 2.200-2.600 đồng/kg lúa. Trong khi đó, phần lớn nông dân lại không tuân thủ quy trình này mà thường làm theo kinh nghiệm cá nhân và lời khuyên của các công ty sản xuất thuốc thực vật, nên giá thành cao hơn nhiều, khoảng 3.800-4.000 đồng/kg.

 Nếu mức 30% lợi nhuận được tính dựa trên giá thành thấp thì những nông dân có giá thành cao vẫn lỗ. Còn nếu tính trên giá thành cao, doanh nghiệp phải mua với giá khoảng 5.000 đồng/kg. Liệu họ có chịu mua với giá này khi đầu ra vẫn bế tắc do nguồn cung thế giới đang dư thừa?

Cần một nền công nghiệp lúa gạo

 Trong trung và dài hạn, Việt Nam nên đưa ra chiến lược và giải pháp đồng bộ hơn. Theo ông Nhân, đó phải là giải pháp "xuôi" (bắt đầu từ khách hàng), chứ không phải giải pháp "ngược" (bắt đầu từ sản xuất) như cách làm bấy lâu nay.

 Nói cách khác, sản phẩm Việt Nam phải có giá trị gia tăng cao và xác định được người mua hàng, tức thị trường ở đâu, nhu cầu bao nhiêu, chất lượng và giá cả thế nào… Từ đó mới điều chỉnh cách chế biến để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, quy hoạch diện tích sản xuất và chọn lựa gói kỹ thuật cũng như nơi trồng nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 Do nguồn cung gạo đang dư thừa, thay vì tăng vụ và thâm canh như hiện nay, Việt Nam có thể sản xuất gạo chất lượng cao hơn nhằm tránh sự cạnh tranh ở cấp trung bình trong tương lai với các nước trong khu vực sông Mê Kông, có thể là Myanmar. Bên cạnh đó, việc giảm vụ sẽ giúp duy trì tính bền vững môi trường - sinh thái, giảm chi phí môi trường.

 Tuy nhiên, có một vấn đề là nông dân sẽ không thể có đủ thông tin về nhu cầu, giá cả và chất lượng. Do đó, "Tổng Công ty Lương thực nên đứng ra làm trung gian nghiên cứu và mở rộng thị trường, để từ đó kết nối với thị trường trong nước và đáp ứng nhu cầu thế giới", ông Xuân đề nghị.

 Như vậy, Việt Nam cần quan tâm đến một gói giải pháp đồng bộ của cả một chuỗi ngành hàng, từ thị trường tiêu thụ cho đến lưu thông, chế biến, khâu kỹ thuật, tổ chức sản xuất và cung cấp dịch vụ đầu vào cho sản xuất và chia sẻ lợi tức từ bán hàng với nông dân. Để làm được như thế, cần thay đổi quan điểm từ ngành "sản xuất lúa gạo" thành ngành "công nghiệp lúa gạo".

 Trên thực tế, sẽ không cần quá nhiều diện tích trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long như hiện nay, mà vẫn đảm bảo được xuất khẩu. Có lẽ vì vậy, tại một hội nghị được tổ chức vào giữa tháng 3 ở Cần Thơ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập đến việc chấp thuận giảm diện tích sản xuất cây lúa, chuyển sang sản phẩm khác, miễn là đảm bảo có đầu ra.

 Tuy nhiên, không phải chỗ nào cũng có thể chuyển đổi để trồng hoa màu hoặc nuôi thủy sản, mà cần phải có đánh giá, quy hoạch và thay đổi tư duy - không đa dạng hóa sản xuất ở cấp nông hộ mà ở cấp cộng đồng và vùng.

 Việt Nam cũng nên đa dạng hóa sản phẩm hơn nữa, chế biến gạo thành thực phẩm như bột, bánh, bún, sữa hay nguyên liệu công nghiệp. Lấy ví dụ của Hàn Quốc. Tại đây, người ta chế biến sữa từ gạo để đáp ứng nhu cầu thị trường.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Cây cao su biến đổi gen - tiềm năng thương mại

Cây cao su biến đổi gen - tiềm năng thương mại

Từ khi được đưa vào trồng từ cuối thế kỷ thứ 19, cây cao su Heave đã đạt được nhiều tiến bộ trong khai thác sản lượng so với nhiều loại cây trồng khác. Năng suất hiện nay của cao su đã được nhân lên gấp 4 lần so với các giống cây có nguồn gốc từ bộ sưu tập của Wickham.


 Trước hết, gỗ là một giá trị thiên phú từ cây cao su mà các nhà trồng cao su ban đầu không thể dự đoán được. Tuy nhiên, sau 130 năm trồng cao su, hiện nay người ta ngày càng khó đưa ra được các biện pháp để cải tiến cây cao su hơn nữa. Để có thể cạnh tranh với các loại cây trồng khác, những người làm cao su cần tự cải thiện không chỉ ở mức độ vườn cây hay nông nghiệp. Đó là các nghiên cứu khoa học tiến bộ ở góc độ vi mô của cây cao su. Các nghiên cứu mới đây trong lĩnh vực biến đổi gen cây cao su sẽ tạo ra nhiều khía cạnh mới về sản lượng mà ngành cao su thiên nhiên cần xem xét.

Thay đổi các đặc tính của cây thông qua biến đổi gen

 Một trong các ứng dụng nhiều nhất của ngành công nghệ sinh học thực vật hiện đại là biến đổi gen, trong đó các gen chọn lọc đã được đưa vào thể tạng gen của cây. Các gen có liên quan thông thường là các gen can thiệp vào các đặc tính nông học như kháng bệnh hoặc kháng côn trùng. Trong khi điều này không khác nhiều so với lai tạo giống truyền thống, không tránh khỏi việc rất nhiều gen bị xáo trộn trong quá trình lai tạo. Do đó hệ con cháu từ lai tạo hữu tính sẽ có thể có đặc điểm mong muốn, cũng có thể trong cùng lúc thừa hưởng các đặc tính xấu hoặc mất đi một số đặc điểm tốt của bố mẹ chúng.

 Mặt khác, biến đổi gen là cấy vào cây đặc điểm đặc trưng gen có kiểm soát, để lại cho cây các đặc điểm khác mà thường không bị xáo trộn. Biến đổi gen cũng có thể được xem như là một hình thức “cắt và dán” ở mức độ gen của cơ quan.

 Một khác biệt chủ yếu giữa giữa lai tạo giống truyền thống và biến đổi gen cây trồng là đầu tiên đưa một số gen mới giới hạn vào các gen từ chính các giống hoặc từ các giống có  liên quan gần gũi. Với biến đổi gen, thường các trở ngại của giống được vượt qua. Do đó, gen từ các vi khuẩn, cây trồng có thể được cấy vào cây thông qua thủ thuật gen. Vì vậy cây biến đổi gen cũng có thể được biết như là cây trao đổi gen.

 Ngày nay nhiều phương pháp đã được triển khai về biến đổi gen cho cây trồng. Phương pháp  được áp dụng thông thường là chuyển gen mong muốn vào cây thông qua điều chỉnh vi khuẩn trong đất. Trong kỹ thuật này, AND đánh dấu các thành phần gen mong muốn trước tiên được cấy vào vi khuẩn , sau đó cho phép nhiễm vào mô của cây chủ. Biến đổi gen của cây cao su đã được tiến hành thành công tại Malaysia, An Độ, Pháp và Trung Quốc.

Biến đổi gen giúp cải tiến nông học cây cao su


 Biến  đổi gen đã cho kết quả đáng kể qua việc gia tăng cải tiến các đặc tính nông học của cây cao su. Cũng như các cây trao đổi gen khác trong nông nghiệp, mục tiêu trước hết là cải thiện sản lượng cây trồng. Ngoài ra các lợi ích khác mà cây cao su được hưởng từ biến đổi gen là rất nhiều. Một số mục tiêu công nghệ gen từ cây cao su có thể được biến đổi theo yêu cầu đặc trưng của khu vực, ví dụ chịu được lạnh để trồng ở vùng cận nhiệt đới có vĩ độ cao hơn. Tuy nhiên, đối với cây cao su thì mục tiêu đầu tiên là sản lượng. Vì các sản phẩm kinh tế chính từ cây cao su là mủ và gỗ, mục tiêu chính là gen có thể làm gia tăng sản lượng cao su và gia tăng vanh thân cây.

Gia tăng tiềm năng mủ cao su

 Lai tạo truyền thống cao su Heave đã đạt được các bước quan trọng tiến tới cải thiện năng suất sản lượng mủ cao su và có khả năng các nỗ lực hiện nay trong nghiên cứu lai tạo giống và thu hoạch mủ sẽ đưa lại cải tiến xa hơn. Yếu tố duy nhất quan trọng xác định năng suất mủ cao su từ cây là khối lượng mủ lấy được khi cạo, mà điều này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian mủ chảy. Tuy nhiên gia tăng khối lượng mủ và kéo dài thời gian chảy mủ không là mục tiêu đương nhiên trong biến đổi gen. Vì các vấn đề này đã đạt được thông qua các hình thức kích thích sản lượng khác nhau.

 Do đó các phương pháp gốc etylen về kích thích mủ chảy có kết quả không thay đổi  là làm giảm hàm lượng cao su trong mủ nước. Bù lại, thúc đẩy sinh tổng hợp cao su, là mục tiêu logic của các nhà phân tử học cần nghiên cứu để gia tăng tiềm năng sản lượng cây cao su. Tỷ lệ sinh tổng hợp cao su trong cây cao su sẽ phải kết hợp với thời gian chảy mủ kéo dài để tạo điều kiện thuận lợi thu được mủ nước với hàm lượng cao.

 Một mục tiêu trong nghiên cứu cải tiến sinh tổng hợp là enzym mủ nước được xem là thành phần giới hạn tốc độ của con đường sinh tổng hợp cao su.

 Một đối tượng tiềm năng khác trong biến đổi gen cây cao su Heave là elF – 5A, một protein trong mủ đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm là để kích thích sinh tổng hợp cao su. Hiện nay người ta đang tiến hành nghiên cứu về biến đổi gen Heave bao gồm các gen của protein trong mủ.

 Một phương pháp khác để gia tăng năng suất mủ  là đẩy mạnh sự hình thành các mạch mủ (tế  bào có mạch mủ) vì mật độ tế  bào có mủ trong vỏ là một trong các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất mủ. Giai đoạn ban đầu hình thành tế bào mủ có nhu cầu về axit jasmonic, sinh tổng hợp của chúng bao gồm enzyme AOS. Ghép phân tử AOS của Heave đã được thực hiện thành công và do đó điều này là mục tiêu cho biến đổi gen cây cao su.

Gia tăng tốc độ tăng vanh để cạo sớm và cung cấp gỗ

 Thông thường phải cần khoảng từ 5 hoặc 6 năm để cây cao su trưởng thành và đạt vòng vanh cần thiết trước khi bắt  đầu khai thác mủ. Biến đổi gen được can thiệp vào để tăng nhanh tốc độ sinh trưởng của cây, do đó có thể xem xét việc mở miệng cạo khai thác sớm. Đương nhiên việc gia tăng vanh thân cây sẽ làm tăng giá trị gỗ khi thanh lý. Sự tương đối ít được biết đến trong điều hòa phân tử gỗ của cây. Mặc dù có nhiều gen hứa hẹn gia tăng vanh cây, nhưng không có loại nào được thử nghiệm đầy đủ để chứng minh khối lượng gỗ gia tăng đạt được bao nhiêu trong cây trưởng thành. Tuy nhiên các nghiên cứu này phải tiếp tục được theo đuổi vì tầm quan trọng cao trong sức sống của cây. Ví dụ như cây dương lá rung cho thấy có sự gia tăng rõ nét nhất trong tốc độ sinh trưởng và sản sinh sinh khối khi chuyển đổi với gen ga oxidasee. Gen này, cùng với các gen liên quan khác phối hợp với sản xuất gibberellin, một lớp của chất điều hòa sinh trưởng cây, là ứng viên cho biến đổi gen Heave để gia tăng tốc độ tăng vanh.

 Tăng trưởng vanh có thể được hữu hiệu với một số giống cây cao su năng suất cao mặc dù chúng thiếu sức mạnh sinh trưởng. Ví dụ như giống RRIM 600, một giống lỗi thời và còn được trồng rộng rãi trong nhiều vùng cao su, nhưng bù lại giống này có mật độ cao các mạch mủ trong vỏ và khả năng sản sinh mủ trong chế độ cạo bền vững. Người ta chỉ có thể ví dụ một giống như RRIM 600 có thể mạnh mẽ hơn thông qua biến đổi gen, mật độ mạch mủ cao cùng với tốc độ tăng vanh nhanh để trở thành một giống tiêu biểu.

Làm tăng sự kháng bệnh của cây cao su

 Cây cao su có tiềm năng gen cao về sản lượng có thể sẽ không được ưa chuộng nếu mẫn cảm với các tấn công hoặc rối loạn của nhiều loại bệnh khác nhau. Các thay đổi gen nhằm hội tụ nhiều tính năng kháng bệnh sẽ là yếu tố quan trọng để người ta hướng đến nhằm gia tăng sản lượng.

 Bệnh khô mặt cạo, hậu quả trong hiện tượng miệng cạo bị khô, là sự rối loạn sinh lý thường thấy trong các cây cao su khai thác với cường độ cao và khi sử dụng chất kích thích. Trong các cây khô mủ, sự phóng thích quá độ của các gốc tự do ( super oxide) được cho rằng đã làm tổn hại các màng cơ quan tế bào trong mủ, đưa đến sự mất ổn định trong mủ, và cuối cùng làm ngưng dòng mủ. Superoxide dismutase là enzym mủ hỗ trợ cho giữ sự toàn vẹn của màng tế bào bằng cách quét sạch các gốc tự do, sẽ cung ứng sự bảo vệ chống tổn hại cho màng tế bào. Các nhà nghiên cứu Aán Độ đã triển khai cây cao su trao đổi gen có chưá các gen SOD được cấy vào với mục đích phát triển giống cao su chống chịu được bệnh khô miệng cạo. Các nghiên cứu hóa sinh đã cho thấy rằng các cây biến đổi bằng gen SOD đã thể hiện sự vượt bậc của hoạt động SOD trong các mức độ stress khác nhau.

 Một loại bệnh khác trên vườn cây mà các nhà trồng cao su phải đối mặt là bệnh lá Corynespora. Tác động của nhiễm nấm trong bệnh này trầm trọng hơn nhiều so với các loại bệnh lá nhẹ như Odiium hay Colletotrichum chỉ tấn công các lá non. Do đó cây mẫn cảm với Odiium và Colletotrichum chỉ phải chống chịu trong giai đoạn ngắn khi cây thay lá. Trong khi đó, Corynespora tấn công cả lá non và lá trưởng thành. Mọi cố gắng chữa trị bằng hóa chất sẽ rất tốn kém và phải thực hiện suốt trong năm. Biến đổi gen cao su sẽ xử lý vấn đề nhiễm Corynespora ở mức phân tử qua việc sử dụng các kháng thể.

 Động vật có xương sống kiểm soát sự nhiễm do các vi sinh vật gây ra thông qua việc phát tán các kháng thể trong hệ miễn dịch của chúng. Đương nhiên cây không thể sản sinh tự nhiên các kháng thể. Trong nghiên cứu phối hợp của các nhà khoa học tại Malaysia và Pháp, các kháng thể nhân tạo đã được tổng hợp nhằm trang bị cho cây cao su biến đổi gen với sự bảo vệ kháng thể thông qua biến đổi gen. Mục đích là để các kháng thể tổng hợp này trong mô lá, trung hòa độc tố của nấm, chất cassiicolin, được sản sinh trong quá trình nhiễm Corynespora.

 Bên cạnh việc gia tăng sản lượng cây trồng, kỹ thuật biến đổi gen còn hứa hẹn cho một ứng dụng quan trọng và tương đối độc đáo khác. Các gen bao gồm các ADN như là các mật mã để tổng hợp các protein khác nhau. Sản phẩm tức thời của hoạt động gen là protein mà gen mã hóa.

Dược phẩm sinh học: sản xuất protein dược phẩm trong mủ

 Do đó gen kiểm soát sự tổng hợp protein – ngay cả loại khác lạ với cây trồng như protein dược phẩm- có thể cung cấp nguyên liệu để chế tạo protein lạ này trong tế bào. Nếu các ADN này được cấy thành công vào cây cao su, nó có thể trở thành nhà máy sống sản xuất các dược phẩm gốc protein có giá trị thương mại. Các protein lạ này được gọi là protein tái tổ hợp  vì chúng chuyển hóa từ sự tái tổ hợp của các vật liệu gen từ các nguồn khác nhau chứ không xảy ra một cách tự nhiên.

Sản xuất các protein giá trị trong cây cao su biến đổi gen, các cây trồng và con vật trao đổi gen khác

 Cao su biến đổi gen không phải là cây trồng duy nhất  có khả năng biểu thị protein lạ trong mô của mình, nhiều loại cây trồng khác cũng có khả năng tương tự. Tuy nhiên vấn đề quan trọng trong sản xuất protein dược phẩm trong các cây trồng trao đổi gen là việc thu hoạch protein. Điều này có nghĩa phải hủy hoại toàn bộ hoặc một phần cây, vì protein nằm trong hạt, lá, tược hoặc mô cây. Sau mỗi lần thu hoạch, cần có thời gian cho sinh trưởng mới trước khi thu hoạch đợt mới, hoặc có thể phải trồng lại hoàn toàn. Do đó việc thu hồi protein sẽ được thực hiện theo từng đợt thay vì quy trình liên tục.

  Điểm khác của cây cao su trao đổi gen so với cây trồng trao đổi gen khác là khả năng cạo mủ. Cạo mủ là phương pháp thu hoạch không hủy diệt chỉ cây cao su mới có. Do vậy nếu protein dược phẩm có trong mủ, ta có thể thu hoạch liên tục theo phương thức không hủy hoại là cạo mủ. Với mục tiêu này, các cây cao su trao đổi gen sản xuất protein người –anbumin serum người đã được triển khai ở Malaysia.

 Sản xuất liên tục protein lạ, trong khi duy nhất cho cây Hevea trao đổi gen, cũng đã hoàn thành được trong vật nuôi trao đổi gen. Công nghệ ADN trong súc vật đã hình thành protein lạ, thường là protein điều trị trong sữa súc vật như cừu, dê và bò. Tuy nhiên cây cao su có nhiều điểm lợi hơn so với gia súc. Trước hết, trồng cây rẻ hơn nuôi gia súc. Một lợi điểm khác của mủ cao su so với sữa súc vật là mủ cao su tiệt trùng, không có virus và các sinh vật truyền nhiễm lây bệnh khác như gây nguồn bệnh AIDS, viêm gan, prion gây bệnh bò điên. Ngoài ra khai thác cao su biến đổi gen không gây nên các vấn đề về quy tắc sinh học gây tranh cãi về quyền khi sử dụng súc vật trong công nghiệp.
 
 Ngoài các yếu tố trên, lợi ích chủ yếu của cây cao su trao đổi gen vượt trội hơn so với vật nuôi trao đổi gen là dễ dàng tăng quy mô. Sản xuất denovo súc vật trao đổi gen thì đắt tiền trong khi ghép súc vật cực kỳ phức tạp. Do đó gia tăng quần thể súc vật trao đổi gen không đơn giản. Điều này khác nhiều so với cây cao su nhân giống bằng ghép chồi. Bất kỳ số lượng giống nào có gen tương tự đều có thể được nhân lên từ một cây được tuyển chọn. Hiển thị gen lạ trong cây trao đổi gen ghép chồi đã được nghiên cứu trong 4 thế hệ vô tính, chứng minh rằng hiển thị protein lạ trong mủ cây mẹ được sản sinh lại đáng tin cậy trong các giống vô tính của chúng.

Nhà máy dược phẩm sống: vi sinh vật so với cây cao su

 Trong khi việc triển khai thực vật và động vật trao đổi gen để sản xuất dược phẩm protein tương đối mới, thì việc sử dụng các sinh vật trao đổi gen trong sản xuất dược phẩm thì không mới. Nhiều loại thuốc thông thường được ghi trong toa điều trị bệnh như các hooc mon, chất làm đông máu, các chất chủng ngừa được bào chế qua sử dụng  cấy vi sinh vật trao đổi gen (thông thường là vi khuẩn và men) trong các thùng gây men cũng được gọi là lò phản ứng sinh học. Các quy trình công nghệ liên quan đến vấn đề này có quan hệ tốt với công nghiệp.

 Trong sản xuất protein dược phẩm, lợi thế của cao su trao đổi gen so với thùng gây men nằm trong tiết kiệm chi phí tiềm năng. Cây cao su trao đổi gen tự duy trì sự sống. Không giống như các nhà máy gạch và vữa, cây cao su không đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt. Sử dụng cây cao su trao đổi gen như là nhà máy sống

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam