Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Thực Phẩm Và Dinh Dưỡng

Hướng tới một “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam

FOODCROPS. Việt Nam là quốc gia có kho tàng tài nguyên thuốc phong phú và quý hiếm. Thế hiện này diễn tiến trong công tác quản lý, phát triển và bảo tồn, xây dựng, tái sử dụng đang ở mức độ nào! Trong nước, hàng năm cần trên 50.000 tấn cây dược liệu để chế xuất thuốc và riêng Cao Bằng có trên 600 lọai ( Hòang Văn Bé, 2011). Thông tin đang phát triển nhanh chóng, nhưng quản lý hạn chế đang làm thiệt hại nguồn tài nguyên thực vật quý giá vì tư lợi tổ chức,  lớn hơn nữa là sự kém hiểu biết từ nhiều tập thể sở hữu! Văn bản tại Nghị định 32/2006/NĐ – CP của chính phủ đối với lâm sản thuộc lọai cây quý hiếm cấm không được khai thác phục vụ trong thương mại sẽ được nghiêm chỉnh thực hiện thế nào, nếu mà việc khai thác và trao đổi tại địa phương chưa quản lý thống kê được! Và còn hay không thương lái Trung Quốc vẫn thực hiện được việc thu gom “thần tốc” theo kiểu mơ hồ giá trị sản phẩm. 50% nguyên liệu dược liệu của nước ta nhập về từ nước ngoài, chỉ có 730 giống cây thuốc được bảo tồn, chuyển vị (PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, 2009)giá trị kinh tế của thuốc từ dược liệu đem lại cho ngành dược cũng mới chiếm khoảng 10% trên tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước (Nguyễn Văn Thanh, 2009). Điều này không sớm cải thiện không những tài sản đất nước sẽ bị thiệt hại mà còn thất thóat khi phải bỏ tiền mua sản phẩm điều trị cho chính mình từ đối tác. Định hướng tuyên truyền và giáo dục bảo vệ tài sản quốc gia đang là vấn đề cấp bách, mà người định hướng phải từ cấp bộ ngành, với các chủ trương nhạy bén quyết đóan, kịp thời liên tục cập nhật phản hồi thông tin đa chiều. Chuyên tâm chính trị, chậm chạp thiếu quan tâm kinh tế văn hóa nông nghiệp sẽ đánh mất bản chất lâu bền,  nó đánh đổi bằng “dòng chảy chất xám” và “dòng chảy tài sản”. Tài sản quý báu nhất của bạn là gì  … ?!

alt 

Hướng tới một “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam
M.K

Là một quốc gia có kho tàng tài nguyên cây thuốc phong phú nhưng chưa được bảo vệ và khai thác xứng tiềm năng, việc Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng ý về nguyên tắc việc tổ chức nghiên cứu, triển khai xây dựng “Đề án Vườn cây thuốc quốc gia” tại khu vực Yên Tử, TP Uông Bí là một sự kiện của ngành dược nước ta.

Hội thảo xây dựng đề án “Thành lập vườn thuốc quốc gia Yên Tử” vừa diễn ra đã tiến thêm một bước quá trình hiện thực hóa ước mơ về một “Thung lũng cây thuốc” ở VN.

Khu vực núi Yên Tử, nằm ở TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh có vị trí đặc biệt, nằm ở rìa trung tâm đa dạng sinh học Đông Bắc, lại là khu danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - tôn giáo lớn của Việt Nam. Vùng Yên Tử có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên cây cỏ nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng, gắn liền với văn hóa, cảnh quan và du lịch. Khu vực này cũng có sẵn những điều kiện thuận lợi để thành lập và duy trì sự bền vững của một vườn cây thuốc như hệ thống cơ sở hạ tầng (đường sá, nguồn điện, các công trình công cộng...), lại là nơi có lượng khách du lịch hàng năm khá lớn và nằm trên trục du lịch đến di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.


Tại khu vực 270 hécta đã nghiên cứu, nhóm nghiên cứu trường đại học dược HN đã xác định được tổng số 369 loài cây thuốc thuộc 6 ngành thực vật khác nhau.


Khu vực dự kiến xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia nằm trọn trong khu vực rừng quốc gia Yên Tử, phân bố ở độ cao từ 100-123m so với mặt nước biển, nằm hai bên đường vào ga cáp treo Yên Tử, điểm bắt đầu của vườn cách Thiền viện Trúc Lâm 720m, điểm kết thúc là khu vực nhà ga cáp treo Yên Tử.


Bảo tồn tri thức, kinh nghiệm sử dụng thuốc

Đề án “Xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử” do nhóm nghiên cứu trường ĐH Dược HN thực hiện, không chỉ nhằm bảo tồn các loài cây thuốc của nước ta, mà quan trọng hơn là bảo tồn vốn tri thức, kinh nghiệm sử dụng các loại thuốc. Bởi, các cây thuốc tự nhiên, với người không biết thì nó chỉ là thứ cỏ cây bình thường, với người biết, nó trở thành một loại dược phẩm quý giá.


Việt Nam là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hóa, các thế hệ trước của cộng đồng đã phải trả giá bằng cuộc sống và sức khỏe để tích lũy những kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc, tạo nên nền tảng tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ngày nay.


Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở VN tồn tại ở 2 nền y học chính là y học cổ truyền chính thống, có nguồn gốc từ Trung y, với các hệ thống lý luận và thực hành được tư liệu hóa trong sách vở như các học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Tạng tượng... ; và các nền y học nhân dân hay y học cổ truyền dân tộc được gọi là “thuốc Nam”.

Nhưng sự xói mòn về nguồn gene cây thuốc cộng với việc tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hóa đã kéo theo sự mai một và lãng quên dần vốn tri thức bản địa của các cộng đồng trong việc sử dụng cây thuốc theo cách truyền thống, làm mất đi một nguồn lực đáng kể trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân và các cơ hội phát triển kinh tế đất nước.

Vì vậy, để bảo vệ vốn tri thức quý giá này, trong khu vực bảo tồn và phát triển Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử có tới 16 khu vườn khác nhau (vườn hoa bốn mùa, vườn hương thơm, vườn tĩnh lặng...), nhưng quan trọng nhất vẫn là Bảo tàng Vườn cây thuốc các dân tộc. Đây là bộ sưu tập mẫu của Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử và do đó là bộ sưu tập quan trọng nhất dưới góc độ bảo tồn, nghiên cứu, tư liệu hóa, giáo dục và trưng bày. 
Bảo tàng có chức năng trình bày và diễn giải cho khách tham quan các mô hình vườn cây thuốc của 18 dân tộc ở khu vực Đông Bắc Việt Nam.

Sẽ có 18 vườn nguyên mẫu cây thuốc đến từ 18 dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc, mỗi vườn có diện tích khoảng 1 hécta bao gồm cả nhà ở với kiến trúc đặc trưng của dân tộc đó. Khách tham quan có thể vào trong từng căn nhà để xem xét, trải nghiệm. Trọng tâm chính là khu vườn của gia đình, nơi các cây thuốc được trồng và trưng bày. Các dân tộc sinh sống ở vùng cao sẽ được bố trí ở lưng chừng đồi, còn các dân tộc sinh sống ở vùng thấp sẽ được bố trí ở nơi thấp và bằng phẳng hơn trong bảo tàng.


Lộ trình thực hiện của đề án với tham vọng biến Yên Tử thành “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam chưa xác định cụ thể sẽ kéo dài trong bao nhiêu năm, nhưng được chia thành 3 giai đoạn: Từ 2012 đến 2015 là giai đoạn hoàn thành việc xây dựng các công trình và khai trương các hạng mục; từ 2016 đến 2020 sẽ đưa Yên Tử trở thành “Vườn cây thuốc quốc gia” và tham gia phát triển kinh tế địa phương; và từ 2020 trở đi sẽ phát triển Yên Tử thành “Thung lũng cây thuốc” Việt Nam.


Xã hội hóa các nguồn lực

Đề  án xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử có tổng kinh phí dự trù lên tới 1.500 tỉ đồng và một nguồn nhân lực đòi hỏi trình độ cao, cộng với thời gian kéo dài hàng chục năm sẽ tạo một gánh nặng rất lớn cho ngân sách nhà nước. Bởi vậy, đề án kêu gọi sự ủng hộ và tham gia của cả cộng đồng, kể cả các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và quốc tế.


Mô hình tổ chức Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử được đề xuất là một đơn vị sự nghiệp có thu độc lập, cơ quan chủ quản sẽ là Bộ Y tế hoặc tỉnh Quảng Ninh. Trước tiên, việc xã hội hóa nguồn tài chính cho việc xây dựng và duy trì Vườn cây thuốc quốc gia theo mô hình PPP (hợp tác công tư) là một yêu cầu tất yếu. Nguồn tài chính sẽ được huy động từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp, các quỹ về môi trường và đa dạng sinh học, nhà tài trợ, các nhà hảo tâm trong nước và quốc tế. Cụ thể nguồn kinh phí thực hiện đề án sẽ lấy từ ngân sách nhà nước trên cơ sở từng dự án khả thi của đề án, ước tính sẽ là 1.120 tỉ đồng, trong đó 840 tỉ từ ngân sách Trung ương (60%), 280 tỉ từ ngân sách địa phương (20%), và kinh phí xã hội hóa ước tính là 20%.


Hiện nay, công ty CP Phát triển Tùng Lâm đã cam kết hỗ trợ 250 tỉ đồng bằng việc xây dựng “Tuệ Tĩnh đường” Yên Tử - nơi mọi người được chăm sóc sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần. Đồng thời dự án cũng được cho phép sử dụng cơ sở vật chất hiện có của công ty tại Yên Tử như nơi ăn, ở, các trang thiết bị văn phòng, thông tin liên lạc...


Công ty Dược khoa  (thuộc ĐH Dược HN) cũng cam kết hỗ trợ 30 tỉ đồng để xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử.


Đối với nguồn nhân lực trình độ cao, chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng những khu bảo tổn thực vật nói chung, khu bảo tồn cây thuốc nói riêng. Vì vậy, ngay từ đầu xây dựng Vườn cây thuốc quốc gia, chúng ta phải tăng cường học hỏi những kinh nghiệm chuyên môn về thu thập, quản lý, lưu trữ thông tin cây thuốc và kỹ năng làm vườn. Đồng thời, chúng ta cần thiết mời các chuyên gia về vườn thực vật quốc tế tham gia ngay từ giai đoạn đầu hình thành vườn.  


“Tuệ Tĩnh đường” cũng sẽ là trung tâm huấn luyện về thuốc nam cho các nhà sư  tại Thiền viện Trúc Lâm.


Các mối quan hệ hợp tác sẽ được thiết lập và duy trì với nhiều tổ chức trong nước và quốc tế. Trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta sẽ có thể nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Vườn thực vật Queen Sirikit (Thái Lan) và Vườn thực vật
Singapore. Ngoài ra, mạng lưới các vườn thực vật Đông Nam Á cũng là một nguồn hỗ trợ hiệu quả cho Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử. Vườn thực vật King Park và Vườn thực vật của Adelaide (Australia) có thể hỗ trợ trong lĩnh vực bảo tồn và giáo dục môi trường.

Các tổ chức nước ngoài khác có thể cũng sẽ quan tâm giúp đỡ Vườn cây thuốc quốc gia của VN là Dự án
Eden và Vườn thực vật hoàng gia Edinburgh (Anh), Vườn thực vật Missouri (Hoa Kỳ). Hệ thống lớn nhất các vườn thực vật trên toàn thế giới là Tổ chức Bảo tồn các vườn thực vật thế giới (Anh) sẽ tham gia hỗ trợ cho chúng ta nhiều nguồn tài nguyên phong phú như các ấn phẩm giúp Vườn cây thuốc quốc gia thiết lập các chương trình hoạt động đa dạng và giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong bảo tồn cây thuốc.

Vẫn còn nhiều băn khoăn

Tại hội thảo xây dựng đề án “Thành lập Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử”, hầu hết các nhà chuyên môn đồng tình với đề án của nhóm nghiên cứu thuộc trường ĐH Dược HN, song vẫn còn một vấn đề chưa thực sự làm họ hài lòng.


Hầu hết những ý kiến chưa đồng thuận đều cho rằng diện tích 270 hécta là quá nhiều so với quy mô một khu bảo tồn cây thuốc, vì nó gây ra một gánh nặng chi phí lớn cho ngân sách nhà nước khi nước ta đang trong giai đoạn lạm phát cao. Với số tiền hơn 1 nghìn tỉ đồng, chúng ta có thể đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng hơn của ngành y tế (!). Trong khi đó, vườn cây thuốc lớn nhất trên thế giới hiện nay là Vườn cây thuốc Quảng Tây (Trung Quốc) cũng chỉ rộng 202 hécta.


Đại diện Viện Dược liệu cho rằng đất ở khu vực Yên Tử có độ chua khá lớn, với pH trung bình là 4,4% sẽ không thực sự phù hợp với các cây thuốc từ khu vực đồng bằng sông Hồng chuyển lên trồng ở đó.


Ngoài ra, còn một số ý kiến nhận định đề án do nhóm nghiên cứu trường ĐH Dược HN xây dựng còn thiếu những cơ sở pháp lý chặt chẽ; Yên Tử chưa thể là vùng đại diện cho cả nước về những điều kiện tự nhiên mà chỉ có thể đại diện cho vùng Đông Bắc mà nếu như thế chúng ta sẽ phải huy động thêm kinh phí để xây thêm các vườn cây thuốc quốc gia ở những vùng khác; đất ở  hiện nay Yên Tử bị xói mòn khá nhiều... Thậm chí có cả những ý kiến cho rằng mục tiêu của Vườn cây thuốc quốc gia là bảo tồn và phát triển cây thuốc và tri thức sử dụng thuốc, mà lại đưa vào xây dựng các khu vườn hoa bốn mùa, vườn hương thơm, vườn tĩnh lặng, vườn tâm linh... là một điều hết sức vớ vẩn.

Có lẽ một khu vườn  để bảo tồn và phát huy cây thuốc và tri thức sử dụng thuốc là ước vọng của rất nhiều thế hệ các nhà nông học, nhà thực vật học, nhà sử học VN... tuy nhiên lộ trình xây dựng một “thung lũng cây thuốc” VN vẫn còn hiện hữu rất nhiều thách thức.   

Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc, Nhà nước Việt Nam đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như Công ước Đa dạng sinh học  (1992), Kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1994)...

Đồng thời, ban hành nhiều văn bản liên quan đến bảo tồn và phát triển cây thuốc như: Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30.6.2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 43/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và tầm nhìn đến 2020”; Thông báo 2976/VPVP-KGVXv ngày 13.5.2008 thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc giao các bộ, ngành thực hiện kết luận của Ban Bí thư về Bảo tồn và phát triển cây thuốc VN; Thông báo 164/TB-VPCP ngày 16.6.2010 về ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị Phát triển dược liệu và sản phẩm quốc gia 2010...


Nhìn chung các chủ trương, chính sách đã đi vào thực tiễn và tạo được những chuyển biến đáng kể trong công tác bảo tồn và phát triển cây thuốc VN trong thời gian qua.  

........

Nguồn cây thuốc quý ở Cao Bằng trước nguy cơ cạn kiệt
Theo TTXVN

Cao Bằng là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi về đa dạng sinh học, nơi sinh trưởng trên 617 loài cây thuốc quý. Trong đó có nhiều loại cây thuốc quý đạt tiêu chuẩn cao về hàm lượng, công dụng y học và giá trị kinh tế. Tuy nhiên, nguồn dược liệu (DL) được ví như "vàng xanh" ở địa bàn tỉnh này đang đứng trước nguy cơ bị tận diệt. Trong khi, việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn "vàng xanh" hiện vẫn là bài toán còn bỏ ngỏ.

Theo kết quả điều tra cơ bản về cây thuốc ở Cao Bằng từ năm 1969 - 1973 đã phát thiện 617 loài cây thuốc thuộc 211 họ thực vật. Nguồn cây thuốc tự nhiên Cao Bằng có nhiều loại, rất đa dạng, phân bố hầu hết các huyện, nhưng nhiều nhất là các huyện Thông Nông, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Hà Quảng, Nguyên Bình. Nhiều cây dược liệu quý ở các nhóm: cây thuốc điều trị ngoại khoa, nội khoa, sản khoa..; nhóm kháng sinh diệt khuẩn, điều trị vi rút, điều trị và hỗ trợ điều trị ung thư, HIV, xơ gan...; nhóm bồi dưỡng nâng cao thể trạng cơ thể... Cùng với sự phát triển phong phú các loại cây DL, tỉnh có hơn 800 thầy thuốc đông y và nhiều người dân biết sử dụng cây thuốc để chữa được nhiều căn bệnh bằng cây DL tự nhiên. Những bài thuốc đó được truyền từ đời này sang đời khác tạo nên kho tàng kiến thức bản địa phong phú về sử dụng cây rừng làm thuốc.

Ông Hoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội đông y tỉnh Cao Bằng cho biết, hiện nay, nhu cầu sử dụng cây DL chế xuất thuốc trong nước và trên thế giới rất lớn và ngày càng tăng. Riêng trong nước, hằng năm cần đến trên 50.000 tấn cây DL để chế xuất thuốc. Cao Bằng có trên 600 loại cây DL, trong đó có nhiều cây thuốc quý hiếm, thuốc diện "vàng xanh" giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn như cây Thanh thiên quỳ, Lan gấm, Cây hoa vàng (Co boóc lương), Thất diệp nhất chi hoa...trị giá triệu đồng/kg. Ngoài ra, có nhiều loại cây có thể trồng đại trà cung cấp cho thị trường bán lẻ và các công ty dược phẩm. Nếu tỉnh có chiến lược bảo tồn, quy hoạch phát triển cây DL thành hàng hóa thì người dân có thể trồng cây DL làm giàu. Đáng tiếc là do nguồn DL đang bị người dân địa phương khai thác bừa bãi theo kiểu tận diệt, nguy cơ vùng đất giàu tiềm năng về cây thuốc Cao Bằng biến mất đang cận kề.

Nhiều bậc cao niên là lương y các huyện cho biết: Trước đây đi tìm cây thuốc trên rừng, đồi chỗ nào cũng có. Ra khỏi nhà mấy bước là có thể tìm hái được mấy thang thuốc chữa bệnh. Bây giờ, thu mua giá cao nên một bộ phận nhân dân thi nhau lên rừng tìm kiếm, chặt cả cây, nhổ tận gốc rễ cây thuốc đem bán sang Trung Quốc. Tại huyện Thông Nông và một số huyện Phục Hòa, Thạch An, Trùng Khánh, Quảng Uyên, Hà Quảng, Trà Lĩnh... có tình trạng người dân đổ xô lên rừng tìm cây thuốc đem bán và có nhiều điểm thu mua cây thuốc ở các tuyến xã. Hội đông y tỉnh và các cơ quan chức năng đã thông báo con số “báo động” về tình trạng khai thác kiệt quệ cây DL. Gần 20 năm qua, người dân khai thác cây DL tươi và khô với tốc độ “thần tốc” khoảng gần 10 triệu tấn bán sang Trung Quốc qua các cửa khẩu, ước tính khoảng 300.000 - 500.000 tấn/năm. Giá trị của DL thô đã bán đi ước tính mấy chục tỷ đồng, nhưng khi DL được chế biến dưới dạng thành phẩm trị giá gấp hơn 10 lần. Nhiều loại cây thuốc quý đứng trước nguy cơ khai thác tận diệt như Thất diệp nhất chi hoa, Hoàng đằng, Ba kích, Bình vôi, Thanh thiên quỳ... Ông Hoàng Văn Bé, Chủ tịch Hội đông y tỉnh cho biết: Hiện nay, số lượng DL xuất qua biên giới giảm đi. Điều này cũng đồng nghĩa với cảnh báo những cây thuốc của tỉnh đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

Chi Cục kiểm lâm tỉnh cho biết, cây thuốc là loại lâm sản phụ và chiểu theo quy định hiện hành thì việc khai thác các loại lâm sản phụ thuộc phạm vi thẩm quyền của các chủ rừng; còn việc mua bán, xuất khẩu các loại lâm sản phụ trên địa bàn tỉnh về nguồn gốc cơ bản là hợp pháp, đều có xác nhận nguồn gốc và chủng loại, có nộp thuế tài nguyên theo quy định. Đối với lâm sản phụ thuộc loại cây quý hiếm cấm không được khai thác phục vụ mục đích thương mại quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ - CP của Chính phủ cho đến tháng 5/2010 Cao Bằng chưa phát hiện vụ nào được mua, bán vận chuyển qua biên giới. Còn việc khai thác và trao đổi tại địa phương gần như chưa quản lý thống kê được./.

.........

Nỗi thất vọng lớn của “người rừng” Hoàng Liên Sơn

Source: http://vtc.vn/394-361029/phong-su-kham-pha/noi-that-vong-lon-cua-nguoi-rung-hoang-lien-son.htm

Những người tư lợi

Đại ngàn Hoàng Liên Sơn có rất nhiều thuốc quý và bản thân ông Trần Ngọc Lâm phát hiện cả trăm cây thuốc vô cùng quý giá, trị nhiều loại trọng bệnh. Có những cây thuốc phải cả trăm năm mới cho thu hoạch, nếu khai thác mà không bảo tồn, thì sớm muộn cũng tuyệt chủng.


Ông Lâm từng có nhiều năm bôn ba Trung Quốc, lại chơi thân với Vàng Lù Pao, mà bố anh này là Vương Đức Tài, thiếu tướng quân y, rất giỏi về cây thuốc. Trao đổi, gặp gỡ ông Vương Đức Tài nhiều lần, nên ông rất hiểu cách làm thuốc, bảo tồn thuốc của người Trung Quốc.


Trong khi họ khai thác triệt để, mua với bất kỳ giá nào ở các nước xung quanh, thì họ lại ra sức bảo tồn, gieo trồng thuốc quý ở nước họ. Ông Lâm đã học được nhiều kinh nghiệm từ ngành dược liệu của Trung Quốc.

Cách đây mấy năm, có một vị GS-TS rất nổi tiếng trong ngành dược nước nhà dẫn sinh viên vào rừng Hoàng Liên thực tập và đã gặp ông Lâm khi ông đi lấy thuốc.

Nghĩ gặp được vị GS-TS có uy tín, ông Lâm đã dốc lòng tâm sự. Ông đã cung cấp cho vị này vô số loại thảo dược rất quý, chưa có trong từ điển dược học nước nhà. Vị GS-TS này mê tít.


Ông đã ở lại nhiều ngày trong lán giữa rừng với ông Lâm để nghiên cứu về các loại cây thuốc và tìm hiểu bí quyết ông Lâm sống được với căn bệnh ung thư phổi nhiều năm.


Mặc dù ông Lâm nhớ lời hứa với vị thiền sư Tây Tạng là sẽ không tiết lộ những cây thuốc quý với ai, nhưng nếu cung cấp thông tin để vị GS này nghiên cứu, từ đó có biện pháp bảo tổn thảo dược quý, giúp hàng triệu bệnh nhân nước nhà thì sẽ có ý nghĩa hơn so với lời hứa.

Vì thế, ông Lâm đã chỉ cho vị GS này khá nhiều loài thảo dược, trong đó có cây giảo cổ lam, một trong 7 loại thảo dược chính trong bài thuốc trị ung thư.

Ông này thấy cây giảo cổ lam như thấy vàng. Ông ta say mê nghiên cứu và hứa sẽ làm một dự án nhân rộng cây thuốc giảo cổ lam.


Tuy nhiên, trong một đêm trăng thanh vắng, cảnh đẹp miền sơn cước đến xiêu lòng, vị GS khả kính uống hơn quá chén đã nói thẳng: “Tôi sẽ xin dự án trồng cây giảo cổ lam trên này, mục đích là kiếm chút anh em mình chia nhau, chứ bảo tồn với chả bảo tàng, vườn thuốc vườn thiếc làm gì cho mệt. Tôi già rồi, đường sá xa xôi đi làm sao được”.


Nghe thế, ông Lâm im bặt, không hé răng một lời nào nữa về các loại cây thuốc quý trên núi Hoàng Liên Sơn.

Vị GS này, sau khi về Hà Nội đã viết tới mấy đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước về cây giảo cổ lam. Rồi ông viết bài giới thiệu trên rất nhiều tờ báo, rồi các báo đổ xô ca ngợi vị GS-TS đã không quản ngại khó khăn, vất vả, lần mò trong rừng sâu, núi cao để phát hiện ra một cây thuốc quý hiếm nhất thế giới trị ung thư!

Rồi ông còn giới thiệu nhiều loại cây thuốc quý chưa từng được biết đến trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn trên các tờ báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu.


Nhưng rồi, các công trình này chả đi đến đâu, chả có dự án bảo tồn nào được thực hiện. Hậu quả thì nhãn tiền. Người Trung Quốc phát hiện Hoàng Liên Sơn có các cây thuốc quý, liền thuê đồng bào nhổ tận gốc, trốc tận rễ.

Sau đó, vị GS này chuyển giao công nghệ cho một doanh nghiệp để chế biến giảo cổ lam, quảng cáo rùm beng như thần dược chữa ung thư. Chỉ thời gian ngắn, doanh nghiệp này trở nên giàu có khủng khiếp. Họ thu mua giảo cổ lam với giá vài ngàn đồng 1 kg và bán cho người tiêu dùng với giá 2-4 triệu đồng 1 kg.

Có thời gian, nhờ vị GS, cùng doanh nghiệp này quảng cáo quá lời về giảo cổ lam, mà một cơ quan lớn dưới Hà Nội đã nhờ ông Lâm cung cấp giảo cổ lam với giá 200 ngàn đồng/kg, để họ bán về Hà Nội. Nếu cứ im ỉm chặt chém giảo cổ lam đem phơi, rồi đóng gói bán cho họ, ông Lâm sẽ giàu to.


Tuy nhiên, ông không muốn người dân cả nước bị lừa đảo. Ông Lâm đã gọi điện cho tôi, đề nghị viết bài vạch mặt vị GS khả kính kia, cùng các doanh nghiệp, đã móc túi không biết bao nhiêu bạc tỉ từ những bệnh nhân ung thư, vốn đã kiệt quệ về tiền bạc.

Theo ông Lâm, giảo cổ lam cũng là vị thuốc quý, nhưng nó không thể trị được ung thư nếu không sử dụng với nhiều loại thảo dược khác nữa. Điều đáng nói, là hiện các doanh nghiệp toàn thu mua giảo cổ lam 3 lá ở vùng núi đá thấp quanh Hòa Bình để bán cho người dân.

Là người hiểu rõ về giảo cổ lam, nên ông Lâm khẳng định giảo cổ lam có tới mười mấy loại. Chỉ có loại 7 lá và 9 lá, uống đắng khủng khiếp là giảo cổ lam thực sự, có tác dụng tốt, còn lại chỉ là họ hàng nhà giảo cổ lam, giá trị dược liệu rất kém.

Đúng như lời ông Lâm, hiện người Trung Quốc đang bán giảo cổ lam do họ nuôi trồng sang Việt Nam với giá rất rẻ, chỉ 30 ngàn đồng/kg khô. Thế là các doanh nghiệp của Việt Nam lại thu mua từ Trung Quốc, đóng gói, chế biến, rồi bán bạc triệu cho người tiêu dùng.

Đang thất vọng với vị GS. nọ, thì ông tổng giám đốc của một tập đoàn đông nam dược lớn nhất Việt
Nam tìm gặp ông Lâm. Nói tên vị này ra, thì phần lớn người dân Việt Nam đều biết đến, vì tính ông này thích khoa trương, xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông. Thấy ông Lâm biết nhiều cây thuốc quý, ông này đã mời ông Lâm làm phó giám đốc cho mình.

Nghĩ có sự vào cuộc của tập đoàn nổi tiếng, uy tín, thì cây thuốc quý sẽ được bảo tồn, nên ông Lâm gật đầu. Ông Lâm mang khát vọng sẽ triển khai trồng thuốc quý ra khắp núi non, có cơ hội giúp đỡ được nhiều người bệnh hơn.

Tuy nhiên, mấy lần đi theo vị này, ông Lâm thất vọng thực sự. Ông ta lên Lào Cai, vẽ ra dự án trồng cây… cứt lợn, tới vài trăm héc-ta. Rồi ông ta sang Sìn Hồ (Lai Châu) lập dự án trồng thuốc khắp mấy cánh rừng.

Thực ra, ông ta chỉ lập dự án rồi vay tiền ngân hàng đi làm việc khác. Những dự án này mấy năm vẫn nằm trên giấy, trong khi người dân mất hàng trăm ha đất sản xuất, dẫn đến kiện cáo rùm beng.


Hôm về tập đoàn này ở Sơn Tây, thấy nguyên liệu làm thuốc chất đống ngoài sân, ông Lâm xem xét và bảo ông tổng giám đốc kia: “Sao anh toàn tha củi ở rừng về chặt làm thuốc thế này?”. Vị tổng giám đốc nọ bảo: “Quan trọng đếch gì. Cứ cái gì uống vào thấy mát mẻ, dễ chịu là được. Uống thuốc đông y chủ yếu là uống niềm tin”.


Nghe vị giám đốc này nói vậy, ông Lâm chỉ thẳng vào mặt bảo: “Có mặt anh ở đây tôi nói thẳng, là trước sau anh cũng phá sản”. Nói xong, ông xách ba lô về Lào Cai. Những ngày sau, ông giám đốc kia gọi điện, ông Lâm tắt máy.


Và, tập đoàn đông nam dược kia đã phá sản thật.

600 lòai cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng: Cần phải làm gì? 

Mặc dù có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và kinh nghiệm sử dụng dược liệu làm thuốc từ xa xưa, nhưng hiện tại hệ thống bảo tồn, gìn giữ, xây dựng và phát triển nguồn gen và giống cây thuốc mới phát hiện được gần 4.000 loài cây thuốc và nấm lớn được dùng làm thuốc. Nhưng trong số đó đa số các cây thuốc quý hiếm lại đang có nguy cơ tuyệt chủng; theo số liệu của cơ quan chức năng, trên 50% nguyên liệu dược liệu của nước ta nhập về từ nước ngoài... Đó là những thông tin được đưa ra tại Hội nghị

Các loài cây thuốc quý đang lụi tàn

PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, trong 20 năm qua mặc dù công tác bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc  đã thu được những kết quả khả quan như phát hiện 3.948 loài thực vật và nấm lớn dùng làm thuốc. Trên phạm vi toàn quốc hiện có 730 giống cây thuốc được bảo tồn, chuyển vị. Trong những năm qua, Bộ Y tế cũng đã phê duyệt một số đề tài khoa học về cây thuốc có nguồn gốc từ dược liệu để nghiên cứu, bào chế thuốc phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân như phát triển cây sâm Việt Nam, cây thanh hao hoa vàng, trinh nữ hoàng cung, tram gió ở vùng Đồng Tháp Mười... Tuy nhiên, một số loài cây thuốc quý có giá trị kinh tế và chữa bệnh cao như ngũ gia bì, vàng đắng, hoàng đằng, ba kích, kim tuyến, hoàng liên chân gà, sâm vũ điệp, hoàng tinh vòng, bình vôi... trước kia vẫn còn khá phong phú nhưng đến nay bị suy giảm nghiêm trọng hoặc đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Nguyên nhân là do chúng ta khai thác một cách ồ ạt, không có kế hoạch và chưa chú ý đến tái sinh, bảo vệ rừng làm nguồn cây thuốc ở Việt Nam bị tàn phá nhanh và cạn kiệt. Theo Viện Dược liệu, Bộ Y tế, hiện ở Việt Nam có khoảng 600 loài cây thuốc quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Những lý do trên đã khiến cho thuốc có nguồn gốc từ dược liệu hiện chỉ đứng khiêm nhường bên cạnh tân dược trên thị trường dược phẩm. DS. Nguyễn Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế cho biết, trong tổng số hơn 20.000 sản phẩm thuốc được cấp số đăng ký lưu hành trên thị trường Việt Nam đến thời điểm này chỉ có 2.040 sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, chiếm khoảng 10%. Theo đó, giá trị kinh tế của thuốc từ dược liệu đem lại cho ngành dược cũng chỉ chiếm khoảng 10% trên tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước.

Nhiều nguồn nguyên liệu, dược liệu khó kiểm soát

Liên quan đến vấn đề quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, tại hội nghị, DS. Nguyễn Văn Thanh cũng thẳng thắn thừa nhận, mặc dù cơ quan quản lý cũng như hệ thống kiểm nghiệm trong cả nước đã thường xuyên đẩy mạnh công tác tiền kiểm, hậu kiểm thị trường thuốc nói chung, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu nói riêng, nhưng do nguồn gốc, xuất xứ của nguyên liệu dược liệu "rất đa dạng", trong đó 53,5% dược liệu được nhập khẩu chủ yếu qua đường tiểu ngạch. Ngoài ra, còn có một khối lượng khá nhiều dược liệu nhập lậu vào Việt Nam chất lượng rất kém. Đơn cử như cơ quan kiểm nghiệm lấy mẫu của dược liệu hoàng kỳ đưa vào Việt Nam để phân tích, kiểm nghiệm thì phát hiện hoàng kỳ chỉ còn là dược liệu rác vì các tinh chất đã được chiết xuất cạn kiệt. Chính điều này đã khiến chất lượng thuốc có nguồn gốc dược liệu bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, DS. Thanh cũng cho biết mặc dù Bộ Y tế đã yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm phải dần đảm bảo tiêu chuẩn GMP (thực hành sản xuất thuốc tốt), song hiện tại trong số 300 cơ sở sản xuất thuốc có nguồn gốc từ dược liệu chỉ có 78 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn GMP, 200 tổ hợp sản xuất nhỏ lẻ còn lại chủ yếu tập trung ở phía Nam sẽ rất khó thực hiện được tiêu chuẩn này. Do đó, đã dẫn đến kết quả có khá nhiều mẫu thuốc có nguồn gốc từ dược liệu không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng (chiếm khoảng 10% trong tổng số gần 4.000 mẫu được lấy chủ yếu là do không đảm bảo về chỉ tiêu vi sinh, nấm mốc, độ nhiễm khuẩn...).

Cũng theo thông tin từ Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, gần đây cơ quan kiểm nghiệm đã liên tục phát hiện tình trạng thuốc tân dược ngụy tạo đông dược, nhất là từ các thuốc đông dược không rõ nguồn gốc, chưa được đăng ký khiến người tiêu dùng không hay biết mà vẫn vô tư sử dụng. Tuy nhiên, tình trạng này ngày một có dấu hiệu gia tăng, khiến cơ quan chức năng đã phải ra không ít quyết định đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc. Theo đó, các loại thuốc đông dược thường bị ngụy tạo tân dược bao gồm các nhóm: các hoạt chất có tác dụng tăng cường khả năng sinh lý (sidenafil và dẫn chất...), các thuốc hạ nhiệt giảm đau (paracetamol, aspirin...), các thuốc chống viêm steroid (dexamethason, prednisolon...) và phi steroid (diclofenac, ibuprofen, indometacin...), các thuốc kháng histamin (clorpheniramin...), các thuốc an thần gây ngủ (diazepam...). Các thuốc đông dược ngụy tạo tân dược bị cơ quan chức năng phát hiện là: Dân tộc cứu nhân vật, Giải biểu hoàn, Thận khí hoàn...

Nguồn: http://suckhoedoisong.vn/2009050805038955p61c89/can-phai-lam-gi.htm

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Top 10 thực phẩm ngăn ngừa ung thư


Top 10 thực phẩm ngăn ngừa ung thư.
Nguyễn Đức Duy

Tính đến thời điểm hiện tại, sự am hiểu của nhân loại về ung thư vẫn chưa được xem là thấu đáo hay triệt để, thậm chí nguyên nhân gây bệnh cũng chỉ là những thừa nhận mập mờ.

Tuy nhiên, một lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng đúng mực là cách tốt nhất để chúng ta ngăn ngừa ung thư. Trong cuốn sách ung thư: 101 cách để ngăn ngừa bệnh (Cancer: 101 solutions to preventable Epidermic-New Society Publishers, 2007), với các tác giả Liz Amstrong, Guy Dauncey, và Anne Wordsworth. Họ đã thừa nhận tầm quan trọng của việc ăn hay uống những thực phẩm cụ thể nhằm ngăn chặn ung thư như sau:

1. Các loại rau cải như: Bông cải xanh, súp lơ trắng, bắp cải, Cải bruxen (một loại bắp cải nhỏ rất giàu vitamin E, canxi, đồng), cải thảo, cải xoăn (kale). Đây là những nguồn thực phẩm giàu thành phần ngừa ung thư như isothiocyanates.
 
2. Bông atiso (Artichoke), có chứa rất cao nguồn salvestrols.

3. Những loại rau có màu xanh đậm như rau spinach, rau cải đắng (romaine lettuce) cung cấp nguồn carotenoids, cũng có thể kể thêm những loại hoa quả có màu đậm như củ dền đỏ, hay bắp cải tím.

4. Nho và rượu đỏ cung cấp nguồn resveratrol.

5. các loại đậu như đậu hà lan, đậu lăng (lentil) cung cấp nguồn saponin và những chất ức chế enzyme phân hũy.

6. Các loại quả mọng nước (berries) như cây việt quất (blue berry), cung cấp nguồn ellagic acid và anthocyanosides.

7. Hạt lanh (flaxseed) để cung cấp các acid béo thiết yếu nhu alpha linoleic acid, lignan và những chất béo tốt khác.

8. Tỏi, hành tây, hành lá, hành boro, và lá chives. Chúng có chứa chất ngừa ung thư như alicin.

9. Trà xanh cung cấp nguồn catechins. Một chất chống oxid hóa.

10. Cà chua, nổi tiếng với chất flavenoid licopen để ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt.

Điều đáng thú vị là những thực phẫm ngăn ngừa ung thư còn có tác dụng phụ rất như ý là làm đẹp da, chống lão hoá cũng như ngăn ngừa những bệnh hệ tim mạch như cao huyết áp, các bệnh về gan, thận.

Cà rốt, nhân sâm của người nghèo

HOCMOINGAY. Sâm là món thuốc quý trong y học đông phương mà ngày nay y học thực nghiệm Tây phương cũng phần nào công nhận. Nhưng sâm là dược thảo đắt tiền nên dân bạch đinh ít người có cơ hội sử dụng. Và các nhà y học cổ truyền đã khám phá ra một thảo mộc có giá trị tương tự như sâm để thay thế. Đó là củ cà rốt nho nhỏ, màu đỏ mà các vị lương y này coi như là một thứ nhân sâm của người nghèo. 

alt 

1. CÀ RỐT, NHÂN SÂM CỦA NGƯỜI NGHÈO

Có lẽ vì là “nhân sâm của người nghèo”, nên cà rốt được tạo hóa đặc biệt ưu tiên ban cho dân chúng ở vùng đất sỏi đá Afghanistan từ nhiều ngàn năm về trước để dân chúng bồi bổ, tăng cường sức khỏe.

 Từ mảnh đất nghèo khó đó, cà rốt được các đế quốc La Mã, Hy Lạp khi xưa biết tới giá trị dinh dưỡng cũng như y học. Họ mang về trồng làm thực phẩm và để chữa bệnh. Các danh y hai quốc gia này như Hippocrattes, Galen, Diocorides..đã lên tiếng ca ngợi cà rốt vừa là thức ăn ngon, vừa là dược thảo tốt để chữa bệnh cũng như tăng cường khả năng tình dục.

 Trải qua nhiều thế kỷ, cà rốt du nhập tới các quốc gia khác trên khắp trái đất và là món ăn ưa chuộng của mọi người dân, không kể giầu nghèo. Người Tây Ban Nha mang cà rốt đến châu Mỹ vào thế kỷ thứ 15, rồi người Anh cũng mang theo khi họ đi chinh phục Mỹ vào thế kỷ thứ 16.

 Hiện nay, Trung Hoa đứng đầu về số lượng sản xuất cà rốt, tiếp theo là Hoa Kỳ, Ba Lan, Nhật Bản, Pháp, Anh và Đức. Mỗi năm, Hoa kỳ thu hoạch trên 1,5 triệu tấn cà rốt, hơn một nửa được trồng ở tiểu bang California.

 Cà rốt có nhiều mầu khác nhau như trắng, vàng, đỏ và tím đỏ. Loại cà rốt đầu tiên ỏ A Phú Hãn có mầu trắng, đỏ, vàng. Hòa Lan là quốc gia đầu tiên trồng cà rốt màu cam vào khoảng đầu thế kỷ 17.

 Mầu của cà rốt tùy thuộc vào một số yếu tố như là: nhiệt độ nóng quá hoặc lạnh quá làm giảm mầu cà rốt; cà rốt thu hoạch vào mùa Xuân và Hạ có mầu xậm hơn là vào mùa Thu và Đông; tưới nước quá nhiều và nhiều ánh sáng làm giảm mầu cà rốt...

 Cà rốt được trồng bằng hạt từ tháng Giêng tới tháng Bảy, nẩy mầm sau hai tuần lễ và có củ trong thời gian từ hai tới ba tháng.

 Cà rốt có thể nhỏ síu bằng đầu ngón tay em bé hoặc dài tới ba gang tay, đường kính bằng cổ tay.

 Cà rốt là tên phiên âm từ tiếng Pháp carotte. Tên khoa học là Dacus carota. Người Trung Hoa gọi là Hồ La Bặc. Theo họ, loại rau này có nguồn gốc từ nước Hồ, và có hương vị như rau la-bặc, một loại cải của Trung Hoa.

1.- Giá trị dinh dưỡng

 Một củ cà rốt cỡ trung bình có 19 mg calci, 32 mg phospho, 233 mg kali, 7 mg sinh tố C, 7 gr carbohydrat, 5 gr đường, 2gr chất xơ, 1gr chất đạm, 6.000mcg sinh tố A, 40 calori, không có chất béo hoặc cholesterol.

 Một ly (240ml) nước cà rốt lạnh nguyên chất cung cấp khoảng 59 mg calci, 103 mg phospho, 718 mg kali, 21 mg sinh tố C, 23 g carbohydrat và 18.000mcg sinh tố A. Thật là một món giải khát vừa ngon vừa bổ dưỡng.

*Cà rốt như thực phẩm

 Vị dịu ngọt của cà rốt rất thích hợp với nhiều thực phẩm khác, cho nên có nhiều cách để nấu nướng cà rốt.

 Cà rốt có thể ăn sống hay nấu chín với nhiều thực phẩm khác, nhất là với các loại thịt động vật. Người viết không dám lạm bàn. Chỉ xin thưa rằng: bò kho mà không có cà rốt thì chẳng phải bò kho. Cảm lạnh mà được một bát canh thịt nạc nấu với cà rốt, đậu hà lan thêm vài nhánh hành tươi, ăn khi còn nóng hổi thì thấy nhẹ cả người. Chả giò chấm nước mắm pha chua, cay, ngọt mà không có cà rốt thái sợi thì ăn mất ngon. Cà rốt cào nhỏ, thêm chút bơ ăn với bánh mì thịt nguội thì tuyệt trần đời...

Dù ăn cách nào, sống hay chín, cà rốt vẫn giữ được các chất bổ dưỡng. Đặc biệt khi nấu thì cà rốt ngọt, thơm hơn vì sức nóng làm tan màng bao bọc carotene, tăng chất này trong món ăn. Nhưng nấu chín quá thì một lượng lớn carotene bị phân hủy.

 Cà rốt ăn sống là món ăn rất bổ dưỡng vì nhiều chất xơ mà lại ít calori. Cà rốt tươi có thể làm món rau trộn với các rau khác.

 Cà rốt đông lạnh cũng tốt như cà rốt ăn sống hoặc nấu chín, chỉ có cà rốt phơi hay sấy khô là mất đi một ít beta carotene. Cà rốt ngâm giấm đường cũng là món ăn ưa thích của nhiều người.

 Ăn nhiều cà rốt đưa đến tình trạng da có màu vàng như nghệ. Lý do là chất beta caroten không được chuyển hóa hết sang sinh tố A nên tồn trữ ở trên da, nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân, sau vành tai. Tình trạng này không gây nguy hại gì và màu da sẽ trở lại bình thường sau khi bớt tiêu thụ cà rốt.

*Nước vắt cà rốt là món thức uống tuyệt hảo.

 Rửa sạch cà rốt với một bàn chải hơi cứng, đừng bỏ hết vỏ vì sinh tố và khoáng chất nằm ngay dưới vỏ. Sau khi ép, nên uống ngay để có hương vị tươi mát. Muốn để dành nước cà rốt, nên cho vào chai đậy kín để tránh oxy hóa rồi cất trong tủ lạnh. Nên lựa cà rốt lớn, chắc nịch với mầu vàng đậm hơn là loại vàng nhạt, để có nhiều caroten.

 Có thể pha uống chung nước cốt cà rốt với nước trái cam, cà chua, dứa để tạo ra một hỗn hợp nước uống mang nhiều hương vị khác nhau.

Lá cà rốt cũng có thể ăn được, nhưng hơi đắng vì chứa nhiều kali. Lá có nhiều chất đạm, khoáng và sinh tố. Để bớt cay, trộn một chút giấm đường. Lá có tính cách sát trùng nên nước cốt lá cà rốt được thêm vào nước súc miệng để khử trùng.

2.- Công dụng y học

 Cà rốt chứa rất nhiều beta carotene, còn gọi là tiền- vitamin A, vì chất này được gan chuyển thành sinh tố A với sự trợ giúp của một lượng rất ít chất béo.

 Trong 100 gr cà rốt có 12.000 microgram (mcg) caroten, có khả năng được chuyển hóa thành khoảng 6000mcg vitamin A trong cơ thể. Trong khi đó thì lượng caroten do 100gr khoai lang cung cấp là 6000 mcg, xoài là 1,200 mcg, đu đủ từ 1,200 đến 1,500 mcg, cà chua có 600mcg, bắp su có 300 mcg, cam có 50 mcg caroten...

 Nhà dinh dưỡng uy tín Hoa Kỳ Roberta Roberti đã liệt kê một số công dụng của cà rốt đối với cơ thể như: làm tăng tính miễn dịch, nhất là ở người cao tuổi, giảm cháy nắng, giảm các triệu chứng khó chịu khi cai rượu, chống nhiễm trùng, chống viêm phổi, giảm bớt mụn trứng cá, tăng hồng huyết cầu, làm vết thương mau lành, giảm nguy cơ bệnh tim mạch

 Bản hướng dẫn về dinh dưỡng của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ vào năm 1995 có ghi nhận rằng ‘Các chất dinh dưỡng chống oxy hóa trong thực phẩm thực vật như sinh tố C, carotene, sinh tố A và khoáng selenium đều được các nhà khoa học thích thú nghiên cứu và quần chúng ưa dùng vì chúng có khả năng giảm thiểu rủi ro gây ra ung thư và các bệnh mãn tính khác’

 Từ thời xa xưa ở Ấn Độ, Hy Lạp và La Mã, cà rốt, nước ép cà rốt, trà cà rốt đã được dùng để trị bệnh

*Cà rốt với bệnh ung thư

 Beta carotene có tác dụng chống ung thư trong thời kỳ sơ khởi, khi mà các gốc tự do tác động để biến các tế bào lành mạnh thành tế bào bệnh. Beta carotene là chất chống oxi hóa, ngăn chận tác động của gốc tự do, do đó có thể giảm nguy cơ gây ung thư phổi, nhiếp hộ tuyến, tụy tạng, vú và nhiều loại ung thư khác.

 Theo nhà thảo mộc học J.L.Hartwell thì cà rốt được dùng trong y học dân gian tại một số địa phương rải rác trên thế giới như Bỉ, Chí Lợi, Anh, Đức, Nga, Mỹ... để trị các chứng ung thư, mụn loét có tính ung thư, chứng suy gan và suy tủy sống.

 Kết quả nghiên cứu tại Anh và Đan Mạch cho hay chất Falcarinol trong cà rốt có thể giảm nguy cơ ung thư. Bác sĩ Kirsten Brandt, giáo sư tại Đại học Newcastle và là một thành viên của nhóm nghiên cứu cho hay, họ sẽ tiếp tục tìm hiểu coi phải dùng một số lượng là bao nhiêu để hóa chất này có tác dụng ngừa ung thư. Giáo sư Brandt cũng tiết lộ là vẫn ăn cà rốt mỗi ngày.

*Cà rốt với ung thư phổi

 Kết quả nghiên cứu của giáo sư dinh dưỡng Richard Baybutt và cộng sự tại Đại học Kansas, Hoa Kỳ, cho hay chất gây ung thư benzo(a)pyrene có thể gây ra thiếu sinh tố A trong cơ thể chuột và đưa tới bệnh emphysema. Ông kết luận rằng một chế độ dinh dưỡng có nhiều sinh tố A sẽ bảo vệ cơ thể đối với ung thư phổi và khí thũng phổi (emphysema).

*Cà rốt với hệ tiêu hóa

 Súp cà rốt rất tốt để hỗ trợ việc điều trị bệnh tiêu chẩy, đặc biệt là ở trẻ em. Súp bổ sung nước và các khoáng chất thất thoát vì tiêu chẩy như K, sodium, phosphor, calcium, magnesium..

 Một số bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhận xét rằng cà rốt làm bớt táo bón, làm phân mềm và lớn hơn vì có nhiều chất xơ. Do công dụng này, cà rốt cũng có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột già

*Cà rốt với thị giác

 Cà rốt không ngăn ngừa hoặc chữa được cận thị hay viễn thị nhưng khi thiếu sinh tố A, mắt sẽ không nhìn rõ trong bóng tối. Cà rốt có nhiều beta caroten, tiền thân của sinh tố A. Ở võng mạc, sinh tố A biến đổi thành chất rhodopsin, mầu đỏ tía rất cần cho sự nhìn vào ban đêm. Ngoài ra, beta caroten còn là một chất chống oxy hóa rất mạnh có thể ngăn ngừa võng mạc thoái hóa và đục thủy tinh thể. Đây là hai trong nhiều nguy cơ đưa tới khuyết thị ở người cao tuổi.

 Chúng ta chỉ cần ăn một củ cà rốt mỗi ngày là đủ sinh tố A để khỏi bị mù ban đêm.

 Nhiều người còn cho là cà rốt với số lượng sinh tố A và Beta Carotene lớn còn có khả năng chữa và ngăn ngừa được các chứng viêm mắt, hột cườm mắt, thoái hóa võng mạc...

 Một sự trùng hợp khá lạ là khi cắt đôi, củ cà rốt với các vòng tròn lan ra chung quanh trông giống như đồng tử (pupils) và mống mắt (iris). Như vậy phải chăng tạo hóa đã sắp đặt để con người nhận ra giá trị của cà rốt đối với cặp mắt...

*Cà rốt với bệnh tim

 Nghiên cứu tại Đại học Massachsetts với 13,000 người cao tuổi cho thấy nếu họ ăn một củ cà rốt mỗi ngày thì có thể giảm nguy cơ cơn suy tim tới 60%. Đó là nhờ có chất carotenoid trong cà rốt.

*Cà rốt với cao cholesterol

 Bác sĩ Peter Hoagland thuộc Bộ Canh Nông Hoa Kỳ cho hay chỉ ăn hai củ cà rốt mỗi ngày có thể hạ cholesterol xuống từ 10-20%.

Thí nghiệm bên Scotland cho thấy tiêu thụ 200 g cà rốt sống mỗi ngày, liên tục trong 3 tuần lễ, có thể hạ mức cholesterol xuống khoảng 11%.

 Các nhà nghiên cứu tại Đài Loan cũng có cùng ý kiến.

*Cà rốt với bệnh tiểu đường

 Theo S Suzuki, S Kamura, tiêu thụ thực phẩm có nhiều carotenoid có thể làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường loại 2 bằng cách tăng tác dụng của insulin.

*Cà rốt với phụ nữ

 Với phụ nữ, cà rốt có thể mang tới nhiều ích lợi như làm giảm kinh nguyệt quá nhiều, giảm triệu chứng khó chịu trước khi có kinh, bớt bị chứng viêm âm hộ và nhiễm trùng đường tiểu tiện nhất là giảm nguy cơ loãng xương sau thời kỳ mãn kinh.

3.- Cà rốt trong đời sống

 Các khoa học gia tại Đại học York bên Anh đã phân tách từ cà rốt một loại chất đạm đặc biệt có thể dùng để chế biến chất chống đông lạnh (antifreeze) . Nếu thành công, chất chống đông lạnh này sẽ rất hữu dụng ở trong phòng thí nghiệm để lưu trữ tế bào cho mục đích khoa học cũng như cho việc trồng thực vật khỏi bị đông giá.

 Tại phòng thí nghiệm của Đại học Uwate, Nhật Bản, nhà nghiên cứu Hiroshi Taniguchi đã khám phá ra rằng, một vài loại rau như cà rốt ớt xanh, pumpkins...có thể được sử dụng để chế biến tia laser. Laser hiện nay dược dùng rất phổ biến trong mọi lãnh vực y khoa học.

 Trong thế chiến II, phi cơ Đức quốc Xã thường oanh tạc Luân Đôn vào ban dêm để tránh bị phòng không Anh bắn hạ. Quân đội Anh lại mới sáng chế ra máy radar để tìm bắn máy bay địch vào ban đêm. Để dấu phát minh này, giới chức quân sự Anh nói rằng phi công của họ ăn nhiều cà rốt nên phát hiện được máy bay dịch rất rõ, ngày cũng như đêm. Quân đội Đức không tìm hiểu thêm vì tại nước họ cũng có nhiều người tin như vậy. Đây chỉ là một giai thoại mà thôi.

4.- Lựa và Cất giữ cà rốt

 Mua cà rốt, nên lựa những củ còn lá xanh tươi, củ phải chắc nịch, mầu tươi bóng và hình dáng gọn gàng, nhẵn nhụi. Cà rốt càng có đậm mầu cam là càng có nhiều beta caroten. Tránh mua cà rốt bị nứt, khô teo. Nếu cà rốt không còn lá, nhìn cuống coi có đen không. Nếu cuống đen là cà rốt quá già.

 Vì đa số đường của cà rốt nằm trong lõi, nên củ càng to thì lõi cũng lớn hơn và ngọt hơn.

 Cà rốt là loại rau khỏe mạnh, chịu đựng được điều kiện thời tiết khó khăn nên có thể để dành lâu hơn nếu biết cách cất giữ.

 Trước hết là đừng để thất thoát độ ẩm của rau. Muốn vậy, cất cà rốt ở ngăn lạnh nhất của tủ lạnh, trong túi nhựa hoặc bọc bằng giấy lau tay. Đừng rửa trước khi cất tủ lạnh, vì cà rốt quá ướt trong túi sẽ mau bị hư. Chỉ rửa trước khi ăn. Cất như vậy có thể để dành được hơn hai tuần lễ.

 Đừng để cà rốt gần táo, lê, khoai tây vì các trái này tiết ra hơi ethylene làm cà rốt trở nên đắng, mau hư.

 Nếu cà rốt còn lá, nên cắt bỏ lá trước khi cất trong tủ lạnh, để tránh lá hút hết nước của củ và mau hư.

 Trước khi ăn, rửa củ cà rốt với một bàn chải hơi cứng. Ngoại trừ khi cà rốt quá già hoặc e ngại nhiễm thuốc trừ sâu bọ, không cần gọt bỏ vỏ.

 Cà rốt có thể làm đông lạnh để dành mà vẫn ngon.

 Trước hết, phải trụng cà rốt trong nước sôi. Đây là cách để dành đông lạnh cho tất cả các loại rau. Trụng như vậy sẽ ngăn cản tác dụng làm mất hương vị, cấu trúc của thực phẩm.do các enzym có sẵn trong rau.

 Sau khi trụng trong nước sôi độ mươi phút, lấy cà rốt ra, cho vào bao nhựa rồi để ngay vào ngăn đông đá.

5.- Kết luận

 Cà rốt là món ăn khá rẻ tiền so với lượng dinh dưỡng quý giá mà rau cung cấp. Nhiều người ít ăn cà rốt chỉ vì thiếu hiểu biết đầy đủ về giá trị dinh dưỡng của thực phẩm này. Mặt khác, tập quán ăn uống vốn được thành hình từ thói quen lâu ngày. Cà rốt là loại cây trồng mới được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ trước, nên đối với phần đông người Việt, nhất là những người ở xa thành phố, vẫn chưa quen thuộc với việc sử dụng cà rốt thường xuyên trong ngày.

Xin nhắc lại một số đặc tính của cà rốt:

 -Cà rốt có hương vị thơm ngọt, có thể ăn chung với thực phẩm khác

 -Cà rốt có thể ăn sống hoặc nấu chín

 -Trẻ em rất thích ăn cà rốt vì hương vị nhẹ nhàng của cà rốt

 -Cà rốt sống mang đi cắm trại hoặc ăn giữa ngày snack rất tiện

 -Giá cà rốt tương đối rẻ, lại có sẵn quanh năm

 -Cà rốt có nhiều sinh tố A, beta caroten, sinh tố A cần cho làn da, mắt, tóc, sự tăng trưởng và phòng chống bệnh nhiễm. Beta caroten có khả năng giảm thiểu các bệnh kinh niên như tim mạch, ung thư

 -Cà rốt có nhiều chất xơ, giảm cholesterol và bệnh đường ruột

 -Cà rốt cung cấp rất ít calori, nên ăn nhiều không sợ bị mập phì

 Nếu biết tận dụng loại thực phẩm này với các đặc tính như trên, chắc chắn chúng ta sẽ nâng cao tình trạng sức khỏe cũng như phòng ngừa được hầu hết các bệnh do thiếu vitamin A.

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY



 

BS. Nguyễn Ý Đức và bài viết thuốc ở trong rau

HỌC MỖI NGÀY. Kinh nghiệm dân gian ta vẫn thường nói: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. Nhưng thực ra, rau không chỉ là món ăn nhiều chất dinh dưỡng mà còn là những liều thuốc trị bệnh quý giá. Chẳng thế mà danh y Hải Thượng Lãn Ông của ta đã có nhận xét: “Nên dùng các thứ thức ăn /Thay vào thuốc bổ có phần lợi hơn” Và thánh tổ y học phương tây Hippocrates có đưa ra một đề nghị hết sức thuyết phục là “Hãy để rau là vị thuốc”. Mà những loại rau củ có vị đắng chứng tỏ các nhận xét này là rất đúng.

alt 

Thuốc ở trong rau
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức, Texas- Hoa Kỳ


Trái Mướp Đắng màu xanh có bề ngoài gồ ghề ngộ nghĩnh đã được ghi trên sáu con tem biểu tượng cho sáu loại cây thuốc thiên nhiên có dược tính trị bệnh cao mà Liên Hiệp Quốc phát hành vào năm 1980.

Mướp đắng chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng căn bản như nước, đạm, carbohydrat, béo, sinh tố và một số khoáng chất với tỷ lệ khác nhau. Mướp đắng có thể dùng để ăn sống, nấu canh, xào với thịt bò, muối dưa, phơi khô làm trà pha nước uống...

Canh thịt heo bằm nhỏ nhồi vào mướp đắng là món ăn đặc biệt ở miền Bắc Việt Nam.

Mướp đắng hấp với tôm tươi, thịt nạc, mộc nhĩ, nấm hương, hành khô, mắm muối tiêu, xào với thịt.. tạo ra vị hơi đắng hòa với hương thơm mùi tôm thịt là món ăn giải nhiệt, bổ dưỡng.. Món xà lách mướp đắng cũng rất hấp dẫn, ăn vào mát cơ thể..

Mướp đắng được coi như có khả năng làm hạ đường huyết, hạ huyết áp, chữa ho, giảm đau nhức, sát trùng ngoài da, trừ rôm sẩy ở trẻ em.

Trong mướp đắng cũng có một hóa chất có khả năng ngăn ngừa sự thụ thai ở loài chuột.

Trên thị trường hiện nay có bán trà khổ qua, được giới thiệu là có thể giúp ngủ ngon, đại tiện dễ dàng, mát gan, bổ mật, giải nhiệt, giải độc trong cơ thể và khi dùng thường xuyên sẽ ngừa được các biến chứng của bệnh tiểu đường, sỏi thận, mật....

Actiso Đà Lạt là loại thảo mộc nổi danh ở nước ta. Nổi danh vì khí hậu luôn luôn mát lạnh nơi cao nguyên nhiều nắng khiến cho actiso có năng suất cao.

Actisô có nhiều chất dinh dưỡng như các sinh tố C, B, folacin, chất xơ và một vài khoáng chất như sắt, kali. Về phương diện ẩm thực, actisô thường được luộc, hấp cách thủy để ăn hoặc ninh với thịt gà, thịt lợn. Actisô có thể được dùng tươi, để đông lạnh hoặc đóng hộp.

Nhiều nghiên cứu cho biết Actisô có tác dụng bảo vệ gan, làm hạ cholesterol trong máu và đường huyết, kích thích sản xuất mật, giảm đau khớp xương, thông tiểu tiện.

Tại vài quốc gia, dung dịch chế biến từ actisô được dùng làm thuốc chích chữa các bệnh về gan. Trà Actisô là thức uống được rất nhiều người ưa dùng.

Theo nhiều nhà chuyên môn, actisô không gây tác hại cho cơ thể.

Diếp cá hoặc rau Giấp là món ăn ưa thích của bà con miền Nam.

Cách đây mấy chục năm, dân cư miền sông Hồng, núi Ngự vào giao lưu với Cửu Long Giang là rất lắc đầu “nhăn mặt” vì vị tanh tanh “lợm giọng” khi ăn phải cọng rau này. Vậy mà bây giờ, Nam Trung Bắc một nhà, nhiều người cũng đều ưa thích diếp cá.

Nhưng cái tanh tanh, béo béo của diếp cá lại rất “hiệp nhất” với cái tanh của những miếng cá còn tươi. Phải chăng đây là duyên tiền định với tên “diếp cá”. Trung Quốc gọi diếp cá là “Ngư Tinh Thảo” và tiếng Anh gọi là Fish Mint

Ở nước ta, diếp cá mọc hoang khắp vùng đất ẩm thấp và cũng được trồng làm rau ăn hoặc làm thuốc trị bệnh. Diếp cá có thể ăn sống hoặc dùng làm gia vị chung với các rau khác trong bữa ăn. Có người hầu như ghiền với diếp cá, thiếu nó như thiếu người tình hơi “bị” cho là chanh chua nhưng dễ thương.

Lá diếp cá ăn vào rất mát, có thể làm trĩ hậu môn xẹp xuống. Ngoài ra, diếp cá cũng được y học dân gian tại nhiều quốc gia dùng làm lợi tiểu tiện, hạ cao huyết áp, giảm ho, tiêu diệt vi khuẩn. Nghiên cứu tại viện y dược Toyama, Nhật Bản, cho hay diếp cá có chất chống oxy hóa rất mạnh quercetin có thể ngăn chặn nhiều loại ung thư và tăng cường tính miễn dịch..

Trong Lĩnh Nam Bản Thảo, danh y Hải Thượng Lãn Ông tóm tắt:

“Ngư Tinh Tảo gọi cây rau Giấp
Ấm cay, hơi độc, mùi hôi tanh
Ung thũng, thoát giang với đầu chốc
Đau răng, lỵ ngược chữa mau lành”.

Khát khô cả họng trong nắng tháng Bảy của Sài Gòn mà gặp một xe bán Nước Rau Má xanh mát thì cơn khát không những hết đi mà tâm hồn cón thấy sảng khoái.

Thực vậy, nghiên cứu tại Ấn Độ cho hay nước chiết rau má không những tăng khả năng trí tuệ của trẻ em có thương số thông minh (IQ) thấp mà còn làm người cao tuổi giảm bớt những quên này quên kia, giúp thị lực bớt nhạt nhòa.

Nhiều nghiên cứu khác còn gợi ý rằng rau má trị được cả bệnh vẩy nến, vết phỏng, vết thương, viêm khí quản, chống nhiễm trùng, chống độc, giải nhiệt, lợi tiểu.

Từ những năm 1960, Giáo sư Bửu Hội đã nghiên cứu tác dụng trị bệnh phong với rau má. Ngày nay, nhiều khoa học gia cho là chất Asiatioside của rau má có tác dụng tương đương với dược phẩm trị phong chính là Dapsone.

Rau má có tính lạnh cho nên người tỳ vị hàn, hay đi tiêu chảy, cần cẩn thận khi dùng.

Rau Đắng đã đi vào văn hóa âm nhạc trong những bài viết nhiều tình người, tình quê hương của nhạc sĩ Bắc Sơn từ rừng cao su Dầu Tiếng.

Nhăc phẩm “Còn thương rau đắng mọc sau hè” với tiếng hát Hương Lan, Như Quỳnh đã làm bao nhiêu khách ly hương khi nghe mà mắt nhòe ướt lệ.

“Ai cách xa cội nguồn
Ngồi một mình nhớ lũy tre xanh
Dạo quanh khung trời kỷ niệm
Chợt thèm rau đắng nấu canh”

Vì nhớ tới những lũy tre xanh nơi có người chị đầu bạc tóc ân cần nhổ tóc sâu cho chú em từ xa về thăm quê. Có những bà mẹ hiền luôn luôn chăm sóc miếng ăn, thức uống cho chồng cho con.

Rau đắng nấu canh với các loại cá, nhúng lẩu hoặc chấm mắm kho là những món ăn tuyệt hảo của bà con miệt đồng. Rau đắng còn có thể nấu với thịt heo bầm nhuyễn, với tép, với tôm…

Mới ăn rau có vị khá đắng, chỉ kém có khổ qua, nhưng ăn quen lại thấy ngòn ngọt, nhớ hoài.

Rau đắng cũng được dùng trong y học. Theo Giáo sư Đỗ Tất lợi, rau đắng được dùng làm thuốc lợi tiểu, bổ thận, giúp ăn ngon và giảm đau khi đắp lên nơi tê thấp, rắn cắn.


Kết luận

Nhà dinh dưỡng uy tín Hoa Kỳ Jean Carpenter phát biểu rằng “Trong thực phẩm có dược phẩm. Thay đổi dinh dưỡng có thể ngăn ngừa và giảm sự trầm trọng của bệnh tật”

Đây là lời khuyên khá hữu ích mà chúng ta cũng nên theo.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Chào ngày mới !

CNM Những bài tuyển chọn về thực phẩm, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe đọc tại đây  https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/system/app/pages/subPages?path=/chaongaymoi/suc-khoe-va-doi-song.

alt
Sống quen thanh đạm nhẹ người
Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung

Hồ Chí Minh

Soucrce: https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/system/app/pages/subPages?path=/chaongaymoi/suc-khoe-va-doi-song

Hồng có ích cho sức khỏe


FOOD CROPS HỌC MỖI NGÀY. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thịt quả hồng rất cao, rất nhiều beta caroten và sinh tố A (10.080 I.U cho 1 kg hồng), sinh tố B (thiamin, riboflavin, niacin) và C. Ngoài ra, còn nhiều khoáng tố vi lượng như Ca, P, Fe, protein, nhiều chất xơ, đường.

Trái hồng đang được bày bán nhiều ở các chợ. Hồng giòn thường ăn lúc còn tươi chưa chín mềm, màu vàng, trái có hình hơi vuông; loại hồng mềm hay hồng đỏ chỉ nên ăn khi quả chín mềm như trái cà chua.

Quả hồng ăn sống thường có màu vàng nâu sậm, bên ngoài có một lớp sáp và khi ăn thường có vị se chát vì chứa rất nhiều tanin. Khi quả chín sẽ trở nên ngọt hơn vì tanin đã biến mất.

Cách ăn trái hồng tốt nhất là ăn tươi, hồng còn được sử dụng làm bánh kẹo, mứt, kem, tráng miệng hoặc chế biến thành lát mỏng dùng chung trong món xà lách trộn kem sữa chua.
Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thịt quả hồng rất cao, rất nhiều beta caroten và sinh tố A (10.080 I.U cho 1 kg hồng), sinh tố B (thiamin, riboflavin, niacin) và C. Ngoài ra, còn nhiều khoáng tố vi lượng như Ca, P, Fe, protein, nhiều chất xơ, đường.

Hồng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe:

- Hồng được sử dụng như phương thuốc cổ truyền chữa nhiễm trùng phổi, trĩ và chữa bệnh suyễn. Thường dùng dạng hồng khô, ăn mỗi ngày khoảng một trái là tốt. Tính chất se chát của hồng còn giúp ngừng tiêu chảy, cầm mồ hôi và cầm máu.
- Hồng còn giúp ngừa ung thư vì có hàm lượng beta caroten cao, các hợp chất như sibutol và axit betulinic được nghiên cứu có tác dụng kháng ung thư. Một nghiên cứu mới tại Nhật Bản đã chứng minh tác dụng chống lão hóa của hồng nhờ nhóm hợp chất proanthocyanidin có nhiều trong lớp vỏ, giúp bảo vệ tế bào không bị oxy hóa.
Tính chất của hồng tươi và hồng khô khác nhau, hồng tươi có tính hơi hàn, có thể làm hạ huyết áp, không nên dùng cho người suy kiệt, huyết áp thấp, mệt mỏi kinh niên, phụ nữ sau khi sinh còn yếu. Hồng khô tính bình, dẻo, ngọt, được dùng chữa ngộ độc do ăn uống gây tiêu chảy, kiết lỵ lâu ngày không hết.
Tuy tốt nhưng không nên ăn hồng tươi nhiều vào lúc bụng quá đói, không nên ăn cùng những loại quả có chứa nhiều chất axit vị chua hoặc protein, vì chất tanin trong hồng sẽ kết tủa với các nhóm chất trên làm tắc nghẽn đường tiêu hóa, gây khó tiêu và dễ bị kích ứng niêm mạc ruột.
Hồng khô nhiều đường, ăn nhiều quá sẽ hại tì, không tốt cho răng miệng và dễ sinh nhiệt trong cơ thể, người tiểu đường cũng cần hạn chế sử dụng.
Theo Tuổi Trẻ

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam