Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Non Nước Việt Nam

Lớp học trên đồng ĐăkGlong Oxfam

  • PDF



alt

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Lớp học trên đồng của nhóm nông dân huyện Đăk Glong tỉnh Đăk Nông dự án Oxfam học hỏi, trao đổi thực tế đồng ruộng về giống sắn mới KM419  với biện pháp kỹ thuật canh tác sắn đạt năng suất, lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường.

DakGlong

Huyện Đăk Glong là một huyện nghèo của tỉnh Đăk Nông được thành lập theo Nghị định 82/2005/ NĐ-CP, ngày 27/ 6/ 2005 của Thủ tướng Chính phủ; trên cơ sở thành lập thị xã Gia Nghĩa và đổi tên huyện Đăk Nông thành huyện Đăk Glong. Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên 144.875,46 ha, có 07 đơn vị hành chính cấp xã, dân số có trên 40.000 nhân khẩu. Huyện có tổng diện tích gieo trồng 21.151 ha,  trong đó diện tích cây cà phê 8.680 ha và diện tích cây sắn 6.200 ha. Cà phê là cây trồng chủ lực của huyện nhưng cây sắn không thể thiếu đối với người dân tại huyện này, đặc biệt là đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, vì sắn thân thuộc chiếm diện tích lớn trong sản xuất nông hộ, do dễ trồng, dễ tiêu thụ, lợi nhuận khá, ít đầu tư, phù hợp với điều kiện canh tác tại địa phương. Anh Đặng Cảm, chủ tịch hội nông dân huyện Đăk Glong trao đổi.
Lophoctrendong2

Dự án Oxfam hổ trợ cải thiện sinh kế, giáo dục, quyền lợi và chất lượng cuộc sống của cộng đồng người nghèo và những người yếu thế, đặc biệt là phụ nữ và người dân tộc thiểu số. Các nhóm nông dân đã được hướng dẫn tham quan thực tế đồng ruộng và học hỏi cách xây dựng các mô hình trồng các giống sắn mới triển vọng và biện pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp đạt năng suất, lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường. Chị Đào Quỳnh Nga, cán bộ tổ chức Oxfam nói rõ thêm về hình thức liên kết học hỏi giúp đỡ cho bà con nông dân nghèo.

Lophoctrongnha

Lớp học trên đồng gắn lý thuyết với thực tế đồng ruộng, giữa những hộ nông dân giỏi, lớp trẻ khởi nghiệp nghề nông từ sắn với những lão nông tri điền và nhà khoa học xanh, học để làm, học mà vui, vui mà học.

Hoàng Kim
Có thể bạn chưa biết ?

Oxfam tại Việt Nam

(mời đọc tại đây)

OXFAM

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Oxfam là một liên minh quốc tế của 15 tổ chức làm việc tại 98 quốc gia trên toàn thế giới để tìm giải pháp lâu dài cho nghèo đóibất công. Oxfam làm việc trực tiếp với các cộng đồng và tìm cách để gây ảnh hưởng đến các cường quốc để đảm bảo rằng người nghèo có thể cải thiện cuộc sống và sinh kế của họ và có một tiếng nói trong các quyết định có ảnh hưởng đến họ.

Hình thành

Oxfam ban đầu được thành lập tại Oxford vào năm 1942 với tên gọi Ủy ban Oxford cho cứu trợ nạn đói bởi một nhóm Quaker, các nhà hoạt động xã hội, và các học giả Oxford, đây là tổ chức Oxfam Anh, vẫn có trụ sở tại Oxford, Vương quốc Anh.

Đó là một trong những ủy ban địa phương được hình thành trong hỗ trợ của Uỷ ban Quốc gia cứu trợ nạn đói. Nhiệm vụ của họ là thuyết phục chính phủ Anh để cho phép viện trợ lương thực thông qua sự phong tỏa Đồng minh cho các công dân đang chết đói của Hy Lạp chiếm đóng Axis.

Oxfam ở nước ngoài đầu tiên được thành lập tại Canada vào năm 1963. Các tổ chức đổi tên thành địa chỉ điện tín của nó, OXFAM, vào năm 1965.

Phương thức hoạt động

Ban thư ký tổ chức Oxfam International lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ sự hợp tác giữa các chi nhánh Oxfam để tăng ảnh hưởng của Oxfam về nghèo đói và bất công thông qua các chiến dịch vận động, các chương trình phát triển và ứng phó khẩn cấp.


Tham khảo
Giảm nghèo, thấy gì qua rà soát của Oxfam? (báo Kinh tế Nông thôn)
GĐ Oxfam Anh: Đây là thời điểm tuyệt vời cho VN (VietBao.vn)

 

Tôi theo em về miền Tây

  • PDF

VeMienTay1

Bình minh trên bến Ninh Kiều, ảnh Nguyễn Quỳnh Trâm. "Sao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu,… Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long, Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ…. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim​). Miền Tây Nam Bộ với tôi là cả một vùng ký ức. Nhớ miền Tây, tôi ghé vào đọc trang Những khoảng lặng cuộc sống – Về miền Tây bài ký rất hay của Nguyễn Quỳnh Trâm. Tôi tẩn mẩn xếp lại những tản văn hay, bài thơ hay, trang thư … của những người bạn, và lắng nghe nôn nao ký ức dội về …

Tôi đi theo ký ức vẫy gọi. Hành phương Nam mời bạn đọc bài “Về miền Tây” [1] của Nguyễn Quỳnh Trâm là cô giáo dạy văn giỏi của trường Lê Quý Đôn ở thành phố Hải Dương. Bài ký của cô giáo Nguyễn Quỳnh Trâm cho chúng ta một góc nhìn Cần Thơ, Cà Mau trong đôi mắt của người lữ khách xứ Bắc lần đầu đến Hậu Giang, Bạc Liêu. Bài thu hoạch “đi một ngày đàng học một sàng khôn” của cô giáo Quỳnh Trâm chứa đựng những phác thảo tinh khôi thật đáng học hỏi. Có lẽ cái gốc văn hóa Kiếp Bạc Côn Sơn nơi phát tích của Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi đã thổi vào tâm hồn của những người bạn Hải Dương mà tôi được quen ở đó như Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quỳnh Trâm, … mỗi người đều lắng đọng những nét văn hóa rất riêng và đẹp.

Bạn có nhớ “Về miền Tây,  thương …” [2] tản văn hay của Nguyễn Thị Hậu. Cô Hậu là tiến sĩ khảo cổ học nhà Sài Gòn nhưng quê miền Tây. "Về miền Tây, thương ..." là góc nhìn của người miền Tây, người trong cuộc. “Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …” Chữ thương càng đằm thắm hơn khi bạn đã trãi nghiệm giấc mơ hạnh phúc, đã hiểu được sức nặng của yêu thương, nhớ nhung và đầy đặn nghĩa tình … để thấm thía được ý nghĩa sâu xa của đời người: năm tháng sẽ đi qua chỉ tình yêu ở lại …. Tôi viết  trên trang Học mỗi ngày “Đọc và cảm nhận “Về miền Tây …thương”. Sức khỏe của trang blogspot nay không được tốt nên tôi chép về đây để bạn cùng đọc.

Bạn đã ăn lẩu hoa điên điển nấu với cá linh chưa? Một trong muôn vàn "Món lạ miền Nam" [5] đấy. “Hoa điên điển và em” là thơ của cô giáo Cao Nguyên ở Đồng Tháp. Hoa điên điển và em Cao Nguyên [3] là bài ký ngắn của tôi với lời cảm nhận thơ cô Út: “Điên điển tàn lại nở. Chuyện lở bồi do sông. Anh có về nơi ấy. Hoa vẫn vàng mênh mông …Nếu mỗi nhà thơ chỉ được chọn bốn câu thôi thì bốn câu thơ này của Cao Nguyên sẽ có thể sánh cùng những bài thơ hay chọn lọc đấy. Giản dị, sâu sắc, ám ảnh". Bạn đến Đồng Tháp, thăm vùng lúa trời Đồng Tháp Mười [4], thăm Tràm Chim, Xẻo Quýt hình ảnh của Đồng Tháp Mười thu nhỏ, ăn lẩu cá linh và hoa điên điển nếu đúng mùa. Bạn tham quan và viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Bác Hồ. Bạn về Vĩnh Thạnh, Lấp Vò viếng mộ người hiền Nguyễn Hiến Lê học và viết.

Về miền Tây, thầy bạn tôi ở dưới đó. Mỗi tỉnh huyện Nam Bộ, mỗi nơi đi qua, mỗi chỗ dừng chân, hầu như nhiều nơi tôi đều có bạn. Họ là sinh viên, người quen, bạn học, bạn nhà nông, biết bao tên đất tên người thân thương vẫy gọi…Câu chuyện nhà nông nhọc nhắn nhưng vui, gắn bó với nhiều người dân lam lũ chất phát nhưng trọng tình nghĩa. Tôi tính chép câu chuyện "Con đường lúa gạo Việt Nam" khởi đầu bằng bài Lương Định Của con đường lúa gạo ở Sóc Trăng, nhưng tôi sẽ dần dà kể . Còn bây giờ mời bạn đọc một số bài bạn tôi viết về miền Tây mà tôi đã lưu lại dưới đây.

Hoàng Kim

 

Mời bạn đọc tiếp…

VỀ MIỀN TÂY

Nguyễn Quỳnh Trâm

Hậu Giang xuôi chảy một dòng...

Hậu Giang ơi nước xuôi xuôi một dòng
Dẫu qua đây một lần, nói sao cho vừa lòng, nói sao cho vừa thương…

Dòng Hậu Giang lững lờ êm trôi trong câu hát, giờ đây đã ở ngay trước mắt chúng tôi, hiền hòa thơ mộng.

Sáng sớm, chúng tôi tới bến Ninh Kiều, chuẩn bị cho chuyến đi thăm chợ nổi Cái Răng trên sông Hậu. Bến Ninh Kiều ở vị trí giao thoa hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ, gần trung tâm thành phố Cần Thơ. Đứng trên bến nhìn ra xa, có thể cảm nhận được hết cái mênh mông của sông nước mây trời. Phía đông, cả một vùng không gian huyền ảo trong ánh ban mai rạng rỡ. Có lẽ bình minh trên sông Hậu mới thật là một bình minh đẹp nhất chăng? Khi mà chính mình được đứng nơi đây và đắm chìm trong ánh mặt trời!

Chúng tôi du ngoạn trên sông Hậu, giữa sóng và gió mát, thật thanh bình! Hai bên bờ sông là những ngôi nhà nổi lụp xụp, những xà lan chở cát, cả những cửa hàng bán vật liệu xây dựng, từ gỗ, đá đến sắt thép xi măng… đủ cả. Trên dòng nước, thỉnh thoảng lại có những đám bèo lục bình bập bềnh trôi tới. Có đoạn, cả vạt bèo xanh um dập dờn… Chợt nghĩ đến thời chống Mỹ, những vạt bèo như thế này đã che chở cho bao nhiêu chiến sĩ biệt động vượt sông… Bao người đã sống nhờ những cánh bèo này, và bao linh hồn nương lại cánh lục bình nơi sông nước…

Sau khoảng nửa tiếng trên thuyền, vượt qua 4 km đường sông, chúng tôi đã đến chợ nổi Cái Răng nằm ở ngã ba sông. Theo truyền thuyết, tên gọi Cái Răng xuất phát từ câu chuyện hồi đầu thời khẩn hoang có con cá sấu rất lớn mê nghe hát bội. Năm đó, trong làng có đám cưới của một chàng trai trẻ và cô thôn nữ xinh đẹp. Đám rước dâu đang tưng bừng qua sông thì con cá sấu bất ngờ nổi lên quật chìm mấy chiếc xuồng, mọi người cố gắng chống chọi, chèo thuyền vào bờ, nhưng cô dâu thì mất tích. Chàng trai đau đớn, quyết tâm tiêu diệt cá sấu trả mối hận mất vợ yêu. Anh gom góp vốn liếng đi mời 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức. Đêm đó, trong khi ba gánh hát dựng rạp phía trong vàm rạch nối tiếp nhau biểu diễn, cá sấu bơi vào xem, thì các trai làng làm con đập lớn đầu vàm để bẫy cá sấu. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa hửng sáng, con đập cũng vừa hoàn thành. Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát, nhưng khi ra đến đầu vàm, con đập đã chặn nó lại. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu. Từng phần cơ thể con cá sấu trôi đi khắp nơi, chỗ cái đầu dạt vào thì gọi là Đầu Sấu, phần da dạt vào thì gọi là Cái Da, phần răng rơi vãi thì gọi là Cái Răng…

Trong cuốn “Tự vị tiếng nói miền Nam” của Vương Hồng Sển lại cho biết: Cái Răng có nguồn gốc từ chữ Khmer “karan” nghĩa là “cà ràng” (ông táo). Người Khmer ở Xà Tón (Tri Tôn, An Giang) chuyên làm nồi đất và “karan” chất đầy mui ghe lớn rồi thả theo sông cái đến đậu ghe nơi chỗ chợ Cái Răng ngày nay để bán, năm này qua năm nọ. Lâu dần, mọi người phát âm karan thành “Cái Răng”, rồi trở nên địa danh của nơi này luôn.

Nguồn gốc tên gọi địa danh của mọi vùng miền nước mình bao giờ cũng thật lý thú. Nó thể hiện đời sống văn hóa, tình cảm đậm đà của tâm hồn người Việt, và càng thấm cái nghĩa cái tình của xứ sở sông nước miền Tây.

Lúc này, chợ nổi Cái Răng đang trong lúc đông vui nhộn nhịp nhất. Chợ nổi là một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của người miền Tây, mọi hình thức mua bán đều diễn ra trên ghe, xuồng. Đến đây sẽ được tha hồ thưởng thức các loại trái cây, đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chợ hoạt động tấp nập từ tờ mờ sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau để mua bán… Mọi ghe, xuồng bán sản vật gì, thì người ta đều treo sản vật đó lên 1 cây sào, gọi là “cây bẹo”, hoặc treo ở đầu mũi thuyền để khách dễ thấy. Cả khu chợ như phình to ra lấn gần hết lòng sông. Mọi âm thanh cùng vang lên vô cùng sôi động: tiếng máy nổ, tiếng chèo khua nước, tiếng sóng vỗ oàm oạp vào mạn thuyền, tiếng nói cười của người mua kẻ bán… Sầm uất không thua bất cứ một chợ nào trên cạn. Điều thích thú nhất là các xuồng nhỏ gọn, len lỏi rất thiện nghệ áp mạn ghe bán hàng rồi thu tiền, và con người thì cũng rất nhường nhịn nhau. Chỉ nhìn những xuồng chở bao nhiêu là mãng cầu, măng cụt, dừa xiêm… thôi, đã thấy chao ôi là ngon! Chúng tôi cũng chọn vài trái dừa xiêm và thưởng thức nước dừa mát lành, tinh khiết như sương mai! Thật tuyệt!

Thuyền quay về bến, xa dần những chiếc ghe xuồng ngang dọc ở chợ nổi. Nắng đã lên, rực rỡ chan hòa khắp cả dòng sông. Hít thật sâu làn gió mát rượi, ngắm dòng phù sa châu thổ rẽ mũi thuyền, lắng nghe tiếng sóng vỗ, thấy nao nao trong câu hát diệu vợi sông nước mênh mang: “Nón lá đổ nghiêng tóc dài con nước đổ. Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời…”

Đêm nghe đờn ca tài tử trên Hậu Giang

Màn đêm buông xuống, chúng tôi trở lại dòng Hậu Giang để thưởng ngoạn đêm nhạc đờn ca tài tử trên sông.

Nghĩ về những cái tên Ninh Kiều, Cần Thơ, thấy nó yêu kiều như vẻ đẹp mặn mà của người con gái Tây Đô. Bến sông Ninh Kiều khi xưa vẫn thường dập dìu bước chân du khách, những đêm trăng vang ngân tiếng đàn hát, ngâm thơ của khách cầm ca. Vì thế mà chúa Nguyễn Ánh vào đây đã đặt tên con sông là Cầm Thi – con sông của thi ca đàn hát. Lâu ngày, chữ “Cầm Thi” được gọi trại đi thành Cần Thơ. Còn Ninh Kiều vốn là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), đây là nơi đã diễn ra trận Chúc Động lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn năm 1426. Cái tên Ninh Kiều là để người Cần Thơ ghi nhớ sự kiện lịch sử đầy tự hào ấy.

Bến Ninh Kiều trong đêm mang một vẻ đẹp vừa bí ẩn, vừa gần gũi. Dòng nước lung linh dưới ánh điện lấp lánh đủ màu và bóng trăng, bóng sao vời vợi. Gió đêm hè mát rượi, mơn man mái tóc dịu dàng. Bên kia sông, xóm chài lung linh ánh điện, bình thản soi mình đáy nước.

Bước chân nhẹ xuống du thuyền, đã thấy mấy ca nương trong trang phục áo bà ba và các nhạc công ôm đàn ngồi đó. Ca nương áo bà ba đỏ mỉm cười chào mọi người bằng giọng Nam Bộ nghe ngọt lịm. Thuyền bắt đầu rời bến, và tiếng hát cất lên:

Ai mua sầu riêng, có ai mua sầu riêng
Hãy dừng chân ghé quán em
Em đây bán trái sầu riêng
Nhưng em không bán tình duyên.

Bài hát “Cô gái bán sầu riêng” ngân vang da diết. Tiếng đàn kìm, tiếng sáo, nhị réo rắt, nhịp phách nức nở hòa với giọng ca trong vắt, vang vọng cả dòng sông.

Dù cho má thắm môi hồng
Sầu riêng chan chứa trong lòng
Thì xin đừng nói tiếng yêu thương
Khách đa tình xin chớ vấn vương…

Bảo không vấn vương làm sao được khi giọng ca ngọt đến vậy, ánh mắt lúng liếng và chiếc áo bà ba thon thả cứ gây mối sầu riêng u hoài mãi không thôi?

Hết bài ca về “sầu riêng”, ca nương hát một đoạn trong vở “Đời cô Lựu”. Chỉ một đoạn thôi, nhưng đủ tái hiện những nỗi buồn đau tuyệt vọng trong cuộc đời người phụ nữ xưa khiến người nghe mãi ngậm ngùi… Rồi đến các bài vọng cổ khác trong các vở “Nửa đời hương phấn”, “Lan và Điệp”, “Bên cầu dệt lụa”… đều được các ca nương hát với tâm tình tha thiết của những tâm hồn sống chan hòa với thiên nhiên và quê hương, thấu hiểu nỗi buồn đau của bao kiếp người. Nghe cải lương, vọng cổ đã nhiều, nhưng khi thưởng thức trên sông, bỗng thấy rất đặc biệt. Đúng là phải hát trên sông như thế này, cho sóng nước rung lên với sóng lòng, cho gió đưa câu hát ngân xa, cho ánh trăng xao xuyến mây trời…, mới thấy hết độ sâu thẳm của mỗi lời ca, câu đổ. Giữa phong cảnh hữu tình, con người trở nên tinh tế hơn, mà dường như cũng mong manh hơn khi lắng lòng trong những câu ca…

Và một điều thú vị của chương trình đờn ca tài tử trên sông là các ca nương và khán giả có thể cùng hát giao lưu đối đáp. Nếu khán giả đang hát mà quên lời thì ca nương “nhắc vở” cho, đảm bảo hát được hết bài không vấp, với điều kiện là khán giả đó cũng biết đôi chút về điệu ca. Những bài hát như “Hoa tím bằng lăng”, “Cô gái tưới đậu”, “Hoa mua trắng” đã được hát lên như thế, khi vài người trong đoàn chúng tôi lên hát, và những bài ca trở nên rất ngọt ngào: “Gió lên lay động hoa bằng lăng thướt tha. Hoa diễm kiều, hoa mặn mà. Màu hoa tươi thắm lắm hoa ơi! Cũng như câu chuyện tình ta ngát hương”(Bài “Hoa tím bằng lăng”), “Nghe gió đồng bềnh bồng thênh thênh . Yên đất giồng là mầm đậu lên. Sáng nay nắng ấm trời êm. Đồng xanh xanh sắc lá, mắt em hay sắc trời. Tang tình tang tính tình tang…” (bài “Cô gái tưới đậu”)… Cứ thế, ánh mắt giao duyên, khách hát tuy chưa ngọt, câu vọng cổ đổ chưa nhuyễn, nhưng cái tình mộc mạc chất phác mà duyên ngầm của đất miền Tây như đã thấm đượm vào hồn người xứ Bắc.

Thuyền đang quay về. Đã nửa đêm. Trước khi chia tay, theo yêu cầu của đoàn, ca nương ngân lên bài “Dạ cổ hoài lang” – một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác, nói về tâm sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm.

Từ là từ phu tướng, báu kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng, năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng, ôi gan vàng quặn đau…

Bài hát ngân lên từng cung bậc của cảm xúc. Nỗi buồn ly tán trong lời ca, trong giai điệu quyện vào tâm tình người hát, khơi lên trong lòng người nghe nỗi cảm thông, đau xót về số phận con người. Trời sâu thẳm, sông thăm thẳm, sóng cũng dạt dào theo mấy điệu xàng xê… Mặt nước mênh mang, thỉnh thoảng, những đám lục bình trôi tới, bập bềnh khe khẽ như cùng lắng nghe tiếng ca thổn thức. Đã tới gần bờ, đám dừa nước lao xao khua động, tiếng sóng oàm oạp vỗ bờ. Chia tay các ca nương rồi mà câu hát còn ngân mãi vơi đầy theo sóng nước Hậu Giang…

Chợt nhớ đến lời ca của một bài vọng cổ:

Vẳng nghe hò xự cống xê
Giật mình thổn thức tìm về nhớ mong
Đêm nghe vọng cổ trên sông
Lòng tôi như hạt nước hồng phù sa.
(Đêm nghe vọng cổ trên sông)

Phù sa bao đời cần mẫn đắp bồi cho “Cần Thơ gạo trắng nước trong”, và những câu ca vọng cổ đã làm hồng lên trái tim của chúng tôi, những du khách xứ Bắc lần đầu đến với Hậu Giang…

Miệt vườn hoa trái

Nằm giữa chợ nổi Cái Răng và Phong Điền, miệt vườn Mỹ Khánh rộng trên 4 héc ta, với hơn 20 loại cây trái và động vật. Vừa bước qua cổng, cả không gian xanh tươi mát rượi mở ra trước mắt. Miệt vườn Mỹ Khánh quả thực rất nên thơ, thanh bình và đầy đặn như những hoa thơm trái ngọt ở đây!

Cô gái hướng dẫn viên nhiệt tình, chu đáo và duyên duyên là! Dáng người thon thả trong chiếc áo bà ba màu tím, cô đi lại nhanh nhẹn, uyển chuyển, giới thiệu về miệt vườn bằng giọng nói vô cùng dễ thương, mỗi khi tiếng “dạ” của cô ấy cất lên kèm theo nụ cười hàm tiếu là mấy thầy giáo trong đoàn lại ngẩn ngơ mất… vài giây!

Theo cô hướng dẫn viên xinh đẹp, chúng tôi thăm một ngôi nhà ẩn sau hàng trầu xanh mướt. Đó là ngôi nhà cổ Nam Bộ có niên đại hơn 100 năm, vốn là nhà của điền chủ ở Bình Thủy (nay thuộc quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ) đã được trùng tu, bảo dưỡng – một không gian vừa cổ về kiến trúc, vừa cổ về nếp nhà. Trên tường cao treo những tấm hoành phi, câu đối ngụ ý tứ sâu xa về lẽ sống. Xà nhà bằng gỗ có chạm khắc hình loan phụng sắc nét, công phu. Từ nếp cửa, mái lợp nhà, các cột, kèo với những nét chạm khắc tinh xảo trên gỗ, đến tủ thờ, bộ trường kỷ cẩn đá cẩm thạch, bộ tứ bình, các bức bình phong cẩn xà cừ…, tất cả đều thể hiện một gu thẩm mĩ tinh tế của chủ nhân. Mọi đồ đạc trong nhà đều bằng gỗ lim tuổi 100 năm. Ngôi nhà rộng, vật dụng sang trọng thể hiện một lối sống điền chủ giàu có và nề nếp thời xưa. Đứng giữa ngôi nhà mang gam trầm như thế này, càng hiểu hơn về nền văn hóa độc đáo từ xa xưa của người Việt, và nhà cổ chính là những chứng nhân thăng trầm của lịch sử.

Phía sau ngôi nhà cổ là làng nghề truyền thống làm bánh tráng và nấu rượu. Nếu có nhiều thời gian hơn, chúng tôi có thể tự tráng bánh rồi nhâm nhi chút rượu với bánh tráng gói cá tai tượng chiên giòn. Nhưng còn rất nhiều điều thú vị cần khám phá, cô hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến với những trò chơi dân gian ở đây: câu cá sấu và đua heo. Đây là những trò chơi thu hút rất nhiều khách tham gia. Hồ cá sấu thì không biết cơ man nào là cá sấu! Những con cá sấu gớm ghiếc bơi lừ lừ trên mặt nước đục ngầu, lộ ra phần đầu và lưng xù xì. Mồi câu vừa thả xuống là lập tức hàng mấy chục cái đầu sấu vươn cao lên, những cái miệng đầy răng sắc nhọn há ra khủng khiếp. Không hào hứng lắm với lũ cá sát thủ này, tôi ngó qua chỗ trò chơi đua heo. Trò chơi này sẽ cho những ai thích cá cược cảm giác thú vị (nếu đặt cược cho 1 chú heo nào đó) và cho những ai thích hò hét những trận cười thỏa thích! Heo về trước hay về sau, con nào cũng mum múp béo, dù 1 ngày có thể đua tới 6 trận, thắng bại có là gì khi phía đích bao giờ cũng có nồi cám thơm ngon chờ các chú ỉn! Hồn nhiên đến thế là cùng!

Nhưng điều thích nhất đối với tôi là những vườn cây xanh mát, hàng dừa thẳng tắp hun hút con đường, con kênh xanh nước chảy êm đềm, những cây cầu duyên dáng bắc nhịp tình quê. Len lỏi giữa cây trái và hoa thơm để được hòa mình vào thiên nhiên, thật vô cùng thú vị! Nào là chôm chôm, xoài, vú sữa, mít, sầu riêng… bao hương vị miền Nam đều đủ cả. Sầu riêng trĩu quả đu đưa, chôm chôm đỏ rực cả một vùng, những trái xoài vàng thắm thơm nồng nàn, mận chín đỏ mọng khiến người ta ứa nước miếng! Đang mùa mít chín, hương mít thơm phưng phức, xôn xao mời gọi. Cây mít to, thân tròn, vỏ nhẵn nâu nhạt, loang lổ màu xám mốc. Tán cây không rộng, càng lên cao càng thu nhỏ lại. Từ gốc đến thân, những quả mít to chen chúc, mập mạp y như những chú heo con nghịch ngợm bám mẹ không rời. Mít nghệ ngon lắm! Từng múi mít có màu vàng đậm như nghệ, cắn một miếng, nhai từ từ và cảm nhận cái giòn sần sật, vị ngọt thơm ngon không thể tả! Đi trong miền cây trái, thưởng thức hoa thơm quả ngọt là điều chỉ nơi này mới có. Hai bên lối đi, những khóm hoa tím, hoa vàng ríu ríu múa ca cùng muôn ngàn cánh bướm sặc sỡ đủ màu. Dãy nhà lá bên đường với mái rạ óng lên trong nắng, khiêm nhường dưới bóng tre bóng trúc và những rặng dừa. Vài phút ngả lưng trên chiếc võng mắc dưới gốc cây để thư thái tận hưởng bầu không khí ngào ngạt thơm và xanh mươn mướt! Vừa nhấm nháp vị ngọt ngon của cây trái, vừa ngắm những ngôi nhà gỗ làm theo kiểu nhà rông xinh xắn nằm rải rác dưới vòm cây, còn thú vị nào bằng!

Nắng óng ánh xuyên qua vòm lá, thả những sợi vàng xuống thảm cỏ xanh. Trái chôm chôm chín đỏ rung rinh như những đốm lửa lung linh ẩn hiện. Ai đó đang thưởng thức sầu riêng, hương thơm đặc trưng của nó cứ thao thiết như không kìm nén được nỗi niềm sâu thẳm. Thỉnh thoảng, một câu ca vọng cổ từ ngôi nhà vườn gần đó vọng ra, như nhắc nhớ về nguồn cội. Những khúc ca trắc ẩn tình người, giai điệu ngọt ngào hòa quyện cùng tiếng ghi-ta phím lõm với điệu xàng xê và nhịp song lang da diết nhớ thương… Thấp thoáng bóng những chiếc áo bà bà đủ màu đi qua, như phớt nhẹ nét vẽ mảnh mai và mềm mại vào cái nền xanh mướt mát của miệt vườn cây trái. Có lẽ thời gian dừng bước ở bên ngoài cánh cổng kia, để chốn này chỉ còn là đất lành trái ngọt từ ngàn xưa mà ông bà tổ tiên đã để lại cho con cháu ngày nay.

Đứng giữa vườn xanh đậm đà hồn quê kiểng, tưởng như mình đang được trở về ngày xưa, cái thời thiếu thốn tiện nghi nhưng tình người thì luôn dư dả! Bước đi trên lối nhỏ, nghe chim hót trên cao và tiếng gió lao xao vòm lá… Chợt nghĩ, giá cuộc đời này cũng hồn nhiên như cây cỏ…

Mũi Cà Mau mầm đất tươi non (*)

Thế là tôi đã đến điểm cuối cùng trên dải đất hình chữ S thân yêu! Chính là nơi đây, mầm đất tươi non của Tổ quốc – Mũi Cà Mau!

Từ thị trấn Năm Căn, đoàn chúng tôi lên tàu cao tốc vượt sông Cửa Lớn để ra đất Mũi. Sông Cửa Lớn còn gọi là Đại Môn Giang, nối biển Đông với biển Tây, đầu bên biển Đông là cửa Bồ Đề, đầu bên biển Tây cửa Mũi Ông Trang, gần mũi Cà Mau. Đoạn từ ngã ba sông Đầm Dơi và sông Cửa Lớn đến cửa Bồ Đề còn được gọi là sông Bồ Đề. Dù nối hai biển Đông và Tây nhưng Cửa Lớn là con sông nước lợ vì có ba con sông nhỏ (sông Đầm Dơi, sông Đầm Cùng và sông Cái Ngang) đổ nước ngọt vào. Đây là dòng sông mang nhiều cái “nhất” trong hệ thống sông lưu vực đồng bằng sông Cửu Long: nhiều chi lưu nhất, dòng chảy mạnh nhất, nguy hiểm nhất… Điểm đặc biệt là dòng sông có dòng chảy từ biển ra… biển. Nói cách khác, đây là con sông không có thượng nguồn và hạ nguồn, đó là nét độc đáo so với những dòng sông nổi tiếng khác. Con sông được nhà thám hiểm Jacques-Yves Cousteau, thuyền trưởng tàu Calypso, đánh giá là 1 trong 100 dòng sông lớn nhất thế giới!

Tôi chọn cho mình chỗ ngồi ngay cạnh cửa sổ để có thể tha hồ ngắm con sông hùng vĩ này. Dòng sông cuồn cuộn chảy xiết, nước trong xanh. Điểm khác biệt với tất cả sông nước miền Tây là sông Cửa Lớn không hề có lục bình. Những con sóng nơi cửa sông gần biển quả thực bạo liệt y như sóng ngoài khơi, có lúc sóng ào đến, bắn tung lên, nếu không nhanh tay kéo cửa sổ kính lại thì sẽ ướt hết! Sóng từ biển xô vào, sóng từ lạch chảy ra, tàu vun vút lướt sóng, tất cả tạo nên một cuộc rượt đuổi thật ngoạn mục! Bỗng, mây đen vần vũ kéo đến. Trời đổ mưa! Mưa ràn rạt trên sông, gió ào ạt thổi. Nước xiên chéo rào rào trên sông y như cuộc khiêu vũ tưng bừng của cặp đôi Mưa và Sóng! Cảm giác say mê, mãnh liệt, phóng khoáng vô cùng!

Một lát, mưa ngớt, tôi lại kéo hết cửa kính ra, phóng tầm mắt chiêm ngưỡng mọi cảnh vật xung quanh. Các luồng lạch và rạch nước chằng chịt nên thỉnh thoảng tàu bẻ lái, rẽ vào lạch nước mới. Chẳng có bất kỳ biển báo chỉ dẫn nào mà người lái tàu linh hoạt điều khiển con tàu vun vút trên sông, khéo léo tránh những con tàu hay chiếc xuồng máy ngược dòng. Tàu nghiêng mình lượn sóng, làm nở tung những bông hoa nước trắng xóa với ngàn cánh nhỏ. Và nhìn ra, chao ôi là xanh, cái màu xanh trùng điệp và dày đặc của rừng đước! Thật đúng như nhà văn Đoàn Giỏi đã viết: “Trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”. Vậy là đã vào tới Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển!

Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là “Tuk Khmau”, nghĩa là “nước đen”. Đó là do vùng U Minh nước ngập quanh năm, tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn, … nên nước có mùi hôi và vị phèn chua, mặn, màu vàng đậm, thậm chí đen đặc lại. Rừng đước và rừng tràm nối tiếp vây quanh mũi Cà Mau từ Đông sang Tây, làm cho rừng Cà Mau trở thành khu rừng đứng thứ nhì thế giới về tầm quan trọng và diện tích, sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazon của châu Mỹ La Tinh. Chúng tôi say mê ngắm nhìn những dòng sông, con rạch chằng chịt đang chảy hối hả, những ngôi nhà sàn ven bờ, nhà nổi trên sông, những bãi bùn nối tiếp nhau và cây đước thẳng đứng vút cao. Người địa phương có câu: “Mắm đi trước, đước theo sau, tràm theo sát”. Cây mắm có rễ tua tủa đâm thẳng lên trời, làm cho mặt đất quanh nó y như bãi chông. Tiếp sau là cây đước, linh hồn của rừng Cà Mau. Rễ đước như hình mũi tên cắm sâu xuống bùn mọc lên thành cây, vây thành rừng. Hai loại rễ này đan cài vào nhau, giúp cho đất bãi bồi không bị sạt lở mà rắn dần, để mỗi năm, mũi Cà Mau lấn ra biển hàng trăm thước. Ðó chính là khả năng kì diệu và độc đáo mà chỉ Cà Mau mới có: “Ðất nở ra, rừng biết đi và biển sinh sôi”.

Tàu dừng hẳn, khi không còn tiếng động cơ nữa, tôi thực sự nghe được tiếng của rừng. Đúng là “tiếng rì rào bất tận của những khu rừng đước bạt ngàn, cùng tiếng sóng ì ầm từ biển Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối…” (Đoàn Giỏi). Âm thanh ấy đã ngay lập tức vang vọng vào hồn, thấm đượm một cách tự nhiên và vô cùng thân thuộc. Có lẽ vì cảm giác được đứng giữa nơi này, chìm trong sắc xanh cây lá và lắng nghe tiếng thì thầm của Tổ quốc gọi tên mình…

Chúng tôi hăm hở trèo lên đài quan sát cao 21 m với 54 bậc tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Bậc thang lượn vòng dọc theo thân trụ tạo nên biểu tượng cây đước vươn cao. Đứng trên đài quan sát, trước mặt là biển khơi dậy sóng, sau lưng là rừng đước bạt ngàn, cảm giác thật hạnh phúc khi được tận hưởng và sở hữu thiên nhiên bao la của đất nước! Đây là nơi duy nhất trên cả nước có thể nhìn thấy mặt trời mọc trên biển Đông và lặn ở phía biển Tây, cả Hòn Chuối và Hòn Khoai cách đất liền hàng chục km cũng nằm trong tầm mắt. Gió thổi lồng lộng. Mênh mang sơn hà là đây!

Cột mốc tọa độ quốc gia GPS 0001 (cây số 0) là điểm tận cùng cực Nam của Việt Nam (trên đất liền), điểm mốc có ý nghĩa thiêng liêng. Được xây dựng vào tháng 1 năm 1995, có hình dạng ngôi sao sáu cánh, cột mốc ở chính tâm ngôi sao, ốp đá màu nâu và dòng chữ vàng rực nổi bật: MỐC TỌA ĐỘ QUỐC GIA. Chạm tay vào dòng chữ và cảm nhận sự thiêng liêng lãnh thổ, thấy xúc động dâng trào!

Và biểu tượng cho mũi Cà Mau chính là tượng đài hình con thuyền đang lướt sóng ra khơi, ở tọa độ 8º37’30” vĩ độ Bắc, 104º43” kinh độ Đông. Cánh buồm trắng no gió, lá cờ phấp phới bay trên đỉnh cột buồm, in lên nền trời xanh sắc đỏ thắm kiêu hãnh và tự hào! Câu thơ của Xuân Diệu vụt đến trong tôi như một tia chớp: “Tổ quốc tôi như một con tàu – Mũi thuyền ta đó: Mũi Cà Mau”. Nhìn mọi người hào hứng, say mê chọn cho mình những góc đẹp để chụp ảnh với biểu tượng con thuyền, mới thấy niềm vui này đâu chỉ là việc được đặt chân đến điểm cực Nam của Tổ quốc, mà chính là tình yêu đất nước từ sâu thẳm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, và khi có dịp, nó nảy nở đẹp đẽ, hồn nhiên như đóa hoa buổi sớm.

Đứng trên con thuyền lướt sóng, đón gió đại dương bát ngát thổi về, nghĩ về chiều dài lịch sử cha ông ta đi mở nước gian nan biết chừng nào, mà cũng tự hào biết bao nhiêu! Đất nước tôi, đất nước vất vả ngay từ dáng hình như chiếc đòn gánh nặng hai miền Nam Bắc, nhưng chưa khi nào lùi bước. “Ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” ấy (**), vẫn lặng thầm bám chặt nước non, để Tổ quốc mình bước từng bước vững vàng vươn mình ra biển lớn! (xem hình ảnh:  Về miền Tây, ký sự ảnh Quỳnh Trâm)

——–
(*): Câu thơ của Xuân Diệu.
(**): Câu của Nguyễn Tuân

Nguyễn Quỳnh Trâm, 23/6/2015
(Nguồn: Những khoảng lặng cuộc sống phấn một, phần hai, phần ba )


VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

Nguyễn Thị Hậu

Quê tôi ở miền Tây. Còn tôi sống ở Sài Gòn.

Quê ngoại tôi chỉ cách quê nội một nhánh Tiền Giang nối liền nhau bằng bến đò Mỹ Hiệp, xưa ghe chèo nay là chiếc phà có thể chở xe tải nhẹ hay xe hơi 16 chỗ. Mỗi ngày hàng chục lượt phà qua lại nối liền Cù Lao Giêng với thành phố Cao Lãnh, dân cù lao buôn bán quanh năm hay chợ búa hàng ngày từ lâu đã quen thuộc với thị tứ bên này. Nhiều gia đình kết sui gia với nhau, ngày rước dâu chiếc phà rực rỡ sắc màu chạy trên sông, lẫn trong tiếng máy nổ đều đều là tiếng nhạc rộn rã và tiếng con nít chỉ trỏ í ới…

Những đám rước dâu, đưa dâu trên sông gợi nhớ bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu” của nhạc sĩ Trần Tiến. Người nhạc sĩ tài hoa của Hà Nội đã cảm nhận được sự bình dị và lời ăn tiếng nói của người miền Tây để chuyển thành những câu ca nghe chạm vào tận đáy lòng “bằng lòng đi em về với quê anh, một cù lao xanh một dòng sông xanh… Đóa hoa tím trôi líu riu, dòng sông nước chảy líu ríu… anh thấy em nhỏ xíu anh thương… Những đêm ngắm sông nhớ em buồn muốn khóc…”. Có một thời tôi đã thầm nghĩ, nếu có ai đó chỉ cần nói với mình một câu giản dị “anh thương em” thì mình sẽ bỏ tất cả mà theo. Lúc đó tôi còn chưa hiểu vì sao chữ “thương” của người miền Tây lại làm mình nao lòng đến thế. Sau này, mỗi lần về quê hay đi công tác miền Tây là đi qua vô số những cây cầu dọc theo quốc lộ, nhìn những con sông, dòng kinh, con rạch… xanh mướt hai bờ, ghe xuồng xuôi ngược, chợ búa ở đầu cầu tấp nập, trái cây rau cải tôm cá tươi chong… Bỗng thấy thương quê mình gì đâu! Mới hiểu, chữ thương của miền Tây ngọt ngào, nặng tình nặng nghĩa biết bao, bởi vì thương không chỉ là thương yêu cha mẹ anh em, mà còn là thương nhớ người dưng, thương xót thân phận ghe xuồng trên sông, thương những gì gắn bó cả đời như thương chính mình.… Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …

Về miền Tây thương đất hè nắng nứt, thương đất vàng phèn mặn, thương những dòng sông mùa nước nổi mang phù sa về tưới tắm cho những cánh đồng lúa mới, mang cá tôm về làm mắm làm khô nuôi sống dân miền Tây trong những tháng mùa khô sau đó; thương những mái nhà lá lô nhô trong nước, thương đồng lúa chín gặt vội chạy cho kịp mùa nước nổi, thương bầy trâu lặn lội mùa “len”, thương đàn vịt đồng ốm nhom mùa nắng tới…

Về miền Tây thương con nước ngày hai lần nước lớn cho ghe xuồng đi xuống miệt ruộng vùng sông Hậu, nước ròng cho ghe xuồng đi lên miệt vườn trên những cù lao sông Tiền. Mùa nước nổi có xuồng “năm quăng” giúp bà con sinh sống. Thương chiếc xuồng len lỏi theo những rạch, tắt, cựa gà… khuất vào đám dừa nước rậm rạp rồi chợt hiện ra nhỏ nhoi đơn côi trong tiếng “bìm bịp kêu nước lớn anh ơi…”. Thương những chiếc ghe thương hồ từ nhiều đời miệt mài xuôi ngược “buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”…

Về miền Tây thương những xóm làng nghèo khó mà ấm áp tình người. Trưa vắng vẳng tiếng gà gáy lao xao trong vườn, ngọn khói bếp vẩn vơ trên tán xoài, cầu dừa chông chênh cô thiếu nữ thoát thoắt bước qua. Chiều xuống những bến nước ven con rạch ồn ào trẻ nhỏ, đờn bà giặt đồ trên chiếc cầu tre, đờn ông chạy ào xe máy trên đường mòn, bất chợt nghe tiếng ai kêu dừng lại gạt chân chống để đó ghé vô, có khi tới khuya mới quay ra, xiêu xiêu lên xe chạy tiếp về nhà…

Về miền Tây thương những con đường giữa bóng xoài bóng dừa mát rượi, thương hàng rào bông bụt nhà ai đỏ vàng rực rỡ, thương dàn bông giấy màu trắng tím đỏ ngời lên trong nắng hạn làm lóa ánh mắt người qua… Về miền Tây thương nhà sàn lô nhô trên kênh rạch, thương bếp cà ràng đỏ lửa trên ghe, thương lò trấu trong gian bếp gọn gàng như những người đờn bà miền Tây vén khéo.

Về miền Tây thương ngôi chợ nhỏ đầu làng, sương sớm còn mờ đã lao xao mua bán, đến nửa buổi thì nhà lồng chỉ còn vài hàng cây trái. Thương chợ ngã năm ngã bảy trên sông ghe xuồng san sát, những chiếc sào cột các loại trái cây rau cải lơ lửng trên cao, ghe tạp hóa xanh đỏ đồ dùng, ghe than ghe chiếu giờ đã ít người mua kẻ bán… Thương phố chợ nhỏ mà cột antena san sát như đàn chuồn chuồn báo hiệu trời mưa, nhà cao tầng ngói đỏ ngói xanh, tiệm uốn tóc, tiệm vàng, tiệm thời trang… chẳng khác gì thành phố.

Về miền Tây thương những chành gạo ven sông, xà lan ghe lớn ghe nhỏ vào mùa gặt tụ họp về đêm ngày trên bến, những băng chuyền thay sức người tải gạo lên kho xuống ghe không dứt. Thương những lò gạch tròn như tổ tò vò khổng lồ in bóng xuống dòng sông. Những con sông dòng kinh như những mạch máu nuôi sống miền Tây.

Về miền Tây thương rừng tràm rừng đước xanh bạt ngàn miệt U Minh nước đỏ. Đêm Năm Căn câu vọng cổ nghe buồn chí xứ “chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp… tôi gối đầu mỗi đêm…”. Thương những Bãi, Bàu, Bắc, Bến, Bưng, Cái, Cầu, Cồn, Cù lao, Cửa, Đầm, Đồng, Gành, Hòn, Hố, Láng, Lung, Mũi, Mương, Rạch, Tắc, Vàm, Vũng, Xẻo… nghe giản dị mà gợi hình gợi cảnh.

Về miền Tây thương đám lục bình bông tím mong manh trôi xuôi ngược trên sông. Lúc nước ròng thì tấp vô như tìm chút hơi ấm của bờ đất mẹ, khi nước lên lại bơ vơ dập dờn trên mặt nước. Bông lục bình đẹp như em gái miền Tây, chơn chất, hiền lành, biết lo toan cho gia đình cha mẹ, khi em phải lấy chồng xa xứ khác nào số phận lục bình trôi… Chỉ mong mỗi ngôi nhà và những người đờn ông miền Tây sẽ là những bè tầm vông chắn sóng chắn nước cho giề lục bình bông tím mong manh đừng trôi xa, bình yên ở lại bờ bến quê nhà.

Về miền Tây thương những gian bếp có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Sân nhỏ trước nhà lác đác lá khô của cây mận hồng đào. Thương từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành vào mùa Tết, thương mỗi đêm gió chướng nghe trái cây ngoài kia rơi lộp bộp, thương bầy trẻ con tranh nhau lượm những trái mận chín rụng, giòn và ngọt như đường phèn.

Về miền Tây thương những giọng hò ơ lai láng trên sông, thương câu vọng cổ thổn thức đêm đêm, thương bài đờn ca tài tử những ngày giỗ chạp, thương những “hẹn, hò”, “giỗ, quảy”… Về miền Tây thương người dưng buông câu “anh thương em” để trái tim lỗi nhịp, thương em gái nghẹn ngào “em thương ảnh, chị ơi…” nặng đến thắt lòng… Chỉ một tiếng “thương” thôi mà miền Tây đã níu giữ bao người ở lại, bao người đã đi rồi còn quay trở lại.

Về miền Tây thương những cửa sông rộng mênh mông, từng là con đường dẫn ông cha đi tìm đất khẩn hoang lập ấp. Thương vùng biển bồi bùn nâu nước lợ, mắm trước đước sau lấn biển, cả ngàn năm mũi Cà Mau dày thêm từng thước đất.

Về miền Tây thương những con người bao đời khó nhọc, nói “làm chơi ăn thiệt” vì không hay than thở, nói “làm đại đi” vì can đảm dám chịu trách nhiệm về việc mình làm. Thời thế nào cũng có những người “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”, “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”, dù sau đó có phải chịu nhiều oan khuất…

Về miền Tây…

Thương quá, miền Tây ơi!

Nguyễn Thị Hậu,
Sài Gòn, tháng 11. 2013
Nguồn: http://plo.vn/que-minh/ve-mien-tay-thuong-445626.html

alt

 

HOA ĐIÊN ĐIỂN VÀ EM CAO NGUYÊN

Hoàng Kim

Cô Út (Bùi Cao Nguyên) là em gái Nam Bộ nơi có lúa trời Đồng Tháp Mười. Đến thăm em dòm trộm em đang mãi miết chụp hình suốt lúa. Trời xanh thiệt….Hình chụp đẹp và thiệt nét … Em thì ham chụp ảnh hoài còn tui thì coi hoài và nghe nhạc hoài mà không chán. Tui ngó đi ngó lại hai cô Út , cô nào cũng xinh, cũng lành, và đều nhìn không rõ mặt. Thôi thì nhạt nhòa vậy cũng hay.

HOA ĐIÊN ĐIỂN VÀ EM

Bùi Thị Cao Nguyên

Có một mùa điên điển
Nở vàng trong nắng mai
Có em cười lúng liếng
Sông trôi chưa biết buồn

Nở lại tàn hoa ấy
Hái hay không cũng rồi
Thời gian là bao mấy
Giật mình, thoáng mây trôi

Qua bao mùa điên điển
Chỉ mình em ngóng trông
Hoa nở tàn nhanh lắm
Người ơi có biết không ?

Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng  mênh mông …


Photobucket

Lúa trời  Bùi Cao Nguyên  chụp trong khu bảo tồn ở Tràm Chim, Tam Nông

alt

Suốt lúa ở Cao Lãnh Đồng Tháp (ảnh Bùi Cao Nguyên)

alt

Em nhỏ theo người nhà đi suốt lúa ở đồng xa,  ảnh Bùi Cao Nguyên
Nhạc vui suốt lúa ngày mùa và  phóng sự ảnh, 
Bùi Cao Nguyên blog


alt

Suốt lúa ở Campuchia  (ảnh tư liệu Hoàng Kim)

Cô Út cũng như cô Tư  cánh đồng bất tận, như biết bao đứa em, đứa cháu , đứa học trò lam lũ theo cái nghiệp nhà nông “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẽo thơm một hột đắng cay muôn phần” … Vậy mà thiệt vô tư ! Cứ vô tư đi em, như thằng nhỏ hai lúa này và như bài hát này. Hay lắm. Tui xin em rinh bài này về trang CÂY LƯƠNG THỰC và trang NGỌC PHƯƠNG NAM . Tui cũng có tấm ảnh suốt lúa ở Campuchia nhưng không đẹp và không ngộ bằng ảnh của em.

“Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng mênh mông …”

Nếu mỗi nhà thơ chỉ được chọn bốn câu thôi thì bốn câu thơ này của Cao Nguyên sẽ có thể sánh cùng những bài thơ hay chọn lọc đấy. Giản dị, sâu sắc, ám ảnh.

Tui e ít người hiểu hoa điên điển cũng như ít người thấm và thương cái nhọc nhằn của người dân làm ra hạt gạo. Tui đọc cho cô Út nghe lời của một ông Thầy (Võ Tòng Xuân) và một ông Thầy khác (Nguyễn Văn  Luật) dẫn lại: “Tôi chưa thấy công ty TAGS nào của Việt Nam mình có một chương trình nghiên cứu. Các công ty nông nghiệp khác của ta cũng chả có nghiên cứu gì, giỏi đi copy kết quả trong sách vỡ, kể cả Tổng Công ty Lương thực cũng chưa bao giờ tài trợ cho chương trình nghiên cứu cây lúa. Trong khi đó thì Công ty CP tại trụ sở chính của họ ở Bangkok mà tôi có dịp đến thăm hồi năm 1986, có một tòa nhà 4 tầng làm trung tâm nghiên cứu khoa hoc của họ. Công Ty mướn chuyên gia nước ngoài đến nghiên cứu, trả lương cả chục ngàn đôla/tháng, mới có được kết quả để họ ứng dụng vào chế biến TAGS, lai tạo giống gà, giống tôm. Dĩ nhiên sản phẩm họ tung ra thị trường được người chăn nuôi ưa chuông là thế. vv…”  Nên xác nhận lại lần nữa – mà chính anh H Kim (Hoàng Kim Đồng Tháp) đã biết rất rõ – nông dân ta nghèo không phải vì không ai mua lúa, nhưng nghèo vì những người có quyền bán lúa đã và đang điều khiển thị trường. Trong khi cả thế giới đều được khuyến khích giúp đỡ châu Phi, thì Việt Nam chờ có ai bỏ tiền ra mới chịu đi làm công cho người ta để gọi là “giúp cho châu Phi”.

Nhưng mà thôi cô Út:

“Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng mênh mông …”

Hoàng Kim

 

alt

LÚA TRỜI Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI

Trần Trọng Trung

“Ai ơi, về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”…

Câu ca dao trên cho thấy thiên nhiên rất đỗi hào phóng ban phát cho vùng Đồng Tháp Mười nhiều sản vật và nguồn lợi tôm, cá khá dồi dào. Nơi đây, nguồn lợi thủy sản thì ai cũng biết, nhưng sản vật lúa trời thì chỉ có những người cao niên mới biết, còn thế hệ trẻ ngày nay thì rất ít người biết tới.

Lúa trời đã được xếp vào loại nông sản quý hiếm cao cấp, tương truyền được vua Gia Long đưa vào cung đình dùng trong những ngày đại lễ, cúng tế và làm đặc sản tiếp đãi thượng khách. Quần thể lúa trời hiện còn được lưu giữ và bảo tồn được 500 hecta tại Vườn quốc gia Tràm Chim tọa lạc trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì lúa trời còn gọi là “quỷ cốc”. Còn những cụ sống lâu năm ở vùng Đồng Tháp Mười cho biết lúa trời còn gọi là lúa ma, bởi lẽ loại lúa này không ai gieo sạ mà nó tự nhiên mọc trên cánh đồng mênh mông nước của vùng Đồng Tháp Mười xưa. Hàng năm, vào khoảng tháng tư dương lịch, lúc trời bắt đầu sa mưa, hột lúa bắt đầu nảy mầm và mọc cao lên chừng 5 tấc, thân lúa cứng, lá to bản. Từ tháng 8 đến tháng 12, cây lúa vươn dài, ngoi lên khỏi mặt nước, trổ đòng, đơm bông, vô hạt chắc rồi chín từ hạt vào lúc nửa đêm khuya khoắt và rơi rụng vào lúc mặt trời vừa ló dạng.

Bông lúa trời to, dài và thẳng hơn lúa thường, hạt lúa trên bông rất thưa. Với đặc tính trên, ngày xưa cư dân Đồng Tháp Mười thường đi gặt lúa trời vào lúc nửa đêm tới hừng sáng là đầy xuồng chở về nhà… Khi thu hoạch lúa trời, ít nhất phải có 3 người và thường được trang bị đầy đủ phương tiện và dụng cụ như: một chiếc xuồng ba lá có căng một tấm đệm ở giữa theo chiều dọc dài gần 2 m của chiếc xuồng, cao khoảng 1,5 m với hai cây đứng. Cây trước cao 2,5m và cây sau chỉ cao bằng tấm đệm, được gọi là cây cần câu. Hai cần đập bằng tre dài khoảng 2,5 m nằm hai bên và dọc theo chiều dài tấm đệm. Một đầu buộc chặt vô cây cần câu, khoảng giữa cần đập được cột dây treo trên đầu cần câu. Khi đập lúa, người đứng trước mũi chống xuồng đi vào đám lúa trời, người ngồi sau cầm hai cần đập, đập lúa vào tấm đệm cho rụng hột vào trong xuồng. Trên xuồng có ba người, một người bơi, hai người kia cắt lúa.

Mỗi bông lúa chỉ rụng một hoặc hai hạt trên xuồng, phải bỏ công vất vả, khổ nhọc lắm vì từ nửa đêm đến sáng mới thu gặt lúa trời được đầy xuồng. Các đầu bếp ở khu ẩm thực của địa danh du lịch sinh thái rừng tràm Gáo Giồng cho biết: “Sau khi đập lúa trời xong, đem về ngâm trong nước ba ngày rồi đem phơi cho rụng đuôi trước khi cho vào cối giã thành gạo giống như lúa thường, nhưng không giã gạo quá trắng. Gạo lúa trời dài hơn gạo thường và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Khi nấu, đổ gạo và nước vào nồi đất, úp một lá sen vào nồi trước khi đậy vung, chỉ đun bằng củi hoặc rơm để không làm giảm hương vị lúa trời. Cơm nấu bằng gạo lúa trời có màu hồng nhạt và ngọt, thơm, dẻo ngon…, hương vị đặc trưng của miền quê sông nước Tây Nam bộ. Một cách nấu khác là cơm gói lá sen hiện nay được nhiều nhà hàng, quán ăn đặc sản như ở khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giới thiệu với du khách đến tham quan nơi này.

Trong quá trình nấu cơm bằng gạo lúa trời, không ít người tranh thủ chắt nước cơm ra, bỏ vào đó chút đường phèn hay ít mật ong để có một thức uống thơm ngon thú vị. Lúa trời còn được sử dụng để chế biến bột dinh dưỡng chất lượng cao dành cho trẻ em, làm bột tinh lọc đổ bánh xèo và các loại bánh thơm ngon bổ dưỡng khác.

Lúa trời là loại giống lúa quý hiếm đang được bảo tồn lưu trữ nguồn gen tại Vườn quốc gia Tràm Chim để làm nguồn lai tạo ra giống lúa mới, vừa có năng suất cao vừa chịu phèn tốt, thích hợp với vùng U Minh, Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên…


MÓN LẠ MIỀN NAM

Vũ Bằng

“Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay ra mặt, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kì được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.

Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xạ và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp.

Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng.

Tôi yêu miếng ngon miền Nam nhiều là vì nó lạ – lạ đến nhiều khi không thể tưởng tượng được – và chính những cái lạ đó đã cho tôi thấy rõ hơn tính chất thực thà, bộc lộ và chất phác của người Nam….”

(Nguồn: Món lạ miền Nam, Vũ Bằng, sách)

 

Bảy Núi cổ tích giữa đời thường

  • PDF

alt
Bảy Núi (An Giang) nơi ẩn tàng những huyền thoại

Hoàng Kim

Tôi đã lâu chưa về thăm lại An Giang, hôm nay đọc mail chia sẻ thông tin của ông Bảy Nhị về bài của Thùy Dung đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn “Liên kết nông nghiệp 10 năm vẫn giậm chân tại chỗ”. Ông Bảy tâm tư: Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì? Cụ Đồ Chiểu có cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên rất hay: “Đồng rằng trong túi vắng hoe/ Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm” ! Con đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam thật vất vả, nhọc nhằn quá. Tôi đồng tình với ông Bảy và những muốn kể lại hai câu chuyện thời ông Bảy, nhưng thôi, xin bà con hãy nghe trước chuyện: Bảy Núi cổ tích giữa đời thường. Việc đâu còn đó, tôi sẽ tình tự kể.

Bảy Núi là bảy ngọn núi tiêu biểu trong số 37 ngọn núi ở hai huyện Tri Tôn Tịnh Biên tỉnh An Giang. Theo Nguyễn Văn Hầu 1955 trong sách “Thất Sơn mầu nhiệm” thì Bảy Núi gồm “Tượng, Tô, Cấm, Trà Sư, Két, Dài, Bà Đội Ôm” là vùng đất thiêng nơi lưu truyền câu ca cổ “Tu Phật Phú Yên, tu tiên Bảy Núi“.

Võ Đắc Danh có ba bài ký “Cổ tích trên đỉnh Mồ Côi”, “Người đàn bà mê núi” và "Trở lại đỉnh Mồ Côi" kể về Bảy Núi. Bạn hãy cùng tôi đọc lời cảm nhận của Nguyễn Quang Lập: “Cổ tích trên đỉnh mồ côi” kể về hai má con dì Ba và anh Bông đã nhận nuôi 12 đứa trẻ bị bỏ rơi từ các bệnh viện. Cái kí đọc một lần là nhớ đời. Mình là chúa hay quên tên, đến tên nhân vật tiểu thuyết của mình cũng phải nhờ thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên) nhắc giùm nhưng tên hai má con dì Ba và anh Bông khiến mình nhớ mãi. Thằng này viết thật khéo, nó cứ kể tưng tửng vậy thôi mà ứa nước mắt. Nhớ nhất câu nói của anh Bông, khi người ta hỏi sao không lấy vợ, anh nói: “Tụi nó đã khổ từ trong bào thai rồi, tôi không muốn tụi nó phải khổ vì mẹ ghẻ”. Cái câu này mình cũng nhớ như in, vì lời nói chân chất của anh Bông lại chính là một câu thoại rất đặc sắc, nó vừa đưa thông tin, vừa thể hiện tính cách nhân vật và chứa đựng cái “ý tại ngôn ngoại” về tấm lòng một người cha của những đứa trẻ mồ côi”.

Bạn đọc cũng hẵn nhớ Võ Đắc Danh là người viết “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” mà tôi đã từng kể trong “Nhớ Sơn Nam ông già Nam Bộ“. Cái anh nhà báo Võ Đắc Danh có lối viết thân phận thật đằm và sâu:

“Dường như với Sơn Nam, mọi thứ đều rất thực tế và rất đơn giản. Trong câu chuyện Âm dương cách trở của ông cách nay gần 20 năm, tôi vẫn bị ám ảnh một chi tiết: “Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu, ông nói: “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”. Ông già hớt tóc sau đó qua đời, được một người bạn thầy tu cho hỏa táng và mang hũ hài cốt về quê ở U Minh”.

Nay mời bạn hãy cùng tôi đọc ba cái ký sau đây của Võ Đắc Danh để biết thêm một câu chuyện về Bảy Núi cổ tích giữa đời thường.

alt

Tôi cũng một thuở đi về dưới chân núi này. Vùng Bảy Núi xưa kia là đất của Chân Lạp, Nặc Ông Tôn chúa của Chân Lạp được chúa Nguyễn giúp đỡ đã trở lại được ngôi vua. Để tạ ơn, Nặc Ông Tôn hiến đất Tầm Phong Long, trong đó có Bảy Núi, vào năm 1757. Nghe nói núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) thuở xưa rất hoang vu, có câu chuyện rắn thần đánh cọp và Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương đều bị Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ truy bắt và giết ở đất này, chỉ còn người cháu của Thái Thượng Vương là Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát được, sau này diệt nhà Tây Sơn và nối nghiệp nhà Nguyễn.

Bảy Núi là phên dậu chốn biên thùy đất phương Nam, vua Gia Long đã từng nói: “Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên không kém Bắc Thành.

alt

Năm 1997-2003, tôi làm đề tài ở vùng này và đã có kể chuyện Bảy Nhị kênh ông Kiệt và tôi với bạn đọc trong dịp trước. Thuở đó, ông Cao Đức Phát nay là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cũng có thời gian ngắn “luân chuyển cán bộ” về An Giang, anh Lê Minh Tùng sau này là Phó Chủ tịch tỉnh kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang và anh Ngô Vi Nghĩa, anh Bảy Dế vẫn thường lội ruộng cùng chúng tôi. Trong những câu chuyện miên man về văn hóa xã hội vùng Bảy Núi, tôi có loáng thoáng biết chuyện dì Ba trên đỉnh núi Cấm nhưng do mãi bận việc thực hiện các thí nghiệm dưới chân núi, như hình dưới đây, nên chưa để ý.

alt

Sau này nghe kể của anh Võ Đắc Danh tôi mới biết kỹ hơn về chuyện này. Cấm Sơn xưa và nay “ngọa hổ tàng long” vẫn ẩn tàng nhiều huyền thoại. Tôi có viết một chùm bài nay tình tự kể tại  Kênh ông Kiệt giữa lòng dân. Bảy Núi cổ tích giữa đời thường. Mời bạn cùng đọc lại và suy ngẫm.

Hoàng Kim

Ba câu chuyện chép lại

CỔ TÍCH TRÊN ĐỈNH MỒ CÔI

Võ Đắc Danh

Trên đỉnh Mồ Côi núi Cấm, An Giang, có hai mẹ con dì Võ Thị Ba, 70 tuổi và anh Nguyễn Tấn Bông, 42 tuổi, đang làm rẫy, nuôi 10 đứa trẻ mồ côi do mẹ vì lý do nào đó bỏ rơi tại bệnh viện Cần Thơ…

BayNui3
Nay anh Bông chỉ còn 10 đứa, một đứa bệnh nặng qua đời, một đứa con gái bị cô em “giựt” về nuôi

10 năm sau kể từ ngày lên núi Cấm, hai mẹ con anh Nguyễn Tấn Bông đã tích lũy được vài chục cây vàng. Mẹ anh giục anh đi cưới vợ. Tuổi đã sắp 40 rồi. Nhưng 10 năm sống ở đây, Bông chưa hề quen được một người bạn gái. Thế rồi bỗng dưng năm năm qua, ông trời cho Bông liên tục 12 đứa con, mười trai hai gái. Một đứa con trai bị bệnh nặng không cứu được, một đứa con gái bị đứa em xin về nuôi.

Nhận đứa con đầu

Số là, năm 2002, dì Ba với anh Bông về Cần Thơ thăm đứa cháu gái trong bệnh viện đa khoa. Tình cờ, dì nghe được câu chuyện một thai phụ nghèo không có tiền nhập viện, ôm bụng ngồi khóc quằn quại trên ghế đá trước sân khoa sản. Anh Bông đưa dì Ba vào thăm, cho tiền và làm thủ tục cho chị ta nhập viện. Sau khi thằng bé ra đời, người sản phụ kia quỳ lạy tạ ơn và nói ra sự thật: “Cháu ở trong quê, chồng chết, nhà nghèo phải đi làm phụ hồ để nuôi một đứa con. Nhưng vì nhẹ dạ nên cháu bị tay thợ hồ lường gạt. Giờ nếu ẵm con về thì không biết lấy gì nuôi…”

Hai mẹ con dì Ba cho người mẹ ít tiền và vàng làm vốn kiếm sống và xin đưa thằng bé về nuôi. Dì nói: “Sau này nếu có muốn nhận con thì cứ lên đó, tôi giao lại. Điện thoại của tôi là 0986 544323”.

Trước khi ẵm thằng bé ra về, dì Ba để lại số điện thoại cho các bác sĩ và hộ lý của khoa sản cùng với lời căn dặn: “Từ nay về sau, nếu có trường hợp tương tự như vậy, các cô gọi điện cho mẹ con tôi. Trước hết là mình giúp người ta mẹ tròn con vuông, sau đó, nếu người ta vì lý do gì mà không nuôi được thì mình đem về nuôi giúp”.

Thêm 11 đứa khác

Cứ thế, sau mỗi cú điện thoại: “Em ở khoa sản, bệnh viện đa khoa Cần Thơ…” là trong nhà anh Bông thêm một tiếng khóc trẻ sơ sinh.

Anh Bông kéo đám trẻ vào lòng, vừa xoa đầu, vừa kể về hoàn cảnh ra đời của từng đứa một: “Đây là thằng Nguyễn Sơn Ngọc, đứa đầu tiên con của chị phụ hồ đây. Còn đây là thằng Nguyễn Sơn Thanh, đẻ được hai ngày thì mắc bệnh phổi. Tôi với má tôi lên giúp một triệu đồng, nhưng không ngờ mẹ nó cầm một triệu đồng rồi bỏ trốn. Thằng nhỏ mới hai ngày tuổi mà phải thở oxy, ngậm ống sữa và truyền nước biển. Tôi với má tôi phải ở lại bệnh viện nuôi nó 20 ngày. Giờ đây nó cứ sân sẩn. Còn đây là thằng Nguyễn Sơn Giàu, mẹ nó là một cô gái nghèo đi mót lúa ở Vị Thanh, phải lòng một thằng chăn vịt, mang thai lúc mới mười bảy tuổi, sợ bị phát hiện nên dùng dây thun nịt bụng rồi trốn sang ở nhà bà ngoại. Khi chúng tôi đến bệnh viện thì nghe nói nó bị đứt tim thai, phải mổ bỏ con để cứu mẹ. Nhưng không ngờ nó được cứu sống. Nó sống, nhưng mẹ nó không dám mang nó về nhà…

Mười hai đứa trẻ trong căn nhà này là mười hai câu chuyện khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ, chúng là sản phẩm của những cuộc tình vụng trộm từ trong nhà trọ đến màn trời chiếu đất ngoài đồng. Anh Bông kết thúc câu chuyện thứ mười hai bằng một nỗi buồn: “Nó là Nguyễn Sơn Thành, đang nằm trên núi. Khi tôi với má tôi đến thì mẹ nó đã bỏ đi, nó nằm trong phòng cấp cứu suốt hai mươi ngày với chứng bệnh não úng thuỷ, một chứng bệnh ngặt nghèo. Tôi với má tôi rất đắn đo, cuối cùng thì không thể quay lưng trước một hài nhi vô tội. Nhưng suốt ba tháng, thằng bé cứ khóc ngày khóc đêm, đầu to dần, mắt đờ đẫn. Tôi ẳm nó trở lại bệnh viện, nơi nó cất tiếng khóc chào đời, bác sĩ nói ở đây không có khả năng điều trị, tôi đưa nó lên bệnh viện nhi Đồng 2, người ta nói phải phẫu thuật để đặt ống dẫn, sẽ rất tốn tiền nhưng không khả thi. Và đúng là như vậy, tôi đã bán miếng đất lấy mấy chục triệu đồng để mong nó sống, nhưng hơn hai năm sau thì nó ra đi”.

Qua câu chuyện buồn ấy, Bông lại ôm mấy đứa nhỏ vào lòng: “Tôi còn mười một đứa, chín trai, hai gái. Nhưng năm rồi, nhỏ em ở Cần Thơ lên chơi, thấy bé Cẩm Như đẹp quá, nó nói cho mượn về chơi mấy tháng, nói vậy rồi nó giựt luôn không trả…”

Nhắc đến chuyện cưới vợ, Bông lại cười: “Tụi nó đã khổ từ trong bào thai rồi, tôi không muốn tụi nó phải khổ vì mẹ ghẻ”.

Bông trầm ngâm cho biết thêm về chuyện có thêm con: “Má tôi năm nay bệnh nhiều quá, sắp gần đất xa trời rồi. Tôi muốn dành thời gian cho má”. Còn chuyện học hành của mấy đứa nhỏ, Bông cũng lại trầm ngâm: “Thằng Sơn Ngọc năm nay lẽ ra phải lên lớp lá, thằng Sơn Thanh phải là lớp chồi, thằng Sơn Giàu phải là lớp mầm. Tôi đã tâm nguyện phải cho chúng nó học tới cùng. Tiền bạc thì tôi không lo, trước mắt, nguồn lợi từ mười lăm mẫu đất cũng đủ trang trải, sau này, khi chúng nó học lên cao thì mình bán đất. Nhưng, cái khó là chỗ ở. Thằng Sơn Ngọc năm tới sẽ tạm thời gởi cho nhỏ em ở Cần Thơ. Nhưng không thể gởi hết cả mười đứa. Còn mua nhà ở dưới đó thì ai chăm sóc, mà tôi đi thì ai ở đây lo vườn tược, cây trái cho mình. Càng nghĩ càng thấy rối…”

Thưa bạn đọc!

Câu chuyện cổ tích trên đỉnh Mồ Côi xin tạm dừng ở đây, bởi người kể chuyện chưa trả lời được câu hỏi sau cùng rằng: khi bà Tiên qua đời, anh tiều phu có lo cho những thiên thần bé nhỏ ấy học hành đỗ đạt hay không. Những câu chuyện cổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Nhưng dân gian thường hay lý giải sự bế tắc bằng những phép mầu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện này, sẽ có một phép mầu nào đó đến với anh Bông. Phép mầu ấy chính là cái tâm đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời này.

NGƯỜI ĐÀN BÀ MÊ NÚI

Võ Đắc Danh

Dì Ba kể rằng, quê dì ở Bình Thuỷ, Cần Thơ. Ngày xưa dì từng là chủ xe đò. Năm 1980, có lần dì theo xe đưa người đi nghĩa vụ quân sự qua Thất Sơn, bỗng dưng mê núi. Từ đó, thỉnh thoảng là dì “đi núi”, không phải viếng chùa cúng miễu gì cả, dì không theo đạo nào.

Một hôm, dì nói với các con: “Tao bán nhà lên núi Cấm ở”. Bông, con trai út của dì lúc bấy giờ mới 26 tuổi, nói: “Má đi con đi theo má”. Cuối năm 1991, dì bán căn nhà được ba lượng vàng, dẫn anh Bông lên xe đò đi Núi Cấm. Anh Bông kể: “Đầu tiên khi đến đây, hai mẹ con tôi mua một căn nhà nhỏ dưới chân núi để mở quán cà phê. Nhưng ồn ào, má tôi thấy khó chịu. Biết tính má tôi muốn sống yên tĩnh một mình nên tôi tìm đường lên đỉnh Mồ Côi mua ba mẫu đất giá hai chỉ vàng.

“Từ chân núi lên tới đỉnh Mồ Côi, hồi ấy chỉ có con đường mòn len lỏi theo con suối Thanh Long, độ đường quanh co gần mười cây số, lên xuống nhiều con dốc, lởm chởm đất đá, đầy nguy hiểm, nhọc nhằn. Cách một hai cây số mới có một ngôi nhà. Rừng núi hoang vu buồn đứt ruột. Vậy mà má tôi kiên quyết ở đây”.

Hồi mới lên, anh Bông đi gánh mướn các loại đồ rẫy cho những gia đình trên núi. Nào su, nào chuối, nào xoài, nào mít, nào măng…, mỗi gánh bảy mươi ký, mỗi ký hai trăm đồng, mỗi ngày anh gánh hai chuyến từ đỉnh xuống chân núi, có khi chuyến lên gánh thêm gạo, cát, đá, xi măng, gạch ngói. Cái may mắn của anh Bông là, từ chiến trường Campuchia vừa xuất ngũ trở về, đôi chân và cả phần tâm linh còn quen với núi rừng bên ấy.

Ban đầu, anh Bông vừa gánh thuê, vừa học nghề làm rẫy. Mấy năm sau, ba mẫu đất của anh đã thành một khu vườn. Từ đó Bông không còn đi gánh hàng thuê nữa mà gánh thành quả của chính mình. Thấy anh làm giỏi, chi cục kiểm lâm giao cho anh quản lý thêm 12 mẫu, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm mươi năm…

BayNui4

TRỞ LẠI ĐỈNH MỒ CÔI

Võ Đắc Danh

Kể xong câu chuyện Cổ tích trên đỉnh Mồ Côi, tôi vẫn còn ray rứt trước hai vấn nạn: một, liệu anh Bông có lấy vợ được không ở cái tuổi bốn lăm? Người phụ nữ, dù có rộng lượng đến đâu cũng không thể ưng một người chồng đang nuôi 11 đứa con nheo nhóc. Hai, chuyện học hành của 11 đứa trẻ ấy ra sao giữa đỉnh núi cao heo hút, đường đến trường quanh co, năm ba cây số, dốc núi dựng đứng, trập trùng? Tôi đã gởi vào đoạn kết một nỗi lo cùng với một niềm tin mong manh, rằng: “Khi bà tiên qua đời, liệu anh tiều phu có lo cho những thiên thần bé nhỏ ấy học hành đỗ đạt hay không? Những câu chuyện cổ tích bao giờ cũng đi đến một kết thúc có hậu. Và tôi hy vọng trong câu chuyện này, sẽ có một phép mầu nào đó đến với anh Bông. Phép mầu ấy chính là cái tâm, là lòng nhân ái đang ẩn chứa đâu đây, trên cõi đời này”.
Và, cái phép mầu ấy đã đến với anh Bông và những đứa trẻ mồ côi sau khi câu chuyện được kể trên Sài Gòn Tiếp Thị.

Một buổi tối, dì Ba gọi điện cho tôi, nói nửa đùa nửa thật: “Mấy ngày qua có nhiều cô từ miền Trung đến miền Tây, rồi cả bên Mỹ gọi điện cho thằng Bông để chia sẻ, bày tỏ tình cảm, nhã ý muốn lên đây làm mẹ của mấy đứa nhỏ, giờ con tính sao?”

Gần một năm sau tôi trở lại đỉnh Mồ Côi thì câu chuyện cổ tích đã có nhiều thay đổi không ngờ. Đường lên đỉnh núi đã được tráng xi măng để xe gắn máy dễ dàng lên xuống, anh Bông cho biết, ngay tuần đầu sau khi câu chuyện lên báo, nhiều tổ chức, cá nhân đã mang tiền lên giúp, kẻ ít người nhiều, trước hết là giúp anh làm con đường bê tông để giảm bớt nỗi nhọc nhằn khi lên xuống núi. Có một câu chuyện rất cảm động mà dì Ba nói rằng dì sẽ giữ bí mật cho đến khi nào tôi trở lại để dành cho tôi một sự ngạc nhiên. Hôm ấy, một chàng trai tên là Minh Triển từ Mỹ trở về, một thân một mình lên đỉnh núi, tới nơi, anh ôm những đứa trẻ vào lòng rồi khóc. Anh nói, đọc câu chuyện trên mạng tưởng người ta hư cấu, không ngờ sự thật là như vậy. Minh Triển cũng không nói gì thêm, trước khi ra về, anh gởi cho dì Ba 300 USD cùng với lời hứa sẽ tìm cách giúp dì với anh Bông lo cho mấy đứa nhỏ học hành. Mấy tuần sau, Triển gọi điện qua nói với dì Ba: “Con xin phép được làm con nuôi của má, làm em của anh Bông, làm chú của 11 đứa trẻ để con được góp sức chăm lo cho tụi nó”. Thì ra, trong chuyến đến thăm lần ấy, Triển đã khảo sát dưới chân núi Cấm có trường học dạy từ lớp một đến lớp 12. Anh đề nghị anh Bông xuống chân núi mua đất xây nhà cho các cháu có chỗ ở gần trường để học hành, công việc tiến hành tới đâu Triển gởi tiền về tới đó. Đến nay, ngôi nhà đã được hoàn tất, chiều ngang 9 mét, chiều dài 20 mét, một trệt một lầu, phía sau có 1.000 mét vuông đất vườn. Anh Bông cho biết, Triển gởi về tổng cộng 45.000 USD. Ngôi nhà 360 mét vuông, mỗi đứa một phòng ngủ riêng, đó là ý tưởng của Minh Triển vừa tập cho các cháu sinh hoạt độc lập, vừa dự phòng khi chúng lớn lên có đủ không gian để sinh hoạt cá nhân.

Minh Triển là ai? Tôi gởi lại địa chỉ mail cho anh Bông với hy vọng sẽ liên lạc với con người khá bí ẩn này.

Anh Bông lấy ra cho chúng tôi xem hơn mười lá thư của các chị, các cô gởi về, không chỉ từ mọi miền đất nước mà cả những lá thư cách nửa vòng trái đất. Mỗi người kể một hoàn cảnh, một tâm sự khác nhau. Nhưng thật đáng trân trọng vì hầu hết những lá thư đều bày tỏ lòng trân trọng với anh Bông. Ai cũng muốn chung vai gánh vác với anh một phần trách nhiệm. Một chị ở Hà Nội tâm sự rằng, chị lấy chồng gần năm năm nhưng không có khả năng sinh con, bị chồng bỏ đi lấy vợ khác, chị sống trong những ngày tuyệt vọng thì tình cờ đọc được câu chuyện về anh, bỗng dưng chị khát khao muốn được làm mẹ của những đứa con anh, được bồng ẵm, được chăm sóc chúng như con ruột của mình. Một chị ở Cali thì đặt thẳng vấn đề kết hôn với anh và bảo lãnh cho những đứa con anh du học. Tôi hỏi Bông tính sao, anh cười hiền: “Mình chẳng biết tính sao cả, đã thề sống độc thân để nuôi tụi nó rồi, giờ lấy vợ, liệu người ta có thương tụi nó bằng mình không, nói thì nói vậy chớ chạm vào thực tế mới biết, không khéo sẽ đổ vỡ hết, sẽ nát bét hết…”.

*

Mấy ngày sau, tình cờ tôi nhận được mail của Minh Triển, anh tâm sự khá dài. Ngoài những điều như dì Ba và anh Bông kể, Triển còn cho biết tuổi thơ của anh ở Trà Vinh đã trải qua những tháng ngày cơ cực, mồ côi cha từ bé, phải nghỉ học sớm để mưu sinh.

Năm 13 tuổi, Triển theo một chuyến tàu đánh cá ra khơi và không ngờ rằng minh đặt chân lên đất Mỹ. Tuổi thơ lưu lạc, khao khát tình thương. Khi lên tới Đỉnh Mồ Côi, Triển như thấy bóng dáng thân phận mình qua từng đứa trẻ. Về Mỹ, anh quyết định gom đến đồng bạc cuối cùng của mình dành dụm bao nhiêu năm để làm một điều gì đó nhằm giảm bớt nỗi bất hạnh cho những đứa trẻ ấy, Triển cảm thấy như được bù đắp cho những mất mát của chính tuổi thơ mình.

Đầu năm nay, Triển về nước, anh rủ tôi cùng anh trở lại Đỉnh Mồ Côi. Khi anh vừa bước vào nhà, những đứa trẻ đồng thanh reo mừng “ba Triển !”. Triển ôm hôn từng đứa, hỏi thăm từng đứa như một người cha đi xa vừa gặp lại những đứa con ruột thịt của mình. Triển cho biết, với một ngôi nhà như thế chỉ mới là điều kiện cần cho chúng, còn điều kiện đủ để chúng học hành đến nơi đến chốn là cả một vấn đề, một chặng đường dài mà anh phải tính, phải lo.

Hiện tại, anh đã lập Hội từ thiện ở Cali và vận động được một ít tiền. Trong chuyến về nầy, anh sẽ xây dựng một lộ trình chi tiêu vừa hợp lý, vừa minh bạch để mang về bên ấy trình cho Hội. Hy vọng rằng – Triển nói – những đứa con của em sẽ được học hành tử tế.

BayNui5
Ca sĩ nghiệp dư Minh Triển vừa trở lại Đỉnh Mồ Côi

BÀ TIÊN NUÔI 12 TRẺ MỒ CÔI
TRÊN ĐỈNH THIÊN CẤM SƠN

Nguyên Việt – Đăng Văn

Mười năm qua, bà Võ Thị Ba (75 tuổi) đã nhận về 12 đứa trẻ không cha mẹ để nuôi dưỡng, chăm sóc như máu mủ ruột thịt của mình.

Hành trình lên núi

Bà Võ Thị Ba, vốn là một người buôn bán, kinh doanh sống ở Cần Thơ. Năm 1991 khi tuổi đã già, bà nghỉ công việc kinh doanh của mình để nghỉ ngơi. Một dịp tình cờ, bà đến núi Cấm cùng những người bạn. Trong 2 ngày du ngoạn núi Cấm, bà bỗng cảm thấy có tình cảm đặc biệt với vùng đất này. Sau khi về lại Cần Thơ, bà nói với anh Nguyễn Tấn Bông (út Bông, 50 tuổi), là con trai thứ của bà: “Mẹ muốn đi núi nữa con ạ”.

Nói là làm, bà rời nhà bắt xe một mình quay lại núi Cấm cho thỏa lòng mong nhớ. Tại đây, bà thuê nhà trọ để ở, hàng ngày lên núi xuống núi để thăm thú hết các địa điểm ở núi Cấm. Bà không phải là người mê tín, cũng không lên núi để cầu khấn bất cứ điều gì, bà chỉ cảm thấy mình yêu thích nơi đây mà không lý giải được nguyên nhân.

BayNui6

Đại gia đình anh út Bông

Sau nhiều lần đi lại ở núi Cấm, bà quyết định sẽ sinh sống phần đời còn lại của mình trên ngọn núi linh thiêng này. Lúc này, bà chỉ ở với một mình anh út Bông, những người con khác đã có gia đình và sinh sống những nơi khác nhau. Anh út Bông là bộ đội xuất ngũ từ năm 1987, là một Xã đội phó quân sự ở quê nhà.

Lúc nghe mẹ bày tỏ nỗi lòng, thương mẹ không nỡ để mẹ một mình trên núi, anh quyết định đi theo phụng dưỡng mẹ già và sống cuộc sống ẩn dật trên núi. Bà Ba bán ngôi nhà lụp xụp ở quận Bình Thủy (TP. Cần Thơ) để lên núi sinh sống. Nhưng thời gian đầu đến núi Cấm, bà chưa thể lên núi ở ngay được vì trên đỉnh núi là nơi hiểm trở ít người sinh sống, vì vậy nên lãnh đạo địa phương vẫn chưa thể đồng ý ngay với bà. Vậy là bà bắt đầu cuộc sống ở chân núi Cấm.

Thời gian ở chân núi Cấm, bà Ba luôn tìm cách để được lên ở trên đỉnh núi, nơi mà người dân đặt tên gọi là vồ Mồ Côi. Đây là nơi mà bà Ba rất ấn tượng bởi phong cảnh hữu tình mà hoang sơ.

Sau một năm sinh sống ở chân núi Cấm, nhiều lần gặp gỡ trưởng ấp nơi bà sinh sống, bà xin phép được chuyển lên núi Cấm, bà Ba nói: “Tôi chỉ có một nguyện vọng là được sinh sống phần đời còn lại trên ngọn núi này, chỉ cần địa phương đồng ý cho tôi ở, tôi chỉ che một túp lều nhỏ ở cũng được, sẽ không làm gì ảnh hưởng đến ngọn núi này cả”. Bị thuyết phục trước tấm lòng nhiệt thành ấy, ông trưởng ấp cũng phải đồng ý cho bà Ba được thỏa mãn nguyện vọng.

“Bà tiên” trên núi Cấm

Đến năm 2001, bà Ba và anh út Bông đã có cuộc sống khá ổn định trên núi Cấm. Một ngày nọ, bà Ba nhận được một cuộc điện thoại từ người cháu gái đang khám bệnh ở bệnh viện Cần Thơ bảo có một phụ nữ sắp tới ngày sinh nở nhưng không một người thân chăm sóc, đang sống lay lắt bên hành lang bệnh viện. Người cháu gái này mong muốn bà có thể giang tay cứu giúp cuộc đời của người phụ nữ bị phụ tình này.

Vốn là một người giàu lòng nhân ái, bà Ba cùng anh út Bông từ trên đỉnh núi Cấm, bắt xe xuống thành phố Cần Thơ để tìm gặp. Khi bà vào bệnh viện nhìn người phụ nữ đáng thương nọ, bà vẫn không hề nghĩ đến một ngày đứa bé mà người phụ nữ này đang mang sẽ gọi mình là bà nội. Bà làm thủ tục nhập viện và chịu hết chi phí sinh nở cho người phụ nữ này. Lúc sinh ra đứa bé trai kháu khỉnh, người mẹ nắm lấy tay bà với khuôn mặt đẫm lệ, van xin bà có thể nuôi nấng hoặc tìm một nơi chốn nào đó cho đứa bé được nương thân.

Không nỡ lòng nào từ chối lời cầu khẩn, bà quyết định nhận nuôi đứa bé. Và đó chính là cậu bé Nguyễn Sơn Ngọc, bây giờ đã vào lớp 5, sống vui tươi bên cạnh những đứa trẻ khác cùng cảnh ngộ dưới vòng tay chăm sóc của bà Ba và anh út Bông.

BayNui7
Bà Ba, mẹ của anh út Bông

Bà Ba và anh út Bông cũng không nghĩ đến một con số nào cụ thể về những đứa trẻ bị bỏ rơi mà hai mẹ con có thể nhận nuôi. Nhưng rồi sau đó, tình thương với Sơn Ngọc đã giúp cho bà Ba và anh út Bông mạnh dạn nhận nuôi thêm những đứa trẻ khác. Nhờ có mối quen biết ở một số bệnh viện, nên khi có những đứa bé chào đời bị bỏ rơi, anh út Bông lại cùng mẹ gói ghém tìm đến để nhận về nuôi dưỡng. Kỉ lục nhất là vào năm 2003, anh nhận nuôi đến 4 đứa trẻ. Đến năm 2008, thì số trẻ mồ côi, trẻ bất hạnh bị bỏi rơi tại các bệnh viện trên khắp miền Tây được anh và bà Ba nhận về nuôi đã lên đến con số 12.
Ngồi tâm sự, điều khiến bà Ba thấy đau buồn đến “đứt ruột” là trong 12 đứa trẻ mà bà và con trai nhất mực yêu thương đó, không may có một em nhỏ không chiến thắng nổi căn bệnh bại não nên đã chết lúc chưa tròn tuổi. Đó là Nguyễn Sơn Thành, lúc anh út Bông nhận Thành về nuôi thì biết em bị bệnh nguy hiểm, nhưng với hi vọng của một người cha đối với con của mình. Anh út Bông cùng mẹ quyết cứu con cho bằng được.

Thời gian đưa bé Thành về nuôi, anh út Bông và mẹ phải thường xuyên đưa em đi chạy chữa từ Cần Thơ cho đến TP.HCM, những mong em có thể sống được với các em nhỏ khác. Tuy nhiên, sau đó Thành trút hơi thở cuối cùng ở tháng thứ 8. Cái chết của Thành càng làm cho anh út Bông và bà Ba cố gắng để nuôi dưỡng những đứa trẻ khác tốt hơn. Nuôi dạy 12 đứa trẻ vất vả, đằng này hai mẹ con bà Ba lại một lúc chăm lo cho 12 đứa trẻ xấp xỉ tuổi nhau, cái khó khăn đó không gì có thể so sánh được.

Đại gia đình của bà Ba sống êm đềm trên núi Cấm từ năm này qua năm khác, có khó khăn gì cũng cùng nhau vượt qua. Nhưng vấn đề bắt đầu nảy sinh khi những đứa con lớn đến tuổi đi học. Cả gia đình sống cheo leo trên đỉnh núi, việc đi học của các con gặp rất nhiều khó khăn.

Nhiều đêm hai mẹ con trăn trở không ngủ được vì nghĩ tới tương lai lâu dài của đàn con. Nhưng hoàn cảnh hiện tại của gia đình khó mà có thể tìm một nơi khác thuận lợi hơn. Mọi thu nhập của gia đình đều trông chờ vào 3ha cây ăn trái trên núi Cấm, nếu bây giờ chuyển nhà thì công việc sẽ khó khăn hơn rất nhiều, hơn nữa nếu chuyển nhà thì phải cần đến nhiều vốn liếng, trong khi tình cảnh của đại gia đình bà Ba chỉ đủ sống qua ngày cho 13 miệng ăn.

Bước ngoặt đến với gia đình vào năm 2009, một Việt kiều Mỹ về nước. Vốn biết được câu chuyện cảm động của mẹ con anh út Bông dang tay cứu giúp trẻ em cơ nhỡ nên người Việt kiều này ngỏ lời muốn giúp đỡ. Hai mẹ con bà Ba sau nhiều lần bàn bạc mới quyết định nhận lời giúp đỡ của người Việt kiều giàu lòng nhân ái. Anh út Bông tìm một miếng đất ở ngay dưới chân núi, gần trường học để thuận tiện cho các con đi học. Một ngôi nhà khang trang, khá đầy đủ tiện nghi được xây dựng lên trong niềm hân hoan, vui mừng của các em nhỏ.

Sau 9 năm anh út Bông nuôi dưỡng đàn trẻ, UBND xã An Hảo, huyện Tri Tôn đã quyết định trợ cấp cho các em nhỏ là 360 ngàn đồng/tháng cho mỗi em. Đây không phải là số tiền lớn nhưng cũng đã phần nào giúp anh út Bông nuôi dạy các con của mình được tốt hơn.

Tài liệu tham khảo
1) Võ Đắc Danh. Cổ tích trên đỉnh Mồ Côi. Sài Gòn Tiếp Thị Online – Lối sống
2)Võ Đắc Danh. Trở lại đỉnh mồ côi – Sài Gòn Tiếp Thị Online – Báo xuân
3) Võ Đắc Danh. Trở lại đỉnh mồ côi- YuMe
4) (THVL) Thăm gia đình làm nên cổ tích trên đỉnh Mồ Côi
5) Báo Mới.com Trở lại “Tình người trên đỉnh mồ côi”
6) Nguyên Việt – Đăng Văn. “Bà tiên” nuôi 12 trẻ mồ côi trên đỉnh Thiên Cấm Sơn. Người Đưa Tin Online

Nguồn: ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM.

Video yêu thích
Khám phá Việt Nam – 123 – Núi Cấm ngày nay
Thất Sơn Huyền Bí – Tập 6: Thầy Rắn Bảy Núi
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
Trở về đầu trang
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

 

Kênh ông Kiệt giữa lòng dân

  • PDF
alt

KÊNH ÔNG KIỆT GIỮA LÒNG DÂN

Hoàng Kim

Thơ cho em giữa tháng năm này
Là lời người dân nói vể kênh ông Kiệt
Là con kênh xanh mang dòng nước mát
Làm ngọt ruộng đồng Tứ giác Long Xuyên

Con kênh T5 thoát lũ xả phèn
Dẫn nước ngọt về vùng quê nghèo khó
Tri Tôn, Tịnh Biên trong mùa mưa lũ
Giữa hoang hóa, sình lầy, thấm hiểu lòng dân

Nguyễn Công Trứ xưa khẩn hoang đất dinh điền
Thoại Ngọc Hầu mở mang kênh Vĩnh Tế
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân bền bỉ
Ân nghĩa cuộc đời lưu dấu nghìn năm

Em ơi khi nuôi dạy con
Hãy dạy những điều vì dân, vì nước
Người ta sinh ra cho đến khi nhắm mắt
Đọng lại trong nhau vẫn chỉ những CON NGƯỜI.

KÊNH ÔNG KIỆT

“Vẫn là Thủ tướng của nhân dân / Vẫn là anh Sáu mọi gia đình/ Lồng lộng bóng soi miền sông nước/ Đời nặng ân tình, đất nặng chân”. Đó là những câu thơ cảm khái khóc tiễn cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt của ông Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang (kênh Võ Văn Kiệt, ảnh Thanh Dũng).

Một năm sau khi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từ trần, Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang khóa VII đã Quyết nghị đặt tên công trình kênh T5 là kênh Võ Văn Kiệt và đặt bia lưu niệm tại đầu kênh để ghi nhớ công lao của cố Thủ tướng với hệ thống kênh huyết mạch, tháo chua, rửa phèn, mở mang vùng đất hoang hóa của khu vực Tứ giác Long Xuyên.

Báo An Giang, Trường Đại học An Giang đã đăng bài Kênh “ông Kiệt” tắm mát đồng bằng của tác giả Bảo Trị – Thành Chinh. Báo Đất Việt đăng bài Kênh ông Kiệt của tác giả Võ Ngọc- Bảo Châu. Báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài Từ kênh Vĩnh Tế đến kênh Võ Văn Kiệt của tác giả Quốc Việt. Kỳ 1: Hào lũy đất phương Nam ; Kỳ 2: Trấn giữ biên giới ; Kỳ 3: Thương hồ Vĩnh Tế ; Kỳ 4: Dấu chân lấm bùn của ông Sáu Dân; Kỳ 5: Đào kênh T5 . Tôi đã viết bài thơ Kênh ông Kiệt giữa lòng dân với lòng biết ơn sâu sắc.

Kênh Vĩnh Tế và Kênh Võ Văn Kiệt là hai công trình sống mãi trong lòng dân.

Kênh Vĩnh Tế dài gần 100km chạy dọc biên giới hai tỉnh An Giang, Kiên Giang với vương quốc Campuchia. Kênh do Thượng đạo Khâm sai, trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại chỉ huy hơn 80.000 dân binh đào ròng rã 5 năm liền (1819-1824). Sau khi hoàn thành, vua Minh Mạng đã lấy tên vợ của Thoại Ngọc Hầu , bà Châu Thị Vĩnh Tế, đặt tên cho con kênh này là kênh Vĩnh Tế. Thượng nguồn con kênh tiếp dòng sông Hậu ở thị xã Châu Đốc, hạ nguồn nhập sông Giang Thành ở Hà Tiên để ra biển Tây. Kênh Vĩnh Tế hiện rộng khoảng 40-70m, sâu 3-4m so với mực nước biển tùy từng đoạn. Kênh Vĩnh Tế là tuyến thủy lộ, tuyến kênh biên giới đặc biệt quan trọng mở mang vùng đất Tây Nam Bộ mang tầm vóc của một công trình chiến lược nhất thế kỷ 19 hào lũy đất phương Nam, khẳng định chủ quyền lãnh thổ, mở mang vùng đất mới.

Kênh Võ Văn Kiệt (kênh T5) dài 48km, rộng 30-36m và sâu 3m, thông kênh Vĩnh Tế ở Tri Tôn, An Giang, chảy qua Hòn Đất, Kiên Giang rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Đây là một cụm “công trình thủy lợi cấp bách” mang dấn ấn Thủ tướng Võ Văn Kiệt, “bác Sáu Dân” nhằm “thoát lũ biển Tây” ngọt hóa vùng đất năng lác hoang hóa sình lầy của hai tỉnh An Giang, Kiên Giang biến thành đất sản xuất nông nghiệp…. Ông Bảy Nhị đã chia sẻ: “Thời điểm trước năm 1997 (trước khi tuyến kênh T5 hoàn thành) cứ dạo lũ về là các cấp, các ngành lo ngai ngái. Lũ về là những vùng trũng, đầu nguồn lại phải lo cảnh sơ tán dân, cứu đói, cắt lúa chạy lũ. Từ khi hệ thống kênh mương cấp 2, 3 hoàn thành theo Quyết định 99/TTg như: Nạo vét kênh Tám Ngàn, H7, các kênh 5, 13, 16… , phần nào lũ đã khống chế. Tuy vậy, những vùng như Tứ giác Long Xuyên, cảnh lũ trắng đồng vẫn là nỗi lo lớn, buộc những người lãnh đạo phải bàn quyết sách tháo gỡ vấn đề”. “Tứ giác Long Xuyên, vùng đất trũng phèn có diện tích gần 500.000 ha đất nông nghiệp vẫn còn hoang hóa nhiễm phèn, trong đó An Giang chiếm diện tích khá lớn chính là vùng đất chúng ta bỏ quên bấy lâu nay chưa khai phá. Đất không phụ người, chỉ sợ người phụ đất mà thôi”.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong chuyến về thăm và làm việc tại An Giang trong hai ngày 21, 22-7-1996, đã đi thị sát cánh đồng Lạc Quới, kênh mương nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên. Thủ tướng đã chỉ thị: “Đề án quy hoạch thủy lợi vùng Tứ giác Long Xuyên cần nhanh chóng thực hiện vì nó sẽ giúp khu vực sử dụng được nguồn phù sa vô giá của lũ sông Cửu Long, chính nó sẽ đảm đương việc thoát lũ, rửa phèn khai phá đất nông nghiệp cho vùng Tứ giác Long Xuyên. Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy lợi, Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường cần nhanh chóng phối hợp lập kế hoạch xây dựng tuyến kênh thoát lũ ra Vịnh Thái Lan“.

Sau việc đào xong kênh T6, đưa nước từ Vĩnh Tế qua kênh Mới về biển Hà Tiên vào năm 1996. Đầu năm 1997, công trình chống lũ cấp bách kênh T5 – Tuần Thống, Luỳnh Quỳnh, Tân Thành – Lò Gạch, tuyến đê bờ nam Vĩnh Tế; hệ thống cống ngăn, xả lũ và 2 đập điều chỉnh lũ Tha La, Trà Sư; các cống ngăn mặn giữ ngọt thoát lũ ven biển… đã được cấp bách xây dựng theo Quyết định 159/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hàng loạt công trình thủy lợi phục vụ dẫn ngọt, tiêu chua, tiêu úng, xổ phèn, ngăn mặn và hàng vạn cây số bờ bao bảo vệ lúa hè thu được xây dựng đã góp phần quyết định vào việc phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trong vùng. Trong đó, kênh T5 có ý nghĩa chiến lược, được khởi công giữa quý I đến cuối tháng 8-1997 là hoàn thành. Đây là công trình thủy lợi hoàn thành nhanh nhất trong lịch sử đào kênh ở Việt Nam. Ngày mùng 8 Tết Mậu Dần 1998 (nhằm ngày 4-2-1998), 50.000 ha đất hai tỉnh An Giang, Kiên Giang được ngọt hóa. Ngày mùng 9 Tết Mậu Dần khởi công nạo vét kênh Vĩnh Tế, điều tiết lũ cùng dòng Võ Văn Kiệt thoát lũ ra biển Tây. Chọn bờ Nam song song tuyến kênh hình thành những tuyến dân cư vượt lũ trên toàn tuyến. Đây là đại công trình thủy lợi gồm hệ thống các kênh T4, T5, T6 thoát lũ, dẫn ngọt, tháo chua, rửa phèn, khai hoang, phục hóa hàng trăm ngàn ha đất .

Những năm sau, cụm từ “lũ đẹp” bắt đầu xuất hiện và định nghĩa “sống chung với lũ “cũng từ đó hình thành, Từ một công trình thủy lợi đã mở mang diện tích sản xuất, giảm thiểu ngập lũ. Ổn định vững chắc hai vụ sản xuất đông xuân và hè thu; giảm thấp mức lũ chính vụ, tạo điều kiện phát triển sản xuất, giảm chi phí xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở, giảm thiệt hại về người và của mùa lũ về. Từ đó, tạo thế đưa nước ngọt giàu phù sa từ sông Hậu vào kết hợp ngăn mặn, giữ ngọt, tháo chua rửa phèn, cải tạo đất sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường nước, vệ sinh đồng ruộng phục vụ phát triển sản xuất, sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Tất cả đã được kênh T5 đảm trách hiệu quả.

Tri Tôn, Tịnh Biên là những huyện khó khăn của tỉnh An Giang. Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với “Kênh ông Kiệt” đã mang nguồn nước ngọt về ruộng. Bạn xem chùm ảnh cũ trong blog của tôi để rõ hơn cách làm. Giống lúa KĐM105 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa được tưới đã mang lại niềm vui cho người nghèo. Các giống cây màu rau đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa đã giúp nâng cao đời sống người dân. Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên. Tôi đã có tám năm gắn bó với mảnh đất này. Đi đâu người dân cũng khen ông sáu Kiệt và ông bảy Nhị. Kênh ông Kiệt giữa lòng dân. Vùng đất hoang hóa sình lầy nay đã thành vựa lúa. Tỉnh An Giang nay đã thành vùng lúa sản lượng cao nhất nước.

alt

BẢY NHỊ

Ông Bảy Nhị tên thật là Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang (hình: Ông Nguyễn Minh Nhị -bên phải- cùng anh Ngô Vi Nghĩa với giống mì ngắn ngày trên ruộng tăng vụ). Ông có nhiều bài viết được dân ưa nghe và dư luận quan tâm vì hay, thiết thực  và thật . Như các bài viết “Gửi anh Nguyễn Bá Thanh: Phút 89…”  “Giá lúa nằm ngoài hạt gạo” …

Bạn xuống An Giang hỏi ông Bảy Nhị chủ tịch ai cũng biết. Tôi gọi trõng tên ông biết là không phải nhưng với tôi thì ông tuy còn khỏe và đang sống sờ sờ nhưng ông đã là người lịch sử, tựa như Mạc Cữu, Mạc Thiên Tích xưa, oai chấn Hà Tiên, góp sức mộ dân mở cõi, làm phên dậu đất phương Nam của dân tộc Việt. Ông Bảy là nhân vật lịch sử trong lòng tôi.

Tôi có một kỷ niệm quí rất khó quên. Ông Bảy Nhị ba lần lên Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tìm tôi khi đó làm Giám đốc Trung tâm. Ông tham khảo ý kiếm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai hoang phục hóa hiệu quả cho vùng đất phèn mặn ngập năn lác của hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Ông đồng tình với tôi việc ứng dụng canh tác giống lúa thơm Khao Dawk Mali 105 (KDM 105) nhưng trồng cây gì luân canh lúa hiệu quả trong các tháng mùa khô thì đó vẫn là bài toán khó?

Mờ sớm một ngày đầu tháng mười một. Trời se lạnh. Nhà tôi có chim về làm tổ. Buổi khuya, tôi mơ hồ nghe chim khách líu ríu lạ trên cây me góc vườn nên thức dậy. Tôi bước ra sân thì thấy một chiếc xe ô tô đậu và cậu lái xe đang ngủ nướng. Khi tôi ra, cậu lái xe thức dậy nói: “Chú Bảy Nhị, chủ tịch tỉnh An Giang lên thăm anh nhờ tuyển chọn giống mì ngắn ngày để giúp An Giang né lũ. Đợt trước chú đã đi cùng chú Tùng (là ông Lê Minh Tùng sau này làm Phó Chủ Tịch Tỉnh, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang) lên làm việc với anh rồi. Nay mì đã được năm tháng tuổi, chú muốn lên coi kỹ ở trên ruộng xem củ to bằng ngần nào. Chú Bảy giờ hành chính bận họp nên thăm sớm. Đến nhà anh, thấy sớm quá chú ngại nên ra thẳng ngoài đồng rồi, nhờ tui đón anh ra sau”.

Tôi giật mình nghĩ: “Cái ông này không thể xạo được. Mình nói là có giống mì bảy tháng. Năm tháng ông lên kiểm tra đồng ruộng nhổ thử, thiệt chu đáo. Ông thật biết cách kiểm tra sâu sát”. Chợt dưng tôi nhớ đến MỘT LỐI ĐI RIÊNG của Bác Hồ trong thơ Hải Như: “ Chúng ta thích đón đưa/ Bác Hồ không thích/ Đến thăm chúng ta Bác Hồ thường “đột kích”/ Chữ “đột kích” vui này Người nói lại cùng ta/ Và đường quen thuộc/ Bác chẳng đi đâu/ Đường quen thuộc thường xa/ Bác hiện đến bằng lối tự tìm ra:/ Ngắn nhất/ Bác không muốn giẫm lên mọi đường mòn có sẵn/ Khi đích đã nhắm rồi/ Người luôn luôn tạo cho mình:/ Một lối đi riêng”. Sau này hiếm có đồng chí lãnh đạo nào học được cách làm như Bác. Họ đi đâu đều thường xếp lịch hành chính và đưa đón đàng hoàng, chẳng cần một lối đi riêng. Tôi thầm chợt cảm phục ông Bảy.

Ông Nguyễn Minh Nhị có mấy bài viết hay gửi ông Nguyễn Bá Thanh, tình cảm của họ thật chân thành và cảm động. Sự chân thành thân thiết  theo tôi chẳng cần lời bình luận nào thêm mà chỉ cần ghi lại. Tôi trầm tư trước câu hỏi: Làm thế nào để tháo gỡ “những vật cản không dễ vượt qua”. Tôi tâm đắc với lời Bác Giáp suốt đời học Bác Hồ “dĩ công vi thượng” việc công trên hết. Câu trả lời thật rõ ràng là: Khi Nhân Dân, Tổ Quốc trên hết, thì bất cứ giải pháp nào có lợi cho Dân cho Nước cũng đều nghiên cứu vận dụng được cả, không từ một giải pháp nào. Thực chất đó là phép quyền biến “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

KÊNH ÔNG KIỆT TRONG LÒNG TÔI

“Kênh ông Kiệt” và vùng đất Nam Bộ là nôi nuôi dưỡng phát triển của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc. An Giang cũng là nôi ứng dụng đầu tiên của Việt Nam và thế giới đối với những dòng khoai mì đột biến theo hướng ngắn ngày. Chúng tôi những người tạo chọn giống củ mì thật biết ơn kênh ông Kiệt và ông Bảy Nhị. Không có kênh ông Kiệt Bảy Nhị thì củ mì ngắn ngày năng suất cao của tôi chưa thể ra đời nhanh như vậy.

Đề tài chọn tạo giống sắn ngắn ngày “né lũ” giúp tôi tiếp cận vùng đất hoang hóa, thấu hiểu những khổ cực của người dân nghèo vùng lũ và ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi. Sau này, khi giới thiệu với các chuyên gia Nhật Bản, như giáo sư tiến sĩ Motoaki Seki – RIKEN PSC và tiến sĩ Hirano – RIKEN Nishina về đề tài “Ứng dụng đột biến lý học và nuôi cấy mô để tạo giống khoai mì có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao phù hợp với việc né lũ của tỉnh An Giang” thực hiện năm 2002-2004 tại vùng đất hoang hóa Tri Tôn Tịnh Biên. Họ đều ngạc nhiên thích thú vì Việt Nam đã triển khai hướng nghiên cứu ứng dụng đột biến lý học để tạo giống sắn ngắn ngày để luân canh lúa sắn trên vùng đất hoang hóa Tri Tôn Tịnh Biên An Giang từ rất sớm.

Câu chuyện cây sắn “né lũ” mà tôi vừa kể trên cũng tương tự như câu chuyện Giống khoai lang Việt Nam HL518 và HL491. Những kết nối nghiên cứu và sản xuất đã giúp cơ hội cho các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ) chất lượng cao, vỏ đỏ, ruột cam; giống khoai lang HL419 (Nhật tím) vỏ đỏ ruột tím, giống khoai lang Kokey 14 (Nhật vàng) … phổ biến rộng rãi trong sản xuất mang lại bội thu cho nông dân như Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất Kiên Giang với doanh nghiệp của ông Đỗ Quý Hạo trồng khoai lang rất thành công. Đất và Người phương Nam là nôi nuôi dưỡng hột lúa, củ khoai, giống mì mới bén rễ và sinh sôi.

Tôi là người con xa xứ của vùng đất nghèo miền Trung. Gia đình chúng tôi đi như dòng sông tụ về phương Nam và nay đã gắn bó nhiều năm với đất lành Nam Bộ. Tôi cùng đồng nghiệp đã chọn tạo được nhiều giống tốt cho mảnh đất này. Đó là các giống sắn cao sản KM140, KM98-5, KM98-1, KM937-26, KM60, KM23, KM24, KM20; các giống lúa KĐM 105, GSR, KĐM, giống ngô VN25-99, giống đậu nành HL92, HL203, giống lạc HL25, giống đậu xanh HL115, HL89-E3, giống đậu rồng Bình Minh Chim Bu Long Khánh, giống khoai lang HL518, HL419, Hoàng Long, Chiêm Dâu. Biết ơn người mở đất và những con kênh, lòng tôi thật cảm phục, yêu thương.

Ngày mất của ông Sáu, tôi chép lại bài thơ và phóng sự ảnh như là nén hương tưởng nhớ.

Bài viết này tiếp bài Lương Định Của bác học nghề nôngBùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam. Nguyễn Thị Trâm, người thầy lúa lai ; Hồ Quang Cua, gạo thơm Sóc Trăng ; Phạm Trung Nghĩa, nhà khoa học xanh trong loạt bài CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM.

Hoàng Kim

(Phóng sự ảnh)

alt

Tri Tôn Tịnh Biên là những huyện khó khăn cuả tỉnh An Giang

alt
Hệ thống thủy lợi nội đồng nối với “Kênh ông Kiệt”
đã mang nguồn nước ngọt về ruộng

alt
Giống lúa KĐM 105 ngon cơm sinh trưởng phát triển tốt trên vùng đất hoang hóa
được tưới đã mang lại niềm vui cho nhiều người dân nghèo.

alt
Các giống mì, bắp, rau, đậu trồng vụ khô sau khi thu hoạch lúa KĐM105


Khoa học kỹ thuật bám dân bám ruộng âm thầm nhưng hiệu quả
làm đổi thay vùng Tri Tôn Tịnh Biên

alt
“Kênh ông Kiệt” và vùng đất An Giang cũng là nôi nuôi dưỡng phát triển
của các giống mì ngắn ngày KM98-1, KM140 đươc chọn tạo để đáp ứng nhu cầu
né lũ nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc (ảnh Thầy Lê Minh Tùng,
Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, Phó Chủ tịch tỉnh An Giang
với giống mì KM98-1)

alt
Kênh ông Kiệt Bảy Nhị trong lòng tôi!
(ảnh tác giả đang chọn giống mì mới năng suất cao ngắn ngày ở vùng đất Tri Tôn, Tịnh Biên).

Trở về đầu trang
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

 

Phật giáo, Khoa học và Việt Nam

  • PDF

alt

Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, đã nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” . “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” . “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” . Cả ba câu này đều được trích từ Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh (Collected famous quotes from Albert), và được dẫn lại trong bài Minh triết sống thung dung phúc hậu của Hoàng Kim

Khoa học và thực tiễn giúp ta tìm hiểu những phương pháp thực tế để thể hiện ước mơ, mục đích sống của mình nhằm sống yêu thương, hạnh phúc,vui khỏe và có ích. Đọc rất kỹ lại Ki tô giáoHồi giáo, Do Thái giáo, Phật giáoNho giáoĐạo giáo, … và chiêm nghiệm thực tiễn , tôi thấm thía câu kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn chứ không phải là con người thần thánh hay chân lý tuyệt đối. Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác. Luật Hấp Dẫn, Thuyết Tương đối, Thành tựu Khoa học và Thực tiễn giúp ta khai mở nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân con người và thiên nhiên. Đó là ba ngọn núi cao vọi của trí tuệ, là túi khôn của nhân loại.Qua đèo chợt gặp mai đầu suối. Gốc mai vàng trước ngõ. Nhớ cánh mai xưa. …

Việt Nam là chốn tâm thức thăm thẳm của đạo Bụt (Phật Giáo) trãi suốt hàng nghìn năm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam theo sách  Thiền Uyển tập anh xác nhận là đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển vào Việt Nam, gồm Giao Chỉ ở phía bắc và Chăm pa ở phía nam, khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước Công nguyên, chứ không phải từ Trung Hoa như một số quan niệm trước đây. Phật giáo đồng hành chung thủy, lâu bền với dân tộc Việt, dẫu trãi nhiều biến cố nhưng được dẫn dắt bởi những nhà dẫn đạo sáng suốt và các đấng minh vương, lương tướng chuộng nhân ái của các thời nên biết thể hiện sự tốt đạo, đẹp đời. Việt Nam là nước biết tiếp thu, chắt lọc tri thức tinh hoa của nhân loại, chuộng sự học, đồng thời biết quay về với tự thân tổng kết thực tiễn, chứ không tìm ở đâu khác.

Phật giáo, Khoa học và Việt Nam là ba học hỏi và nhận thức căn bản của tôi.

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Hoàng Kim

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Nha Trang và Yersin

  • PDF

Nha Trang, biển yển rừng trầm, thiên đường nghỉ dưỡng du lịch biển đảo nổi tiếng Việt Nam là nơi an nghĩ và lưu dấu những cống hiến đặc biệt xuất sắc của nhà bác hoc thiên tài Yersin. Quần thể mộ Yersin ở Suối Dầu và thư viện Yersin ở Viện Pasteur Nha Trang là trường hợp duy nhất Chính phủ Việt Nam cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho một người nước ngoài. Tại làng Tân Xương ở Suối Dầu, dân làng thờ Yersin làm thành hoàng. Ngày mỗi ngày, công viên Yersin, Bảo tàng Yersin, mộ Yersin càng có nhiều lượt khách trong nước và quốc tế đến thăm để chiêm nghiệm bài học lớn tình yêu cuộc sống.

Tôi thắp hương tưởng nhớ bác Năm Yersin theo lối gọi yêu mến của người dân Việt và bâng khuâng nhớ Người. Tôi thầm tự hỏi: dưới vòm trời này, đất lành này, núi biếc biển xanh này, so giữa những vĩ nhân lỗi lạc nhất của các nước lớn với con người phúc hậu, hiền lành, khiêm nhường đang nằm dưới ngôi mộ yên bình kia, rốt cụộc thì ai hơn ai?. Ông Năm Yersin không phải là người Việt nhưng ông được mọi người Việt mọi thời yêu quý, tôn kính, ngưỡng mộ, Thật hạnh phúc.

Alexandre Émile Jean Yersin là nhà bác học lỗi lạc người Pháp gốc Thụy Sĩ. Ông là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, nhà thám hiểm, nhà nông học, nhà chăn nuôi, nhà điểu học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, nghiên cứu khí tượng, nhà văn, nhà dịch thuật, nhà nhân đạo và ân nhân được nhân dân Việt Nam tôn kính. Ông được trao tặng Bắc Đẩu Bội tinh, huân chương cao quý nhất của nước Pháp. Việt Nam long bội tinh, Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa học, Viện Hàn lâm Y học, Viện Hàn lâm Khoa học các thuộc địa, Hội Bệnh học Hải ngoại, Hội Y học Nhiệt đới, Hội Thiên văn Pháp quốc.

Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863 tại làng Lavaux (hat Vaux) Aubonne, Thụy Sĩ,tổ tiên ông vốn là người Pháp di cư sang Thụy Sĩ, năm 1889 ông được phục hồi quốc tịch Pháp. Alecxandre Yersin mất ngày 01 tháng 3 năm 1943 tại Nha Trang. Yersin đã phát hiện độc tố bệnh bạch hầu năm 1888, Ông thám hiểm năm 1892 tìm ra con đường bộ từ Nha Trang ven Biển Đông băng qua dãy Trường Sơn qua Stung Treng đi suốt dọc ha lưu sông Mekong đến Phnom Penh. Ông là người thám sát lần đầu Cao nguyên Lâm Viên năm 1893 giúp thiết lập nên thành phố nghỉ mát Đà Lạt. Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch sau này được đặt theo tên ông Yersinia pestis năm 1894 và điều chế huyết thanh chữa trị. Yersin là người sáng lập Viện Pasteur Nha Trang năm 1895. Với tiền thưởng khoa học, Yersin mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Dầu để làm nông nghiệp và chăn nuôi. Ông là người đầu tiên du nhập và phát triển cây cao su ở Việt Nam năm 1897. Ông tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại Suối Dầu, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học với một trạm xá phục vụ cư dân trong vùng. Ông cho trồng cây cà-phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành dược. Ông làm vườn, trồng hoa, nuôi chim, nuôi ngựa bò, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành Viện Thú y đầu tiên ở Đông Dương. Ông là người thành lập và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội) năm 1902. Ông trồng thử nghiệm cây canh ki na để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét năm 1917. Ông Năm Yersin nghiên cứu khoa học, sống thung dung trọn đời với người dân và thiên nhiên trong lành ở Suối Dầu, Nha Trang, Khánh Hòa.

Nha Trang và Yersin có một mối nhân duyên thật kỳ lạ. Năm 1891, khi đặt chân đến Nha Trang, Yersin đã yêu mến vùng đất này, và quyết định lưu trú tại đây. Ông viết cho Émile Roux, "Hãy đến đây với tôi, ông sẽ biết ở đây thú vị như thế nào, thời tiết không nóng nhiều, cũng không lạnh lắm, một khung cảnh thanh bình tuyệt đối và nhiều công việc cần làm". Tên "Nha Trang" có hai giả thuyết, một giả thuyết cho rằng nó được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ya Trang hay Ea Trang (có nghĩa là "sông Lau", tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất, từ năm 1653. Giả thiết khác cho rằng Nha Trang trước năm 1891 chỉ mới là một vịnh nước yên tĩnh đầy nắng chưa có tên gọi trên bản đồ nhưng khi Yersin đến ở và xây “nhà trắng” ở đó nổi bật trên những ngôi nhà làng chài lúp xúp trên dải cát trắng từ năm 1891, thì họ gọi là ''nhà trắng'' lâu dần phiên âm thành Nha trang. Giả thiết đầu tiên được các nhà nghiên cứu thống nhất hơn. Dẫu vậy giả thuyết thứ hai cũng được nhiều người ủng hộ.

Yersin lưu dấu nhiều ký ức sâu đậm tại Nha Trang. Di sản Yersin thật sự to lớn và bền vững với thời gian ở Việt Nam. Ông từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang ngày 1 tháng 3 năm 1943 , và để lại di chúc: "Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn." Noël Bernard, người đầu tiên viết tiểu sử Yersin đã nhận xét: “Chắc chắn rất hiếm có người ít tư lợi đến thế. Yersin tự xóa mờ mình đi để người khác được tự do sáng kiến, sự tự do mà chính bản thân ông hết sức gắn bó

Đà lạt, thành phố tình yêu, nơi núi non tuyệt đẹp trên cao nguyên Lâm Viên, nơi Yersin là người nước ngoài đầu tiên đã thám hiểm và khám phá ra Đà Lạt, lưu dấu tên ông tại Trường Lycée Yersin (Trường Cao đẳng Sư phạm), Trường Đại học Yersin và Công viên Yersin. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thủ Dầu Một đều có những con đường được đặt tên Yersin để vinh danh, nhưng nơi chính của Người là ở Nha Trang.

Nha Trang và Yersin, đất lành chim đậu, người hiền đến ở.

Hoàng Kim

Xem thêm:
Nha trang và Yersin trên trang Dạy và Học

Video nhạc tuyển
Du lịch Nha Trang

Trở về trang chính
Hoàng Kim
Ngọc Phương Nam
Thung dung
Dạy và học
Cây Lương thực
Dạy và Học
Tình yêu cuộc sống
Kim on LinkedIn
Kim on Facebook


Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ

  • PDF

alt


Tản văn của Hoàng Kim

Trèo đèo hai mái chân vân.
Lòng về Hà Tĩnh, dạ ân Quảng Bình
”.

Đèo Ngang là con đèo lịch sử đã đi vào ca dao, huyền thoại. Nhiều danh nhân- thi sĩ như Lê Thánh Tông, Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Vũ Tông Phan, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan ... đã lưu dấu tại đèo Ngang những tuyệt phẩm thơ. Đặc biệt, bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan rất nổi tiếng: "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà / Cỏ cây chen đá, lá chen hoa / Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên sông rợ mấy nhà/ Nhớ nước đau lòng con quốc quốc / Thương nhà mỏi miệng cái gia gia / Dừng chân đứng lại trời, non, nước / Một mảnh tình riêng ta với ta." Nguyễn Văn Thích, Lý Văn Hùng đã có hai bản dịch bài thơ này ra chữ Hán. Hoàng Đình Quang có bài họa "Qua đèo Ngang" thật ấn tượng: "Thế sự mông lung lộn chính tà/ Quần hồng ghi dấu bậc tài hoa/ Sáu bài thơ cổ lưu tên phố. Nữa thế kỷ nay đánh số nhà/ Khanh tướng chắc gì nên vọng tộc/ Câu thơ còn đó lập danh gia/ Chẳng bia, chẳng tượng, không đền miếu/ Ngẫm sự mất còn khó vậy ta." Trần Đăng Khoa cũng có hai câu cảm khái "Cái còn thì vẫn còn nguyên/ Cái tan dù tưởng vững bền cũng tan". Còn đó đèo Ngang gánh hai đầu đât nước, niềm thương nhớ khắc khoải của những người con xa xứ. Còn đó Hoành Sơn, Linh Giang ẩn tàng huyền thoại, lưu dấu những tuyệt phẩm thơ cổ còn mãi với thời gian.

Lê Thánh Tông (1442 – 1497) là vị Hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1460 đến 1497, tổng cộng 37 năm. Ông nổi tiếng là vị minh quân, là người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến. Ông cũng được xem là một nhà văn hoá và một người coi trọng hiền tài. Lê Thánh Tông trên đường chinh phục Chiêm Thành năm 1469 có bài Di Luân hải tần (Cửa Roòn) gửi Ma Cô (đền thiêng thờ công chúa Liễu Hạnh, ở xã Quảng Đông nam Đèo Ngang)

CỬA ROÒN

Lê Thánh Tông (*)

Tây Hoành Sơn thấy rõ Di Luân
Cát trải mênh mông tiếp biển gần
Sóng nước đá nhô xây trạm dịch
Gió sông sóng dựng lập đồn quan
Muối Tề sân phố mời thương khách
Rượu Lỗ quầy bàn tiếp thị dân
Muốn nhắn Ma Cô  nhờ hỏi giúp
Bụi trần Nam Hải có xua tan.

Trần Châu Báu Di Luân cẩn dịch

DI LUÂN HẢI TẤN

Hoành Sơn tây vọng thị Di Luân
Diễu diễu bình sa tiếp hải tần
Yên thủy sa đầu phân dịch thứ
Phong đào giang thượng kiến quan tân
Tề diêm trường phố yêu thương khách
Lỗ tửu bồi bàn túy thị nhân
Dục phỏng Ma Cô bằng ký ngữ
Nam minh kim dĩ tức dương trần.

Nguyễn Thiếp, (1723 – 1804), là nhà giáo, danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Ông được vua Quang Trung rất nể trọng. Nguyễn Thiếp đã hiến kế cho vua Quang Trung ” “Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”. Ông đồng thời cũng là người dâng ba kế sách “quân đức , dân tâm, học pháp”, dùng chữ Nôm thay chữ Hán để tạo thế lâu bền giữ nước, xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô nơi đất khởi nghiệp của Hồ Phi Phúc (tổ nghiệp của nhà Tây Sơn) để sâu rễ bền gốc. Vào khoảng đầu năm 1803, lúc Nguyễn Thiếp 80 tuổi, lúc vua Quang Trung đã mất, vua Quang Toản không giữ được cơ nghiệp,  vua Gia Long nhà Nguyễn thắng nhà Tây Sơn đã triệu ông vào gặp vua tại Phú Xuân để hỏi việc nước. Nghe vị chúa này tỏ ý muốn trọng dụng, ông lấy cớ già yếu để từ chối, rồi xin về. Trên đường về, khi qua đỉnh đèo Ngang, ông đã cảm khái đọc bài thơ Nôm:

ĐÃ TRÓT LÊN ĐÈO PHẢI XUỐNG ĐÈO

Nguyễn Thiếp

Đã trót lên đèo, phải xuống đèo
Tay không mình tưởng đã cheo leo
Thương thay thiên hạ người gồng gánh
Tháng lọn ngày thâu chỉ những trèo!

Danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746–1803),  nhà văn, nhà mưu sĩ đời hậu Lê–Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh cũng cảm khái khi “lên đèo Ngang ngắm biển”. Bài thơ cao khiết, bi tráng, mang sắc thái thiền.

LÊN ĐÈO NGANG NGẮM BIỂN

Ngô Thì Nhậm

Bày đặt khen thay thợ hóa công,
Khéo đem hang cọp áp cung rồng.
Bóng cờ Trần đế (1) dường bay đó,
Cõi đất Hoàn vương (2) thảy biến không.
Chim đậu lùm xanh, xanh đã lão,
Ngạc đùa sóng bạc, bạc nên ông.
Việc đời bọt nổi, xưa nay thế,
Phân họp giành trong giấc hạc nồng (3)

Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

ĐĂNG HOÀNH SƠN VỌNG HẢI

Tạo hóa đương sơ khổ dụng công,
Khước tương hổ huyệt xấn giao cung.
Hoàn vương phong vực qui ô hữu,
Trần đế tinh kì quải thái không.
Tình thụ thê cầm thương dục lão,
Nộ đào hí ngạc bạch thành ông.
Vô cùng kim cổ phù âu sự.
Phân hợp du du hạc mộng trung.

Chú thích:
(1) Trần đế:Các vua đời Trần.
(2) Hoàn vương: Chiêm Thành.
(3) Giấc hạc: Giấc mộng hạc. Câu thơ ý nói cuộc tranh giành đất đai giữa Đằng Ngoài và Đằng Trong chẳng qua chỉ là giấc mộng trần thế sẽ tiêu tan.

Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) có bài thơ “Qua đèo Ngang” trong Hải Ông Tập. Họa vần bài thơ “năm Giáp Dần (1794), vâng mệnh vào kinh Phú Xuân, lúc lên đường lưu biệt các bạn ở Bắc Thành” của Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn  ( Đoàn Nguyễn Tuấn là con Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Hương Cống đời Lê, có chiêu mộ người làng giúp Trịnh Bồng đánh Chỉnh, sau ra giúp Tây Sơn, làm đến chức Tả Thị Lang Bộ Lại, tước Hải Phái Bá. Có đi sứ Trung Quốc năm 1790 và có tập thơ nhan đề Hải Ông tập. Ông là anh vợ Nguyễn Du, hơn Nguyễn Du khoảng 15 tuổi). Đọc bài thơ này của Nguyễn Du để hiểu câu thơ truyện Kiều  “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”. .

QUA ĐÈO NGANG

Nguyễn Du

Họa Hải Ông  Đoàn Nguyễn Tuấn

Tiến về Nam qua đèo Ngang
Hành trình đầy đủ gươm đàn mang theo
Thuốc thần nào đã tới đâu
Mảnh da beo vẫn mối đầu lụy thân
Ánh mầu nước, chén rượu xanh
Dõi theo vó ngựa một vành trăng quê
Gặp gia huynh  hỏi xin thưa
Đường cùng tôi gặp, tóc giờ điểm sương

HOẠ HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình
Cần kiếm tương thuỳ thướng ngọc kinh
Thỏ tuỷ vị hoàn tân đại dược
Báo bì nhưng luỵ cựu phù danh
Thương minh thuỷ dẫn bôi trung lục
Cố quốc thiềm tuỳ mã hậu minh
Thử khứ gia huynh như kiến vấn
Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh

Nguyễn Tâm Hàn phỏng dịch

MaiHacNguyenDu

Hai câu thơ lưu lạc trên đĩa Mai Hạc “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen” truyền là của Nguyễn Du cho làm trên những sản phẩm gốm sứ Quảng Tây khi ông đi sứ Trung Quốc.

Hai câu thơ lưu lạc nổi tiếng khác “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Mười năm chu du tìm gươm báu / Đời ta chỉ cúi lạy hoa mai) mà người đời cho là của Chu Thần Cao Bá Quát nhưng theo “Như Thanh nhật ký” của Nguyễn Tử Giản thì năm Mậu Thìn (1868) tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đón tiếp và tặng đôi câu đối trên cho phó chánh sứ Nguyễn Tử Giản. Lại cũng nghe nói rằng hai câu thơ này không phải là do Nãi Tuấn Mễ sáng tác mà cũng chính là của  Nguyễn Du làm trên gốm sứ Hoa Bắc khi ông đóng vai nhà sư lưu lạc mười năm ở Nam Trung Quốc có lên tận Yên Kinh cùng Hà Mỗ Quản Vũ Hầu Nguyễn Đăng Tiến để chuyển hóa thời vận. Nguyễn Du tính tình khoan hòa, điềm tĩnh, trọng “quân đức , dân tâm, học pháp”, ông chỉ bái lạy bậc hiền minh như cúi lạy trước hoa mai, “mai cốt cách, tuyết tinh thần” như hoa mai.

Danh sĩ Vũ Tông Phan, (1800 – 1851),  nhà giáo dục, người có công lớn trong việc chấn hưng văn hóa Thăng Long thời vua Minh Mệnh cũng có bài thơ “Qua lũy Ninh Công nhớ chuyện xưa” rất nổi tiếng:

QUA LUỸ NINH CÔNG NHỚ CHUYỆN XƯA

Vũ Tông Phan

Đất này ví thử phân Nam, Bắc
Hà cớ năm dài động kiếm dao?
Trời tạo Hoành Sơn còn chẳng hiểm,
Người xây chiến lũy tổn công lao.
Thắng, thua rốt cuộc phơi hoang mộ,
Thù hận dư âm rợn sóng đào.
Thiên hạ nay đà quy một mối
Non sông muôn thuở vẫn thanh cao.

QÚA NINH CÔNG LŨY HOÀI CỔ

Nhược tương thử địa phân Nam Bắc,
Hà sự kinh niên động giáp bào?
Thiên tạo Hoành Sơn do vị hiểm,
Nhân vi cô lũy diệc đồ lao.
Doanh thâu để sự không di chủng,
Sát phạt dư thanh đái nộ đào.
Vũ trụ như kim quy nhất thống,
Mạc nhiên sơn thủy tự thanh cao.

Người dịch: Vũ Thế Khôi
Nguồn: Đào Trung Kiên (Thi Viện)

Chu Thần Cao Bá Quát (1809 – 1855) là quốc sư của cuộc nổi dậy Mỹ Lương, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam. Cao Bá Quát có hai bài thơ viết ở đèo Ngang đó là Đăng Hoành Sơn (Lên núi Hoành Sơn) và Hoành Sơn Quan (Ải Hoành Sơn)

LÊN NÚI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi,
Bên non cỏ nội tiễn đưa người.
Ai tài kéo nước nghìn năm lại ?
Trăm trận còn tên một lũy thôi.
Ải bắc mây tan mưa dứt hạt,
Thôn nam nắng hửng sớm quang trời.
Xuống đèo mới biết lên đèo khổ,
Trần lụy, sao đành để cuốn lôi ?

ĐĂNG HOÀNH SƠN

Sơn ngại thanh sơn vạn lý Trình,
Sơn biên dã thảo tống nhân hành.
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc,
Chinh chiến không tồn nhất lũy danh.
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ,
Nam trang sơ hiểu đái tân tình,
Há sơn phản giác đăng sơn khổ,
Tự thán du du ủy tục tình!

Người dịch: Nguyễn Quý Liêm
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn

ẢI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Non cao nêu đất nước,
Liền một dẫy ra khơi.
Thành cũ trăm năm vững,
Ải xa nghìn dặm dài.
Chim về rừng lác đác,
Mây bám núi chơi vơi.
Chàng Tô nấn ná mãi,
Tấm áo rách tơi rồi.

HOÀNH SƠN QUAN

Địa biểu lập sàn nhan,
Liêu phong đáo hải gian.
Bách niên khan cổ lũy,
Thiên lý nhập trùng quan.
Túc điểu sơ đầu thụ,
Qui vân bán ủng sơn.
Trì trì Tô Quí tử,
Cừu tệ vị tri hoàn.

Bản dịch của Hóa Dân
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn

Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh; là một nhà thơ nữ nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam với  bài  thơ “Qua đèo Ngang’, một tuyệt phẩm thơ cổ, được người đời  truyền tụng hơn cả.


QUA ĐÈO NGANG

Bà huyện Thanh Quan

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.

Bài thơ này của Bà Huyện Thanh Quan được Nguyễn Văn Thích dịch thơ chữ Hán

BỘ ĐÁO HOÀNH QUAN

Bộ đáo Hoành Quan nhật dĩ tà,
Yên ba gian thạch, thạch gian hoa.
Tiều quy nham hạ, ta ta tiểu,
Thị tập giang biên, cá cá đa.
Đỗ vũ tâm thương, thanh quốc quốc,
Giá cô hồn đoạn, tứ gia gia.
Đình đình trữ vọng: thiên, sơn, hải,
Nhất phiến cô hoài, ta ngã ta.

Bản dịch chữ Hán của Nguyễn Văn Thích

QUÁ HOÀNH SƠN

Quá Hoành Sơn đỉnh tịch dương tà
Thảo mộc tê nham diệp sấn hoa
Kỳ khu lộc tế tiều tung yểu
Thác lạc giang biên điếm ảnh xa
Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia
Tiểu đình hồi vọng thiên sơn thuỷ
Nhất phiến ly tình phân ngoại gia.

Bản dịch chữ Hán của Lý Văn Hùng.

Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) nhà cách mạng, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20. Hai bài thơ của Bác Hồ lúc 5 tuổi , là hai bài đồng dao của Nguyễn Sinh Cung ( là Nguyễn Tất Thành, tên thuở nhỏ của Hồ Chí Minh ) làm trên đèo Ngang, trong chuyện kể “Tất Đạt tự ngôn” được Sơn Tùng ghi lại. Đó cũng là những câu thơ lưu lạc, huyền thoại giữa đời thường.

KHÔNG ĐỀ

Nguyễn Sinh Cung – 1895

Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng theo con
Núi nằm ì một chỗ
Cha thì cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn ngọn núi
Con đường lười hơn con.

 Biển là ao lớn.
Thuyền là con bò
Bò ăn no gió
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn.

Lạ lùng thay câu chuyện “đường lưỡi bò” và lời đồng dao  “Biển là ao lớn, Thuyền là con bò” “Em nhìn thấy trước, Anh trông thấy sau” của cậu bé Nguyễn Sinh Cung nói trên đỉnh đèo Ngang năm 1895 mà  Sơn Tùng đã ghi lại và in trên báo Cứu Quốc lần đầu năm 1950 (!). Câu chuyện trẻ con đan xen những ẩn khuất lịch sử chưa được giải mã đầy đủ về Quốc Cộng hợp tác, tầm nhìn Hoàng Sa, Trường Sa của Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1424-1427, lúc mà Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thụy làm phiên dịch cho Borodin trưởng đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô tới Quảng Châu giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch.

Ai gửi cho ai những câu thơ lưu lạc.
Giữa trần gian thầm lặng tháng năm dài?”

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”.
(Mười năm lưu lạc tìm gương báu
Bình sinh ta chỉ bái hoa mai) 


Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ. Còn đó đèo Ngang gánh hai đầu đât nước, niềm thương nhớ khắc khoải của những người con xa xứ. Còn đó Hoành Sơn, Linh Giang ẩn tàng huyền thoại, lưu dấu những tuyệt phẩm thơ cổ còn mãi với thời gian.

DeoNgang

Đèo Ngang, nơi lưu dấu những huyền thoại.

Ba

Video yêu thích
Casava in Vietnam: Save and Grow, PhuYen
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Thành phố đẹp bên bờ biển xanh

  • PDF


Tôi đến thăm anh
Thành phố đẹp
Bên bờ biển xanh
Núi biếc thông xanh
Thảm cỏ xanh non
Lộng lồng gương trong
Thung dung đồng xuân, biển xanh
Soi trời xanh Tổ Quốc
Giấc mơ xuân

Những cây cầu nối đôi bờ thương nhớ
Dãy dãy ngôi nhà mới xây cao vút
Linh ứng đất trời lòng người
Vượng khí non sông

Ước biển lặng, trời yên
Chim câu nhởn nhơ bay
Cây thông xanh
Rặng liễu mềm
Hoa xuân đơm nụ
Trẻ em tung tăng đến trường
Cụ già dạo chơi thong thả
Bầu trời xanh mênh mông ...

Tôi đến thăm anh
Lặng ngắm cánh đồng xanh
Và dãy núi anh hùng.

Tôi ở nơi xa
vùng quê nghèo nàn
vất vả,
Chốn thị thành
xa lạ,
với tôi
chưa kịp hiểu nhiều.
Nhưng tôi biết rõ một điều
Anh đã sống hết mình cho quê hương anh
cho đồng bào anh
cần thiết cho thời đại của anh
nên cuộc đời ghi công anh
Người dân ghi trong tim
và truyền trong bia miệng
Êm như nhung
Ấm như nắng
Mềm như nước
Sắc như dao
Nhẹ như hơi thở
Ngọt như khúc dân ca

Lòng tôi bồi hồi
Thấm hiểu câu thơ ông Trứ:
"Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông"

Anh còn đó
cùng bạn hiền
bia miệng
lòng người
và lưu dấu
với quê hương.

Hoàng Kim

Video nhạc tuyển
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
Trở về trang chính
dạy và học 
hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim,
foodcrops.vnKim LinkedInKimFaceBook

 

Đất nước trọn niềm vui

  • PDF

Đất nước trọn niềm vui
Trình bày : Tạ Minh Tâm Play
Lyrics by Duong Ho Phuong Anh


Ta đi trong muôn ánh sao vàng, rừng cờ tung bay!
Rộn ràng bao mê say những bước chân dồn về đây.
Sài Gòn ơi!
Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng.
Ta nghe vang như tiếng Bác Hồ dậy từ non sông!
Rạo rực sao hôm nay, Bác vui với hội toàn dân.
Thành Đồng ơi!
Sắt son đã vang khải hoàn.
Ôi! hạnh phúc vô biên!
Hát nữa đi em, những lời yêu thương.
Hò ơ...ớ hò...ớ hò...ớ hò....
Hội toàn thắng náo nức đất nước,
Ta muốn bay lên, say ngắm sông núi hiên ngang,
Ta muốn reo vang, hát ca muôn đời Việt Nam, Tổ quốc anh hùng!
Ôi quê hương dẫu bao lần giặc phá điêu tàn mà vẫn ngoan cường
Giành một ngày toàn thắng.
Đẹp quá!
Đời rực sáng những ánh mắt lấp lánh,
Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương,
ta muốn ca vang bước chân những người chiến sĩ giải phóng kiên cường!
Đêm hoa đăng, những môi cười là bó hoa đời tươi thắm tuyệt vời,
Đẹp niềm tin mãi mãi Tổ Quốc muôn đời,
Trọn vẹn cả non sông thống nhất Rạng rỡ Việt Nam. 

 

Đoàn Vệ Quốc Quân

  • PDF

Đoàn Vệ Quốc Quân
Sáng tác: Phan Huỳnh Điểu Play


Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi
Toàn thắng vinh quang ghi ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui

Cờ bay phất phới ngời màu Lạc Hồng
Kèn reo vang tiếng gọi dòng Lạc Hồng
Cùng Vệ quốc quân
Ra đi ra đi theo hồn sông núi
Thù bao năm xưa có bao giờ nguôi
Dưới cờ oai nghiêm sao vàng bay
Đoàn quân Việt Nam có hay
Ngày xưa biết bao vị hùng anh
Quyết vì non sông ra tay bao lần
Ngày nay đoàn quân ta gắng làm sao
Giành quyền tự do hạnh phúc cho dân

Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi
Dù có gian nguy nhưng lòng không nề
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui

FOODCROPS. KHẮC TÂM

 

Quảng Bình Quê Ta Ơi

  • PDF

Quảng Bình Quê Ta Ơi

Ca sĩ:Phạm Phương Thảo Play

Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta nhiều ngói mới
Rằng : có đắng cay nên chừ mới có ngọt bùi
Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta đồng lúa tốt
Có nhớ những ngày cơ cực tối tăm ngày xưa
Quảng Bình (Khoan khoan hò khoan)
bao mến thương (Khoan khoan hò khoan)
Đã mười năm rồi quê ta bao đổi thay rồi (Khoan khoan hò khoan)
Từ biển xanh (Khoan khoan hò khoan)
đến rừng núi xanh (Khoan khoan hò khoan)
Xinh tươi bốn mùa rộn vang tiếng hò khoan
Lệ Thủy trên dòng sông Kiến Giang dạt dào tình quê
Ơi chị dân quân canh gác ven biển
Ơi anh chiến sĩ cang gác bầu trời
Mỗi ngày quê ta trưởng thành
hạt giống cách mạng đã nảy mầm xanh tươi

Quảng Bình quê ta ơi !
Giữ lấy đất trời của quê hương ta
Giữ lấy những gì mà ta yêu qúy
Quảng Bình quê ta ơi !
Muôn người như một gửi về Trịnh Thiên tấm lòng sắt son
Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà

Có ai về Đại Phong xin vô ghé thăm vùng bến Tiến
Tay cuốc khai hoang đã đẩy lùi quá khứ nghèo nàn
Có ai về Quảng Phú vui nghe tiếng hò kéo lưới
Hợp tác chung trời chung biển cá tươi đầy khoang
Vẻ vang thay (Khoan khoan hò khoan)
bao tấm gương (Khoan khoan hò khoan)
Bám biển đêm ngày (Khoan khoan hò khoan)
Đồng luá xanh (Khoan khoan hò khoan)
với hàng cây xanh (khoan khoan hò khoan)
Vui trên bến thuyền ngược xuôi giữa dòng
Nhật Lệ như những con thoi suốt ngày từng đoàn xe đi
Ơi chị thanh niên phơi muối ven biển
Ơi anh công nhân đắn gỗ trên rừng
Lứa tuổi thanh xuân hai mươi tuổi đời
cùng với quê hương lớn lên rồi cả cuộc đời mới

Quảng Bình quê ta ơi !
Giữ lấy đất trời của quê hương ta
Giữ lấy những gì mà ta yêu qúy
Quảng Bình quê ta ơi !
Muôn người như một gửi về Trịn Thiên tấm lòng sắt son
Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà

Có ai về Rào Nam xin vô ghé thăm vùng Cự Nẫm
Làng chiến đấu xưa nay đã đổi mới muôn màu
Có ai về Cảnh Dương quê tôi đứng nơi đầu sóng gió
Truyền thống đánh giặc giữ làng mãi mãi còn đây
Dòng sông Giang (Khoan khoan hò khoan)
với hàng dương (Khoan khoan hò khoan)
Đời đời hát ca tên anh, những người anh hùng (Khoan khoan hò khoan)
Có còn nhớ chăng (Khoan khoan hò khoan)
những ngày kháng chiến (Khoan khoan hò khoan)
Đêm đêm ngóng chờ tin thắng trận bến Xuân Bồ
Ôi ! nhớ sao các mẹ các anh chị dành gạo nuôi quân
Ơi ! chị dân quân canh gác ven biển
Ơi ! anh chiến sĩ canh gác bầu trời
Mỗi ngày qua quê ta trưởng thành
hạt giống cách mạng đã nảy mầm xanh tươi

Quảng Bình quê ta ơi !
Giữ lấy đất trời của quê hương ta
Giữ lấy những gì mà ta yêu qúy
Quảng Bình quê ta ơi !
Muôn người như một gửi về Trị Thiên tấm lòng sắt son
Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà

 

Quê Hương là chùm khế ngọt

  • PDF

Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt
Lời thơ: Đỗ Trung Quân
Ca sĩ: Cẩm Ly Play

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông


Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá ngiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một Mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng

  • PDF

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng
Lời nhạc: Play

Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng,
Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng
30 năm đấu tranh giành trọn vẹn non sông
30 năm dân chủ Cộng hoà kháng chiến đã thành công.
Việt Nam Hồ Chí Minh
Việt Nam Hồ Chí Minh
Việt Nam Hồ Chí Minh
Việt Nam Hồ Chí Minh

FOODCROPS.HỌC MỖI NGÀY

Trâu ơi ta ta bảo trâu này

  • PDF

Trâu ơi ta ta bảo trâu này

Lời nhạc: ...Play

Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Kiên Giang mình đẹp lắm

  • PDF

Kiên Giang mình đẹp lắm
Nhạc sĩ: Lê Quang
Ca sĩ: Quang Linh Play

Chiều xuống đứng bên cầu nghe sóng biển 
Nắng thu vàng chiếu rạng bến bờ
 Kiên Giang mình đẹp làm sao!

 Bóng mây sánh đôi bóng núi
 Con chim nhạn hát điệu tình quê
 Một biển trời như có mẹ cất tiếng ru

 Trăng nhú lên bến cảng quê hương
 Trăng cũng đẹp, đất cũng đẹp sao đâu đâu cũng đẹp
 Trăng lấp lánh lung linh bến nước
 Đoàn tàu về loang loáng trên sông

 Màn trời đêm êm ả thanh bình
 Đêm bình yên hương lúa ngạt ngào
 Đêm bình yên nghe sóng biển vỗ về

 **
 Nghề đánh cá an nhàn nơi sóng biển
 Thấy ăn làm nhớ chuyện thánh thần
 Công ơn còn tạc lòng dân

 Có câu hiếu sanh nố sát
 Tâm thiên địa cứu nịch pḥò nguy
 Lượng hải hà cơn sóng dậy lúc gió qua

 Đem tấm thân cứu đỡ dân ta
 Nam cũng vậy, Bắc cũng vậy cho đâu đâu cũng vậy
 Công đức ấy anh linh thế ấy
 Lòng vẹn lòng như khắc như ghi (a)

 Trùng trùng dâng Nam Hải chi nguyền (à)
 Trăm là năm hương khói mồi ngày
 Trăm là năm hương khói ngày lễ thần.

Bụi phấn

  • PDF

Bụi phấn

alt

Nhạc sỹ: Vũ Hoàng
Thơ: Lê Văn Lộc
Ca sĩ: Ngọc Linh Play



Khi Thầy viết bảng
bụi phấn rơi rơi.
Có hạt bụi nào
rơi trên bục giảng
Có hạt bụi nào
vương trên tóc Thầy

Em yêu phút giây này
Thầy em, tóc như bạc thêm
bạc thêm vì bụi phấn
đã cho em bài học hay

Mai sau lớn, nên người
Làm sao, có thể nào quên?
Ngày xưa Thầy dạy dỗ
khi em tuổi còn thơ

Đất nước trọn niềm vui

  • PDF

Đất nước trọn niềm vui
Nhạc sĩ: Hoàng Hà (Cẩm La)
Ca sĩ: Tạ Minh Tâm Play

Ta đi trong muôn ánh sao vàng, rừng cờ tung bay!
Rộn ràng bao mê say những bước chân dồn về đây.
Sài Gòn ơi!
Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng.
Ta nghe như vang tiếng Bác Hồ dậy từ non sông!
Rạo rực sao hôm nay, Bác vui với hội toàn dân.
Thành Đồng ơi!
Sắc son đã vang khải hoàn.
Ôi! Hạnh phúc vô biên!
Hát nữa đi em, những lời yêu thương.
Hò ơ...ớ hò...ớ hò...ớ hò....
Hội toàn thắng náo nức đất nước,
Ta muốn bay lên, say ngắm sông núi hiên ngang,
Ta muốn reo vang, hát ca muôn đời Việt Nam,
Tổ quốc anh hùng!
Ôi quê hương dẫu bao lần giặc phá điêu tàn mà vẫn ngoan cường
Giành một ngày toàn thắng.
Đẹp quá...!
Đời rực sáng những ánh mắt lấp lánh,
Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương,
Ta muốn ca vang bước chân những người chiến sĩ giải phóng kiên cường!
Đêm hoa đăng, những môi cười là đóa hoa đời tươi thắm tuyệt vời,
Đẹp niềm tin mãi mãi Tổ Quốc muôn đời,
Trọn vẹn cả non sông thống nhất
Rạng rỡ Việt Nam.

FOODCROPS. VIỆT NAM

Việt Nam quê hương tôi

  • PDF

Việt Nam quê hương tôi
Lời nhạc: Đỗ Thuận
Ca sĩ: Quang Linh . Play


Bạn ơi hãy đến thăm quê hương chúng tôi
Ngắm mặt biển xanh xa tít chân trời
Nghe sóng vỗ dãt dào biển cả
Vút phi lao gió thổi trên bờ
Buồm vươn cánh vượt sóng ra ngoài khơi
Trong nắng hồng bừng lên sáng ngời

Miền Nam đất nước quê hương chúng tôi
Có rừng dừa xanh xa tít chân trời
Người thiếu nữ dạt dào tình trẻ
Dáng xinh tươi đang tuổi yêu đời
Lòng trai tráng rộng lớn như biển khơi
Với cánh tay dựng nên đất trời

Mùa xuân đã đến quê hương chúng tôi
Mía ngọt chè xanh bông trắng lưng đồi
Đồng xanh lúa rập rờn biển cả
Tiếng ai ru con ngủ ru hời
Đồng xanh lúa thẳng cánh bay cò bay
Đưa nước về đồng quê sáng rồi

Việt Nam yêu dấu xanh xanh luỹ tre
Suối đổ về sông qua những nương chè
Dòng sông cuốn dồn về biển cả
Lứa thanh niên vui thoả cuộc đời
Mùa xuân tới nguồn sống đang sục sôi
Đất nước tôi Việt Nam sáng ngời 

FOODCROPS. VIỆT NAM

Tre Việt Nam

  • PDF

Tre Việt Nam

Tre xanh
xanh tự bao giờ
chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh? 

Thân gày guộc, lá mong manh
mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
ở đâu tre cũng xanh tươi
cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu? 

Có gì đâu, có gì đâu
mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều
rễ siêng không ngại đất nghèo
tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù 

Vươn mình trong gió tre đu
cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
tre xanh không đứng khuất mình bóng râm 

Bão bùng thân bọc lấy thân
tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
thương nhau tre không ở riêng
lũy thành từ đó mà nên hỡi người
chẳng may thân gãy cành rơi
vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
nòi tre đâu chịu mọc cong
chưa lên đã nhọn như chông lạ thường 

Lưng trần phơi nắng phơi sương
có manh áo cộc tre nhường cho con
măng non là búp măng non
đã mang dáng thẳng thân tròn của tre
năm qua đi tháng qua đi
tre già măng mọc có gì lạ đâu
Mai sau
mai sau
mai sau
đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

Bình Ngô Đại Cáo

  • PDF

Bình Ngô Đại Cáo
Nguyễn Trãi
Bản dịch:  của Ngô Tất Tố 


Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Vưà rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Miịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh
Mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Dánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.

*
*  *

 

Nguyễn Trãi

Bình Ngô Đại Cáo

Bản diễn Nôm


 
Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết.
Cái văn:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư mạc tiên khứ bạo.
Duy, ngã Đại Việt chi quốc,
Thật vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực kí thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị.
Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.
Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
Nhi Triệu Tiết hảo đại dĩ xúc vong.
Toa Đô kí cầm ư Hàm Tử quan,
Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.
Kê chư vãng cổ,
Quyết hữu minh trưng.
Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà.
Chí sử nhân tâm chi oán bạn.
Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;
Ác đảng hoài gian, cánh dĩ mại ngã quốc.
Hân thương sinh ư ngược diệm,
Hãm xích tử ư họa khanh.
Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;
Liên binh kết hấn nẫm ác đãi nhị thập niên.
Bại nghĩa thương nhân, càn khôn kỉ hồ dục tức;
Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mi hữu kiết di.
Khai kim trường tái mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,
Thái minh châu tắc xúc giao long nhi căng yêu thộn hải.
Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh,
Điễn vật chức thúy cầm chi võng la.
Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kì sinh,
Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kì sở.
Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;
Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.
Châu lí chi chinh dao trọng khốn,
Lư diêm chi trữ trục giai không.
Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kì ô,
Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kì ác.
Thần dân chi sở cộng phẫn,
Thiên địa chi sở bất dung.
Dư:
Phấn tích Lam Sơn,
Thê thân hoang dã.
Niệm thế thù khởi khả cộng đái,
Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.
Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,
Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.
Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,
Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lí.
Đồ hồi chi chí
Ngộ mị bất vong.
Đương nghĩa kì sơ khởi chi thì,
Chính tặc thế phương trương chi nhật.
Nại dĩ:
Nhân tài thu diệp,
Tuấn kiệt thần tinh.
Bôn tẩu tiên hậu giả kí phạp kì nhân,
Mưu mô duy ác giả hựu quả kì trợ.
Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;
Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.
Nhiên kì:
Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,
Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.
Phẫn hung đồ chi vị diệt,
Niệm quốc bộ chi tao truân.
Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,
Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.
Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm,
Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.
Yết can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập;
Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.
Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;
Dĩ quả địch chúng thường thiết phục dĩ xuất kì.
Tốt năng:
Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,
Dĩ chí nhân nhi dị cường bạo.
Bồ Đằng chi đình khu điện xế,
Trà Lân chi trúc phá hôi phi.
Sĩ khí dĩ chi ích tăng,
Quân thanh dĩ chi đại chấn.
Trần Trí Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,
Lý An Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.
Thừa thắng trường khu, Tây Kinh kí vị ngã hữu;
Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.
Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lí;
Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên.
Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, kí kiêu kì thủ;
Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.
Vương Thông lí loạn nhi phần giả ích phần,
Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.
Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong;
Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.
Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,
Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô.
Chấp nhất kỉ chi kiến dĩ giá họa ư tha nhân,
Tham nhất thì chi công dĩ di tiếu ư thiên hạ.
Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;
Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.
Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,
Nản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.
Dư tiền kí tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kì phong,
Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kì thực.
Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dã;
Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã An chi sơn.
Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu,
Nhị thập bát nhật Thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.
Ngã toại nghênh nhận nhi giải,
Bỉ tự đảo qua tương công.
Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,
Kì dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.
Viên tuyển tì hưu chi sĩ,
Thân mệnh trảo nha chi thần.
Ẩm tượng nhi hà thủy càn,
Ma đao nhi sơn thạch khuyết.
Nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn,
Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.
Quyết hội nghĩ ư băng đê,
Chấn cương phong ư cảo diệp.
Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,
Thượng thư Hoàng Phúc diện phọc dĩ tựu cầm.
Cương thi tái Lượng Giang Lượng Sơn chi đồ,
Chiến huyết xích Xương Giang Bình Than chi thủy.
Phong vân vị chi biến sắc,
Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.
Kì Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;
Kì Mộc Thạnh chúng văn Liễu Thăng vị ngã quân sở bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.
Lãnh Câu chi huyết chử phiếu, giang thủy vị chi ô yết;
Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng.
Lưỡng lộ cứu binh kí bất toàn chủng nhi câu bại,
Các thành cùng khấu diệc tướng giải giáp dĩ xuất hàng.
Tặc thủ thành cầm, bỉ kí trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;
Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, kí độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.
Bỉ kí uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;
Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.
Phi duy mưu kế chi cực kì thâm viễn,
Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.
Xã tắc dĩ chi điện an,
Sơn xuyên dĩ chi cải quan.
Càn khôn kí bĩ nhi phục thái,
Nhật nguyệt kí hối nhi phục minh.
Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ,
Vu dĩ tuyết thiên địa vô cùng chi sỉ.
Thị do thiên địa tổ tông chi linh hữu
Dĩ mặc tương âm hữu nhi trí nhiên dã
Ô hô!
Nhất nhung đại định, hất thành vô cạnh chi công;
Tứ hải vĩnh thanh, đản bố duy tân chi cáo.
Bá cáo hà nhĩ,
Hàm sử văn tri.

More:
. Nguyễn Trãi và Âm Nhạc

FOODCROPS. THƠ VĂN 

Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi

  • PDF

DAYVAHOC. Nguyễn Trãi Đã có nhiều tôn vinh nhưng như giáo sư Phan Huy Lê nhận xét trong bài "Nguyễn Trãi - 560 năm sau vụ án Lệ chi viên":"Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá hoạ dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên luỵ đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hoá..., lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hoá của dân tộc".

Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, "Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm" "Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời "."Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc" đã chép bài thơ thần "Yên Tử "của Nguyễn Trãi;.nay xin chép tiếp các bài "Ngôn chí," "Quan hải", "Oan than" của Người kèm lời cảm nhận của Vũ Bình Lục.

Hoan nghênh các anh chị Xóm Lá dịch thơ và hòa vần.

Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, qu ân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất,.Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê).

Dưới đây là bốn bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi

NGÔN CHÍ

Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
Thị phi nào đến chốn yên hà
Cơm ăn dù có dưa muối
Áo mặc nài chi gấm là
Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải luống ương hoa
Trong khi hứng động bề đêm tuyết
Ngâm được câu thần dững dưng ca

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

QUAN HẢI

Nguyên văn chữ Hán

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹烟

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng[3] di hận kỷ thiên niên.
Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
Họa phúc có manh mối không phải một ngày
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

CỬA BIỂN

Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
Thêm ngầm dây sắt - uổng công thôi !
Lật thuyền, thấm thía dân như nước
Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc ?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi ?
Xưa nay trời đất vô cùng ý
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

(Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

OAN THÁN

Nguyên văn chữ Hán

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
Non xưa suối đá phụ duyên rồi
Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
Họa thực, danh hư , khéo tức cười
Số khó lọt vành âu bởi mệnh
Văn chưa tàn lụi cũng do trời
Trong lao độc bối cam mang nhục
Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

Bản dịch của Thạch Cam

Năm mươi năm thế tục bình bồng
Khe núi lòng cam bội ước chung
Cười nạn hư danh, trò thực họa
Thương phường báng bổ kẻ cô trung
Mạng đà định số, làm sao thoát
Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

Bản dịch của Lê Cao Phan

TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

Vũ Bình Lục

(Về bài thơ NGÔN CHÍ - SỐ13 của Nguyễn Trãi)

Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối biết về đâu?

Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

Hai câu đầu:
Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu

Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cÅ ©ng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
Tuyết sóc treo cây điểm phấn
Cõi đông giải nguyệt in câu.

Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu

Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về r ừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

Hai câu cuối, tác giả viết:
Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
Trời ban tối ước về đâu?

Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể, bởi thơ nhìn chung là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà trộn đan xen. Hai câu kết của bài thơ xem ra mới thật sự là tâm điểm của bài thơ. Phải chăng, con thuyền mọn kia, chính là hình ảnh Ức Trai Tiên sinh, như con thuyền nhỏ bé ấy, đang một mình đi tìm bến đỗ, mà chưa tìm thấy nơi đâu là bến là bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Ức Trai viết bài thơ này vào thời điểm quân Minh đang đô hộ nước ta, Ức Trai đang bị giam lỏng ở thành Đông Quan, chưa tìm được minh chủ mà đem tài giúp nước? Cũng có thể đây là thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, về ở ẩn tại Côn Sơn, trong hoàn cảnh chính sự trong nước đang rất đen tối, nhất là ở nơi triều chính. Nguyễn Trãi từ tin tưởng, đến nghi ngờ và thất vọng trước thực tại đau lòng: Biết bao trung thần bị hãm hại, còn lũ gian thần hiểm ác nổi lên như ong, nhũng lọan cả triều đình. Làm sao mà không bi quan cho được khi mà Trời ban tối, biết về đâu?

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam