Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Technology

USDA không kiểm soát thực vật biên tập gen bằng CRISPR giống như với GMO

USDA  không kiểm soát thực vật biên tập gen bằng CRISPR giống như với GMO 

Một tuyên bố của Bộ trưởng Nông nghiệp Hoa Kỳ Sonny Perdue tuần trước đã chỉ rõ rằng Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) hiện và sẽ không có kế hoạch quản lý thực vật hoặc cây trồng biến đổi gen. Trái ngược với sinh vật biến đổi gen (GMO) vốn liên quan đến việc bổ sung gen từ các sinh vật khác như vi khuẩn, USDA cho rằng thực vật biên tập tương tự như thực vật được phát triển thông qua các kỹ thuật nhân giống truyền thống và do đó, ít đòi hỏi sự giám sát quản lý hơn.

USDA đã âm thầm chấp nhận các sản phẩm được biên tập bằng CRISPR trong một khoảng thời gian với lập trường không chính thức là trừ khi vật liệu di truyền khác được đưa thêm vào một loài thực vật, cây trồng xứng đáng không cần quy định đặc biệt. Tuyên bố mới là quan điểm chính thức nhất mà cơ quan quản lý đưa ra về vấn đề này cho đến nay.

“Với cách tiếp cận này, USDA hướng đến cho phép sự đổi mới khi không có rủi ro hiện hữu. Đồng thời, tôi muốn nói rõ với người tiêu dùng rằng chúng tôi sẽ không xa rời khỏi trách nhiệm quản lý của mình. Tuy các loại cây trồng này không đòi hỏi phải giám sát quản lý nhưng chúng tôi có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cây trồng bằng cách đánh giá các sản phẩm được phát triển bằng công nghệ sinh học hiện đại”, Bộ trưởng Perdue cho biết.

Tuyên bố xác nhận điều này có nghĩa là cơ quan này sẽ không quản lý các loài thực đã chịu một loạt các thay đổi di truyền, bao gồm xóa gen, thay thế hoặc chèn cặp base đơn từ loài cây họ hàng tương thích mà có thể được tạo ra thông qua nhân giống cây trồng truyền thống.

Gần đây, các quốc gia ở châu Âu cũng đã phải vật lộn với câu hỏi hóc búa mới này và trong khi nhiều nước đã đi theo đường lối cứng rắn với GMO thì họ cũng đang vẽ ra sự phân biệt lớn giữa biên tập gen và những gì được định nghĩa theo cách cổ điển là GMO. Cả Đức và Thụy Điển gần đây đã đưa ra các phán quyết riêng cho rằng cây trồng biến đổi gen không thể phân loại giống như GMO.

Do khuôn khổ pháp lý phức tạp ở Hoa Kỳ, USDA không phải là cơ quan duy nhất để có tiếng nói trong vấn đề này. Cả Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) và Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) cũng đóng vai trò giám sát các quy định này và cụ thể FDA sẽ có kết luận cuối cùng về sự an toàn của thực phẩm dành cho con người.

Mặc dù FDA hiện chưa đưa ra hướng dẫn cụ thể nào về thực phẩm biên tập gen nhưng một nhà phát ngôn cho hay cơ quan này hiện đang xem xét vấn đề. Tuy nhiên, năm ngoái FDA đã ban hành các quy định gây tranh cãi về động vật biến đổi gen. Cơ quan cho biết bất kỳ hoạt động biên tập bộ gen nào ở động vật cũng không chỉ khơi mào cho việc giám sát của chính quyền mà còn dẫn tới sản phẩm động vật bị phân loại là “thuốc động vật”.

Theo sau cuộc tranh luận gần đây về việc liệu thịt được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm có nên được gọi là thịt không thì dường như chúng ta đang tiến vào những lãnh địa mới liên quan đến phân loại thực phẩm vì công nghệ sinh học tiến triển nhanh chóng. Liệu công chúng có nhận thấy bất kỳ sự khác biệt nào giữa ngô GMO và ngô biên tập CRISPR không? Điều này vẫn chưa được xác định nhưng chắc chắn đó chỉ là sự khởi đầu của một thế giới mới của những thách thức pháp lý nhằm xác định thứ gì là an toàn và thứ gì là không an toàn

Tuyển chọn giống lúa thuần từ nguồn gen lúa siêu xanh (GSR)

Tuyển chọn giống lúa thuần từ nguồn gen lúa siêu xanh (GSR)

Vụ đông xuân 2016, hè thu 2017, Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng Phú Yên đưa vào sản xuất khảo nghiệm 4 giống lúa GSR65, GSR90, GSR38, Nam Ưu 1245 có năng suất cao, đặc tính nông học tốt, tại xã Hòa Thắng (huyện Phú Hòa) và cánh đồng xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa). Kết quả tuyển chọn giống GSR65, GSR90, năng suất đạt cao trên 8 tấn/ha, chất lượng gạo tốt, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Phú Yên.

Giống lúa GSR90 và GSR65 hoàn toàn đủ điều kiện bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh Phú Yên, đặc biệt là các huyện chịu ảnh hưởng mạnh của quá trình biến đổi khí hậu hiện nay như huyện Tuy An, Đông Hòa, Sơn Hòa, Đồng Xuân. Mục tiêu đề tài này là khai thác nguồn gen lúa siêu xanh GSR quý hiếm quốc tế, tuyển chọn được hai giống lúa tốt có năng suất cao vượt trần 8 tấn/ha, chất lượng gạo tốt, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Phú Yên.

TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên

Năng suất vượt trần

Vụ lúa hè thu 2017, ông Nguyễn Sang ở xã Hòa Mỹ Tây trồng 3,5 sào lúa GSR65, năng suất đạt trên 82,8 tạ/ha. Ông Sang cho hay: Cả cánh đồng Cây Trảy (xã Hòa Mỹ Tây) rộng trên 100ha, nhưng khó có đám nào có năng suất lúa bằng đám của tôi. Lúa trổ đòng bông to, khi lúa cúi gié trải dài “đơm” hạt sáng bóng mẩy. Còn ruộng kề bên, gié trồi gié trụt, năng suất không quá 60 tạ/ha.

Cạnh đó, đám ruộng rộng 3 sào của ông Trần Công nằm cạnh đường nội đồng trồng giống lúa GSR90, năng suất cũng ngấp nghé 81 tạ/ha. “Cánh đồng này thời gian qua trồng nhiều giống lúa khác nhau, nhưng chưa có giống nào đạt năng suất cao như giống GSR90. Lúa chỉ sạ 4kg/sào, đến thời kỳ mạ đẻ nhiều nhánh, khi trổ đòng thóc dày, phơi gié hạt sáng trưng, cuối vụ 3 sào ruộng nhà tôi thu trên trên 1,2 tấn”, ông Công nói.

Tại xã Hòa Thắng, thửa ruộng của ông Võ Dũng rộng 5 sào cũng trồng giống lúa GSR65. Trong thời gian sinh trưởng, lúa ít bị sâu bệnh hại, lá xanh mượt, ít bón phân so với giống lúa khác và trổ đều, hạt sáng. Theo ông Dũng, giống lúa này trổ đâu cúi đó chứ không so le như các giống lúa thuần khác. Mới đây tôi xay gạo về nấu cơm thì cơm thơm.

Ông Hồ Lưu Quỳ, Phó Giám đốc HTX Kinh doanh dịch vụ Hòa Thắng 2, đơn vị phối hợp triển khai khảo nghiệm sản xuất và trình diễn giống GSR65, GSR90 cho hay: Hai giống lúa này có thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng gạo tốt. Người dân ở đây đã ứng dụng kỹ thuật sạ thưa 4kg/sào. Đây là một trong những giải pháp xây dựng cánh đồng mẫu lúa chất lượng, cho thu nhập cao.

Trước đó, vụ đông xuân 2014-2015, hè thu 2015 và đông xuân 2015-2016, Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng Phú Yên khảo nghiệm cơ bản 12 giống lúa, gồm 9 giống lúa siêu xanh tuyển chọn GSR36, GSR38, GSR54, GSR63, GSR65, GSR84, GSR89, GSR90, GSR131, 2 giống lúa triển vọng Nam Ưu 1241, Nam Ưu 1245 và ML 48 là giống lúa đối chứng phổ biến tại địa phương, thực hiện trong 3 vụ tại Trại Giống nông nghiệp Hòa An (huyện Phú Hòa) và Trại Giống nông nghiệp Hòa Đồng (huyện Tây Hòa). Đề tài đã chọn được 4 giống lúa GSR65, GSR90, GSR38, Nam Ưu 1245 có năng suất cao, chất lượng tốt, đặc tính nông học tốt, thời gian sinh trưởng ngắn và ít nhiễm các sâu bệnh hại chính.

Đến vụ đông xuân 2016-2017, hè thu 2017 tiếp tục trình diễn, khảo nghiệm sản xuất 4 giống lúa tuyển chọn GSR65, GSR90, GSR38, Nam ưu 1245 và ML48 (đối chứng), tại cánh đồng xã Hòa Thắng (huyện Phú Hòa) và cánh đồng xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa). Diện tích khảo nghiệm sản xuất mỗi giống 1.000m2. Kết quả tuyển chọn hai giống lúa ưu tú nhất là GSR65 và GSR90. Giống lúa siêu xanh GSR65 thích hợp mật độ sạ 90-100 kg/ha, mức bón đạm phù hợp 220-240 kg Urê/ha. Giống lúa siêu xanh GSR90 thích hợp mật độ sạ 60 kg/ha, mức bón đạm phù hợp 280-300 kg Urê/ha. Ông Trần Văn Giác, Trưởng Trại Giống nông nghiệp Hòa Đồng, cho hay: Với kết quả khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất, trình diễn mô hình, xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác lúa cho vùng đồng bằng Tuy Hòa đã xác định được hai giống GSR65, GSR90 năng suất cao, chất lượng gạo tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu, ít nhiễm sâu bệnh. Hai giống lúa GSR65, GSR90 bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh Phú Yên.

Cơ cấu giống lúa của tỉnh

Thời gian qua, cơ cấu giống lúa chủ lực của tỉnh Phú Yên chủ yếu là các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao như ML48, ML213, ML68, ML 202, ML49, ML4-2, ML216, OM2695-2, ĐV108, DH 815-6. Về chất lượng lúa gạo chủ yếu dùng cho chăn nuôi gia súc, gia cầm và chế biến các sản phẩm từ gạo như bún, bánh tráng. Vì vậy, theo ThS Trương Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng Phú Yên, kết quả hai giống lúa thuần GSR90 vàGSR65 được tuyển chọn từ nguồn gen lúa siêu xanh GSR, sạ thưa, có bộ lá xanh lâu bền, thân rạ cứng cây, bông to chùm, năng suất cao, phẩm chất tốt, đáp ứng nhu cầu xây dựng thương hiệu hạt gạo Tuy Hòa.

Bà Nguyễn Thị Bích Thuận, Phó Phòng NN-PTNT huyện Đông Hòa, tham quan mô hình trình diễn tuyển chọn giống lúa siêu xanh cho rằng: Hai giống lúa thuần GSR90 và GSR65 đã được xác định là hai giống lúa siêu xanh tốt nhất hiện có, năng suất cao, chất lượng gạo tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, có các đặc điểm nông sinh học nổi bật, vì vậy tôi đề nghị sắp đến nhân rộng ra huyện Đông Hòa.

Giống khoai tây “vàng” mới cung cấp nhiều vitamin A và E

 Giống khoai tây “vàng” mới cung cấp nhiều vitamin A và E 

Một nghiên cứu mới cho thấy giống khoai tây “vàng” thử nghiệm có thể ngăn ngừa bệnh tật và tử vong ở các nước đang phát triển, nơi cư dân sống phụ thuộc nặng nề vào thức ăn có chất bột.

Một nghiên cứu gần đây do các nhà nghiên cứu tại Đại học Bang Ohio thực hiện đã chỉ ra rằng, một phần của loại khoai tây màu vàng cam được lai tạo trong phòng thí nghiệm có thể cung cấp tới 42% nhu cầu vitamin A và 34% nhu cầu vitamin E hàng ngày của trẻ em.

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có thể nhận được 15% lượng vitamin A và 17% lượng vitamin E được khuyến cáo từ 300 ounce (150 gram) khoai tây.

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, khoai tây là loại thực phẩm được tiêu thụ nhiều thứ 4 sau gạo, lúa mỳ và ngô. Đây là thực phẩm chính ở một số nước châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, nơi có tỷ lệ cao số người bị thiếu hụt vitamin A và vitamin E.

 Tác giả nghiên cứu Mark Failla, Giáo sư danh dự về dinh dưỡng của con người tại Bang Ohio, nói: “Hơn 800.000 người phụ thuộc vào khoai tây như là nguồn năng lượng chính của họ và nhiều người trong số này không tiêu thụ đủ lượng chất dinh dưỡng quan trọng này”.

 

Failla, thành viên của Hiệp hội Thực phẩm tốt cho Sức khoẻ của bang Ohio, cho biết: “Những củ khoai tây vàng này có vitamin A và vitamin E cao hơn rất nhiều so với khoai tây trắng và có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể ở một số vùng nơi người dân bị thiếu hụt vi chất dinh dưỡng và các bệnh liên quan”.

Trong phòng thí nghiệm của Failla, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một hệ thống tiêu hóa mô phỏng bao gồm miệng, dạ dày và ruột non để xác định có bao nhiêu provitamin A và vitamin E có thể được hấp thụ khi một người ăn một củ khoai tây vàng. Provitamin A carotenoid được chuyển đổi bởi enzim thành vitamin A mà cơ thể có thể sử dụng. Carotenoid là chất tan trong chất béo cung cấp màu vàng, đỏ và cam cho trái cây và rau. Các thành phần này là các chất dinh dưỡng cần thiết cho động vật và con người.

Ông nói: “Chúng tôi đã nghiền khoai tây vàng và mô phỏng các điều kiện của các cơ quan tiêu hóa để xác định có bao nhiêu chất dinh dưỡng hòa tan trong chất béo này”.

Mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm tra lượng provitamin A. Các phát hiện về hàm lượng cao vitamin E trong khoai tây vàng là một bất ngờ đáng ngạc nhiên.

Giống khoai tây vàng đã được lai tạo ở Ý. Các carotenoid bổ sung trong củ khiến giống khoai tây này có khả năng cải thiện sức khoẻ cho những người lựa chọn khoai tây làm thực phẩm chính.

Failla cho biết: Trong khi các nhà khoa học thực vật đã thành công trong việc lai tạo các cây khác để đạt được chất dinh dưỡng, chất lượng dinh dưỡng được cải thiện của khoai tây vàng chỉ có thể đạt được thông qua việc sử dụng kỹ thuật trao đổi chất - sự vận dụng gien thực vật trong phòng thí nghiệm.

Giovanni Giuliano thuộc Cơ quan Công nghệ, Năng lượng và Phát triển Bền vững Quốc gia tại Trung tâm Nghiên cứu Casaccia, Ý cho biết: “Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là cung cấp thực phẩm an toàn và bổ dưỡng cho 9 tỷ người trên toàn thế giới”.

Failla cho biết sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng đã là một vấn đề trong nhiều thập kỷ ở nhiều nước đang phát triển vì các cây lương thực chủ yếu được lai tạo cho năng suất cao và kháng sâu bệnh hơn là chất lượng dinh dưỡng.

 

Cách trồng ngô không độc

 Cách trồng ngô không độc

Kỹ thuật di truyền là công cụ giúp ngăn ngừa quá trình lây nhiễm nấm mốc tạo ra aflatoxins Ngô bị nhiễm nấm Aspergillus có khả năng giải phóng ra các chất độc gây ung thư. Ngô biến đổi gen tạo ra các phân tử giống như ninja “sát thủ” có thể kích hoạt cuộc tấn công vào nấm mốc xâm nhập, ngăn chặn việc sản sinh ra độc tố gây ung thư.

Theo như nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Science Advances, ngày 10/3/2017, các phân tử ARN chuyên biệt này chờ đợi cho đến khi chúng phát hiện thấy Aspergillus, là loại nấm mốc có thể biến hạt ngũ cốc và đậu thành thực phẩm gây độc hại cho sức khỏe. Sau đó, các phân tử này sẽ hoạt động, ngăn chặn nấm mốc sản sinh ra protein chịu trách nhiệm tạo ra aflatoxin. Với aflatoxin và các chất độc từ nấm khác ảnh hưởng đến 25% cây trồng trên toàn cầu, phát hiện này có thể giúp tăng cường an toàn thực phẩm trên toàn cầu, các nhà nghiên cứu kết luận.

Monica Schmidt, nhà di truyền học thực vật tại Đại học Arizona, Tucson, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: "Nếu không có protein, sẽ không có độc tố”. Schmidt và các đồng nghiệp đã sử dụng một kỹ thuật gọi là can thiệp ARN, tận dụng cơ chế bảo vệ tự nhiên mà sinh vật sử dụng để bảo vệ cây trồng chống lại virus. Các nhà nghiên cứu đã biến đổi ngô để tạo ra các đoạn ARN ngắn tương hợp với các đoạn ARN của nấm được tạo ra từ gen aflC. Gen này mã hóa một bước quan trọng của quá trình hóa sinh mà nấm sử dụng để tạo ra độc tố. Khi ARN được biến đổi của ngô tương thích với ARN của nấm, sẽ kích hoạt Aspergillus tách riêng ARN của chính nó, ngăn chặn protein chủ chốt và do đó độc tố không được tạo ra.

Sau đó, nhóm nghiên cứu đã tạo ra sự lây nhiễm cả ngô biến đổi gen và ngô không biến đổi với A. flavus, là loài Aspergillus giải phóng aflatoxin mạnh nhất. Sau khi cho ngô - và nấm - phát triển trong một tháng, các nhà nghiên cứu không phát hiện thấy aflatoxin ở ngô đã bị biến đổi. Nhưng họ đã đo được hơn 1.000 phần tỷ aflatoxin ở ngô không biến đổi gen, và đôi khi lên tới 200.000 phần tỷ. Tại Hoa Kỳ, ngô trồng phục vụ cho tiêu dùng của con người được sử dụng làm thức ăn gia súc hoặc bị hủy nếu chúng có trên 20 phần tỷ aflatoxin. Loại ngô bị nhiễm nấm không thể dùng được cho người và động vật trị giá lên đến 270 triệu đô la mỗi năm.

Ở những quốc gia không sàng lọc chất độc, người ta ăn ngô bị nhiễm nấm, điều đó có thể gây nôn mửa, đau bụng và ở mức cao hơn thậm chí là hôn mê. Việc tiếp xúc lâu dài với aflatoxin nồng độ thấp có thể làm chậm quá trình phát triển ở trẻ và gây ung thư gan. "Đó không chỉ là vấn đề kinh tế, nó là vấn đề sức khoẻ", Schmidt nói.

Charles Woloshuk, nhà nghiên cứu bệnh lý thực vật tại Đại học Purdue, Tây Lafayette, Indiana cho biết, việc cho phép A. flavus phát triển và tập trung vào ngăn ngừa nó tạo ra độc tố là một cách tiếp cận tốt. Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu đã thất bại khi cố gắng tạo giống kháng nấm để chống lại aflatoxin. Tuy nhiên, theo Woloshuk, việc nhắm vào mục tiêu nấm theo cách đó có thể gây ra những đột biến nấm cho phép chúng tiếp tục lây nhiễm cây trồng.

Việc can thiệp vào ARN không phải là không nguy hiểm. ARN được thiết kế đặc biệt có thể sai lầm và làm những điều chúng không định làm, chẳng hạn như ảnh hưởng đến sự phát triển của hạt hoặc sự tăng trưởng của cây. Nhưng một phân tích về ngô biến đổi gen đã chỉ ra rằng ARN đang theo hướng đúng. Woloshuk cho rằng "Đó là một tín hiệu tốt”.

Các phương pháp phòng chống nấm khác hiện nay tập trung vào việc bảo quản kín khi ngô đã thu hoạch để tránh nhiễm Aspergillus. Nhưng việc này không hiệu quả nếu ngô bị nhiễm bệnh trước khi được chọn. Kết hợp ngô biến đổi gen, không những bảo vệ được cây trồng khi đang phát triển ngoài đồng ruộng, cùng với kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch sẽ là cách tốt nhất để ngăn chặn Aspergillus lây nhiễm ở ngô. Schmidt cho biết, đây là bước đầu tiên cho thấy tính khả thi, tuy nhiên, đây là một chặng đường dài, và hy vọng quá trình này sẽ được nghiêm cứu thêm.

 

Sắn Phú Yên, giống sắn mới và kỹ thuật thâm canh

FOODCROPS. Các giống sắn mới năng suất cao và kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp tại Phú Yên. Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu, Hoàng Kim, Nguyễn Trọng Tùng và tập thể.  Năm giống sắn mới năng suất cao, triển vọng ở Phú Yên KM419, KM444, KM440, KM397. KM414 đạt năng suất sắn củ tươi và năng suất tinh bột vượt 18-40% so với giống sắn KM94. Tại ruộng trình diễn ở xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh ở thời điểm thu hoạch 7 tháng sau trồng, những giống sắn mới này đều đạt năng suất vượt trên 40 tấn/ ha (bình quân 3,5 – 5,0 kg/ gốc) cao hơn so với KM94 và KM98-5. Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn 1) Sử dụng giống sắn tốt đạt năng suất sắn lát khô và năng suất bột cao; 2) Hom giống sắn tốt, sạch bệnh, bảo quản hom tốt, chặt hom 15-18 cm, trồng đúng cách; 3) Trồng đúng khung thời vụ tốt nhất của địa phương để hom giống nảy mầm tốt; rãi vụ sắn bằng cách: xác định bộ giống sắn phù hợp; chọn thời vụ trồng và xác định thời điểm thu hoạch hợp lý (6, 7, 8, 9, 10, 11 … 18 tháng sau trồng) đạt năng suất và lợi nhuận cao. 4) Sắn nên trồng đất bằng ít dốc, dinh dưỡng tốt, canh tác sắn theo đường đồng mức có băng chống xói mòn và áp dụng các giải pháp trồng sắn trên đất dốc (có sách hướng dẫn); 5) Khoảng cách trồng sắn KM419 là 1,0m x 0,70m tương ứng mật độ 14.000 gốc/ ha; 6) Trồng xen hai hàng đậu phộng (hoặc đậu xanh, đậu cowpea) giữa hàng sắn; 7) Bón phân 100 kg N + 80 kg P2O5+ 120 kg K2O + 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh (hoặc 6- 10 tấn phân chuồng), bón đúng quy trình, lót đủ, thúc 1 sớm, thúc 2 đủ kali. 8) Chăm sóc làm cỏ sớm và kịp thời, ít nhất ba lần (trong 2 tháng đầu), giữ sạch cỏ; 9)  Quản lý tốt sâu bệnh hại (đặc biệt là rệp sáp hồng và bệnh chồi rồng); 10) Thu hoạch, chế biến, kinh doanh khép kín, đạt lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường.


ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Phú Yên có lúa, mía, sắn là ba cây trồng chính. Năm 2013, diện tích sắn Phú Yên đạt 22,30 nghìn ha, sản lượng 379,90 nghìn tấn  (Tổng cục Thống kê 2014). C
ây sắn là sự lựa chọn của các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vì lợi thế chịu được đất nghèo, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch, dễ chế biến.  Sắn Phú Yên được trồng tập trung tại huyện Sông Hinh và huyện Đồng Xuân, với diện tích sắn năm 2013 là 9.987 ha và 4.300 ha, sản lượng tương ứng 194.746,5 tấn 83.850 tấn, chiếm 65% diện tích và 62% sản lượng sắn của toàn tỉnh. Tại hai huyện này, tỉnh đã có hai nhà máy sản xuất tinh bột sắn với tổng công suất 270 tấn nguyên liệu /ngày (Công ty cổ phần Tinh bột sắn FOCOCEV có công suất 150 tấn nguyên liệu/ngày; Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Đồng Xuân có công suất 120 tấn nguyên liệu/ ngày). Ngoài ra, tỉnh còn có 60 cơ sở chế biến tinh bột sắn thủ công với công suất 0,5 – 1,0 tấn/ngày/cơ sở, chủ yếu ở huyện Tây Hòa và thị xã Sông Cầu. Việc ứng dụng giống sắn mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiến bộ, bền vững kèm theo là yêu cầu cấp thiết của sản xuất.


Sản xuất sắn tại huyện Sông Hinh tăng mạnh những năm gần đây. Năm 2013, tổng diện tích sắn toàn huyện là 9.987 ha, năng suất sắn củ tươi là 20 tấn/ha, sản lượng sắn là 199.740 tấn. Năm 2014, thiên tai hạn hán nên tổng diện tích sắn toàn huyện là 8.822 ha, năng suất sắn củ tươi đầu vụ là 14,9 tấn/ha, sản lượng sắn ước đạt 131.448 tấn. Toàn huyện Sông Hinh có 07 nhóm đất, trong đó có ba nhóm đất chính là đất đỏ vàng (66,7%), đất xám (16,1%) và đất mùn trên núi (6,9%) chiếm 89,7% tổng diện tích tự nhiên, các nhóm đất còn lại có diện tích ít.
Cây sắn được trồng nhiều nhất ở các xã Đức Bình Đông; Sơn Giang; EaLy; thị trấn Hai Riêng... chủ yếu trên đất đỏ vàng. Giống sắn sử dụng chủ yếu là 3 giống KM98-5, KM140KM94. Cây sắn sau khi thu hoạch lựa chọn những cây không bị sâu bệnh để làm giống; hom chặt dài 15 – 20 cm. Thời vụ trồng chủ yếu vào cuối mùa mưa. Đất trồng chủ yếu là đất đồi núi có độ dốc cao. Đất được cày bằng máy, sau đó bừa để làm sạch cỏ dại. Rạch hàng để đặt hom. Khoảng cách trồng phổ biến là 1m x 0,8m, trồng sắn theo cách cuốc hốc. Phân bón cho cây sắn ở Sông Hinh ít được sử dụng, nhất là đồng bào thiểu số. Làm cỏ 2 lần kết hợp vun luống vào 2 thời kỳ bón phân.  Thu hoạchsắn khoảng 7 - 12 tháng sau trồng tùy thời vụ trồng và thời điểm thu hoạch. Chủ yếu dùng sức người trong khâu thu hoạch. Những năm gần đây tình trạng nông dân ở Sông Hinh ồ ạt chuyển đổi các loại cây trồng sang trồng sắn do giá sắn cao, cây sắn  đầu tư ít và hiệu quả cao, dẫn đến nạn phá rừng trồng sắn trên đất dốc nhiều và nguy cơ phá vỡ quy hoạch vùng nguyên liệu mía. Mặt khác dân trồng sắn quảng canh ít đầu tư hoặc đầu tư không đúng mức, không áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp nên đất sắn nguy cơ bị suy kiệt và xói mòn nghiêm trọng. Đề tài Nghiên cu tuyn chn ging sn ngn ngày và k thut thâm canh rãi v nhm phc v cho vic phát trin cây sn bn vng tnh Phú Yên” thực hiện tại hai huyện Sông Hinh và Đồng Xuân là rất cấp thiết. Hội thảo đầu bờ “Giới thiệu các giống sắn mới và kỹ thuật canh tác”nhằm thông tin về các giống sắn mới và quy trình kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp tại địa phương, tóm tắt kết quả đề tài sắn Phú Yên và kế hoạch thực hiện năm 2015.  

NĂM GIỐNG SẮN MỚI NĂNG SUẤT CAO 

Giống sắn KM419 (SVN5)

Nguồn gốc:
Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ tổ hợp lai BKA900 x KM 98-5 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai,  và tập thể 2014).

Đặc điểm giống
: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 34,9-54,9 tấn / ha (vượt 27,7- 29.6% so với KM94), hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7%, năng suất tinh bột 10,1 -15,8 tấn /ha, năng suất sắn lát khô 15,6-21,6 tấn/ha (so với KM94 hàm lượng tinh bột 25,0- 28,4 %, năng suất tinh bột 6,4-9,5 tấn/ ha, năng suất sắn lát khô 6,4-9,5 tấn/ha). Giống sắn KM419 có chiều cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, rất thích hợp với chế biến và thị trường, nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá.

Giống sắn KM419 đã được khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất và phát triển rộng tại Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên,… được nông dân các địa phương ưa chuộng và phát triển nhanh trong sản xuất với tên gọi sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm. Đặc biệt tại tỉnh Tây Ninh, KM419 là giống sắn chủ lực được trồng trên 50% diện tích sắn của toàn tỉnh mang lại bội thu năng suất và hiệu quả cao về kinh tế xã hội. Giống sắn KM419 được Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với các Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên đề nghị công nhận giống, định hướng ưu tiên sử dụng cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ và vùng trung du miền núi phía Bắc. Giống KM419 đã được Hội đồng giống Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống  năm 2014.

Giống sắn KM444

Nguồn gốc: Giống sắn KM444 còn có các tên khác là HL2004-28 (SVN7) do Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Cây có củ, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh chọn tạo và giới thiệu. (Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Viết Hưng, Hoàng Kim Diệu, Nguyễn Trọng Hiễn, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2014). Giống sắn HL2004-28 được tuyển chọn ban đầu từ dòng số 28 của tổng số 2152 hạt sắn thu năm 2004 từ cây mẹ của giống sắn KM444 (là con lai chọn lọc của tổ hợp lai  (GM444-2 x GM444-2) x XVP do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam lai hữu tính năm 2003

Đặc điểm giống
: Giống sắn HL2004-28 (= SVN7 = KM444) có gốc thân hơi cong, phân cành cao. Lá màu xanh đậm, ngọn xanh nhạt. Dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng. Đặc điểm nổi bật của giống KM444 là rất ít nhiễm sâu bệnh. Năng suất củ tươi đạt 37,5 – 48,3 tấn/ha. Hàm lượng bột đạt 28,3- 29,2%. Giống sắn SVN7 (HL2004-28) chọn dòng từ hạt giống sắn cây mẹ KM444 đã được Hội đồng giống Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống tạm thời năm 2014. Tại vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ các dòng khảo nghiệm tác giả của KM444 năm 2004 trong thực tế sản xuất được nông dân ưa chuộng, giữ lại và nhân giống, rất cần bình tuyển giống tốt thích hợp cho vùng sinh thái.   

Giống sắn KM 440

Nguồn gốc: Giống sắn KM440 được tạo dòng từ các cây đầu dòng ưu tú của giống sắn KM140 theo phương pháp CIAT bằng cách thu hạt sắn tự thụ (lai lại, back cross) của cây giống gốc KM140 và chọn lọc phả hệ. Giống sắn gốc KM140 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x KM 36 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2007, 2009). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống quốc gia năm 2009 trên toàn quốc và đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật (VIFOTEC) toàn quốc năm 2010. Giống sắn KM440 được tạo dòng từ giống sắn KM140.

Đặc điểm giống sắn KM440:

+ Thân xanh, thẳng, ngọn xanh, cây cao vừa phải, không phân nhánh.

+ Năng suất củ tươi:     35,4 – 48,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô:          37,9 – 41,7%.

+ Hàm lượng tinh bột: 27,2- 29,3%.
+ Năng suất bột :            9,5 -10,0 tấn/ha

+ Chỉ số thu hoạch:      56 -63 %.
+ Thời gian thu hoạch:   8-10 tháng.

+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Thời gian giữ bột sớm hơn KM94

Giống sắn KM397
Nguồn gốc
: KM397 là con lai của KM108-9-1 x KM219 chính là tổ hợp lai kép (SM937-26 x SM937-26) x (BKA900 x BKA900) do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chon tạo và khảo nghiệm năm 2003 (Hoàng Kim và ctv 2009). Giống SM937-6 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1995 (Trần Ngọc Quyền và ctv, 1995). BKA900 là giống sắn ưu tú nhập nội từ Braxil có ưu điểm năng suất củ tươi rất cao nhưng chất lượng cây giống không thật tốt, khó giữ giống cho vụ sau. KM397 kết hợp được nhiều đặc tính quý của hai giống cha mẹ SM937-26 và BKA900.

Đặc điểm giống
: KM397 có thân nâu tím, thẳng, nhặt mắt, không phân nhánh; lá xanh thẫm, ngọn xanh, củ đồng đều, dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng, thích hợp xắt lát phơi khô và làm bột. Thời gian thu hoạch 8-10 tháng sau trồng, năng suất củ tươi 33,0 - 54,0 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,5 – 29,6%, tỷ lệ sắn lát khô 42,5 - 44,3%, năng suất tinh bột 9,2- 13,5 tấn/ha, năng suất sắn lát khô 13,8 - 17,6 tấn/ ha. chỉ số thu hoạch 60 - 63,0%. Giống sắn KM397 chịu khô hạn tốt, rất ít nhiễm sâu bệnh, thời gian giữ bột tương đương KM94

Giống sắn KM414
Nguồn gốc:
KM414 hiện có hai dòng đều được ưa thích trong sản xuất. Đó là KM414-2 (hình bên phải, dân gọi là Sắn Lá Tre cực ngắn ngày, để phân biệt với giống sắn KM414-1 là Sắn Cao Sản, hình bên trái và phân biệt với KM325 là Sắn Lá Tre xanh và SC205 là Sắn Lá Tre cọng đỏ) Quá trình dục thành giống đang giữ lại KM414-2.

KM414-1 và KM414-2 là con lai của tổ hợp KM146-7-2 x KM143-8-1, chính là tổ hợp lai kép (KM98-5 x KM98 -5) x (KM98-1 x KM98-1) do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chon tạo và khảo nghiệm năm 2003 (Hoàng Kim và ctv, 2009). Hai giống sắn KM98-1 và KM98-5 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT lần lượt công nhận giống năm 1999 và 2009 (Hoàng Kim và ctv, 1999; Trần Công Khanh và ctv, 2005). Giống sắn lai KM414 kết hợp được nhiều đặc tính quý của hai giống cha mẹ KM98-1 và KM98-5.

Đặc điểm giống:
Giống sắn
KM414 -2 có thân màu nâu xám, nhặt mắt, ít phân nhánh, lá xanh đậm, xẻ thùy sâu, ngọn xanh, thịt củ màu trắng hơi vàng nhạt, củ to, thích hợp thu hoạch sớm và bán sắn lát khô. Năng suất củ tươi đạt 43,5 đến 54,6 tấn/ha; hàm lượng bột đạt 25,6 đến 27,9%.
Giống sắn KM414 -1 có thân màu xám trắng, phân cành cao, lá xanh, ngọn xanh, dạng củ không được ưa thích bằng giống KM419, thịt củ màu trắng, thích hợp làm sắn lát khô và làm bột. Năng suất củ tươi đạt 42,3 đến 52,3 tấn/ha; hàm lượng bột đạt 27,8 đến 29,3%.

MƯỜI BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH RÃI VỤ SẮN
(Quy trình kỹ thuật chi tiết kèm theo)

1) Sử dụng giống sắn tốt đạt năng suất sắn lát khô và năng suất bột cao;

2) Hom giống sắn tốt, sạch bệnh, bảo quản hom, chặt và trống đúng cách;
3) Trồng đúng khung thời vụ tốt nhất của địa phương để hom giống nảy mầm tốt; rãi vụ sắn bằng cách: xác định bộ giống sắn phù hợp; rãi thời vụ trồng và xác định thời điểm thu hoạch hợp lý (6, 7, 8, 9, 10, 11 … 18 tháng sau trồng) để đạt năng suất và lợi nhuận cao.

4) Sắn trồng đất bằng, ít dốc, dinh dưỡng tốt, làm đất trồng theo đường đồng mức và áp dụng các giải pháp hiệu quả chống xói mòn trên đất dốc

5) Khoảng cách trồng sắn 1,0 x 0,70 tương ứng mật độ 14.000 gốc/ ha,
6) Trồng xen hai hàng đậu phộng (hoặc đậu xanh, đậu cowpea) giữa hàng sắn (nếu thuận)

7) Bón phân 100 kg N + 80 kg P2O5+ 120 kg K2O + 1.000 kg phân hữu cơ VS /ha  (hoặc 10 tấn phân chuồng), bón đúng quy trình: lót đủ, thúc 1 sớm, thúc 2 đủ kali.
8) Chăm sóc làm cỏ sớm và kịp thời, ít nhất ba lần (trong 2 tháng đầu) và giữ sạch cỏ;
9)  Quản lý tốt sâu bệnh hại (đặc biệt là rệp sáp hồng và bệnh chồi rồng)

10) Thu hoạch, chế biến, kinh doanh khép kín.

 Xem thêm:
VTV Phú Yên. Thời sự 11h30 (23/1/2015)
Nông nghiệp Việt Nam. Giới thiệu 5 giống sắn mới
VTV Cần Thơ . Giới thiệu 5 giống sắn mới...
Phú Yên online: Chuyển giao 5 giống sắn mới cho nông dân sản xuất
TTNCKH Nông Vận: Phú Yên Chuyển giao 5 giống sắn mới cho nông dân sản xuất

Mười kỹ thuật thâm canh sắn


Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu,
Hoàng Kim, Nguyễn Trọng Tùng và tập thể

 

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương Namfoodcrops.vnKim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook

 

Các nhà khoa học biến đổi cây trồng giúp cây trữ nước, chịu hạn

Các nhà khoa học biến đổi cây trồng giúp cây trữ nước, chịu hạn

Nông nghiệp đã độc chiếm 90% sản lượng nước ngọt toàn cầu nhưng vẫn cần tăng lên đáng kể để nuôi sống và cung cấp nhiên liệu cho dân số ngày càng tăng của thế kỷ này. Theo báo cáo của Nature Communications, lần đầu tiên các nhà khoa học đã cải tiến cách giúp cây trồng chỉ sử dụng 25% lượng nước mà không ảnh hưởng đến sản lượng bằng cách thay đổi biểu hiện của một gen được tìm thấy trong tất cả các loài thực vật.

Nghiên cứu này là một phần của dự án nghiên cứu quốc tế mang tên “Nhận biết hiệu quả gia tăng quang hợp” (RIPE) được hỗ trợ bởi các quỹ  Bill & Melinda Gates, Quỹ Nghiên cứu Lương thực & Nông nghiệp, Phòng Phát triển Quốc tế tại UK.

Giám đốc RIPE, Stephen Long và trưởng khoa Sinh học Thực vật & Khoa học Cây trồng, Ikenberry cho biết: "Đây là một bước đột phá lớn, năng suất cây trồng đã được cải thiện đều đặn trong 60 năm qua, nhưng lượng nước cần thiết để sản xuất một tấn ngũ cốc vẫn không thay đổi - dẫn đến hầu hết các giả định cho rằng yếu tố này không thể thay đổi. Việc chứng minh lý thuyết này hiệu quả trong thực tế có thể mở ra hướng nghiên cứu và phát triển nhiều hơn để đạt được thành quả quan trọng cho tương lai".

Nhóm nghiên cứu quốc tế đã tăng lượng của một protein quang hợp (PsbS) để trữ nước bằng cách đánh lừa cây trồng đóng một phần khí khổng của chúng (khí khổng là các lỗ nhỏ trong lá cho phép nước thoát ra). Khí khổng được xem như kẻ gác cổng của thực vật: khi mở, CO2 đi vào cây để làm nhiên liệu quang hợp, đồng thời nước có thể thoát ra qua quá trình này.

Đồng tác giả Katarzyna Glowacka, nhà nghiên cứu sau tiến sỹ, dẫn đầu công trình nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Carl R. Woese Institute for Genomic Biology (IGB) cho biết: "Những cây trồng này thường có nhiều nước hơn mức chúng cần, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng diễn ra. Khi không đủ nước, những cây trồng biến đổi này sẽ phát triển nhanh hơn và sản lượng nhiều hơn – chúng sẽ ít bị bất lợi hơn so với các cây trồng cùng loại nhưng không biến đổi".

Nhóm nghiên cứu đã cải thiện hiệu suất sử dụng nước của cây trồng trong các thử nghiệm được thực hiện ngoài đồng - tỷ lệ CO2 vào cây để nước thoát ra khoảng 25% mà không làm giảm đáng kể quá trình quang hợp hoặc năng suất. Nồng độ CO2 trong bầu khí quyển đã tăng 25% chỉ trong vòng 70 năm qua, cho phép cây trồng tích tụ đủ lượng khí CO2 mà không cần mở hoàn toàn khí khổng của chúng. Giáo sư Long, lĩnh vực khoa học cây trồng tại Đại học Lancaster, phát biểu "Sự tiến hóa đã không theo kịp sự thay đổi nhanh chóng này, vì vậy các nhà khoa học đã và đang tác động vào".

Có bốn yếu tố có thể kích hoạt sự đóng-mở khí khổng gồm: độ ẩm, lượng CO2 trong cây, chất lượng ánh sáng và lượng ánh sáng. Nghiên cứu này là báo cáo đầu tiên về phản ứng đóng mở khí khổng đối với lượng ánh sáng.

Protein PsbS là một phần quan trọng của đường tín hiệu trong thực vật giúp chuyển tiếp thông tin về lượng ánh sáng. Bằng cách tăng PsbS, tín hiệu nói rằng không có đủ năng lượng ánh sáng để cây quang hợp, kích thích khí khổng đóng lại từ đó khí CO2 không còn cần thiết để làm nhiên liệu quang hợp.

Nghiên cứu này bổ sung cho các nghiên cứu trước đây, được xuất bản trên tạp chí Science, cho thấy việc tăng protein PsbS và hai protein khác có thể cải thiện quang hợp và tăng năng suất tới 20%. Hiện tại, nhóm nghiên cứu dự định kết hợp lợi ích từ hai nghiên cứu này để cải thiện sản suất và việc sử dụng nước bằng cách cân bằng sự biểu hiện của ba protein này.

Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã kiểm nghiệm giả thuyết của họ bằng cách sử dụng cây thuốc lá, một loại cây trồng mô hình điều chỉnh dễ dàng, thử nghiệm nhanh hơn so với các cây trồng khác. Hiện nay, họ sẽ áp dụng những phát hiện của mình để cải thiện hiệu quả sử dụng nước của cây lương thực và kiểm tra hiệu quả của chúng trong điều kiện lượng nước bị hạn chế.

Đồng tác giả Johannes Kromdijk, nhà nghiên cứu sau tiến sỹ tại IGB cho biết: "Hiện tại và tương lai, việc làm cây trồng sử dụng nước hiệu quả hơn là thách thức lớn nhất đối với các nhà khoa học thực vật”. Ông cho biết thêm "Kết quả của chúng tôi chỉ ra rằng sự tăng lên của PsbS cho phép cây trồng có thái độ bảo thủ hơn với việc sử dụng nước, chúng tôi cho rằng điều đó sẽ giúp phân phối nguồn nước sẵn có tốt hơn trong suốt mùa vụ, cũng như giữ cho cây trồng vẫn có năng suất cao trong thời kỳ khô hạn”

Trung Quốc tạo giống lúa cao hơn đầu người cho năng suất lớn

Trung Quốc tạo giống lúa cao hơn đầu người cho năng suất lớn 

Các nhà khoa học Trung Quốc tạo ra một giống lúa khổng lồ mới cao tới 2,2 mét, có thể cho năng suất 11,5 tấn/hecta.

Giống lúa có tên gọi "lúa khổng lồ" được các chuyên gia ở Viện nông nghiệp cận nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc lai tạo với hy vọng có thể cung cấp lương thực cho nhiều người hơn, theo China's People's Daily. Giống lúa mới được chính thức giới thiệu hôm 16/10 sau 10 nghiên cứu, có năng suất cao hơn 50% so với các giống lúa thông thường.

Nhóm nghiên cứu đã trồng thử cây lúa khổng lồ và thu hoạch trên một cánh đồng nằm ở thị trấn Jinjing thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thân cây lúa cao trung bình 1,8 mét, những cây lớn nhất cao tới 2,2 mét.

Xia Xinjie, một nhà nghiên cứu trong dự án, cho biết năng suất dự kiến có thể đạt trên 11,5 tấn/hecta. Số hạt có thể thu hoạch từ một gốc lúa là hơn 500 hạt.

Các nhà khoa học Trung Quốc sử dụng một loạt công nghệ mới để tạo ra giống lúa mới, bao gồm đột biến gây tạo (mutation induction) và lai giống giữa nhiều loại lúa dại. Lúa khổng lồ có thể đem lại lợi ích lớn cho Trung Quốc, quốc gia đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nông dân và dân số ngày càng tăng.

"Lượng thóc lúa cần sản xuất thêm vào năm 2030 cao hơn 60% so với năm 1995. Hiện nay, một hecta đất trồng lúa cung cấp đủ thức ăn cho 27 người. Vào năm 2050, mỗi hecta phải đáp ứng nhu cầu lương thực cho 43 người", Yuan Longping, nhà nông nghiệp học nổi tiếng ở Trung Quốc, nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn vào tháng trước.

Giới thiệu 5 giống sắn mới tại Phú Yên

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Giới thiệu 5 giống sắn mới tại Phú Yên

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh)... Đọc thêm tại:http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn
Sau 7 tháng thu hoạch, những giống sắn mới này đều đạt năng suất trên 40 tấn/ha. Các giống đều có thời gian sinh trưởng 7 - 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 - 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7% (sắn KM94 chỉ đạt 25 - 28,4%). Trong đó, sắn KM419 vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến. KM419 được trồng, phát triển tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. Bà con còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm. Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rãi vụ nhằm phục vụ phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do Sở NN-PTNT Phú Yên phối hợp với ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Nông lâm Huế thực hiện.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn
Sau 7 tháng thu hoạch, những giống sắn mới này đều đạt năng suất trên 40 tấn/ha. Các giống đều có thời gian sinh trưởng 7 - 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 - 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7% (sắn KM94 chỉ đạt 25 - 28,4%). Trong đó, sắn KM419 vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến. KM419 được trồng, phát triển tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. Bà con còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm. Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rãi vụ nhằm phục vụ phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do Sở NN-PTNT Phú Yên phối hợp với ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Nông lâm Huế thực hiện.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Ngày 22/1, tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh), SởNN-PTNT tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu cho nông dân 5 giống sắn mới, gồm: giống KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414. 

Các giống sắn này có thời gian sinh trưởng từ 7 đến 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 đến 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 đến 30,7% (so với giống sắn KM94 hàm lượng tinh bột chỉ đạt 25 đến 28,4%). Trong đó, giống sắn KM419 (còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm) vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều, thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến, được trồng phát triển rộng tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. 

Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rải vụ nhằm phục vụ cho phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do SởNN-PTNT phối hợp với Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh và Trường đại học Nông lâm Huế thực hiện. Trong thời gian tới, SởNN-PTNT sẽ nhân rộng đưa các giống mới trên vào sản xuất.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

 

Công nhận 4 giống ngô biến đổi gen làm thực phẩm

Công nhận 4 giống ngô biến đổi gen làm thực phẩm

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNN) chính thức phê duyệt 4 giống ngô biến đổi gien đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hôm 11/8 vừa qua.

Bốn giống ngô được phê duyệt lần này bao gồm giống ngô Bt 11, MIR162 của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034 và NK603 của Công ty TNHH Dekalb Việt Nam.

Đây là bốn giống ngô biến đổi gen đầu tiên tại Việt Nam được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Đây cũng là giống cây trồng biến đổi gen đầu tiên được công nhận tại Việt Nam.

Thông tin từ Bộ NN&PTNN cho biết, giấy xác nhận phê duyệt này được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen.

Tuy nhiên, để có thể đưa vào sản xuất, 4 giống cây ngô biến đổi gen này vẫn phải chờ quyết định phê duyệt về an toàn sinh học của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Như vậy, các giống cây trồng biến đổi gen, bao gồm cả 4 giống ngô nói trên vẫn phải chờ sự phê duyệt của Bộ Tài nguyên Môi trường trước khi được phép sử dụng chính thức tại Việt Nam.

Mặc dù cây trồng biến đổi gen đã được trồng tại một số quốc gia trên thế giới, song việc sản xuất và sử dụng cây trồng biến đổi gen vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng khoa học.

Tại Việt Nam, tại Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg ngày 12/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”.

Tại quyết định này, phát triển và ứng dụng cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam được xác định là nhiệm vụ quan trọng của chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp quốc gia.

Mặc dù vậy, việc ứng dụng cây trồng biến đổi gen tại Việt Nam vẫn gây ra nhiều tranh cãi trong giới khoa học trong những năm qua.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOODCROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang phổ biến trong sản xuất hiện nay Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

TS. Hoàng Kim

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG

Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ)

Nguồn gốc: Giống HL518 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang KOKEY14 (Nhật vàng)

Nguồn gốc: Giống Kokey 14 có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống khoai lang HL491 (Nhật tím)

Giống HL491 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị..

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang MURASAKIMASARI (Nhật tím 1)

Nguồn gốc: Giống Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai lang HL284 (Nhật trắng)

HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang KB1

KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Những bài liên quan
Việt Nam - Khoai lang Atlas - CIP-collab
Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/03/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Phương pháp giúp cây sinh trưởng ‘thần tốc’

Phương pháp giúp cây sinh trưởng ‘thần tốc’ 

Các nhà khoa học tại Đại học Sydney, Đại học Queensland và Trung tâm John Innes của Australia đang phát triển phương pháp mới giúp tăng năng suất và chất lượng cây trồng từ kỹ thuật mà NASA từng nghiên cứu. 

Phương pháp mới này dựa trên nghiên cứu được NASA thử nghiệm hơn 10 năm trước để sản xuất thực phẩm trong không gian, giúp cây phát triển nhanh gấp nhiều lần và cho năng suất cao hơn.

Nhóm nghiên cứu đã trồng thử nghiệm một số loại cây trong nhà kính dưới đèn LED hoạt động liên tục, phát ra ánh sáng với bước sóng nhất định để thúc đẩy quá trình quang hợp. Kết quả, họ thu hoạch được đến 6 vụ lúa mì, đậu gà, đại mạch và 4 vụ cải dầu chỉ trong một năm (trước đây, người ta chỉ trồng được 2 hay 3 vụ trong nhà kính và một vụ ngoài cánh đồng bình thường).

Nhóm nghiên cứu cho biết, kỹ thuật này cũng hiệu quả với lạc, rau dền, đậu lăng và hy vọng sẽ áp dụng được với hoa hướng dương, hồ tiêu, củ cải.

Phương pháp mới không chỉ giúp tăng năng suất mà còn tạo ra những cây trồng chất lượng tốt. Nhóm nghiên cứu so sánh các đặc điểm như số lượng chồi và hạt mỗi cây với loại cây trồng bình thường trong nhà kính và nhận thấy, cây trồng theo phương pháp mới vượt trội hơn. Trước đây, có một số nghiên cứu cũng giúp cây phát triển với tốc độ tương tự, nhưng việc tạo ra cây chất lượng tốt lại rất khó.

Phương pháp tăng tốc sinh trưởng không sử dụng công nghệ biến đổi gene. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cho rằng việc kết hợp thêm công nghệ này có tiềm năng rất lớn.

Phương pháp này đang thu hút sự quan tâm từ một số công ty nông nghiệp trên thế giới. Tiến sĩ Brande Wulff tại Trung tâm John Innes, tác giả công trình nghiên cứu, hy vọng phương pháp này sẽ được ứng dụng rộng rãi trong khoảng 10 năm tới.

 

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module