Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Technology

Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư

Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư

Các nhà khoa học Trung Quốc đã lai tạo thành công loại gạo tím biến đổi gene giàu chất chống oxy hóa phục vụ việc chữa trị bệnh ung thư và các bệnh khác.

Hãng tin Tân hoa xã ngày 2/7 dẫn kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Molecular Plant cho biết lợi ích đối với sức khỏe con người của loại gạo mới này là do nó giàu hợp chất mầu hữu cơ tự nhiên anthocyanin.

Hợp chất này nằm trong nhóm sắc tố để tạo nên chất chống oxy hóa và nhiều màu sắc khác nhau cho hoa mầu và cây trái.

Theo công trình nghiên cứu trên, việc ăn nhiều gạo giàu hợp chất anthocyanin mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ của con người, làm giảm các nguy cơ của một số căn bệnh ung thư, tim mạch, tiểu đường và các căn bệnh mãn tính khác.

Loại hợp chất này có ở nhiều loại hoa quả và rau có màu tím, màu đỏ và màu xanh.

Trước đây, các nỗ lực sử dụng kỹ thuật biến đổi gene để sản xuất hợp chất anthocyanin trong gạo đã thất bại do quá trình trao đổi chất diễn ra hết sức phức tạp.

Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu thuộc Đại học Nông nghiệp Nam Trung Hoa và các cộng sự lần đầu tiên xác định được các gene có liên quan đến việc tạo thành hợp chất anthocyanin trong các loại gạo khác nhau.

Các nhà khoa học đã phát triển cái gọi là "hệ thống sử dụng hoán đổi gene năng suất cao" và sử dụng 8 gene cần thiết để sản xuất hợp chất anthocyanin trong các loại gạo, với mong đợi tạo ra loại gạo tím giàu hợp chất màu hữu cơ tự nhiên và hoạt tính cao chống oxy hóa.

Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu nhấn mạnh "đây là can thiệp đầu tiên của kỹ thuật biến đổi gien trong chuỗi phản ứng phức hợp ở thực vật." Kế hoạch của các nhà khoa học trong tương lai là có thể sử dụng kỹ thuật trên để sản xuất các chất dinh dưỡng quan trọng và các tiền chất sản xuất thuốc chữa bệnh.

Hiện, các nhà nghiên cứu đang có kế hoạch kiểm chứng độ an toàn của gạo tím mới trong quá trình trao đổi sinh hóa ở thức ăn và cố gắng dùng kỹ thuật biến đổi gene để tổng hợp chất anthocyanin trong các loại cây trồng khác như các loại ngũ cốc có màu tím./.

 

 

Ngô được mùa vẫn nhập khẩu mạnh

Được mùa vẫn nhập khẩu ngô ồ ạt

Các doanh nghiệp tăng nhập khẩu ngô do giá rẻ hơn trong khi sản lượng trong nước dồi dào dẫn tới nguy cơ giá ngô giảm mạnh.
Các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi (TACN) đang ồ ạt ký kết hợp đồng nhập khẩu ngô. Trong khi đó, năm nay nhiều địa phương được mùa ngô, nhưng nguy cơ rớt giá đã nhãn tiền vì các nhà máy chế biến TACN sẽ giảm thu mua trong nước.

Tăng nhập khẩu vì giá rẻ

 Ông Mai Văn Chung - Giám đốc thu mua của Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam cho biết: “Chúng tôi vừa ký đơn hàng nhập 80.000 tấn ngô, dự kiến về đến nhà máy vào tháng 10 (từ Argentina về Việt Nam mất 45 ngày). Lượng nguyên liệu này đủ để sản xuất đến hết tháng 3/2014”. Theo ông Chung, bình quân mỗi tháng, Japfa cần 16.000 - 17.000 tấn ngô. Thông thường, nhu cầu cho sản xuất đến đâu thì doanh nghiệp nhập đến đấy, sở dĩ Japfa nhập nhiều vào thời điểm này là vì giá ngô ở châu Mỹ quá rẻ. Hồi tháng 6, giá ngô nhập từ Argentina, Brazil là 310 - 320 USD/tấn (giá CIF về đến cảng Hải Phòng), nhưng hiện chỉ còn 245 - 250 USD/tấn. Cộng toàn bộ chi phí phát sinh về đến nhà máy thì giá ngô là 6.000 đồng/kg, trong khi giá ngô hạt khô tại Sơn La hiện là 6.200 đồng/kg, độ ẩm lại không đảm bảo. Ông Chung chia sẻ: "Ngô nguyên liệu trong nước năm nào cũng thiếu, thường thì các nhà máy sẽ tính toán đến cuối vụ thiếu bao nhiêu mới nhập (khoảng tháng 1 - 2), nhưng năm nay, các doanh nghiệp nhập ngô ồ ạt vào đúng mùa thu hoạch nên sẽ được lợi về giá".

 Cũng theo ông Chung, doanh nghiệp thích ngô nhập khẩu là vì ngô được sấy khô đến mức tối ưu, độ ẩm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật 14-15%. Còn trong nước, ngô thu hoạch đầu mùa có độ ẩm 30%, đến lúc rộ nhất độ ẩm cũng còn 23-25%, do hầu hết nông dân trồng ngô không có kinh nghiệm bảo quản, chủ yếu dự trữ tại các lán, trong góc nhà nên tỷ lệ mốc, mối mọt rất cao. Đó là chưa kể, việc thu mua ngô từ nông dân đến nhà máy chế biến phải qua tay nhiều thương lái, cùng với chi phí vận chuyển từ miền núi về xuôi rất lớn. Mặt khác, ngô trước khi giao cho các nhà máy chế biến phải sấy khô, trọng lượng chỉ còn 2/3, vì thế, nếu thu mua từ nông dân với giá 5 triệu đồng/tấn thì khi về đến nhà máy, giá thành sẽ lên tới 6,7 triệu đồng/tấn.

 Ông Vũ Hồng Văn - Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Chăn nuôi CP Việt Nam cũng cho biết, các công ty chế biến TACN lớn không thể mua ngô trực tiếp từ nông dân, vì mỗi lô nguyên liệu nhập vào lên tới hàng chục nghìn tấn, doanh nghiệp không có nhân lực để thu gom từ từng hộ. Ngoài ra, khi thu mua trực tiếp từ nông dân, sẽ không có hóa đơn VAT, doanh nghiệp khó quyết toán thuế. Vì vậy, bắt buộc doanh nghiệp phải mua từ các đại lý. Thời điểm này, nếu mua ngô từ đại lý, hóa đơn đầy đủ thì giá về đến nhà máy cũng đã gần 7 triệu đồng/tấn.

Được mùa, nguy cơ giá giảm mạnh


 Tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, ngô đã trở thành cây chủ lực trong xoá đói giảm nghèo. Ông Hà Quyết Nghị - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Sơn La cho biết, tuy năng suất và sản lượng ngô của tỉnh không ngừng tăng lên (hiện đạt khoảng 700.000 tấn), nhưng việc phát triển cây ngô trên địa bàn chưa thật sự bền vững, do thị trường tiêu thụ bấp bênh, phụ thuộc vào khả năng thu mua của các nhà máy chế biến TACN, vì vậy giá ngô cũng lên xuống thất thường. “Đầu tháng 8, giá ngô còn ở mức 7.400 đồng/kg, nhưng hiện chỉ còn 6.200 đồng/kg. Đấy là mới đầu vụ thu hoạch, với tình trạng các nhà máy chế biến TACN đã nhập gần đủ nguyên liệu cho sản xuất thì năm nay họ sẽ giảm rất lớn lượng ngô thu mua trong nước. Nguy cơ giá ngô giảm trong thời gian tới là rất lớn” - ông Nghị lo lắng nói.

 Ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội TACN Việt Nam cho biết, cả nước có hơn 1 triệu ha ngô, nhưng sản lượng chỉ đạt 4,5 triệu tấn/năm, trong đó chỉ có dưới 40% lượng này (tức khoảng 1,8 triệu tấn) được đưa vào nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp, còn lại, các doanh nghiệp vẫn nhập từ 1-1,8 triệu tấn ngô từ các nước khác.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Sắn giống tốt thương lái lùng mua

Sắn giống tốt thương lái lùng mua

CÂY LƯƠNG THỰC. Báo Phú Yên sáng nay đưa tin: Cần ngăn chặn tình trạng chặt cây sắn bán cho thương lái. "Những ngày qua tại các huyện Tây Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, người dân đổ xô đi chặt cây sắn bán cho thương lái. Một điểm tập kết bán cây sắn ở huyện Đồng Xuân, ảnh Lê Trâm. Cách đây hai năm, cảnh mua bán cây sắn cũng diễn ra rầm rộ, làm cho nhiều nơi không có sắn giống trồng dặm. Lo ngại nhất hiện nay, nếu các cấp chính quyền không kịp thời ngăn chặn tình trạng này, nguy cơ lây lan dịch bệnh trên cây sắn sẽ xảy ra".

Không riêng gì Phú Yên, tại các tỉnh phía Nam, nhiều thương lái đang đổ xô mua giống sắn siêu bột KM419KM444, KM140, KM98-5,... để chuyển đi nước ngoài trồng "cuốn chiếu lấy ngắn nuôi dài" hay trồng xen cao su trong các dự án đồn điền đang triển khai thành công nhưng dự báo nhiều rũi ro như trồng cây cao su nông dân Gia Lai vỡ nợ và tuyệt vọng. Sắn lát khô xuất sang Trung Quốc hiện đang có nhu cầu cao để làm cồn sinh học. Lượng sắn lát nhập từ Căm puchia và Lào về Việt Nam để tái xuất hoặc cung ứng cho các nhà máy chế biến sắn trong nước đang bị cạnh tranh khốc liệt và giảm nhanh chóng do các thương lái nước ngoài đón mua từ trước cửa khẩu và các công ty nước bạn tự xuất khẩu thẳng. Những nhà máy chế biến sắn trong nước đang đối mặt với việc phải cấp bách xây dựng vùng nguyên liệu sắn của riêng mình.

Xin đề xuất một số việc cần làm kịp thời:

1) các cấp chính quyền cần quản lý tốt hơn việc mua bán đúng giống sắn tốt theo luật giống cây trồng, hạn chế việc mua trôi nổi;
2) xử lý hiệu quả nguồn giống sắn tốt đang tranh mua bán trên tinh thần giúp các nông hộ và mang lại nguồn lợi tốt hơn cho người dân tránh tình trạng "giống tốt nhưng không được hổ trợ nhân nhanh tại chỗ, dân thấy lợi nên bán kiệt giống tốt ra ngoài";
3) hạn chế nguy cơ lây lan dịch bệnh chồi rồng trên các ruộng giống sắn kém chất lượng;
4) áp dụng đồng bộ các chính sách, kế hoạch, quy hoạch đầu tư vùng nguyên liệu để ổn định và phát triển sản xuất sắn;
5) thực hiện tuyển chọn đúng đơn vị và chủ nhiệm đề tài nghiên cứu tuyển chọn giống sắn và kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn để phát triển sắn bền vững trên địa bàn tỉnh;
6) các doanh nghiệp chế biến và cung ứng sản phẩm sắn cần phối hợp chặt chẽ với trung tâm khuyến nông khuyến ngư, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn và các cơ quan hữu quan hổ trợ mạnh mẽ việc đầu tư nhân giống tốt, đầu tư xây dựng mô hình và tập huấn khuyến nông
7) chuyển giao đúng giống sắn tốt, áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp sinh thái;
8) xử lý hài hòa lợi ích phát triển sắn bền vững để mang lại nguồn lợi tốt nhất cho người dân, doanh nghiệp và môi trường của địa phương

Hoàng Kim

Xem tiếp:

CẦN NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG CHẶT CÂY SẮN BÁN CHO THƯƠNG LÁI

Lê Trâm

(Báo Phú Yên 6.6.2013)Những ngày qua tại các huyện Tây Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, người dân đổ xô đi chặt cây sắn bán cho thương lái. Cách đây 2 năm, cảnh mua bán cây sắn cũng diễn ra rầm rộ, làm cho nhiều nơi không có sắn giống trồng dặm. Lo ngại nhất hiện nay, nếu các cấp chính quyền không kịp thời ngăn chặn tình trạng này, nguy cơ lây lan dịch bệnh trên cây sắn sẽ xảy ra.

MUA BÁN RẦM RỘ

Hiện thương lái lùng sục về tận các miền quê thuộc các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh, Tây Hòa, Tuy An để đặt mua cây sắn. Tình trạng này diễn ra rầm rộ gần một tháng nay. Dọc theo tuyến đường trục dọc phía tây Phú Yên từ xã Sơn Hội (Sơn Hòa) đến xã Xuân Quang 3 (Đồng Xuân) có đến vài chục điểm thu mua cây sắn. Hì hục băm chặt cây sắn, chị Nguyễn Thị Tình, một nông dân ở xã Xuân Quang 3 cho hay: Cứ 20 cây bó thành một bó, bán được 6.000 đồng. Một ngày, đàn ông mạnh tay chặt bán kiếm 150.000 đến 200.000 đồng. Cây sắn bán có tiền nên nhiều gia đình cả hai vợ chồng cùng đi chặt. Ban đầu họ chặt cây sắn của gia đình trồng trên vùng gò đồi gần nhà, sau đó “cơm đùm, cơm dỡ” lên tận các xã Sơn Định, Sơn Long (Sơn Hòa) tìm chặt cây sắn để bán.

Thấy cây sắn có giá, nhiều nông dân ở các xã Sơn Thành Đông, Hòa Phú (Tây Hòa) cũng đổ xô chặt bán. Tại các ngã ba, ngã tư đường giao thông, cây sắn được tập kết đủ các kích cỡ chờ xe chở đi tiêu thụ. Bà Nguyễn Thị Xuân, ở xã Sơn Thành Tây đang vác bó sắn cây chất thành đống bên lề đường, chờ xe tải chở, cho biết: Năm nay cây sắn được nhiều thương lái đặt mua. Mấy ngày qua, những gia đình ở đây đều đổ xô đi chặt về bán nên nhà nào cũng có cây sắn chất đầy trước nhà chờ thương lái đến chở.

Tại vùng trồng sắn ở các xã An Thọ, An Xuân (Tuy An), cây sắn cũng được thương lái săn lùng ráo riết. Trước đây họ rảo mua cây sắn to khỏe, sau sắn khan hiếm dần thì cả cây nhỏ cũng được thương lái mua. Bà Trần Thị Diệu ở xã An Thọ (Tuy An), cho biết: “Thấy thương lái đến từng nhà hỏi mua cây sắn nên tôi vác rựa dạo các bờ gò tìm chặt sắn để bán kiếm thêm thu nhập. Trong khi đó, sắn nhà tôi lại bị chặt trộm sạch rồi”. Không riêng gì bà Diệu, nhiều nông dân ở xã An Thọ chất cây sắn để dành trồng dặm khi nắng hạn sắn chết, nhưng hiện tại cây sắn giống không còn.

NGUY CƠ LÂY LAN DỊCH BỆNH

Tình trạng thiếu hụt nguồn sắn giống cũng diễn ra tại nhiều địa phương. Bà Lê Thị Thủy ở xã Xuân Phước (Đồng Xuân) giãi bày: “Ở đây có nhiều gia đình trồng sắn cùng thời điểm với tôi, nhưng cây mọc thưa thớt do nắng nóng kéo dài. Mấy ngày qua, tôi đi tìm sắn cây để trồng dặm nhưng không có”.

Trước đây hai năm, nhiều người từng rủ nhau đi chặt cây sắn để bán. Có người chở cây sắn về nhà chất đống chờ khô làm củi, nhưng sau đó có thương lái hỏi mua bán được hàng triệu đồng. Sau đó, thương lái đặt hàng số lượng lớn nhưng không quay lại, vì thế cây sắn được chất từ vườn nhà ra đến ngoài ngõ, để lâu bị chết khô… Điều lạ nữa là, thương lái đặt vấn đề mua cây sắn bó gọn gàng chở đi nơi khác bán làm sắn giống, nhưng khi mua thì họ chỉ đếm số lượng cây/bó, có những bó cây sắn trầy xước cả thân vẫn mua. Ông Huỳnh Văn Tuấn, một tài xế xe tải ở huyện Đồng Xuân cho hay: Cây sắn mua rồi được chở thẳng lên Gia Lai bán lại cho các thương lái đặt hàng. Tại đây họ bán đi đâu thì không rõ. Còn chị Thủy, một thương lái mua cây sắn ở huyện Tây Hòa cho hay: Họ chở sắn vô phía Nam bán lại cho khách hàng đặt sẵn.

Điều đáng lo ngại đó là hiện các vùng trồng sắn ở Sơn Hòa, Sông Hinh, Đồng Xuân, Tuy An đang bị bệnh chổi rồng. Còn bệnh nhện đỏ hại sắn đang phát sinh gây hại tại huyện Sông Hinh, Sơn Hòa. Đây là các bệnh lây truyền nhanh qua đường vận chuyển hom giống; vì vậy nếu không ngăn chặn kịp thời thì bệnh lây lan trên diện rộng, khả năng bùng phát thành dịch. Ông Đặng Văn Mạnh, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, cho hay: Để phòng trừ bệnh chổi rồng, nhện đỏ hại sắn, người dân tuyệt đối không sử dụng các hom sắn ở khu vực đã bị bệnh, phải tiêu hủy triệt để thân cây sắn và tàn dư còn tươi ở các vùng sắn đã bị bệnh. Khi trồng sắn, ta nên sử dụng hom đã sạch bệnh, không được vận chuyển cây sắn từ vùng có bệnh sang các vùng khác vì như thế dịch bệnh lây lan nhanh.

Theo ông Nguyễn Văn Tri, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng NN-PTNT huyện Đồng Xuân: Năm 2011, phòng có công văn gởi các địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân không nên nhất thời chạy theo lợi nhuận trước mắt mà quên đi yếu tố sản xuất lâu dài, vì dễ dẫn đến nguy cơ thiếu giống sắn trầm trọng.

Nguồn: Lê Trâm 2013 Báo Phú Yên http://www.baophuyen.com.vn/Kinh-te-82/7706406306405705565

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOOD CROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính của các giống khoai lang Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1 (Nhật hồng)

alt

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống.. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội  từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ)  trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU)  trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

4.3 Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG  là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình

Giống khoa HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai HL518  do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai Kokey 14 (Nhật vàng) có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống HL491 (Nhật tím) do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị. Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai HL284 (Nhật trắng) thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

TS. Hoàng Kim

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Source: http://foodcrops.blogspot.com/2010/01/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

 

Nghiên cứu giúp nông dân Trung Quốc chống xói mòn đất và tăng lợi nhuận

Nghiên cứu giúp nông dân Trung Quốc chống xói mòn đất và tăng lợi nhuận 

Nhà nghiên cứu Bozhi Wu và các cộng sự nghiên cứu của ông đã tìm ra cách cải thiện tính ổn định về kinh tế và môi trường cho nền nông nghiệp Trung Quốc. Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu việc trồng xen, trồng nhiều hơn một vụ mỗi mùa trên đất đồi. Họ tập trung vào một loại ngũ cốc thiết yếu là cây ngô. Họ so sánh việc chỉ trồng ngô, chỉ trồng ớt với việc xen canh ngô với ớt hoặc xen canh ngô với cỏ Setaria.

Trong một khoảng thời gian bốn năm, nhóm nghiên cứu đã đo lường dòng chảy, tình trạng xói mòn, và lợi nhuận kinh tế của bốn loại hệ thống canh tác khác nhau. Họ so sánh việc trồng chỉ ngô, việc trồng chỉ có ớt, và sau đó xen ngô với ớt và ngô với cỏ Setaria. Đất được nghiên cứu là ở tỉnh Vân Nam phía tây nam Trung Quốc. Tất cả các cánh đồng đều có mưa, không có hệ thống tưới tiêu.

Wu nói: “Việc giảm xói mòn có thể duy trì hoặc làm tăng độ màu mỡ của đất và tăng năng suất. Chúng tôi nghiên cứu các hệ thống xen canh có thể làm giảm xói mòn, ổn định sản xuất lương thực và tăng thu nhập cho nông dân”.

Việc xen canh có thể có lợi cho đất bằng nhiều cách. Lớp phủ đất bổ sung được cung cấp bởi vụ thứ hai giúp giảm sự xói mòn. Các cây trồng xen canh giúp hấp thụ thêm nước và chất dinh dưỡng. Điều này có thể giúp làm giảm lượng các chất dinh dưỡng bị tràn ra các vùng đất liền kề. Cuối cùng, việc trồng các loại cây trồng khác nhau trên đất làm tăng tính đa dạng sinh học. Điều này có thể giúp kiểm soát sâu bệnh. Tuy nhiên, nghiên cứu của Wu đã chỉ ra một động lực khổng lồ khác.

Nghiên cứu cho thấy rằng nông dân có thể thu được lợi ích kinh tế cao nhất từ ​​việc trồng ớt với ngô. Các địa điểm nghiên cứu có trồng ớt hay cỏ setaria cho thấy sự xói mòn đất ít hơn và nông dân kiếm được nhiều tiền hơn. Nhưng cây ớt cho thấy mức tăng trưởng kinh tế cao nhất. Việc thu được thêm 1.000 – 2.000 USD mỗi năm cho mỗi hecta trồng là một lợi ích kinh tế thực sự.

Và nó không chỉ là những lợi ích về kinh tế mà việc trồng xen canh mang lại. Ở phía tây nam Trung Quốc, hơn 440.000 km2 bị ảnh hưởng bởi các vấn đề xói mòn. Để liên hệ với Hoa Kỳ, hãy tưởng tượng nếu chúng ta mất tất cả đất đai của California do tình trạng xói mòn, con số này vẫn còn ít hơn diện tích đất ước tính bị ảnh hưởng bởi những vấn đề xói mòn ở Tây Nam Trung Quốc. Ước tính thiệt hại về kinh tế do đất xói mòn đối với châu Á là 1,2 tỷ USD. Vì vậy, việc chống xói mòn là một vấn đề lớn trong ngành nông nghiệp.

Cây Setaria hiện đang được sử dụng ở Trung Quốc như một loại cỏ làm thức ăn chăn nuôi, với ngành chăn nuôi đang phát triển nhanh chóng. Do hệ thống rễ sâu hơn của cây, việc trồng xen canh với cây setaria đã quản lý xói mòn và chống tình trạng rửa trôi phân bón tốt hơn so với trồng xen với ớt. Tuy nhiên, lợi ích môi trường của ớt kết hợp với lợi ích kinh tế của cây ớt là lựa chọn tốt nhất.

Cả hai hệ thống xen canh - ớt và cây setaria với ngô – đều giảm xói mòn và cải thiện kinh tế. Mặc dù đây là những kỹ thuật canh tác mới, nhóm nghiên cứu cho rằng những lợi ích kinh tế sẽ giúp lan truyền những phương pháp mới này ở miền nam Trung Quốc. Do tác động kinh tế nhanh hơn, khuyến cáo chính cho vùng đồi ở miền nam Trung Quốc là trồng ngô xen canh ớt. Tất nhiên, giá cả hàng hóa thay đổi theo thời gian, vì vậy việc thiết kế các hệ thống xen canh sẽ phụ thuộc vào các cơ hội thị trường.

 

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc, lúa là cây trồng lớn thứ 3 trên thế acheter viagra giới sau lúa mì và bắp. Nó là thực phẩm chính ở các khu vực rộng lớn trên thế giới và với nhu cầu đang tăng lên và mối nguy hiểm đang hiện hữu của biến đổi khí hậu, khả năng hạn hán gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo là một mối bận tâm ngày càng tăng. Trung tâm Khoa học tài nguyên bền vững (CSRS) của RIKEN đang phát triển các chủng lúa chuyển gen mới kết hợp một gen từ cỏ thale cress (Arabidopsis thaliana) để giúp chúng kháng hạn tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu CSRS cho hay cây trồng có thể thích nghi với hạn hán bằng cách tạo ra các loại hóa chất có tên osmoprotectant vốn bao gồm nhiều dạng đường khác nhau. Bằng cách tăng nồng độ của các chất bảo vệ này trong tế bào, chúng có thể giữ nước tốt hơn.

Chìa khóa để sản sinh một loại đường bảo vệ có tên galactinol là enzyme Galactinol synthase (GolS). Làm việc với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) ở Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Quốc tế Nhật Bản (JIRCAS), Trung tâm CSRS đã đưa khả năng sản sinh GolS vào lúa bằng cách cắt ghép một gen từ loài cỏ kháng hạn-mặn thale cress.

“Gen Arabidopsis GolS2 lần đầu tiên được xác định bằng nghiên cứu cơ bản tại RIKEN. Sử dụng nó, chúng tôi có thể cải thiện sức kháng với sức ép lên quan đến hạn hán và tăng sản lượng hạt của lúa trong điều kiện ruộng khô. Đây là một trong những trường hợp hình mẫu tốt nhất mà kiến thức nghiên cứu cơ bản đã được áp dụng thành công hướng tới nghiên cứu giải pháp cho một vấn đề liên quan đến lương thực”, nhà nghiên cứu tại RIKEN Fuminori Takahashi cho biết.

Để sản xuất các chủng lúa mới này, nhóm bắt giống lúa châu Phi và Brazil và thông qua kỹ thuật cắt nối gen (gene splicing), họ có thể làm cho lúa biển hiện quá mức gen GolS2. Sau đó chúng trồng chủng lúa mới trong nhà kính dưới điều kiện có kiểm soát và kiểm tra các enzyme được cây trồng chuyển gen sản sinh và so sánh với một nhóm đối chứng không sửa đổi.

Sau đó nhóm kiểm tra cây trồng chuyển gen dưới các điều kiện hạn hán mô phỏng và phát hiện ra rằng lúa sửa đổi gen cho thấy lá ít xoăn hơn – một dấu hiệu cho thấy có sức ép hại hán. Cuối cùng lúa thử nghiệm được trồng và kiểm tra thực tế ở Cambodia và ở các khu vực và mùa khác nhau trong khoảng thời gian 3 năm. Trong mỗi trường hợp, lúa sửa đổi gen cho năng suất cao hơn, ít xoăn lá hơn, sản sinh nhiều sinh khối hơn, sinh sản tốt hơn, hàm lượng nước cao hơn và tạo ra nhiều chất diệp lục hơn thậm chí trong điều kiện hạn nhẹ đến hạn nặng.

“Giờ chúng tôi đang bắt đầu dự án cộng tác tiếp theo mà ở đó chúng tôi sẽ tạo ra giống lúa hữu ích mà không sử dụng công nghệ [sửa đổi gen]. Có thể mất 5 đến 10 năm để đạt được mục tiêu này nhưng chúng tôi phải tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu theo hướng đó vì hạn hán và biến đổi khí hậu có thể trở nên tồi tệ hơn trong tương lai”, Takahashi cho biết thêm

Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đăk Lăk

Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đăk Lăk

CÂY LƯƠNG THỰC. Chủ đề: “Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đăk Lăk” thuộc Tiểu hợp phần A2 dự án cạnh tranh nông nghiệp Đăk Lăk do Ngân hàng Thế giới tài trợ, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Đăk Lăk là cơ quan chủ quản, Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Xây Dựng & Tài Nguyên Nước (SHT) là cơ quan chủ trì, Tiến sĩ Hoàng Kim làm chủ nhiệm; Địa điểm thực hiện tại huyện Ea Kar và huyện Krông Bông; Thời gian thực hiện từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013. Kết quả dự án đã thành công cao, thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đạt chất lượng tốt tất cả những nội dung đề ra, đáp ứng tốt mục tiêu và vượt mức yêu cầu.

Sắn là cây trồng có vị trí quan trọng trong cơ cấu thu nhập của các hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Krông Bông và Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk. Sản lượng sắn trên toàn tỉnh năm 2011 đạt 610,10 nghìn tấn trên diện tích thu hoạch 31.800 ha, năng suất bình quân 19,18 tấn/ha. Đất sắn của tỉnh tập trung chủ yếu ở các huyện Krông Bông, Ea Kar, M’Đrăk là những diện tích nghèo dinh dưỡng, vì đất bằng và nằm trên đất đỏ bazan của tỉnh phần lớn đã đưa vào sử dụng trồng các loại cây lâu năm như cà phê, tiêu, cao su.

Địa điểm thực hiện chủ đề là vùng nguyên liệu trực tiếp của hai Nhà máy Chế biến Tinh Bột Sắn Eakar và Krông Bông, gồm các xã Cư Pui, Hòa Phong, Cư Kty (huyện Krông Bông), Ea Tih, Ea Sar, Ea Sô, Cư Elang (huyện Ea Kar) và xã Ea Lai (huyện M’Đrăk). Đây là những xã nghèo, trồng nhiều sắn, đất canh tác phần lớn bạc màu, ngành nghề chưa phát triển, nông dân thu nhập thấp, các hộ thuộc diện xóa đói giảm nghèo cao, có nhiều hộ đồng bào dân tộc ở vùng sâu vùng xa rất cần sự hỗ trợ phát triển.

Việc ứng dụng giống sắn mới và xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững ở Đăk Lăk là rất cấp thiết. Chủ đề của dự án xuất phát từ sự lựa chọn thực tế tại hội thảo bàn tròn với nông dân trên địa bàn tỉnh và thực tế sản xuất. Đây là chủ đề thuộc tiểu hợp phần A2 thuộc hợp phần A - Dự án ACP - Đăk Lăk: Phát triển các phương thức canh tác bền vững. Tiểu hợp phần sẽ tài trợ các hoạt động thí điểm ở cấp cộng đồng nhằm tăng tính bền vững của các phương thức sản xuất nông nghiệp có tính cạnh tranh. Mục tiêu của hợp phần sẽ đạt được thông qua việc phát triển và mở rộng các gói công nghệ áp dụng qui trình canh tác tốt (GAP). Nghiên cứu và phát triển công nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh. Tiểu hợp phần này hỗ trợ việc xác định và thực hiện các nghiên cứu ứng dụng, phát triển và mở rộng các gói công nghệ đáp ứng trực tiếp nhu cầu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường của chuỗi giá trị sản phẩm sắn để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả chi phí. Chủ đề dự án được xây dựng thực hiện và áp dụng từ kết quả nghiên cứu nhiều năm của Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và tận dụng thành quả mới nhất của Chương trình Sắn Việt Nam với các giống sắn tốt đã xác định KM419 (SVN5), KM444 (SVN7), KM140. Đặc biệt là giống sắn siêu bột Nông Lâm KM419, thực tế đang phát triển mạnh về diện tích và cho năng suất cao đang rất được ưa chuộng và nhân nhanh trong sản xuấtkết hợp cùng với quy trình kỹ thuật thâm canh sắn theo hướng bền vững là một hướng đi đúng với mục tiêu của dự ántìm cách áp dụng kịp thời, trực tiếp vào xây dựng mô hình tại địa phương.

Mục tiêu chung: Chuyển giao quy trình sản xuất sắn theo hướng bền vững để nâng cao năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân và tạo cơ sở phát triển bền vững vùng nguyên liệu sắn phục vụ cho việc chế biến và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Mục tiêu cụ thể:
1) Xác định các giải pháp kinh tế kỹ thuật chủ yếu để phát triển sắn tại địa phương trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng sản xuất sắn tại hai huyện Krông Bông và Ea Kar. Xác định các giải pháp kinh tế kỹ thuật chủ yếu để phát triển sắn tại địa phương.

2) Chuyển giao quy trình sản xuất sắn theo hướng bền vững, thực hiện mô hình thâm canh tổng hợp, nâng cao năng suất sắn tăng 30 - 40% năng suất so với sản xuất cũ; tăng thu nhập cho người nông dân tăng từ 10 – 15 triệu đồng /ha so với sản xuất cũ, với giá sắn củ tươi 1.500 đồng/kg);

3) Xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất và nhà máy chế biến.

4) Nâng cao nhận thức và kỹ năng của nông dân thông qua các lớp đào tạo, tập huấn kỹ thuật sản xuất sắn theo hướng bền vững nhằm nâng cao năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế.

Kết quả dự án đã đạt được đủ khối lượng, đúng thời hạn, đạt chất lượng tốt tất cả những nội dung đề ra, đáp ứng tốt mục tiêu và vượt mức yêu cầu.

1) Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất sắn ở hai huyện Eakar và Krông Bông (thu thập số liệu thống kê, báo cáo hàng năm tại hai huyện, điều tra thực trạng sản xuất sắn với 96 phiếu điều tra): Báo cáo đã cung cấp tài liệu điều tra cơ bản cây sắn cập nhật, xác thực cho địa phương về quy mô diện tích sắn của hộ, tổng thu nhập, thu nhập từ sắn, cơ cấu giống sắn, năng suất, thời vụ, kỹ thuật canh tác, tình hình tiêu thụ, hiệu quả kinh tế, các yếu tố hạn chế chính và tiềm năng phát triển sắn, tình hình về một số chỉ tiêu lý hóa của đất của vùng sản xuất sắn. Huyện Ea kar Kar và Krông Bông có đặc điểm tự nhiên khí hậu đất đai và điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi cho sự phát triển của cây sắn. Giải pháp kỹ thuật chìa khóa để phát triển sắn bền vững tại vùng này cần đặc biệt chú trọng áp dụng giống tốt có năng suất cao, sạch bệnh và áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật thâm canh rãi vụ, các giải pháp phân bón, mật độ, trồng xen, phòng trừ sâu bệnh hại, chống xói mòn trên đất dốc, ... phù hợp với đặc điểm sinh thái và điều kiện kinh tế hộ.

2) Xây dựng được 12 mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Dự án đã hỗ trợ đầu tư giống, vận chuyển, phân bón, vật tư để triển khai xây dựng mô hình trên quy mô 12 ha ở sáu xã vùng dự án thực hiện. Các mô hình này đều phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, tận dụng tốt các nguồn tài nguyên hiện có và thực sự mang lại năng suất, lợi nhuận cao cho các nông hộ, giúp địa phương đạt được nhiều sản phẩm hàng hóa. Những mô hình tiến bộ kỹ thuật trên đây đã được đúc kết thành “Quy trình kỹ thuật thâm canh sắn,” Mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững ở tỉnh Đăk Lăk” (xem video kèm theo).

3) Giới thiệu và phát triển các giống sắn mới KM419 (SVN5), KM444 (SVN7), KM140 phù hợp với sinh thái địa phương, đặc biệt là giống sắn KM419 (sắn siêu bột Nông Lâm, cút lùn) cây thấp gọn, dễ trồng dày, thân xanh thẳng, nhặt mắt, không phân cành, lá già xanh đậm, đọt non màu xanh, cọng xanh tím, số củ 8-12, củ to và đồng đều, dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng, chưa thấy bệnh chồi rồng, nhiễm bệnh đốm lá ở mức trung bình, năng suất sắn củ tươi biến động từ 23,0- 45,0 tấn/ ha, bình quân 38,83 tấn/ha. Đây là kết quả thu hoạch thực tế năng suất sắn củ tươi tại sáu nông hộ thực nghiệm ở các xã Cư Pui, Hòa Phong, Cư Kty (huyện Krông Bông) Ea Tyh, Ea Sar (huyện Eakar) mỗi điểm thu hoạch 100 m2 (10 m x 10 m) đã đạt năng suất sắn củ tươi bình quân là 388 kg/100 m2 với sự chứng kiến của tổng số 30+30+30+24+35+35=184 nông dân tham gia hội thảo đầu bờ, hàm lượng tinh bột đạt 24,0-28,7% (phụ thuộc thời tiết lúc thu hoạch và tháng sau trồng) tương đương với độ bột của giống sắn KM94 ở cùng thời điểm thu hoạch. Giống sắn KM419 hiện được nông dân rất ưa chuộng và nhân nhanh trong sản xuất.

4) Dự án đã tổ chức tập huấn, hội thảo và tham quan sản xuất sắn bền vững với quy mô: Một lớp huấn luyện kỹ thuật (TOT) cho 25 người, với 123 lượt ngày/người tham dự (trong đó có 19 lượt người đồng bào dân tộc thiểu số); Sáu lớp tập huấn khuyến nông (FFS) với hai đợt thành 12 lần, tại huyện Ea kar Kar có 184 lượt người tham gia (trong đó có 26 đồng bào dân tộc thiểu số và 39 nữ), tại huyên Krông Bông có 176 lượt người tham gia (trong đó có 64 đồng bào dân tộc thiểu số và 23 nữ); Sáu đợt hội thảo đầu bờ tại sáu địa điểm với 184 người tham dự, trong đó có 33 nữ, 74 đồng bào dân tộc thiểu số; Một đợt tham quan sản xuất sắn bền vững tại Đồng Nai với 50 người tham quan (trong đó có 18 người đồng bào dân tộc thiểu số và 5 người nữ). Dự án đã xây dựng tài liệu tập huấn cung cấp 1.000 tờ rơi và 2.000 tờ bướm, biên tập một VCD dạng tài liệu hướng dẫn sinh động, trực quan phát cho nông dân trong vùng để thuận lợi cho việc áp dụng quy trình kỹ thuật canh tác sắn vào thực tế sản xuất.

5) Dự án đạt hiệu quả tốt về khoa học, kinh tế, xã hội và môi trường, là điểm sáng đưa tiến bộ kỹ thuật phục vụ nông nghiệp nông dân nông thôn vào vùng sâu vùng xa. Dự án đã hoàn thành tốt tất cả các nội dung theo đúng thời hạn quy định, được nông dân và lãnh đạo địa phương đánh giá tốt.

Dự án kiến nghị áp dụng rộng rãi các giống sắn KM419 (SVN5), KM444 (SVN7), KM140 và “Quy trình kỹ thuật thâm canh sắn” Mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững ở tỉnh Đăk Lăk" cho những địa bàn thích hợp của Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam.

FAO mới đây vừa có bài thông cáo báo chí "Tiềm năng to lớn của sắn là cây trồng thế kỷ 21" (FAO 2013. Cassava's huge potential as 21st Century crop)và tài liệu: Bảo tồn và phát triển sắn: một hướng dẫn để tăng cường sản xuất bền vững (FAO 2013. SAVE AND GROW: CASSAVA: A guide to sustainable production intensification ). Tài liệu của FAO ca ngợi Việt Nam đã có nhiều nông hộ đưa năng suất sắn từ 8,5 tấn/ ha lên 36 tấn/ ha tăng năng suất sắn 400% do ứng dụng giống sắn tốt và áp dụng quy trình sản xuất sắn bền vững.

Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển: Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đăk Lăk là một kinh nghiệm thực tiễn quý.

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Trung Quốc và khoai lang tím Nhật

FOODCROPS. Báo Nông Nghiệp và bài viết của Hữu Đức về tình hình gia tăng trồng khoai lang tím giống Nhật Bản để bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc của hai vùng trồng khoai thuận lợi Kiên Giang và Vĩnh Long .

alt 

Chạy theo khoai lang tím
Hữu Đức

Theo làn sóng nhà nhà trồng khoai lang tím giống Nhật Bản bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, nông dân ở huyện Bình Tân (Vĩnh Long) hăm hở vỡ đất trồng khoai mở rộng lên 6.000 ha, lớn nhất vùng ĐBSCL.

Vừa sau vụ khoai đầu năm trúng mùa, trúng giá cao ngất. Lại nghe nói thương lái Trung Quốc sang thuê đất trồng khoai ở Bình Minh (Vĩnh Long) nên dân trồng khoai càng vững tin. Dù người tính thận trọng đến mấy cũng khó ngồi yên nhìn mấy ông hàng xóm vác cuốc ra đồng lên luống trồng khoai...

Hàng năm mùa khoai lang ở Bình Tân bắt đầu từ sau khi thu hoạch lúa đông xuân. Tháng 1 trồng, đến tháng 4 vỡ khoai. Tháng 4 vừa qua nông dân Bình Tân trúng mùa và bán được cao giá nhất từ trước tới nay. Lúc đỉnh điểm 820.000 đồng/tạ (60 kg/tạ). Nhưng tới những ngày này giá khoai tím hạ dần, chỉ còn 440.000 đồng/tạ. Vậy mà chạy dọc theo quốc lộ 54, hai bên đồng từ chợ Bà lên tới các xã Tân Qưới, Tân Lược, huyện Bình Tân, xen kẽ với mấy thửa ruộng lúa thu đông, nơi có đê bao vững vẫn còn hàng vạn luống khoai thẳng tắp, xòe lá xanh rì.

Nhiều năm qua ở ĐBSCL có hai vùng đất trồng khoai lang bền bỉ do trời phú điều kiện thổ nhưỡng thích nghi và duy trì liền mạch thị trường tiêu thụ. Ở Kiên Giang có 1.000 ha khoai lang tập trung nhiều nhất các huyện Hòn Đất, Kiên Lương, Giồng Riềng. Lâu nay khoai từ vùng này được bán nhiều về TP HCM và các tỉnh trong vùng. Mấy năm gần đây khoai Kiên Giang bắt đầu mở mũi xuất bán sang Campuchia, Thái Lan và bán cho thương lái xuất qua Trung Quốc.

Trong khi đó Vĩnh Long có vùng khoai lang Bình Minh, Bình Tân. Riêng Bình Tân mau chóng nổi lên thành vùng trồng khoai chuyên canh. Khoai từ đây bán đi khắp vùng ĐBSCL và tiêu thụ mạnh nhất là mấy nhà vựa địa phương thu mua, đóng thùng chuyển theo xe tải bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc.

Ông Bảy Tố, nông dân xã Thành Lợi, huyện Bình Tân kể: “Thương lái Trung Quốc chuộng mua khoai lang tím. Nhưng họ không mua trực tiếp mà thông qua mấy nhà vựa. Cuối tháng 4 vừa rồi, tôi thu 7 công khoai lang tím năng suất đạt 30-40 tạ/công, bán giá 820.000 đồng/tạ, lãi 18-19 triệu đồng/công. Nhưng họ lựa hàng gắt lắm, củ tròn mới mua, củ dài loại ra bán rẻ, vả lại thị trường nội địa không ăn hàng nhiều khoai tím này”.

Đang mùa mưa. Hàng xuất đi Trung Quốc yếu, giá rớt dần. Đi tới mấy ruộng khoai thu hoạch rộ, dây khoai còn dính củ, bùn đất ướt lấm lem. Dân trồng khoai nói, vỡ khoai mà nhằm ngay mưa là cực trần thân, phải dùng quạt cho khoai ráo, lặt dây và lựa ra mới cân bán được. Đã vậy, khi giá xuống, thị trường chậm ăn thì càng có cớ cho thương lái õng ẹo, kêu hoài chưa muốn tới.

Một nhóm nông dân ở Tân Qưới, huyện Bình Tân ngồi bàn với nhau, mấy hôm trước nghe lái Trung Quốc ra xem hàng, bảo giảm còn 490 ngàn đồng/tạ, nhưng rồi qua mấy tay lái “em” địa phương ém giá còn 440-450 ngàn đồng/tạ. Thế nhưng có người tính, dù cho khoai có rớt mất nửa giá so với hồi tháng 4, với giá 400.000 đồng/tạ, nếu trồng đạt năng suất 40 tạ/công thì chỉ cần 3 công khoai sau một vụ 4 tháng cũng thu 48 triệu đồng, trừ chi phí 10 triệu đồng, lãi ròng chừng 1 cây vàng là ngon rồi.

Nông dân Đỗ Văn Hải, xã Tân Bình, huyện Bình Tân trồng 7 công khoai. Hồi tháng 4, vỡ khoai đợt đầu gần 5 công bán được 700.000 đồng/tạ, tổng thu 162 triệu đồng, trừ chi phí 40 triệu đồng, lãi trên 120 triệu. Phần đất còn lại trồng giống khoai lang trắng, khoai sữa bán thị trường nội địa. Đó là vì ông Hải dè chừng thị trường Trung Quốc dội hàng. Thế nhưng khoai trắng, khoai sữa bán về khắp các chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang) hay ghe chở về tới Cà Mau…được chừng 130.000 đồng/tạ. Nay rớt giá còn 100.000 đồng/tạ, thiệt là mức chênh lệch thấp xa nên ai cũng chạy theo trồng giống khoai tím là phải.

Dù vậy, hiện thời ông Hải chưa hết phân vân: “Hổm nay dân trồng khoai Bình Tân, có người lo ngại khoai xuất bán tiểu ngạch sang Trung Quốc bị ngưng ngang. Phần tôi cũng tin rằng thị trường này bấp bênh và lắm rủi ro. Vì khoai tím một khi dội chợ thì thị trường nội địa cũng không thể nào tiêu thụ hết được. Biết vậy, nhưng tâm lý nông dân là chạy theo giá, thấy lãi nhiều thì liều chơi đại”.

Nguyễn Thanh Tâm, nông dân xã Tân Qưới (Bình Tân) nhìn xa ngoài ruộng khoai trầm ngâm: “Nhớ hồi trước vùng này trồng nhiều giống khoai lang Dương Ngọc, khoai trắng, khoai sữa. Dân Sài Gòn và các tỉnh trong vùng ăn hàng đều đều. Rồi một dạo trồng khoai giống cao sản cũng đạt năng suất, bán ra Hà Nội. Nhưng về sau không còn hút hàng nữa nên thôi. Nay dân trồng khoai tím chạy theo thị trường Trung Quốc nên khoai lang Dương Ngọc bỏ mất giống rồi. Mai mốt thị trường có ăn lại chẳng biết tìm đâu ra giống khoai ngon này”.

Theo Phòng NN- PTNT huyện Bình Tân, toàn huyện có 15.288 ha đất tự nhiên, với hơn 93.700 nhân khẩu. Trong đó hơn phân nửa dân số sống trên vùng chuyên canh khoai lang 6.000 ha. Các mô hình luân canh lúa - khoai, khoai - hoa màu đem lại thu nhập bình quân 100-120 triệu đồng/ha và nếu trúng giá đạt tới 170-200 triệu đồng/ha.

Ông Nguyễn Văn Liêm, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Vĩnh Long: “Bình Tân nổi tiếng trồng khoai ai cũng khen ngon, năng suất cao. Thị trường Trung Quốc vừa qua tiêu thụ dễ tính nhưng chưa biết mai mốt sẽ ra sao nếu họ “thắt lại” yêu cầu tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy để vùng trồng khoai phát triển lâu bền nông dân cần hướng tới làm ăn liên kết, sản xuất theo hợp đồng và theo qui trình kỹ thuật đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đây cũng là cách dự phòng có thể chuyển hướng thị trường xuất khẩu sang nước khác”.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Mở khoá bí mật di truyền cây bắp

FOODCROPS. Hai bài báo khoa học về "Mở khóa di truyền của cây bắp" được công bố trên tạp chí Science đã thông tin một sự kiện lớn về di truyền cây bắp có thể là một cuộc cách mạng cho ngành chọn tạo giống.

alt 

Các nhà nghiên cứu của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và nhiều Trường Đại Học Hoa Kỳ đã tham gia nghiên cứu và tìm thấy không có sự kiện 'big genes' hoặc gene regions (các vùng của gen) điều khiển những tính trạng số lượng của cây bắp. Thay vào đó, chúng tạo ra hiện tượng biến dị di truyền trong bộ gen này như một sản phẩm của "genes working together, each with a small effect that could be manipulated by breeders." (các gen hoạt động cùng nhau, mỗi gen có một ảnh hưởng riêng có thể được thao tác bởi nhà chọn giống). Ed Buckler và ctv. đã phát triển và đánh giá hơn một triệu cây bắp để phân lập gen điều khiển sự trổ bông. Buckler nói rằng "Chúng tôi gặp khó khăn khi xem xét big genes và big effects, nhưng chúng không hề tồn tại. Thay vào đó, có nhiều gen nhỏ hơn trong genome đóng góp vào điều khiển thời gian ra hoa". Họ xác định được 29-56 quantitative trait loci (QTLs) ảnh hưởng đến thời gian ra hoa. Nghiên cứu trên 1.100 chỉ thị phân tử đối với các gen này, người ta định tính được cách thức di truyền, tổng thể của bộ gen, mỗi bố mẹ đóng góp vào một nửa. Nhưng họ cũng quan sát thấy có những khác biệt rất tinh tế, chứng tỏ rằng nhiều gen có các ảnh hưởng nhỏ đối với quá trình sinh dục. Trên tạp chí khác, họ ghi nhận rằng chưa thể bao trùm hết tính chất quan trọng của sự kiện tái tổ hợp trong lần nghiên cứu đầu tiên như vậy; trong đó, nhiều vùng rộng lớn của genome không tái tổ hợp được ở tâm động của nhiễm sắc thể cây bắp lai. Vùng này đóng góp có ý nghĩa vào cường lực lai của bắp.
Xem tạp chí Science http://dx.doi.org/10.1126/science.1174320
http://dx.doi.org/10.1126/science.1174276
For more information, read http://www.ars.usda.gov/is/pr/2009/090806.2.htm
và http://www.news.cornell.edu/stories/Aug09/maizeGenetics.html http://www.plantphysiol.org/cgi/content/abstract/150/4/1750

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Sản xuất thành công đất nhân tạo

Sản xuất thành công đất nhân tạo 

Loại đất nhân tạo này được làm từ các sợi tự nhiên, ngâm bão hòa rất lâu trong một dung dịch đặc biệt.

Theo hãng tin TASS, các nhà khoa học tại Trường Đại học Liên bang Siberia ở Krasnoyarsk (Nga) đã nghiên cứu và phát triển thành công đất nhân tạo, có tên gọi là Biomat, giúp khôi phục hiệu quả các khu vực đất bị thoái hóa, bạc màu và phục vụ cho việc trồng trọt.

Bà Alena Burnova, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết Biomat được làm từ các sợi tự nhiên, ngâm bão hòa rất lâu trong một dung dịch đặc biệt.

Các khoảng trống giữa các sợi nói trên được phủ kín bằng các chất hữu cơ liên kết tự nhiên và hoạt động linh hoạt theo cơ chế sinh học. Khi cần, Biomat có thể được bổ sung thêm các chất gel giãn nở để tăng khả năng giữ nước, cần thiết cho các cây con.

Bà Burnova mô tả Biomat giống như là “một tấm thảm rất nhẹ”, có thể được sử dụng ở mọi nơi, nhất là tại các vùng đất phía bắc xa xôi của Nga, nơi việc trồng trọt gặp nhiều khó khăn do đất đai tại các khu vực này thường xuyên bị tàn phá bởi khí hậu khắc nghiệt.

Biomat sẽ tự phân hủy hết trong vòng 4-5 năm và các chất sau khi phân hủy sẽ trở thành dinh dưỡng của đất, tạo độ màu mỡ để cây sử dụng

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

Các nhà khoa học tại Trung tâm Khoa học Tài nguyên Bền vững RIKEN (CSRS) đã phát triển các giống lúa chịu hạn trong các tình huống thực tế.

Được đăng tải trên tạp chí Công nghệ Sinh học Thực vật, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: cây lúa biến đổi gien với một gien từ cây Arabidopsis cho năng suất cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien khi phải chống chịu hạn hán tự nhiên. Nghiên cứu được thực hiện với sự cộng tác giữa các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) tại Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Khoa học Nông nghiệp Nhật Bản (JIRCAS) tại Nhật Bản.

Do lượng lúa gạo cần để giúp nuôi sống dân số toàn cầu tăng lên, nên hậu quả của việc giảm cây trồng do hạn hán đang trở nên nghiêm trọng hơn. Các nhà khoa học tại RIKEN và các cộng sự đã giải quyết vấn đề này bằng cách phát triển các giống lúa biến đổi gien có khả năng chịu hạn hơn.

Thông thường, cây trồng thích ứng với căng thẳng do hạn hán bằng cách tạo ra osmoprotectants - các phân tử giống như các loại đường hòa tan giúp nước không bị thoát ra ngoài lá. Galactinol synthase (GolS) là một enzyme cần thiết để tạo ra một trong những loại đường quan trọng này được gọi là galactinol. Trong các nghiên cứu trước đó, các nhà khoa học của RIKEN đã chỉ ra rằng cây Arabidopsis biểu hiện gien AtGolS2 để ứng phó với căng thẳng do hạn hán và mặn.

Trong nghiên cứu này, họ đã tạo ra một số dòng lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có biểu hiện gien này, và với các cộng sự từ CIAT và JIRCAS, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra xem cây lúa phát triển tốt như thế nào trong các điều kiện khác nhau của những năm khác nhau.

Kết quả rất khả quan. Thứ nhất, họ đã trồng nhiều giống lúa khác nhau trong điều kiện nhà kính và cho thấy lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có hàm lượng galactinol cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien. Tiếp theo, họ đã kiểm tra khả năng chịu hạn trong giai đoạn tăng trưởng của cây vì thời kỳ này thường trùng với thời gian diễn ra hạn hán. Sau ba tuần, các dòng biến đổi gien có lá mọc cao hơn, ít bị cuốn lá hơn - phản ứng thường thấy khi bị căng thẳng do hạn hán.

Khả năng chịu hạn tiếp theo được xác nhận vào giai đoạn tạo hạt ở ba cuộc thử nghiệm tại Colombia. Những thử nghiệm này diễn ra trong các mùa khác nhau và các địa điểm khác nhau. Tuy nhiên, các dòng biến đổi gien ở cả hai giống lúa đều cho năng suất và sinh khối lớn hơn, ít bị cuốn lá hơn và khả năng tạo hạt cao hơn so với lúa không biến đổi gien.

Cuối cùng, họ đã khảo nghiệm lúa biến đổi gien trong 3 năm ở các môi trường tự nhiên khác nhau. Một lần nữa, một số dòng biến đổi gien cho thấy năng suất hạt cao hơn trong điều kiện hạn hán nhẹ và nghiêm trọng.

 

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module