Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Technology

Đồng bằng sông Cửu Long và vấn đề trị thủy

FOODCROPS. ĐBSCL luôn được sự quan tâm của các nhà chính sách trước hai mối tác động lớn là biến đổi khí hậu và quản lý thông tin các đập thủy điện được xây dựng trên dòng sông lớn Mekong. Việc quản lý công trình lớn nhỏ, trên hệ thống sông này sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai vựa lúa ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung. Bằng cách nào để giảm tác động của yếu tố này, khi điện năng lại cần thiết với một số nước đang thiếu và có địa hình thuận lợi?!, đảm bảo mục tiêu phù hợp đối với dòng sông theo Hiệp định Mekong 1995. Xây dập trên dòng chính có thể hủy hoại hệ sinh thái sông Mekong Nước biển dâng, hệ thống sông phức tạp, vấn đề trị thủy sẽ có thêm thách thức mới. Những diễn biến bất thường đối với vựa lúa ĐBSCL luôn có thể diễn ra vì yếu tố thời tiết, không chỉ dự phòng hạn chế  tổn thất đối với cây lúa mà còn với cả hệ thống cây trồng chính khác. Nông nghiệp  tương lai sẽ vẫn là giá đỡ cho đất nước đứng vững trong biến động của biến đổi khí hậu (TT. Nguyễn Tấn Dũng). Hai vấn đề “Phi công bất phú” và “phi nông bất an” sẽ còn cần cân bằng nhiều hơn (GS. Nguyễn Văn Luật).

alt

Vựa lúa ĐBSCL - Hiểm nguy giữa hai làn nước

ĐBSCL - vựa lúa, cá, trái cây của cả nước đang đứng trước 2 mối hiểm họa lớn từ thiên nhiên và con người. Đó chính là tác động của biến đổi khí hậu và hàng loạt đập thủy điện được xây dựng trên dòng chính sông Mekong…

Hiểm họa chực chờ

Có tới 6.000 công trình lớn nhỏ gồm hồ chứa nước, công trình thủy lợi… được xây dựng để khai thác nguồn nước trên toàn lưu vực sông Mekong trong vòng 60 năm qua. Gần đây, vấn đề này càng trở nên bức xúc từ việc xây dựng hàng loạt công trình lớn phương hại đến dòng chảy Mekong. Trên dòng chính sông Mekong sẽ có tới 19 đập thủy điện. Trong đó, khu vực thượng nguồn có 8 đập của Trung Quốc; 11 đập ở hạ ngồn gồm: 7 đập của Lào, 2 của Lào - Thái Lan, 2 của Campuchia với tổng dung tích hữu ích hơn 5,7 tỷ mét khối nước. Các chuyên gia đánh giá, tiềm năng thủy điện trên dòng chính sông Mekong lớn nhất là Lào, kế đến Campuchia và Thái Lan; Việt Nam không có vì nằm ở cuối nguồn. Nhưng hiểm họa do thủy điện trên dòng chính sông Mekong gây ra thì ĐBSCL gánh chịu nặng nề nhất.

Hiện tại, đập đầu tiên trong tổng số 11 cái đang dự tính hình thành ở hạ nguồn sông Mekong mang tên Xayaburi ở Lào đã có hồ sơ xin phép xây dựng. Đập Xayaburi cách ĐBSCL 1.930km, dài 820m, cao 280m, có tổng thời gian xây dựng 8 năm, dự kiến vận hành vào năm 2019. Một nhà đầu tư của Thái Lan sẽ xây dựng công trình này và hầu hết sản lượng điện từ đây được bán sang Thái Lan.

Tại hội thảo tham vấn quốc gia về công trình đập thủy điện Xayaburi (Lào), diễn ra tại Cần Thơ mới đây, các đại biểu, nhà khoa học các tỉnh, thành ĐBSCL cho rằng: “Hiểm họa sẽ rất lớn, do đó, không nên coi việc xây dựng công trình thủy điện trên dòng chính như việc thử nghiệm. Kiến nghị Chính phủ kiên quyết không tán thành việc xây dựng công trình này; đồng thời chuyển hướng nghiên cứu xây dựng trên các nhánh phụ của sông Mekong”. Đặc biệt, nhiều ý kiến nhấn mạnh đến vai trò của vựa lúa, vựa cá của ĐBSCL đối với thế giới là vấn đề quan trọng phải tính đến trong việc đánh giá tác động của đập thủy điện này. Các nhà khoa học ở ĐBSCL yêu cầu được tham gia nghiên cứu để đưa ra các luận cứ khoa học phản bác lại việc xây dựng đập thủy điện Xyaburi; đảm bảo mục tiêu sử dụng công bằng và hợp lý đối với dòng sông theo Hiệp định Mekong 1995.

Nguy cơ vựa lúa

ĐBSCL được các chuyên gia, nhà khoa học cảnh báo là 1 trong 3 đồng bằng sẽ chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu nặng nề nhất thế giới. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m, sẽ có khoảng 70% diện tích đất ở ĐBSCL bị mặn xâm nhập, mất khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa. Nhiều địa phương bị chìm trong nước. Nặng nhất là Bến Tre - mất hơn 50% diện tích, Long An gần 50%, Trà Vinh 46%, Sóc Trăng gần 44%, Vĩnh Long 40%… Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn. Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách Nhà nước mà ĐBSCL đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng

Bà Võ Thị Bé Năm, Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (Bộ NN - PTNT), khẳng định: “ĐBSCL sẽ chịu tác động kép giữa cường độ dòng chảy của sông Mekong và tình trạng nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Nếu nước từ thượng nguồn bị giữ lại, gây hạn hán ở hạ nguồn thì nước mặn sẽ tràn vào các vùng trồng lúa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Khi xảy ra lũ ở thượng nguồn, các đập thủy điện đồng loạt xả nước, ĐBSCL của Việt Nam sẽ hứng trọn”. Trước nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu cùng với việc mọc lên của hàng loạt các đập thủy điện trên dòng chính Mekong, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban sông Mekong Việt Nam, Thứ trưởng Bộ TN-MT Nguyễn Thái Lai nhận định: “ĐBSCL có thể biến mất sau vài trăm năm nữa”.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của Trung tâm Quốc tế về quản lý môi trường khẳng định, xây đập trên dòng chính có thể “hủy hoại hệ sinh thái của sông Mekong”. Tổng lượng phù sa của sông Mekong (khoảng 160-165 triệu tấn/năm) sẽ bị giữ lại 50% do các đập của Trung Quốc và 25% từ các đập ở hạ lưu. 2,3-2,8 triệu ha đất nông nghiệp, chủ yếu của Việt Nam và Campuchia bị cằn cõi. Riêng lượng phù sa về ĐBSCL giảm từ 26 triệu tấn còn 7 triệu tấn/năm; lượng chất dinh dưỡng từ 4.157 tấn còn 1.039 tấn/năm. Tác động này sẽ làm giảm năng suất nông nghiệp, tăng hiện tượng xói lở bờ… Sản lượng khai thác thủy sản nhiều khả năng giảm tới 900.000 tấn; trong đó, ĐBSCL chiếm 400.000 tấn. Mất hầu hết môi trường sống thủy sinh tự nhiên; làm giảm 12-27% năng lực tái sinh của hệ thủy sinh; mất 20-25% giống loài có tính di truyền. Việt Nam có khoảng 14 triệu người bị ảnh hưởng.

Source: http://www.sggp.org.vn/nongnghiepkt/2011/1/249469/

Vụ lúa TĐ ở ĐBSCL: Lo lắng diễn biến bất thường

Từ giữa tháng 7/2011 là thời điểm lúa hè thu (HT) ở ĐBSCL thu hoạch rộ. Thị trường lúa gạo trong vùng đang tốt lên nên thôi thúc nông dân nhiều địa phương sau khi gặt lúa HT là xuống giống nối tiếp vụ thu đông (TĐ).

Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL cho biết có kế hoạch mở rộng diện tích vụ TĐ lên 602.400 ha, tăng gần 100.000 ha so năm 2010. Trong đó, các tỉnh trong vùng tăng làm lúa TĐ nhiều nhất là Đồng Tháp 100.000 ha, tăng 40.000 ha so năm so vụ lúa TĐ 2010, An Giang tăng từ 113.000 ha lên 130.000 ha, Cần Thơ từ 34.000 ha lên hơn 50.000 ha, Hậu Giang tăng từ 48.000 ha lên 53.000 ha… Chính vì việc cấp tập gia tăng lúa vụ TĐ, nhất là trong điều kiện thời tiết diễn biến bất thường, các cơ quan chuyên môn đã cảnh báo nhiều mối lo ngại có khả năng xảy ra.

Theo nhận định của Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ, các tỉnh Nam bộ thời tiết đang chuyển xấu dần, có mưa nhiều và giông vào những ngày giữa tuần; những ngày cuối tuần giảm mưa, ngày giảm mây và nắng, trưa chiều có mưa rào và dông rải rác. Trong đầu tháng 7/2011 thời tiết Nam bộ xen kẽ những ngày mưa nhiều là một vài ngày ít mưa.

Bên cạnh đó, từ cuối tháng 6 mực nước các sông Nam bộ bắt đầu dâng cao. Mực nước sông Cửu Long đang lên nhanh. Mực nước cao nhất tại Tân Châu có khả năng lên 1.80 m; tại Châu Đốc lên 1.65 m, cao hơn cùng kỳ năm 2010 là 0.6-0.7 m. Vùng hạ lưu, mực nước các sông Nam bộ biến đổi theo triều và đạt đỉnh cao vào những ngày giữa tuần ở mức cao hơn trung bình nhiều năm. Trong khi đó đây là thời điểm thu hoạch lúa HT và xuống giống lúa TĐ. Do đó nông dân sẽ gặp khó khăn hơn trong việc phơi sấy lúa và đề phòng lúa TĐ vừa mới sạ bị ngập úng chết.

Hiện nay, toàn vùng ĐBSCL xuống giống vụ TĐ đạt 179.772 ha, nhanh hơn vụ TĐ cùng kỳ. Cục Trồng trọt đề nghị các địa phương kết thúc xuống giống lúa TĐ vào ngày 20/8, tối đa vào ngày 30/8 để đảm bảo an toàn cho khung thời vụ chung trong vùng, nhất là cho đợt xuống giống vụ ĐX tháng 11, 12.

PGS.TS Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt nhận xét: “Vụ lúa TĐ ở ĐBSCL muốn thắng lớn cần lưu ý yếu tố thời tiết diễn biến mùa mưa lũ, dịch bệnh; đặc biệt các địa phương cần khuyến cáo nông dân sử dụng giống lúa cho vụ này cần lưu ý tính chống chịu rầy nâu, vàng lùn - lùn xoắn lá (RN, VL-LXL), bệnh cháy lá nhất là giống lúa cứng cây để hạn chế đổ ngã. Hiện nay, Cục Trồng trọt đã đề xuất Bộ NN-PTNT kinh phí hơn 196 tỉ đồng hỗ trợ sản xuất lúa TĐ như giống lúa, gia cố bờ bao, bơm tát".

Theo nhận định các cán bộ ngành BVTV, sau hai vụ lúa ĐX và HT liên tiếp trúng mùa, được giá cho thấy nông dân hăm hở nối vụ. Có địa phương nông dân xé rào gieo sạ không tuân thủ lịch thời vụ khuyến cáo của địa phương. Mặt khác việc sử dụng thuốc BVTV của một số nông dân như phun xịt sớm, dùng thuốc liều mạnh trong hai vụ lúa vừa qua đã dẫn tới dịch RN, bệnh VL-LXL nhen nhóm dấu hiệu tái phát.

TS Nguyễn Hữu Huân, Cục phó Cục BVTV báo động: Hiện nay diện tích lúa nhiễm và mật số rầy đang gia tăng và sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Vì vậy các địa phương cần lưu ý diễn biến RN trên đồng ruộng cũng như theo dõi các bẫy đèn ở địa phương để chỉ đạo xuống giống lúa TĐ, mạ mùa và cấy lúa mùa theo lịch né rầy.

Dự báo các đợt rầy di trú tháng 7 cao điểm từ 17 đến 25/7/2011; tháng 8/2011 rầy nâu di trú từ 18 đến 28/8 mật số sẽ cao do thu hoạch lúa HT muộn, TĐ thu hoạch sớm trong tháng này sẽ nhiều hơn. Do đó để bảo vệ lúa TĐ, vụ mùa, giải pháp chính là chấn chỉnh lịch xuống giống né rầy, thời vụ gieo sạ, hạn chế tình trạng xuống giống xé rào, tự phát. Trong đó, lưu ý hạn chế tối đa việc quảng cáo, hướng dẫn nông dân phun thuốc trừ sâu sớm trong giai đoạn đẻ nhánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng nhận định: Vụ lúa HT đang qua giai đoạn khó khăn, nhưng cần tiếp tục theo dõi dịch hại để đảm bảo nông dân trúng mùa. Qua tín hiệu trên những cánh đồng gặt sớm ở một số địa phương cho thấy năng suất đạt rất cao 5,5- 5,8 tấn/ha, mức cao nhất từ trước tới nay. Qua đó, điều rút ra là lúa HT gieo vào tháng 4 gặt vào tháng 7 là rất trúng, vì đủ nước, không gặp mưa lớn, giá bán tốt.

Với vụ TĐ này diện tích lúa tăng lên, dự kiến sản lượng đạt 2.870.000 tấn, tăng thêm 500.000 tấn sẽ đóng góp đáng kể vào sản lượng lúa cả nước năm 2011 tăng thêm 1 triệu tấn lúa. Vì vậy, muốn đạt thắng lợi các địa phương cần lưu ý điều kiện hạ tầng, củng cố đê bao, cùng nông dân ra đồng giám sát theo dõi đề phòng dịch bệnh hại lúa.

Source: Báo Nông Nghiệp

Lúa là mục tiêu chính
GS-TS. Nguyễn Văn Luật

Nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL

Sản xuất lúa hằng năm tăng đều theo công nghệ sản xuất mới. Bên cạnh đó, vẫn có một số hạn chế cho việc sản xuất lúa hiệu quả cao. GS. TS. Nguyễn Văn Luật là một nhà quản lí đã nhiều năm lãnh đạo Viện Lúa ĐBSCL; nhưng ông còn là một chuyên gia giỏi về cây lúa. Trong các Diễn đàn, GS. luôn có những tham luận khoa học đề cập việc tăng năng suất lúa trên nền tảng của công nghệ sản xuất mới ở Việt Nam. GS-TS. Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, có cuộc trao đổi với Báo NNVN về những vấn đề ông quan tâm nhân Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ II năm 2011 từ ngày 8/11/2011 đến ngày 11/11/2011, tại Sóc Trăng.

PV: Thưa GS, về hưu không tham gia công tác quản lí, ông vẫn nặng lòng với nông dân và cây lúa?

 

GS. NVL: Vâng, nhưng nói “nặng tình” thì đúng hơn, nặng tình đến mức “phải lòng” nếu không nói quá. Đấy là ước nguyện của tôi mà, từ khi tự nguyện rời khỏi vị trí “giảng viên trẻ đại học NN 1 Hà Nội” để gần nông dân, gần cây lúa tính đến nay đã gần nửa thế kỷ đấy, trong thời gian đó ở ĐBSH thì tôi có góp phần đưa vụ lúa Xuân thành vụ chính; ở ĐBSCL thì góp phần đưa vụ lúa Thu Đông thành vụ lúa chính. Thật thú vị: khi mình còn trẻ thì “nặng tình” với nông dân và cây lúa ở ĐBSH  phù sa “cao tuổi” với vụ lúa xuân; Khi mình cao tuổi, hay tuổi đã sang thu thì vẫn trung thủy với hai đối tượng trên, nhưng ở vùng phù sa trẻ ĐBSCL với vụ lúa thu đông cùng với các giống lúa OMCS mà nhiều nhà báo dịch sai là “ôm em cực sướng.

 

PV: Ông nói nhiều về công nghệ sản xuất mới. Xin ông cho biết, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm.
GS. NVL: Hiện nay, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm chính là khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT mới nhất. Đấy là việc thực hiện “Ba không”: Không cúi cấy; Không phơi lúa; và Không gặt lúa bằng tay. Về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội do khuyến cáo này đưa lại rất to lớn, chắc hẳn là bà con nông dân mình và cán bộ khuyến nông đã rõ. Tôi chỉ xin nói thêm một chút: “Ba không” cũng là một “gói định hướng kỹ thuật mở” nhằm thực hiện “Ba tăng, Ba giảm”, một gói kỹ thuật mở mang tính phong trào nhằm đưa nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất, như PCT An Giang Huỳnh Thế Năng đã có nói. Vì là gói kỹ thuật mở, nên ở miền Bắc là “Không cúi cấy” còn ở ĐBSCL là “Không sạ lan lãng phí” mà dùng dụng cụ sạ lúa theo hàng. Dụng cụ này là IRRI SEEDER, vì mẫu máy của Viện Lúa Quốc tế, tôi mang về, cùng Viện tôi và doanh nghiệp tư nhân Hoàng Thắng nghiên cứu cải tiến, bà con nông dân miền Tây hưởng ứng sử dụng. Đến nay miền Bắc lại áp dụng nhanh hơn, tôi rất vui về điều đó, vì quê tôi ở Hà Nội mà. Nhiều nước trồng lúa có đến tham quan rút kinh nghiệm và mua mẫu máy đã cải tiến từ Việt Nam ta mang về phát triển ở nước mình.

 

PV: Còn theo ông, nông thôn mới có ý nghĩa như thế nào tới việc trồng lúa?
GS. NVL: Nông thôn mới có ý nghĩa rất quan trọng tới việc trồng lúa, là bước đi cơ bản nhất cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, cũng là biện pháp rất thiết thực nhằm “Đền ơn đáp nghĩa” với bà con nông dân mình vốn chịu nhiều thiệt thòi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nói nông nghiệp là giá đỡ cho đất nước mình đứng vững trong biến động về tài chính mấy năm qua. Và chắc chắn sẽ là giá đỡ trước biến đổi khí hậu toàn cầu  (BĐKH) ngày càng phức tạp. Nhiều nhà khoa học thế giới có nói BĐKH sẽ dẫn đến thay đổi vị trí quốc gia, nước nào sản xuất được nhiều lương thực thực phẩm sẽ là cường quốc, chứ không như hiện nay, nhiều nước phát triển “hy sinh” nông nghiệp, nông dân, và nông thôn nhằm tập trung vào mấy sản phẩm công nghiệp để giầu có. Họ chỉ biết “Phi công bất phú”, mà không biết “Phi nông bất an”.

 

PV: Thế, hoạt động khuyến nông giữ vai trò gì trong sản xuất lúa đạt thương hiệu bền vững?
GS. NVL: Hoạt động khuyến nông giữ vai trò quan trọng  trong sản xuất lúa đạt thương hiệu “Lúa gạo Việt Nam” bền vững trên thị trường thế giới, tất nhiên là trên cơ sở  phát triển sản xuất lúa bền vững. Tổ chức nòng cốt của họat động khuyến nông là Trung tâm Khuyến nông QG, và TTKN tỉnh/ thành, có màng lưới sâu rộng đến huyện, xã, ấp/ xóm. Còn hoạt động khuyến nông thì có rất nhiều tổ chức và cá nhân tham gia, như cá nhân chuyên gia Nguyễn Lân Hùng luôn xuất hiện và hướng dẫn kỹ thuật rất cụ thể, từ con giun, con dế đến con kỳ đà, con dê núi; từ cây lúa cây ngô đến cây tóc gây trầm kỳ Nam.. Nếu như tổ chức khuyến nông có điều kiện quy tụ được các họat động khuyến nông thì bà con nông sẽ được hưởng lợi nhiều hơn.

PV: “Festival lúa gạo Việt Nam” lần này tại Sóc Trăng, ông lại tham gia diễn đàn Nông nghiệp?
GS. NVL: Tất nhiên rồi. Tôi thường được Viện Lúa ĐBSCL hỗ trợ và Cty BVTV An Giang hỗ trợ ít nhiều qua Hội Giống Cây trồng Nam Bộ, nên chưa “lực bất tòng tâm”.

Xin cám ơn Giáo sư!

THẠCH THẢO

Nguồn: Trích từ Báo Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn - Ngày 14/08/2011 08:05:27

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nhiên liệu sinh học xu thế tương lai Việt Nam

FOODCROPS. Theo VietNamNet 22.1.2010, Ban điều hành đề án của Chính phủ về phát triển nhiên liệu sinh học (NLSH) do Bộ Công thương chủ trì vừa tổ chức Hội thảo quốc tế về phát triển NLSH và thực địa tại một số nhà máy, vùng nguyên liệu tại Phú Yên. Xu thế tất yếu trong tương lai. Trước tình hình ngày càng cạn kiệt các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong khi nhu cầu sử dụng năng lượng

alt

Trước tình hình ngày càng cạn kiệt các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong khi nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng, việc nghiên cứu, phát triển sản xuất và sử dụng NLSH đã và đang thu hút sự quan tâm rất lớn của các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng không ngoài xu thế ấy.

Tháng 11/2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn 2025” nhằm mục tiêu: Phát triển NLSH, một dạng năng lượng mới, tái tạo để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.

Sau 2 năm triển khai, đến cuối năm 2009 hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, triển khai sản xuất thử sản phẩm ... NLSH có đủ hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia. Năm 2009 có 3 dự án xây dựng và sản xuất thử nghiệm, xem xét 2 hồ sơ dự án phát triển vùng nguyên liệu và xây dựng nhà máy chế biến dầu diesel sinh học.

Tại cuộc hội thảo, các nhà khoa học đầu ngành về NLSH, quy hoạch vùng nguyên liệu cây trồng để phục vụ sản xuất NLSH của Việt Nam đều khẳng định: “Vấn đề phát triển NLSH là xu thế tất yếu trong tương lai”.

Kinh nghiệm của những nước có thế mạnh về lĩnh vực này như Brazil, Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc… cho thấy việc sản xuất NLSH, Ethanol không chỉ tạo nên nguồn lợi lớn từ việc thay thế nhiên liệu sinh học cho nguồn nhiên liệu hóa thạch mà nó còn bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và tạo công ăn việc làm bền vững cho người nông dân góp phần phát triển nền kinh tế xã hội.

TS Lê Việt Nga đang trao đổi với các chuyên gia nước ngoài.

TS Lê Việt Nga, thành viên Văn phòng Ban điều hành đề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn 2025 (Bộ Công thương), cho biết: “Qua khảo sát thực tế tại Phú Yên và các tỉnh miền Trung, có thể khẳng định rằng, vùng đất này có tiềm năng rất lớn và đầy đủ các điều kiện nói trên để có thể đầu tư sản xuất loại nhiên liệu sạch này với 3 yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

TS Lê Việt Nga cho biết: Phú Yên đang sẵn có một vùng nguyên liệu rất dồi dào để phục vụ cho ngành công nghiệp phát triển NLSH. Đó là mía, sắn, rỉ đường với diện tích và sản lượng lớn đủ sức để phục vụ một nhà máy có quy mô lớn. Bên cạnh đó, Phú Yên cũng như các tỉnh miền Trung còn một số lớn diện tích đất nông nghiệp đồi núi cằn cỗi có thể phát triển những đối tượng cây trồng làm nguyên liệu cho sản xuất NLSH như cây cao lương ngọt, Jatropha (cây cọc rào)...

Một điều thuận lợi nữa là lãnh đạo tỉnh, ngành công nghiệp Phú Yên rất quan tâm đến vấn đề này. Tại Phú Yên một số doanh nghiệp cũng đã nhận ra nguồn lợi từ sản xuất NLSH bước đầu phục vụ cho sản xuất của mình như nhà máy đường Tuy Hòa, nhà máy sắn Sông Hinh, sản phẩm NLSH đã giúp họ giảm đến hơn 80% tiền để đầu tư mua nhiên liệu phục vụ cho việc sản xuất của nhà máy.

TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ Công thương) khuyến nghị: “Cần cân đối các vấn đề như đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực (nguyên liệu cho phát triển NLSH là cây công nghiệp, liên quan đến người nông dân), phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đầu ra cho người nông dân... phải đảm bảo phù hợp với điều kiện cũng như quy hoạch chiến lược của tỉnh. Một vấn đề khác cũng hết sức lưu ý đó là quy trình công nghệ sản xuất phải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, hướng tới một chiến dịch sản xuất sạch hơn”.

Sau cuộc hội thảo và chuyến thực địa, nhiều nhà khoa học khẳng định Phú Yên nói riêng và các tỉnh khu vực miền Trung có nhiều tiềm năng để phát triển nguồn nhiên liệu sạch này.

Trần Quới

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2010/01/nhien-lieu-sinh-hoc-xu-tuong-lai-viet.html

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Một số văn bản quy trình quy phạm cây lương thực

FOOD CROPS. Quy trình, quy phạm là những tài liệu rất quan trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật . Sau đây là một số văn bản  quy trình, quy phạm cây lương thực: Quy trình kỹ thuật sản xuất lúa thuần; Quy phạm khảo nghiệm DUS giống lúa; Quy phạm khảo nghiệm VCU giống lúa; Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai; Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai hai dòng; Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai ba dòng; Quy phạm khảo nghiệm DUS giống ngô; Quy phạm khảo nghiệm VCU giống ngô; Quy trình nhân dòng thuần ngô lai; Quy trình sản xuất ngô rau; Quy phạm khảo nghiệm VCU giống khoai lang; Phương pháp kiểm định ruộng giống cây trồng; Phương pháp kiểm nghiệm hạt giống cây trồng; Phương pháp kiểm tra tính đúng giống và độ thuần đồng ruộng.

alt

Quy trình kỹ thuật sản xuất lúa thuần;

Quy phạm khảo nghiệm DUS giống lúa;

Quy phạm khảo nghiệm VCU giống lúa;

Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai;

Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai hai dòng;

Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai ba dòng;

Quy phạm khảo nghiệm DUS giống ngô;

Quy phạm khảo nghiệm VCU giống ngô;

Quy trình nhân dòng thuần ngô lai;

Quy trình sản xuất ngô rau;

Quy phạm khảo nghiệm VCU giống khoai lang

Phương pháp kiểm định ruộng giống cây trồng;

Phương pháp kiểm nghiệm hạt giống cây trồng;

Phương pháp kiểm tra tính đúng giống và độ thuần đồng ruộng.

Nguồn: TS. Hoàng Kim Một số văn bản quy trình, quy phạm cây lương thực

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module