Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Technology

Mô hình trang trại công nghệ cao tại Anh

Mô hình trang trại công nghệ cao tại Anh 

Nông dân tại Anh đang làm chủ công nghệ khi áp dụng ngày càng nhiều thiết bị kỹ thuật cao trong sản xuất nông nghiệp – từ máy vắt sữa bò đến máy bay không người lái giám sát vật nuôi và hoa màu – giúp trang trại của họ đạt năng suất cao hơn bao giờ hết.

Máy kéo tự lái có thể là công cụ mơ ước của người nông dân, nhưng hệ thống dẫn đường bằng GPS (hệ thống định vị toàn cầu) dành cho máy móc thì đang được sử dụng rộng rãi tại Anh. Theo khảo sát mới đây của tạp chí Farmers Weekly, công nghệ này được xếp đứng đầu danh sách những công nghệ nông trại phổ biến và được yêu chuộng nhất ở xứ sở sương mù (với 36% phiếu ủng hộ). Chức năng của hệ thống này là điều khiển các máy kéo đi thẳng theo các thửa đất dễ dàng. Nhờ đó việc gieo hạt, bón phân không bị chồng chéo, giúp nông dân tiết kiệm đáng kể chi phí cho hạt giống, phân bón và nhiên liệu.

Xếp vị trí thứ hai và ba trong bảng xếp hạng của Farmers Weekly là máy lấy sữa tự động và điện thoại thông minh (13%). Ngày càng nhiều trang trại bò sữa ứng dụng robot trong việc lấy sữa và có đến 19% nông dân bình chọn đây là công nghệ nông trại yêu thích nhất của họ. Thiết bị này cho phép bò cho sữa bất cứ lúc nào chúng muốn và vì máy tính biết những con bò nào sắp cho sữa nên nó sẽ tiến hành vắt sữa cùng lúc. Không những giúp nông dân tiết kiệm thời gian, robot vắt sữa bò còn tốt cho sức khỏe của bò và làm tăng sản lượng sữa. Trong khi đó, điện thoại thông minh không chỉ là phương tiện liên lạc của nông dân mà còn là thiết bị dùng để theo dõi, kiểm tra độ nông - sâu của đất, đăng ký gia súc, gia cầm...

Các vị trí tiếp theo trong tốp 10 gồm có: bộ thiết bị đo sản lượng (giúp giám sát, thể hiện và ghi chép năng suất hoa màu), thiết bị theo dõi thời kỳ động dục của bò (giúp tăng tỷ lệ thụ thai), xe kéo không người lái (giúp nhà nông tiết kiệm công sức và thời gian), máy bay không người lái (giám sát vật nuôi và hoa màu), thẻ đeo tai điện tử (dùng công nghệ nhân dạng bằng tần số vô tuyến – RFID – để trông coi vật nuôi), phần mềm quản lý nông trại (quản lý mùa vụ, tiền công chi trả cho nhân viên, vẽ bản đồ...) và máy cho gia súc ăn tự động, giúp nông dân khỏi phải thức khuya dậy sớm cho gia súc ăn mà vẫn bảo đảm chúng luôn no bụng.

Mặc dù xe kéo không người lái chưa được sản xuất thương mại, nhưng người nông dân có thể giải phóng sức lao động nhờ loại xe kéo được điều hướng qua vệ tinh và sóng radio sắp được tung ra thị trường. Theo đó, chiếc xe do con người điều khiển sẽ dẫn đường cho chiếc xe không người lái còn lại chạy phía sau và làm nhiệm vụ giống như chiếc xe đi trước. Còn với máy bay không người lái, nhà nông có thể chụp lại hình ảnh trang trại để theo dõi hoa màu, giúp họ nhanh chóng và dễ dàng phát hiện cỏ dại, xác định khu vực cần trồng lại, cần bón phân hoặc dùng thuốc trừ sâu. Nó còn hữu ích trong việc xua đuổi chim ăn hạt. Được biết, các nhà nghiên cứu tại Đại học Illinois (Mỹ) cũng đang sử dụng máy bay không người lái để chụp ảnh hoa màu từ trên cao ở các trang trại thí nghiệm của họ.

Tuy các công nghệ sản xuất nông nghiệp nằm trong tốp 10 đã được ứng dụng thực tiễn nhưng hiện chỉ có một vài nhà nông ở Anh có đủ khả năng tài chính để sở hữu toàn bộ các thiết bị hiện đại trên. Dù vậy, các chuyên gia cho rằng những công nghệ này có thể cho thấy viễn cảnh của cách làm nông trại trong tương lai. "Trang trại đang ngày càng tự động với các thiết bị kỹ thuật và công nghệ cao, cho phép nhà nông làm việc chính xác hơn, giảm thất thoát đồng thời gia tăng năng suất và lợi nhuận" – biên tập viên James Andrews của Farmers Weekly nhận định. Ông cũng kỳ vọng càng về sau thì giá thành các thiết bị trên sẽ càng giảm, nhờ đó các trang trại trong tương lai có thể cải thiện được sức khỏe vật nuôi, giảm phụ thuộc vào hóa chất và nông dân có nhiều thời gian hơn để quản lý nông trang tốt hơn"

FOODCROPS. HOC MỔI NGÀY 

Giống lúa Việt được ưa chuộng ở ĐBSCL và đang triển vọng ở châu Phi

FOODCROPS. Nhìn lại chặng đường dài của cây lúa Việt Nam và những thành quả nghiên cứu miệt mài đang mang lại sự ấm no cho đất nước. Cây lúa Việt nam tự tin chung tay với quốc tế trong chương trình an ninh lương thực quốc gia của các nước bạn. 

alt

Giống lúa Việt ở châu Phi
PGS.TS Dương Văn Chín

Vào năm 1966 tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines, giống lúa cao sản ngắn ngày đầu tiên được phóng thích. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, nước ta chủ yếu trồng các giống lúa mùa địa phương truyền thống và giống lúa cao sản nhập nội từ IRRI.

Tuy nhiên từ thập niên 80 trở về sau, các nhà khoa học VN đã lai tạo, chọn lọc, tạo ra những giống lúa cao sản phù hợp cho nhiều vùng sinh thái khác nhau ở trong nước. Những giống lúa này có mang gen di truyền từ nhiều vùng miền trên thế giới nên khả năng thích ứng rộng. Một số các giống lúa triển vọng này đang hiện diện tại châu Phi.

Liberia và Sierra Leone

Liberia và Sierra Leone là hai nước láng giềng ở vùng Tây Phi. Phía tây nam hai nước này giáp Đại Tây Dương. Những nước Tây Phi có thuận lợi là lượng mưa cao trong năm. Tại Liberia, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 4.320 mm. Đất ở đây tương tự như miền Đông Nam bộ của VN nhưng do lượng mưa nhiều nên đất xói mòn, tích tụ xuống vùng thấp hình thành những vùng đầm lầy bằng phẳng, có tiềm năng phát triển lúa nước.

Ở Liberia cũng có những vùng đồng cỏ savanna có thể giữ nước mùa mưa trong năm trồng một vụ lúa thâm canh. Trên vùng đất phù sa đầm lầy tại Madina thuộc bang Grand Cape Mounth cách thủ độ Monrovia 150 km về hướng Tây Bắc, pH chua, 13 giống lúa đưa từ VN sang đã được trồng nghiên cứu. Những giống triển vọng nhất là OM6976, OM3536, OM8923. Các giống lúa VN trồng tại Liberia kéo dài thời gian sinh trưởng khoảng nửa tháng so với trồng ở VN.

Giống N19 của Trung tâm Lúa gạo châu Phi (African Rice Center) cũng cho kết quả tốt, nhưng dài ngày hơn các giống của VN. Ở tại một điểm khác là trang trại Omega, cách trung tâm thủ đô Monrovia khoảng 30 km, những giống lúa cho kết quả triển vọng nhất là OM4900, OM3536 và OM5199.

Trong khi đó Sierra Leone có đất đai, khí hậu thời tiết tương tự như Liberia. 50 giống lúa VN đã mang sang thử nghiệm. Giống lúa cho kết quả tốt nhất là OM2514.

Rwanda

Nước Rwanda ở miền Trung châu Phi, nằm trong nội địa không tiếp giáp với biển và còn có tên gọi là đất nước ngàn đồi. Với độ cao trung bình 2.740 m so với mực nước biển. Khí hậu giống như Đà Lạt của VN với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 830 mm/năm. Đất dưới thung lũng có nhiều chất hữu cơ, pH thấp và được sử dụng trồng lúa. Trên 20 giống lúa từ VN được đưa sang, trồng so sánh với các giống châu Phi. Kết quả thí nghiệm trong năm 2003 - 2004 cho thấy giống OM 4498 cho kết quả nổi trội nhất, chống chịu lạnh rất tốt, năng suất cao nhất, không bị lép do lạnh như những giống khác.

Sudan

Sudan ở miền Đông Bắc châu Phi có phía đông giáp với biển Đỏ. Đất đai ở Sudan còn rất rộng lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp chỉ khoảng 416 mm/năm, nhưng đất nước này có nguồn nước dồi dào từ sông Nile Xanh ở phía đông và sông Nile Trắng ở phía tây. Hợp lưu của hai sông tại thủ đô Khartoum và chảy qua Ai Cập, đổ về biển Địa Trung Hải. Về phía Bắc cách thủ đô Thủ đô Khartoum 300 km trên vùng sa mạc Sahara, lúa cũng được thử nghiệm trên đất phù sa kiềm (pH = 7,5 - 8) dọc sông Nile, xen kẽ với những vườn chà là chắn gió.

Tuy nhiên tiềm năng phát triển lúa gạo trên diện rộng ở vùng sa mạc này không cao. Tại đây vào cuối tháng 1/2011, 50 giống lúa từ VN được gieo trồng trong vụ xuân. Cây lúa thấp hơn ở VN khoảng 15 -20 cm nhưng thời gian sinh trưởng kéo dài thêm khoảng 30 - 60 ngày tùy từng giống.

Qua khảo sát, các giống có triển vọng là: OM8105, OM6706, OM6916, OM6698, OM10029, OM4900 và OM6014. Vùng có tiềm năng nhất là vùng đất phù sa có tưới thuộc bang sông Nile Trắng và bang Gezara nằm giữa sông Nile Trắng và sông Nile Xanh. Thời vụ tốt nhất để trồng lúa tại vùng này là gieo trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 hàng năm. Lưu ý sử dụng hóa chất diệt cỏ. Khi lúa trổ trùng khớp với mùa thu hoạch cao lương vào tháng 11-12 thì ít bị chim phá hoại. 54 giống lúa cao sản VN được trồng trong mùa mưa vào tháng 7 năm 2010 trên vùng đất phù sa ven sông Nile trắng có pH là 8,3. Các giống triển vọng nhất kết luận được là OM2514, OM8923, MTL466, AS996 và OM4218.

Mozambic


Nước Mozambic nằm ở vùng duyên hải Ấn Độ Dương, Đông Nam châu Phi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng. Mùa mưa trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm, lượng mưa trung bình 590 mm/năm. Nhiệt độ 13-24 độ C trong tháng 7 và 22-31 độ C trong tháng 2. Có 13 giống lúa từ VN được mang sang thí nghiệm và nhân giống từ năm 2010 đến đầu năm 2012, trong đó 3 giống cho kết quả ưu việt nhất là OM2514, OM6979, OM6162 với năng suất biến thiên 7-8 tấn/ha.

Điểm đặc biệt nhất ở Mozambic là bên cạnh việc nghiên cứu kết luận các giống lúa VN phù hợp trong vùng, các chuyên gia nước ta còn tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cho người dân địa phương và nhân được một số lượng lớn lúa giống phục vụ SX ra trên diện rộng. Tổng sản lượng hạt giống thu được 240 tấn vào đầu năm 2012.

Source: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/2/2/102182/giong-lua-viet-o-chau-phi.aspx

 

Đặc tính các giống lúa đang được ưa chuộng tại ĐBSCL
Nguồn:
 - Trang điện tử “Đi cùng nhà nông”.
 - Trang điện tử Sở NN&PTNT Vĩnh Long.
 - Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư quốc gia.
 - Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư HG.  

Vụ Đông xuân 2008 – 2009 Viện lúa ĐBSCL tiến hành trồng khảo nghiệm trình diện 150 giống lúa. Sau vụ sản xuất, hơn 500 nông dân và 50 cán bộ trung tâm giống nông nghiệp địa phương đã tiến hành bình chọn 09 giống lúa tiêu biểu nhất gồm: OM 6073 xếp hạng nhất (chiếm 49% số phiếu bầu). Tiếp theo là các giống: OM 5451 (43%), OM 6162 (42%), OM 4900 (36%), OM 4101 (33%), OM 5472 (26%), OM 6600 (20%) và HG2, OMCS2000 (cùng 15%). Sau đây là đặc tính các giống lúa đang khẳng định được vị thế của mình trên đồng lúa vùng ĐBSCL.

Đặc tính

1. GIỐNG LÚA OM 6073: Thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, gạo dài, trong. Bông to, đùm, chịu phèn nhẹ. Chiều cao cây 100-105 cm. Năng suất đông xuân 6-8 t/ha, hè thu 4-5 t/ha. Hơi nhiểm đạo ôn, ít đỗ ngã.

2. Giống lúa OM 5451: Được chọn từ tổ hợp lai Jasmine 85/OM2490. Giống OM5451 có thời gian sinh trưởng khoảng 88 - 93 ngày (lúa sạ) trong vụ ĐX, 90 - 95 ngày trong vụ HT, trổ tập trung, chiều cao cây 95 - 100cm. OM 5451 có dạng hình đẹp, tương đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, bông đóng hạt dầy, tỉ lệ lép thấp, trọng lượng nghìn hạt trung bình 25 - 26g, hạt gạo dài, ít bạc bụng, cơm mềm. Giống OM 5451 chống chịu RN và bệnh đạo ôn khá, chống chịu bệnh VL - LXL khá. Tiềm năng năng suất của giống lúa này khá cao và ổn định trong cả 2 vụ ĐX và HT, đạt từ 5 đến 8 tấn/ha.

3. GIỐNG LÚA OM 6162: Thời giang sinh trưởng 95 ngày; thân rạ cứng; chiều cao cây 109 cm; năng suất 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1; tỉ lệ gạo nguyên 40 - 50%, bạc bụng (cấp 9) 2 - 5%; hạt dài 7,05 mm; hàm lượng amylose 19,5%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, dẻo, thơm.

4. GIỐNG LÚA OM 4900: Thời gian sinh trưởng: 95 - 105 ngày, Chiều cao cây: 100 - 110cm.. Lá cờ đứng, cứng cây, bông to đùm, Hơi nhiễm rầy nâu, đạo ôn, cháy bìa lá, lúa von. Chịu phèn nhẹ.. Chất lượng: Cơm dẻo, thơm.. Hạt gạo dài, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Năng suất: 6 - 8 tấn / ha (Đông Xuân), 5 - 6 tấn / ha (Hè Thu).

5.- Giống OM 4101: Có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, chiều cao 98-103cm, thân rạ cứng. Năng suất đạt 5-7 tấn/ha. Dạng hình cây lúa thấp cây, chín sớm, gạo thơm nhẹ, ngon cơm.

6. Giống lúa OM 5472: Được chọn từ tổ hợp lai OM 2718/Jasmine85 và mới được được Bộ NN & PTNT công nhận là giống lúa sản xuất thử tại các tỉnh ĐBSCl và Trung bộ trong năm 2009. Giống OM 5472 thích nghi rộng và đã được canh tác nhiều tại các vùng trồng lúa ĐBSCL. Giống OM 5472 có thời gian sinh trưởng của lúa sạ khoảng 90 - 93 ngày trong vụ đông xuân (ĐX), 93-95 ngày trong vụ hè thu (HT), trổ tập trung, chiều cao cây 95 - 105cm. Đây là giống lúa có dạng hình đẹp, tương đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, bông đóng hạt dầy, tỉ lệ lép thấp, trọng lượng nghìn hạt từ 26 - 27g, gạo có mùi thơm nhẹ, hạt dài, trong, ít bạc bụng, cơm mềm. Giống OM 5472 chống chịu rầy nâu (RN) và bệnh đạo ôn trung bình. Trong vụ HT 2009 giống OM 5472 bị nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn ở đầu vụ, chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá (VL - LXL) khá. Tiềm năng năng suất của lúa này khá cao và ổn định trong cả hai vụ ĐX và HT, đạt từ 5 đến 8 tấn/ha.

7. OM 6600: Thời gian sinh trưởng (TGST): 100 – 105 ngày; Chiều cao cây : 95 -100 cm; Trọng lượng 1000 hạt: 27,4 gam; Dạng hình đẹp, đẻ nhánh khá, lá cờ to, thẳng, bông dài, hạt đóng khít; Hạt gao dài, trong; Nhiễm đạo ôn (cấp 1- 6), rầy nâu (cấp 3 – 5); Năng suất bình quân 6 - 8 tấn/ha; Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu.

8. GIỐNG LÚA HG2: TGST 95 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 105cm; năng suất 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1; tỉ lệ gạo nguyên 40 - 50%, bạc bụng (cấp 9) 2 - 5%; hạt dài 7,03 mm; hàm lượng amylose: 20%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, dẻo, thơm.

9. GIỐNG LÚA OM 3995: TGST: 95 -100 ngày; Cao cây : 95 -100 cm; Trọng lượng 1000 hạt: 25,8 gam; Đẻ nhánh khá, lá cờ trung bình, bông dài, hạt đóng khít; Tỷ lệ hạt chắc cao: 83,4 %; Hạt gạo dài, trong; Nhiễm rầy nâu (cấp 5), nhiễm cháy lá (cấp 6); Năng suất bình quân 6-8 tấn/ha; Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu; Chú ý : Theo dõi phòng trừ rầy nâu, đạo ôn khi canh tác.

10. GIỐNG LÚA OM 6377: TGST: 95 -100 ngày; Chiều cao cây : 85 - 90 cm; Trọng lượng 1000 hạt: 32,7 g; Đẻ nhánh khá; lá cờ trung bình, thẳng; bông dài, hơi khoe bông; Hạt gạo dài, trong ; tỷ lệ hạt chắc cao; Nhiễm Rầy nâu (cấp 4 - 3), hơi kháng cháy Lá; Năng suất bình quân 6-8 tấn/ha; Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu; Chú ý : Theo dõi phòng trừ rầy nâu khi canh tác.

11. GIỐNG LÚA OM 4498: Thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày. Chiều cao cây đạt 95 – 100 cm. Chống chịu sâu bệnh: Hơi nhiễm rầy nâu (cấp 5), hơi kháng bệnh đạo ôn (cấp 3); chịu phèn khá. Năng suất: 6 – 8 tấn/ha. Chất lượng gạo: Tỉ lệ xay sát cao (gạo lức: 79 -80 %; gạo tổng số 68 – 69 %; gạo nguyên: 50 – 55 %). Hạt gạo thon dài (7,0 – 7,1 mm), tỉ lệ dài/rộng (D/R: 3,3), bạc bụng thấp; hàm lượng amyloza trung bình khoảng 24,5%.

12. GIỐNG LÚA OM 2718: Thời gian sinh trưởng 100 ngày trong điều kiện gieo mạ cấy và 90 - 95 trong điều kiện gieo thẳng. Chiều cao cây 100 – 105 cm. Năng suất trung bình ở vụ Đông Xuân 5 - 6 tấn/ha, vụ Hè Thu 4 tấn/ha. OM 2718 có gạo hạt dài 7mm, gạo trong k hông bạc bụng, cơm mềm đạt tiêu chuẩn gạo xuất khẩu. kháng trung bình với rầy nâu và nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 7), hơi nhiễm rầy nâu (cấp 5).

13. GIỐNG LÚA OM 4218: Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, gạo dài, trong, mềm cơm, chịu phèn nhẹ. Chiều cao cây 90-95 cm. Năng suất đông xuân 6-8 t/ha, hè thu 5-6 t/ha. It đỗ ngã, chống chịu vàng lùn-lùn xoắn lá tốt.

14. GIỐNG LÚA OM 6561: Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, gạo dài, trong, bông to. Chiều cao cây 95-100 cm. Năng suất đông xuân 6-8 t/ha, hè thu 4-6 t/ha. It đỗ ngã, chống chịu vàng lùn-lùn xoắn lá tốt.

15. GIỐNG LÚA OM 5930:
TGST 95 - 100 ngày; thân rạ cứng; chiều cao cây 103 cm; năng suất: 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3; khả năng kháng đạo ôn cấp 1; tỉ lệ gạo nguyên 40 - 50%, tỷ lệ bạc bụng (cấp 9): 5 - 7%; hạt dài 7,2 mm; hàm lượng amylose: 24,05%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, thơm nhẹ, công nhận quốc gia 2008.

16. GIỐNG LÚA OM 5636: TGST 93 - 37 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 110 cm; năng suất: 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 3, kháng đạo ôn cấp 3; tỉ lệ gạo nguyên 35 - 50%, bạc bụng (cấp 9) 10%; hạt dài 7,02 mm; hàm lượng amylose: 24,52%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, chịu phèn, gạo đẹp, công nhận sản xuất thử 2008.

17. GIỐNG LÚA OM 6377(AG1): TGST 90 - 95 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 111 cm; năng suất: 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1 - 3; tỉ lệ gạo nguyên 45%, bạc bụng (cấp 9) 8%; hạt dài 7,05 mm; hàm lượng amylose 24,3%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, gạo đẹp, thơm nhẹ.

18. OM GIỐNG LÚA CS2009: TGST 85 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 101 cm; năng suất 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1 - 3; tỉ lệ gạo nguyên 45%, bạc bụng (cấp 9) 5 - 10%; hạt dài 7,08 mm; hàm lượng amylose 24,3%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, ngắn ngày, gạo đẹp, mềm cơm.

19. Giống lúa OMCS2000: Đặc tính chủ yếu của giống lúa OMCS2000 là có chiều cao cây: 108cm. Thời gian sinh trưởng: 93 ngày (vụ Đông-Xuân: 93 ngày, Hè-Thu: 99 ngày). Thuộc dạng hình thâm canh trung bình. Có khả năng chống chịu rầy nâu cấp 5, đạo ôn cấp 7. Cây có dạng trung bình, chịu phèn khá. Năng suất cao nhất: 8 tấn/ha, trung bình: 5.4 tấn/ha, thấp nhất: 3,6 tấn/ha. Chiều dài bông: 24cm, số hạt chắc/bông: 70-90, tỷ lệ lép: 15-19%. Trọng lượng 1000 hạt: 25-26g, dạng hạt thon, dài: 7,3mm. Tỷ lệ gạo nguyên: 52,4%. Chất lượng gạo tốt, rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Riêng về hướng sử dụng, yêu cầu kỹ thuật thì giống lúa OMCS2000 có vùng thích nghi rộng ở mọi chân đất. Thích nghi cả hai vụ Đông-Xuân và Hè-Thu.

Source: http://www.festivalluagao.vn/doc_gallery_detail-4-Dac-tinh-cac-giong-lua-dang-duoc-ua-chuong-tai-DBSCL.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Dữ liệu về tia cực tím giúp nghiên cứu sinh thái

Dữ liệu về tia cực tím giúp nghiên cứu sinh thái 

Nhiều dự án nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ và lượng mưa đối với sự phân bố các loài động thực vật trên toàn cầu. Tuy nhiên, một thành phần quan trọng trong nghiên cứu khí hậu, đó là bức xạ tia cực tím UV-B, lại thường bị bỏ qua . Các nhà sinh thái học cảnh quan từ UFZ cùng các đồng nghiệp của mình ở Trường đại học Halle và Trường đại học Lüneburg ở Olomouc (Séc) đã xử lý dữ liệu về tia cực tím UV-B từ cơ quan không gian Mỹ NASA theo một cách mà có thể sử dụng chúng để nghiên cứu ảnh hưởng của bực xạ tia cực tím đến sinh vật.

Dữ liệu đầu vào cơ bản được lấy từ vệ tinh NASA, thường xuyên quanh quay quỹ đạo trái đất từ năm 2004 ở độ cao 705 km và đo đạc bức xạ UV-B hàng ngày. "Tuy nhiên, đối với chúng tôi, thứ có vai trò cực kỳ quan trọng không phải số đo hàng ngày mà là số đo dài hạn, vì chúng liên quan đến sinh vật,” nhà nghiên cứu Michael Beckmann tại UFZ, tác giả chính của nghiên cứu cho biết. Do đó, các nhà nghiên cứu lấy sáu biến số từ dữ liệu bức xạ UV-B, gồm trung bình năm, mùa, tháng và quý với cường độ bức xạ cao nhất hoặc thấp nhất.

Để xử lý bộ dữ liệu khổng lồ của NASA, các nhà nghiên cứu UFZ phát triển một thuật toán tính toán , không chỉ loại bỏ các số đo bị thiếu hoặc không chính xác, mà còn tổng cộng các số đo hàng ngày theo hàng tháng và xác định mức trung bình dài hạn. Các dữ liệu được xử lý hiện đã hoàn thành đối với các năm từ 2004 đến 2013 và sẽ được cập nhật hàng năm.

Với bộ dữ liệu này, các nhà khoa học giờ đây có thể thực hiện các phân tích vĩ mô sinh thái về tác động của bức xạ UV-B đến sự phân bố các loài động thực vật trên toàn cầu. Michael Beckmann cho biết, "tuy vẫn còn nhiều điều chưa chắc chắn nhưng bức xạ UV là một yếu tố có thể giải thích tại sao loài này có mặt hay vắng mặt tại một số địa điểm cụ thể." Bộ dữ liệu cũng có thể giúp giải quyết các câu hỏi nghiên cứu khác. Các nhà khoa học vật liệu có thể xác định những phương pháp bảo vệ tốt hơn cho các vật liệu nhạy cảm với tia cực tím, chẳng hạn như sơn hoặc nhựa, trong các khu vực cụ thể trên thế giới. Y học có thể sử dụng bộ dữ liệu này để giải thích tốt hơn tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da theo vùng. "Không có giới hạn trong ứng dụng các dữ liệu này", Beckmann cho hay.

Dữ liệu hiện có thể tải về từ internet và đã được trình bày ở dạng bản đồ. Ví dụ như, những tấm bản này cho biết, ở các nước ở Nam bán cầu như New Zealand thì bức xạ UV-B cao hơn đến 50% so với ở các nước ở Bắc bán cầu như Đức. Nói chung, bức xạ tia cực tím trong mùa đông thấp hơn so với mùa hè do thời gian có nắng hàng ngày ngắn hơn.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Bông lúa vàng Việt Nam năm 2012

FOODCROPS. Bộ Nông nghiệp và PTNTvừa tổ chức lễ trao Giải thưởng Bông lúa Vàng Việt Nam. Với 4 nhóm tác giả với những thành quả thiết thực trong nghiên cứu đóng góp cho sự nghiệp phát triển nông thôn của đất nước gồm có. TS Mai Xuân Triệu và giống Ngô VN61;  GS.TS Nguyễn Thị Lang với giống lúa OM4900; PGS.TS Trần Thị Cúc Hòa với giống lúa OM6979; ThS Trần Thị Oanh Yến với giống thanh long Long Định 1. 

Bông lúa vàng Việt Nam năm 2012
Tran Anh Nhu

alt

Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức Lễ trao Giải thưởng Bông lúa Vàng Việt Nam tại Nhà hát lớn Hà Nội.
Tham dự lễ trao giải có Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương và địa phương.

Giải thưởng Bông lúa Vàng 2012 được tổ chức đúng vào dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Bộ Canh nông (14/11/1945 – 14/11/2012) - tiền thân của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày nay. Giải thưởng được tổ chức 2 năm/lần và cũng là giải thưởng duy nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhận, biểu dương và tôn vinh các tập thể, cá nhân có sản phẩm chất lượng cao, các mô hình phát triển nông nghiệp và nông thôn mới, các công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ được áp dụng trong sản xuất và đời sống nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập kinh tế quốc tế.

Được vinh danh và trao giải Bông lúa vàng đợt này, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có 04 nhóm tác giả với những sản phẩm là thành quả nghiên cứu đã có những đóng góp thiết thực hiệu quả cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn của đất nước.

1. TS. Mai Xuân Triệu- Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngô - tác giả chính giống Ngô VN61

2. GS.TS.Nguyễn Thị Lang - Viện Lúa Đồng Bằng Sông cửu Long - tác giả chính giống lúa OM4900

3. PGS.TS.Trần Thị Cúc Hoà - Viện Lúa Đồng Bằng Sông cửu Long - tác giả chính giống lúa OM6979

4.ThS. Trần Thị Oanh Yến – Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam – tác giả chính giống Thanh long ruột đỏ Long Định 1

Giống lúa OM4900

1. Nguồn gốc: Phát triển từ tổ hợp lai C53/Jasmine 85 ( marker RG28). Được công nhận giống chính thức năm 2009 theo Quyết định số 198 QĐ/BNN-KHCN ngày 18/06/2009 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT.

2. Đặc tính:

- Thời gian sinh trưởng 100-105 ngày.
- Chiều cao cây: 105-110cm. Cứng cây, đẻ nhánh khỏe
- Phản ứng với rầy nâu cấp 3, đạo ôn cấp 3.
- Năng suất trung bình: Vụ Đông xuân: 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu : 5-6 tấn/ha.
- Khối lượng 1.000 hạt 28,3g.
- Chiều dài hạt 7,8 mm, tỷ lệ amylose 16,2%.
- Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, cơm dẻo, thơm...,
- Giống OM4900 gieo trồng thích hợp cho cả vụ Đông Xuân và Hè Thu. Giống được chấp nhận cao ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, và nhiều địa phương khác ở ĐBSCL. Giống phát huy tốt ở các vùng đất phù sa ngọt sản xuất giống lúa chất lượng cao cho xuất khẩu.

Giống lúa OM6979

- Thời gian sinh trưởng : 95-100 ngày
- Chiều cao cây : 95-100 cm
- Năng suất trung bình : vụ Đông Xuân 7-9 tấn/ha; vụ Hè Thu: 6-8 tấn/ha.
- Bông to, đùm
- Chống chịu rầy nâu, đạo ôn khá.
- Cứng cây, chịu phèn mặn khá.
- Hạt gạo dài trung bình, trong, mềm cơm, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Source: http://vaas.vn/

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC  

Hạn hán trong tương lai

Hạn hán trong tương lai

Một nghiên cứu gần đây sẽ giúp các nhà sinh vật vũ trụ hiểu được sự biến đổi khí hậu có thể định hình tương lai của sự sống trên Trái Đất như thế nào.

Nhiều khoa học gia cho rằng chúng ta đang đối mặt với những trận hạn hán ngày càng nghiêm trọng do các thay đổi về lượng mưa. Nghiên cứu này cho thấy rằng điều này có thể trở nên nguy kịch hơn suy nghĩ của chúng ta trước đây.

Các giả thuyết trước đây đã dự đoán rằng những thay đổi về lượng mưa do sự nóng lên toàn cầu có thể khiến diện tích đất của Trái Đất hứng chịu sự khô cằn nhiều hơn. Tuy nhiên, hóa ra lượng mưa chỉ là 1 phần của câu chuyện này.

“Nếu bạn chỉ tính đến những thay đổi về lượng mưa trong tương lai thì chúng ta có thể đón nhận sự gia tăng hạn hán ở khoảng 12% diện tích đất toàn cầu”, tiến sĩ Benjamin Cook đến từ Đài quan sát Trái Đất Lamont-Doherty thuộc Trường Đại học Columbia và Viện Nghiên cứu Không gian Goddard của NASA cho biết. “Nếu bạn tính cả sự nóng lên toàn cầu và sự bốc hơi gia tăng trong các phép tính này thì sự gia tăng hạn hán này là khoảng 30% diện tích đất toàn cầu”.

Cook và các đồng sự nhận thấy rằng tỷ lệ bốc hơi cao hơn có thể là do khí hậu nóng hơn. Sự bốc hơi sẽ ‘vắt’ nước khỏi đất, thậm chí ở một số khu vực nhận được lượng mưa lớn. Và mặc dù sự nóng lên toàn cầu vắt nước khỏi đất nhưng nó cũng sẽ làm tăng độ ẩm của khí quyển trên hành tinh. Điều này cũng có thể dẫn đến những hậu quả toàn cầu.

“Tính trung bình toàn cầu, sự bốc hơi dự kiến làm tăng độ ẩm khí quyển khoảng 7% cho mỗi độ C nóng lên. “Ở cấp độ toàn cầu, sự gia tăng này sẽ đóng vai trò khuếch đại khuynh hướng làm nóng lên các khí nhà kính bởi vì hơi nước cũng là khí nhà kính quan trọng. Ở cấp độ vùng, điều này trở nên phức tạp hơn bởi vì có một số khu vực gia tăng độ ẩm, còn một số khu vực khác thì lại giảm độ ẩm”.

Ủy ban Liên chính phủ về sự biến đổi khí hậu đã cảnh báo rằng việc giảm độ ẩm đất sẽ gây ra nhiều vấn đề cho ngành nông nghiệp ở nhiều khu vực trên toàn cầu. Những khu vực ẩm ướt trên Trái đất dự kiến sẽ trở nên khô cằn. Sự gia tăng tính khô cằn có thể làm cho hệ sinh thái thay đổi ở những khu vực này.

“Dĩ nhiên tôi mong sẽ thấy được những ảnh hưởng đối với các hệ sinh thái và ngành công nghiệp ở cấp độ vùng khi độ khô căn gia tăng. Có thể bạn đã nhìn thấy điều này khi xảy ra các trận hạn hán nghiêm trọng ở phía tây nam và California”, Cook cho biết.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu

Báo Điện tử Cần Thơ 16.9. Trong điều kiện khí hậu, môi trường ngày càng khắc nghiệt, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa nhằm nâng cao giá trị hạt gạo, phục vụ sản xuất được đặt ra hàng đầu. Xoay quanh vấn đề này, Tiến sĩ Phạm Trung Nghĩa, Phó Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho biết:

alt 

Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu
Tiến sĩ Phạm Trung Nghĩa
Phó Viện Trưởng Viện Lúa ĐBSCL

- Sản xuất lúa ở vùng ĐBSCL đang phải đối diện với những khó khăn ban đầu do biến đổi khí hậu gây ra như: hiện tượng nhiễm mặn lan rộng, kéo dài và khô hạn cục bộ. Mặc dù tình hình trên chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa vùng ĐBSCL nhưng mức độ thiệt hại đang có chiều hướng tăng lên. Do đó, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa đang tập trung nhiều vào đặc tính chống chịu mặn, hạn cho giống lúa cao sản. Bên cạnh đó, Viện Lúa ĐBSCL hiện đang tập trung vào 2 mục tiêu nghiên cứu chọn tạo chính cho vùng phù sa nước ngọt, thâm canh là: (1) Chọn tạo giống lúa ngắn ngày (80-90 ngày), kháng sâu bệnh, phẩm chất gạo tốt, thích nghi cho canh tác các vùng trồng 3 vụ lúa/năm. Một vài giống lúa triển vọng ngắn ngày mới (OM11211, OM10424, OM10434, OM6904,...) đang được khảo nghiệm tại các tỉnh ĐBSCL. (2) Chọn tạo các giống lúa theo hướng tăng trần năng suất (đạt 10-12 tấn/ha), thời gian sinh trưởng từ 95-105 ngày, kháng sâu bệnh, phẩm chất gạo tốt, thích nghi cho vùng 2 vụ lúa/ năm. Với xu hướng tăng trần năng suất, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa mới từ các tổ hợp lai giống lúa dạng hình indica với giống lúa japonica đang được tập trung thực hiện. Nhiều dòng lúa triển vọng từ các tổ hợp lai indica x japonica với thân rạ to, cứng cây, đẻ nhánh khá, bông to chùm, tiềm năng năng suất cao đang được quan sát tại Viện Lúa ĐBSCL.

* Xu hướng nghiên cứu, chọn tạo và khuyến cáo các giống lúa phù hợp trong tình hình hiện nay được Viện tiến hành ra sao, thưa Tiến sĩ?
- Mục tiêu chọn tạo ra được các giống lúa chống chịu mặn ở mức độ từ 4-6‰ muối là rất cần thiết nhằm bảo đảm sản lượng lúa vùng ĐBSCL. Các nghiên cứu của Viện Lúa cho thấy, các giống lúa cao sản bị chết trên 80% số cây khi bị nhiễm mặn ở mức 4-6‰ trong vòng 1 tháng ở giai đoạn mạ, và giảm trên 60% năng suất khi bị mặn liên tục từ ngày thứ 55 sau khi gieo đến trổ. Thực tế, trong sản xuất lúa ở các vùng nhiễm mặn ĐBSCL, người dân vẫn còn đang canh tác diện rộng một số giống lúa cao sản chịu mặn cũ, phẩm chất gạo xấu (OM576, OM1490, AS996,...). Một số giống lúa mới phóng thích gần đây như: OM6976, OM8923, OM4900, OM5451, OM5464, OM5629 có tính chịu mặn từ 3-4‰ muối, phẩm chất gạo khá tốt và có tiềm năng năng suất cao. Một số dòng lúa chịu mặn mới như: OM7347, OM9915, OM9921 và OM9916 có tính chịu mặn khá tốt, gạo có mùi thơm đậm, cơm ngon, đang được khảo nghiệm và nhân rộng tại một số trung tâm giống các tỉnh như: Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre và Trà Vinh. Về giống lúa chịu hạn, hiện có 2 giống lúa mới có tính chịu hạn khá, thích hợp cho vùng ĐBSCL đã được phóng thích vào sản xuất là OM5464 và OM6162. Do tính chất hạn ở ĐBSCL chỉ là những đợt hạn ngắn khoảng 5-14 ngày nên việc chọn tạo giống theo hướng chọn giống lúa thích nghi với điều kiện đất khô ráo, tưới nước tiết kiệm nhưng vẫn cho năng suất cao. Riêng xu thế chọn giống lúa có phẩm chất gạo cao, Viện cũng đã tạo ra được một số giống lúa thơm, gạo thon dài trên 7mm như: OM4900, OM6162, OM7347, OM9915, OM9921,...

* Thực tế, có một số giống lúa chất lượng cao nhưng vẫn chưa được người tiêu dùng biết đến, chấp nhận. Theo Tiến sĩ nguyên nhân do đâu? Viện có chiến lược gì để phát triển giống lúa chất lượng cao?
- Có vài lý do chính sau: Thứ nhất, giống lúa chất lượng cao thường hay bị nhiễm một hoặc vài loại sâu bệnh, thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng từ 95-105 ngày. Đây là khuyết điểm cho nhóm lúa chất lượng cao khi so sánh với các giống lúa cao sản, ngắn ngày, chất lượng gạo thấp như IR50404, OM4218,... nên nông dân còn e dè trong sử dụng giống lúa này. Thứ hai, chúng ta vẫn chưa có nhiều vùng sản xuất lúa cho một giống lúa chất lượng cao nào đủ lớn để các doanh nghiệp thu mua, chế biến và hình thành thương hiệu. Một vùng sản xuất lúa canh tác hàng chục giống lúa khác nhau thường dẫn đến tình trạng bị trộn lẫn nhiều loại giống lúa khác nhau, làm giảm giá trị hạt gạo. Thứ ba, hạt gạo chất lượng thấp như: IR50404, OM576... hiện nay có thị trường thu mua nhiều hơn so với hạt gạo của giống lúa chất lượng cao, đôi khi giá mua giữa 2 loại gạo này không khác biệt. Do đó, ngoài biện pháp chọn tạo ra các giống lúa chất lượng cao, kháng sâu bệnh tốt hơn, thì việc quy hoạch sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ nhằm đảm bảo giá trị kinh tế của hạt gạo chất lượng cao là cần thiết.

Để các chương trình phát triển giống lúa chất lượng cao có thể đưa vào sản xuất lúa trong điều kiện môi trường, khí hậu ngày càng khốc liệt, thì mục tiêu chọn tạo giống lúa chất lượng cao phải được kết hợp với mục tiêu chọn tạo giống lúa cho điều kiện canh tác bất lợi như: chống chịu mặn, hạn, ngập tạm thời... Viện Lúa ĐBSCL cũng đang tiếp tục thực hiện các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng cao. Mục tiêu chất lượng gạo của các đề tài chọn giống lúa chất lượng hiện nay là phải đạt tiêu chuẩn hạt gạo của giống Jasmine85 (thơm, hạt gạo thon dài, trong, ít bạc bụng, cơm dẽo mềm). Hướng phấn đấu trong tương lai là chất lượng hạt gạo phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của giống lúa Basmati- một giống lúa nổi tiếng ở các vùng sản xuất lúa của Pakistan và Ấn Độ có mùi thơm đậm, gạo thon dài, mềm dẻo và ngon.

* Theo Tiến sĩ, để nâng cao hơn nữa giá trị kinh tế của hạt gạo thì cần phải quan tâm đến vấn đề gì trong sản xuất?
- Theo tôi, vấn đề cần quan tâm trước hết là việc sử dụng giống lúa xác nhận trong nông dân hiện nay chỉ khoảng 20-40%, còn lại là hạt lúa tự để lại từ ruộng sản xuất để làm giống cho vụ sau, nên cần nâng cao hơn nữa số lượng hạt giống xác nhận được sử dụng trong nông dân. Để làm tốt khâu này, mạng lưới đánh giá và nhân giống lúa các cấp giữa cơ quan tạo giống (viện/ trường đại học) với các trung tâm giống các tỉnh, công ty giống cần phải được liên kết, tổ chức lại chặt chẽ hơn. Cơ quan tạo giống cần nắm bắt được nhu cầu giống lúa, số lượng cần cho từng năm, để có kế hoạch nhân giống lúa siêu nguyên chủng, nguyên chủng cung cấp đủ cho các tỉnh. Trung tâm giống, trung tâm khuyến nông các tỉnh cần tăng cường công tác nhân giống lúa cấp nguyên chủng, xác nhận và đẩy mạnh xã hội hóa công tác giống. Đồng thời thực hiện tốt mạng lưới nhân giống lúa các cấp, để cung cấp đủ số lượng giống xác nhận cho nông dân sử dụng lên trên 80% diện tích canh tác lúa. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc quy hoạch và thực hiện các vùng sản xuất lúa cho từng giống lúa chất lượng cao. Gần đây, một số tỉnh thực hiện rất tốt mô hình “Nông hộ nhỏ, cánh đồng lớn” giúp quy hoạch lại ruộng đất, cơ giới hóa trồng lúa và hình thành cơ cấu một vài giống lúa chủ lực/cánh đồng. Một vấn đề quan trọng cần quan tâm là khâu tổ chức sấy lúa và bảo quản trong vụ hè thu. Do biện pháp sấy lúa hiện nay vẫn chưa thuận tiện, tốn kém nhiều chi phí vận chuyển, nên nhiều nông hộ tự phơi lúa, điều đó thường không đảm bảo cho phẩm chất hạt gạo khi bảo quản và chế biến, làm giảm giá trị kinh tế. Nếu chúng ta tổ chức được các lò sấy lúa di động, nhất là ở những cánh đồng lớn, giúp các nông hộ sấy lúa kịp thời sau khi thu hoạch, thì việc sản xuất lúa vụ hè thu sẽ thuận lợi hơn.

* Xin cảm ơn Tiến sĩ!
N.NGÂN  Thực hiện

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Hạn hán gia tăng báo trước sự sụt giảm năng suất cây trồng ở miền Trung Tây nước Mỹ

Hạn hán gia tăng báo trước sự sụt giảm năng suất cây trồng ở miền Trung Tây nước Mỹ 

Hạn hán ngày càng khắc nghiệt ở vành đai ngô khu vực Trung Tây nước Mỹ có thể gây thiệt hại nghiêm trọng tới sản lượng ngô và đậu tương, theo một nghiên cứu được công bố mới đây trên tạp chí Science.

Theo ước tính của báo cáo này, sản lượng ngô có thể giảm từ 15 – 30%, thiệt hại về sản lượng đậu tương sẽ ít nghiêm trọng hơn.

Roderick Rejesus, công tác tại trường Đại học bang North Carolina, là giáo sư kinh tế nông nghiệp và là đồng tác giả của bài báo được đăng tải trên tạp chí Science, cho biết rằng, ngô và đậu tương hiện đang tăng độ nhạy cảm với hạn hán, chật vật về sản lượng trong hoàn cảnh khô hạn ở Iowa, Illinois và Indiana trong giai đoạn nghiên cứu từ 1995-2012.

Năng suất đang giảm dần trong điều kiện xấu, Rejesus cho biết. Cải thiện về di truyền và nông học trong những năm qua đã giúp ích rất nhiều trong điều kiện trồng tốt, nhưng lại có ảnh hưởng rất ít khi điều kiện phát triển cây trồng kém đi, chẳng hạn như trong thời kỳ hạn hán.
Ngô và đậu tương Mỹ chiếm lần lượt khoảng 40% và 35% sản lượng toàn cầu, kết quả nghiên cứu trở nên quan trọng đối với nguồn cung lương thực của thế giới.

Sử dụng dữ liệu thực địa trong thời gian 18 năm, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các tác động của áp suất thiếu hơi nước (vapor pressure deficit - VPD) tới sản lượng ngô và đậu tương. VPD bao gồm các phép đo nhiệt độ và độ ẩm.

29 ước định khí hậu được mô hình hóa trên giấy tờ cho thấy rằng VPD sẽ tăng lên đáng kể trong vòng 40 năm tới, dẫn đến tình trạng hạn hán nghiêm trọng hơn.

Các nhà nghiên cứu đã thực hiện các thử nghiệm sử dụng chỉ số về mức độ nghiêm trọng của hạn hán (Palmer Drought Severity Index), một biện pháp được sử dụng rộng rãi để đo lại nhiệt độ và độ ẩm trên phạm vi toàn quốc, và báo cáo lại các kết quả tương đồng. Họ thực hiện các thử nghiệm tương tự đối với một nhóm trong vành đai ngô, bao gồm South Dakota, Nebraska và Kansas. Các thử nghiệm xác nhận kết quả đã phát hiện thấy ở Iowa, Illinois và Indiana.

Rejesus cho biết thêm rằng, tăng mật độ cây trồng có thể là một lý do đưa đến vấn nạn này. Khi Cây trồng được đặt gần nhau hơn, sẽ dễ dàng hơn cho các điều kiện xấu ảnh hưởng đến cây trồng. Mô phỏng cây trồng được thực hiện trong nghiên cứu cũng hỗ trợ quan điểm này.

Rejesus cho biết rằng, nghiên cứu về hạt giống chịu hạn hoặc các phương pháp khác để đối phó với tính nhạy cảm với hạn hán của cây trồng là cần thiết vì những phát hiện này có liên quan mật thiết trong chuỗi thức ăn.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Không chủ quan với an ninh lương thực dù có giống lúa mới ưu việt

Không chủ quan với an ninh lương thực dù có giống lúa mới ưu việt
TS.Trần Duy Quý

alt

Việt Nam đã đầu tư nhiều cho công nghệ di truyền, đặc biệt là trong việc chọn tạo giống lúa. Vì vậy trong 5 năm qua các nhà khoa học nông nghiệp nước ta đã tạo ra được nhiều giống lúa mang bản quyền Việt Nam có những đặc tính rất ưu việt, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu. Phải chăng vì thế mà chúng ta có thể “nới tay” trong việc kiểm soát diện tích lúa và không phải lo lắng về vấn đề an ninh lương thực?

Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Trần Duy Quý, nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, sẽ đưa ra câu trả lời cho bạn đọc Tầm Nhìn.


Xin Giáo sư cho biết những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc chọn tạo và lai tạo các giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt trong thời gian qua.


Khoảng 5 năm trở lại đây các nghiên cứu về chọn tạo các giống lúa ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Có hai nhóm, hai mảng - nghiên cứu về lúa lai và lúa thuần bằng phương pháp truyền thống kết hợp với phương pháp công nghệ sinh học. Nói đến lúa lai thì phải nói đến các nhà khoa học nổi tiếng, đầu đàn, đó là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, nguyên Phó Viện trưởng Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Cùng với các cộng sự của mình bà đã cho ra một loạt giống lúa lai hai dòng mang bản quyền Việt Nam, như là TH3-3, TH3-4, TH3-5. Đấy là sự đột phát trong 5 năm trở lại đây. Các giống lúa lai này có năng suất cao, tính thích ứng rộng, chất lượng gạo khá, đáp ứng được một phần nhu cầu hạt giống lúa lai ở trong nước.


Tiếp theo là các giống lai “siêu lúa” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoan, cũng ở Viện Sinh học Nông nghiệp, và của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Hoàng ở Trung tâm Lúa lai, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Riêng Viện Di truyền Nông nghiệp lại tập trung vào mảng lúa thuần do Bộ môn Di truyền đột biến và Công nghệ lúa lai tiến hành. Trong nhiều năm cơ quan này đã tạo ra được nhiều giống lúa năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt, có sự thích ứng mạnh với sự biến đổi thời tiết như QR1, QR2, I01, J02, PC68, DT 68.


Giáo sư có thể cho biết, Việt Nam sẽ đi theo hướng nào trong việc chọn giống lúa – giống lúa lai hay lúa thuần chủng?


Lúa thuần và lúa lai khác nhau ở chỗ: lúa thuần mình gieo cấy rồi để giống được từ vụ này sang vụ khác mà không phải mua giống, ít nhất trong 3 vụ, nếu biết chọn lọc và bảo quản. Còn lúa lai, sau khi thu hoạch lấy thóc thương phẩm thì phải mua hạt giống khác để gieo vụ sau. Nếu dùng lúa lai của vụ trước làm giống thì nó sẽ tự thụ và phân ra cây cao, cây thấp, không đồng đều, năng suất giảm đi về mặt lý thuyết là 25%. Vì thế lúa lai không để giống được. Đó là khác biệt căn bản giữa lúa lai và lúa thuần.


Lúa lai thì phải có dòng bố và dòng mẹ, khi cho thụ phấn với nhau thì tạo ra con lai F1. Lúa thuần là giống lúa cũng do lai tạo ra giữa bố và mẹ nhưng cho chọn lọc tự thụ trong nhiều đời, ít nhất thừ 8 đến 12 đời, từ đó chọn được một dòng thuần hoàn toàn để tự thụ và làm giống. Lúa lai thì chỉ qua một đời thôi. Lúa lai có nhiều ưu thế, cho năng suất cao hơn lúa thuần ít nhất 15 – 20%, thích ứng rộng.


Nếu chọn vài giống lúa có thể sánh được với các giống lúa tốt nhất của thế giới, của Thái Lan, của Mỹ thì chúng ta có giống lúa Sóc Trăng (ST 20), hiện tại giá lúa ST 20 còn đắt hơn gạo Thái. Tại Việt Nam gạo Thái bán với giá 22.000 đồng/kg ở siêu thị thì gạo ST 20 được bán với giá 26.000 - 29.000 đồng/kg. Gạo Tám Thơm vẫn có chỗ đứng tại thị trường Việt Nam vì nó có ưu thế đặc trưng như hạt gạo sau khi nấu chín có độ dẻo và bóng, tuy nhiên việc xay xát phải rất thận trọng vì hạt gạo dài nên dễ gãy.


Tùy từng vùng khí hậu mà lúa lai hay lúa thuần được ưa dùng. Ở miền núi phía Bắc nông dân dùng lúa lai nhiều vì đặc tính dễ thích ứng với thời tiết lạnh và năng suất cao. Với đồng bằng hay ngập úng thì lúa thuần ưu thế hơn.


Bây giờ khoa học công nghệ cho phép tạo ra những giống lúa lai cho hạt gạo thơm, dẻo còn hơn các giống lúa thuần. Nhưng nhìn chung, chất lượng, mùi thơm của các giống lúa lai vẫn còn thua các giống lúa thuần đặc sản, chẳng hạn giống HIT 100, HIT 108, HIT 122 của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm.


Thưa Giáo sư, như vậy là các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã có bước tiến lớn trong việc chọn tạo và lai tạo các giống lúa. Vậy nhưng tại sao chúng ta vẫn phải nhập các giống lúa của Trung Quốc?


Hiện nay một số giống lúa lai của Trung Quốc vẫn được nhập về nhưng với tỷ lệ rất thấp. Lúa lai ở Việt Nam mỗi năm chỉ có 500.000 ha, trong số này ta nhập của Trung Quốc 70%, khoảng 350.000 ha. Còn 150.000 ha do ta tự túc giống. Tuyệt đại đa số diện tích trồng lúa của Việt Nam, hơn 6 triệu ha lúa thuần (2 vụ), là do ta tự túc giống cả. Không nhất thiết chúng ta phải tự lo toàn bộ các giống lúa lai vì các giống tốt của Trung Quốc cũng là thành tựu của trí tuệ loài người. Nếu giá rẻ và phù hợp với thổ nhưỡng, thời tiết của ta thì chúng ta nhập.


Hơn nữa, một trong những lý do các giống lúa lai của Trung Quốc có chỗ đứng ở Việt Nam là vì các tỉnh của ta vẫn áp dụng chính sách trợ giá (cho lúa lai). Nếu Chính phủ mình quyết định bỏ hoàn toàn việc trợ giá thì các giống lúa lai Trung Quốc khó vào được Việt Nam vì giống lúa thuần của chúng ta cũng đạt năng suất 7 – 8 tấn/ha, không kém gì lúa lai, chất lượng gạo tốt mà để giống cho mùa sau cũng được.


Các doanh nghiệp của Việt Nam đi mua giống lúa lai của Trung Quốc hay bị lừa ở chỗ: có giống lúa lai cùng một mẹ nhưng khác bố với giống lúa được quảng cáo, nhìn bằng mắt thường không phân biệt được vì hình dáng, màu sắc đều mang đặc điểm của mẹ. Nếu doanh nghiệp Việt Nam thích giống Nhị Ưu 838 thì một số doanh nghiệp Trung Quốc thiếu nghiêm túc sẽ cho ra một loại giống tương tự Nhị Ưu 838, có cùng mẹ nhưng khác bố, để giảm giá thành và rút ngắn quy trình lai tạo. Bố khác thì sẽ cho đặc tính của con khác. Đến khi lúa đã gieo và phát triển thì mới phát hiện ra, năng suất không cao như nông dân mong muốn, ví dụ chỉ đạt 6 tấn thay cho 8 tấn/ha.


Thưa Giáo sư, vì chúng ta có thể chọn tạo, lai tạo những giống lúa năng suất rất cao nên việc kiểm soát diện tích lúa cũng như vấn đề an ninh lương thực không cần đặt ra một cách gắt gao chăng?


Quan điểm chung của các nhà khoa học, không chỉ của riêng tôi, là như thế này: Về mặt lý thuyết năng suất lúa có thể còn lên nữa, tới 10 tấn/ha/vụ, sản lượng lương thực có thể đạt 55 – 60 triệu tấn trong vài chục năm nữa. Tuy nhiên, để đảm bảo an ninh lương thực chắc chắn trong thời kỳ biến đổi khí hậu thì Việt Nam dứt khoát phải giữ được 3,8 triệu ha lúa. Nếu diện tích lúa giảm thì sẽ xuất hiện nguy cơ thiếu lương thực vì có những năm xảy ra lạnh kéo dài, lụt, nước biển dâng… Những giống lúa hiện có không thể thích ứng ngay được.


Chẳng hạn, mưa liên tục thì các giống lúa của chúng ta bị ngập, không chịu được úng và chết hết, mất mùa và ảnh hưởng đến an ninh lương thực ngay. Muốn tạo giống mới phải có ít nhất 5 – 7 năm. Chưa kể thóc gạo còn được chế biến làm bún, bánh, để chăn nuôi… Rồi số dân tăng. Mỗi một năm dân số Việt Nam tăng xấp xỉ 1 triệu người, bằng một tỉnh. Nuôi được số người sinh thêm này không phải dễ. Chủ trương của Nhà nước từ nay đến năm 2050 giữ 3,8 triệu ha trồng lúa là rất đúng đắn. Có thực mới vực được đạo. Không đảm bảo an ninh lương thực thì sẽ dẫn đến bất ổn chính trị. Vì vậy an ninh lương thực là vấn đề mấu chốt của bất cứ quốc gia nào.

Source: http://vaas.vn/tieudiem_print.asp?newsID=NEW_122504113404

Nguy cơ biến đổi khí hậu từ khí metan

Nguy cơ biến đổi khí hậu từ khí metan

Cuộc họp gần đây của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hẩu IPCC ở Yokahama đưa ra lời cảnh báo về những tác động tiềm năng của các chất khí như metan – với hiệu ứng nhà kính nhiều hơn 32 lần so với hiệu ứng nhà kính của cacbon đioxit. Hiện nay một nhóm các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ-Đức vừa cho thấy, các chất mùn hoạt động như các chất nhận electron mà có thể tái sinh hoàn toàn, giúp giải thích tại sao có một số lượng lớn khí mêtan được giữ lại ở các vùng đất ngập nước thay vì được thải vào trong khí quyển. Tuy nhiên, có những lo ngại rằng nếu hệ thống này bị phá vỡ thì nó có thể đi vào vòng luẩn quẩn và thải ra một lượng lớn khí mê tan trở lại vào bầu khí quyển.

Những vùng đất ngập nước, như đất than bùn, có hàm lượng cao đất mùn giàu hợp chất hữu cơ, hình thành trong quá trình phân hủy các sinh vật sinh học như thực vật. Khi mực nước cao, các loại đất này vẫn ẩm ướt, và do đó thiếu oxy, làm cho các hợp chất hữu cơ chấp nhận electron từ vi khuẩn hô hấp – một việc gần giống như sạc một cục pin khổng lồ vậy. Điều này làm cho electron không được các vi khuẩn hình thành metan sử dụng, và do đó ngăn không cho các vi khuẩn này thải metan vào trong khí quyển.

Các nhà nghiên cứu giờ đây phát hiện ra rằng, phản ứng điện khổng lồ này cũng có thể đảo ngược, như nạp và xả một cục pin khổng lồ vậy. Khi mực nước giảm do các thay đổi thời tiết định kỳ, thì đất mùn sẽ có xu hướng thải electron vào trong nước vô hại hình thành oxy. Tuy nhiên, có một nguy hiểm là biến đổi khí hậu có thể dẫn đến mực nước cao hơn, khiến cho các đất này vẫn bị ngập nước trong thời gian dài hơn, và do đó quá trình xả pin biến mất dẫn đến hình thành nhiều khí metan hơn.

Thậm chí có thể còn tồi tệ hơn, nhiệt độ gia tăng toàn cầu có thể làm cho lớp băng vĩnh cửu tan chảy, dẫn đến đất được sạc electron nhưng không được thải ra. Điều này có thể dẫn đến một lượng khổng lồ khí mêtan từ các vùng đất ngập nước. Điều này sẽ gây ra một hiệu ứng nhà kính lớn hơn, và cứ như vậy trong một vòng luẩn quẩn.

Một trong hai nhà nghiên cứu chính, Andreas Kappler (từ Tubingen), Thư ký Hiệp hội Địa hóa học Châu Âu, cho biết:

"Đứng từ quan điểm khoa học, nghiên cứu của chúng tôi là một bước tiến trong sự hiểu biết về địa hóa, cụ thể là chất mùn trong vùng đất ngập nước trên thế giới lưu trữ electron ra sao và giữ lại việc thải ra một lượng khổng lồ khí mêtan ra sao. Nó cũng cho thấy rằng, các quá trình điện hóa thuận nghịch có tiềm năng ảnh hưởng lớn đến môi trường. Có một số điều không chắc chắn như mức độ chính xác, nhưng chúng tôi ước tính rằng, sẽ có thêm khoảng 10% đến 166% khí metan được thải ra ở bất cứ đâu. Nó còn cho thấy, đây là những hệ sinh thái mong manh và những thay đổi nhỏ về điều kiện địa hóa cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường".

Vùng đất ngập nước trên thế giới che phủ khoảng 5% bề mặt đất không đóng băng trên hành tinh, nghĩa là tương đương với kích thước của nước Úc: nhưng chúng có ảnh hưởng không cân xứng đến sự chuyển hóa metan trên hành tinh - đóng góp từ 15 đến 40% thông lượng metan toàn cầu vào trong khí quyển. Những vùng đất ngập nước lớn nhất thế giới là những khu rừng đầm lầy ở Amazon và các vùng đất than bùn ở Siberia.

Bình luận về ảnh hưởng khí hậu tiềm năng này, giáo sư Ralf Conrad (Marburg, Đức) cho biết:

Nghiên cứu cho thấy các chất mùn có thể hoạt động như các chất oxy hóa có thể sạc lại trong môi trường ngập nước như cách hoạt động của nitơ vô cơ, lưu huỳnh, sắt và mangan. Chất mùn là thành phần phổ biến trong sinh quyển trên mặt đất và hình thành một hồ chứa carbon khổng lồ. Hiện nay đã có nghiên cứu cho thấy, chất mùn còn kiểm soát thông lượng electron do các vi khuẩn làm trung gian trong các hệ sinh thái đất ngập nước. Vai trò này cho đến nay chưa được xem xét trong các mô hình chu kỳ carbon toàn cầu và các mô hình biến đổi khí hậu, nhưng có một tác động tiềm năng rất lớn.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Công bố bản đồ hoàn chỉnh biến thể gen của cây lúa

 FOODCROPS. Với hơn 85% các giống lúa được công bố trên tạp chí khoa học cây trồng của Mỹ  CSSA đều có nguồn gốc từ việc phát triển của các cặp lúa lai hiệu quả, thì nghiên cứu về nguồn gốc các giống lúa chủ yếu hiện nay ở châu Á có nguồn gốc từ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc sẽ góp thêm những dữ liệu cần thiết để tập hợp những nguồn vật liệu di truyền hiệu quả cho công tác chọn tạo giống thích ứng tương lai của khu vực. Dựa theo sự chuyển đổi vùng nhiệt độ có thể sẽ là sự chuyển dịch vị trí nguồn vật liệu di truyền giống. Điều có thể sẽ diễn ra trong tương lai tới sẽ mang cơ hội mới với những thách thức mới. 

alt
 

Công bố bản đồ hoàn chỉnh biến thể gen của cây lúa

Một nhóm nghiên cứu của Trung Quốc và Nhật Bản vừa công bố một bản đồ hoàn chỉnh về các biến thể gen của cây lúa, nguồn cung cấp lương thực cho một nửa dân cư trên hành tinh.

Nghiên cứu cho thấy giống lúa chủ yếu hiện nay có nguồn gốc từ vùng châu thổ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc.

Nghiên cứu trên, được công bố trên tạp chí khoa học Nature ngày 3/10, là kết quả của quá trình phân tích tỉ mỉ mã di truyền ADN của hơn 1.000 giống lúa (bao gồm hai tiểu nhóm indica và japonica) và gần 500 giống lúa hoang (thuộc nhóm Oryza rufipogon), tổ tiên của các giống lúa đang trồng hiện nay.

Theo các nghiên cứu, đại đa số cây lúa được trồng hiện nay thuộc giống Oryza sativa L., được gọi chung là “lúa châu Á.” Giống này được phân thành hai tiểu nhóm là indica và japonica.

Lúa thuộc tiểu nhóm japonica có hạt ngắn và dính (tức lúa nếp), trong khi tiểu nhóm indica có hạt dài và không dính (tức lúa tẻ).

 Một điểm được các nhà nghiên cứu trong nhóm trên cùng nhất trí là giống lúa được trồng hiện nay có nguồn gốc từ giống lúa hoang Oryza rufipogon, cách đây hàng nghìn năm.

Tuy nhiên, nguồn gốc và quá trình thuần hóa giống lúa này vẫn còn là chủ đề tranh luận.

Về nguồn gốc của tiểu nhóm Oryza sativa japonica, tức là giống lúa ra đời đầu tiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giống lúa này được thuần hóa từ các cây lúa hoang ở miền Nam Trung Quốc, khu vực trung tâm đồng bằng sông Châu Giang, thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.

Tiếp đó, giống lúa thuộc tiểu nhóm japonica được lai với các loài lúa hoang tại miền Nam châu Á và Đông Nam Á để tạo thành các loại lúa thuộc tiểu nhóm indica.

 Hiện tại, trên thế giới có khoảng 155 triệu hécta trồng lúa, sản xuất ra 720 triệu tấn lúa/năm, trong 90% là ở châu Á.

Theo một số dự đoán, để bảo đảm an ninh lương thực đối với một phần quan trọng của cư dân toàn cầu, sản lượng lúa phải tăng gấp đôi vào khoảng năm 2030 và cần phải phát triển các giống lúa có sản lượng cao hơn.

 Ngoài hai tiểu nhóm giống lúa lớn kể trên, tại châu Phi còn một giống lúa với số lượng ít, có tên khoa học là Oryza glaberrima, thường được gọi là “lúa châu Phi”./.

Source: Vietnam+

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Lượng CO2 tăng cao kéo dài mùa sinh trưởng của cây trồng

Lượng CO2 tăng cao kéo dài mùa sinh trưởng của cây trồng 

Một nghiên cứu mới được công bố tuần này trên tạp chí Nature cho thấy rằng, nồng độ CO2 trong khí quyển cao hơn do tình trạng ô nhiễm nhiên liệu hóa thạch sẽ kéo dài mùa sinh trưởng của cây trồng. Nghiên cứu do Cơ quan Nghiên cứu nông nghiệp Mỹ, Trường Fort Lewis và các nhà nghiên cứu Đại học bang Colorado thực hiện. 

Nghiên cứu cho thấy vụ mùa bắt đầu sớm hơn do sự nóng lên của khí hậu và kết thúc muộn hơn do lượng CO2 cao, đặc biệt là khi lượng nước sẵn có hạn chế sự sinh trưởng của thực vật. Điều này dẫn đến một mùa sinh trưởng dài hơn.

Tiến sĩ Heidi Steltzer cho biết: “Phản ứng của Trái đất đối với sự thay đổi môi trường rất phức tạp, một phần do nhiều thay đổi môi trường xảy ra cùng một lúc. Trong 40 năm qua, mùa sinh trưởng của cây trồng trên trái đất đã kéo dài. Nguyên nhân của sự thay đổi này thường được cho là do sự ấm lên của khí hậu, nhưng bây giờ có một yếu tố khác nữa là lượng CO2 cao. Lượng CO2 tăng cao sẽ làm lượng nước trong đất cao hơn. Đối với các hệ sinh thái như đồng cỏ hỗn hợp, nơi cây bị rụng lá hàng năm, đất ẩm ướt hơn vào mùa thu sẽ kéo dài mùa sinh trưởng của cây trồng”.

Ảnh hưởng của lượng CO2 trong khí quyển cao đối với thực vật có thể thay đổi nhiều qua mỗi năm. Khí hậu ẩm ướt vào mùa thu tạo nên sự khác biệt lớn. Lượng CO2 tăng cao làm tăng ảnh hưởng của sự nóng lên đối với thời gian sinh trưởng của cây trồng, đặc biệt vào những năm lượng nước trong đất vào mùa thu nhiều hơn. Lượng CO2 tăng cao và sự nóng lên dẫn đến mùa sinh trưởng của cây trồng kéo dài thêm 29 ngày trong một năm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy những tác động tốt và xấu của hiện tượng CO2 tăng cao đối với cây trồng. Mùa sinh trưởng dài hơn thường có lợi, đặc biệt là nếu CO2 cao cho phép các loài thực vật duy trì thời gian sinh trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, CO2 cao cũng ảnh hưởng đến độ dài của mùa sinh sản, thường rút ngắn khoảng thời gian này. Thời gian ra hoa và kết hạt ở một số loài bị rút ngắn lại ảnh hưởng đến sự tương tác của cây đối với các loài côn trùng thụ phấn như ong và các loài gieo hạt như chim. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự sinh sôi nảy nở của các loài thực vật nói chung.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module