Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Technology

Giống lúa IR50404 và hướng thay giống hiệu quả

FOODCROPS.  Giống lúa IR50404 được nông dân ĐBSCL chọn trồng nhiều do sau mùa mưa lũ nước rút chậm nên cần giống lúa ngắn ngày, nhưng năng suất vẫn phải cao. Tuy nhiên việc sử dụng giống lại bị hạn chế khi tiêu thụ vì nhược điểm gạo có hàm lượng amylose cao nên cứng cơm và độ bạc bụng lớn, không thích hợp với thị hiếu quốc tế; dễ bị gãy khi xay chà, làm tỷ lệ gạo nguyên thấp, nhất là canh tác trong vụ hè thu; và giá trị thương phẩm thấp (GS. Bùi Chí Bửu). Hơn thế việc quản lý thông tin các thương lái cho việc cung cấp gạo ra thị trường vẫn hạn chế, chưa đảm bảo đồng nhất mẫu gạo do trộn lẫn làm ảnh hưởng uy tín của những gạo ngon như Jasmine, OM 4900.... . Nông nghiệp Việt Nam đang phát triển theo chiều sâu để tăng thu nhập cho bà con nông dân cần phải đẩy mạnh hệ thống thông tin mạnh mẽ, quản lý chặt chẽ người chuyển hàng, khuyến cáo tức thời, đẩy mạnh hơn cho việc nghiên cứu chọn giống thích nghi vùng. Một người giàu được trăm người sẽ theo.

alt

Giống lúa IR50404

1. Nguồn gốc: được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI.
Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN, ngày 21 tháng 5 năm 1992 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT.

2. Đặc tính:

- Thời gian sinh trưởng 85-90 ngày.

- Chiều cao cây: 85 - 90 cm. Khả năng chống đổ kém. Thích nghi rộng trên nhiều vùng đất phù sa đến phèn trung bình, Canh tác được cả 3 vụ trong năm.

- Hơi nhiễm Rầy nâu và Đạo ôn. Nhiễm nhẹ với bệnh Vàng lá. Nhiễm vừa với bệnh Khô vằn.

- Năng suất: vụ Đông Xuân 6-8 tấn/ha, vụ  Hè Thu 5-6 tấn/ha.

- Hạt gạo bầu, bạc bụng. Khô cơm.

- Hàm lượng amylose (%): 26,0.

- Trọng lượng 1000 hạt 22-23 g.

- Chiều dài hạt trung bình: 6,74 mm.

Bi kịch IR50404
Hữu Đức

Nhiều huyện, IR50404 chiếm 80-90% diện tích

Lúa ĐX ở ĐBSCL đang vào mùa thu hoạch. Dù trên nhiều cánh đồng lớn chưa gặt rộ, mới vào khúc dạo đầu nhưng ẩn số lúa IR50404 đã dần lộ diện. Có nơi gần cả huyện trồng độc nhất giống lúa này, nay bán ra gặp lúc lúa rớt giá than vãn hết lời.

 Con kênh dẫn nước rẽ giữa hai cánh đồng lúa chín vàng ở ấp Trang Nhung, xã Trường Xuân, huyện Thới Lai (Cần Thơ) trông thật đẹp. Lác đác một vài thửa ruộng vừa gặt xong. Ghé nhà chuyện trò với nông dân trong xóm, niềm vui trúng mùa chưa đủ khỏa lấp nỗi buồn lúa đang rớt giá.

 Anh Phú Hòa, anh Sáu… giọng chùng xuống: Chỉ vì chạy theo IR 50404 nên giờ này ghe mua lúa vào trả giá tệ lắm, lúa phơi khô sạch 5.000-5.100 đồng/kg, còn lúa tươi vừa tuốt xong tại ruộng lái mua 4.600 đồng/kg, mất giá 200-300 đồng/kg so với những giống lúa khác. Với mức giá này còn cầm cự được, nhưng nếu rớt sâu hơn nữa xem như hết lời.

 Ở ấp Trang Nhung có tới 97% diện tích làm thuần một giống lúa IR50404. Cái khó ở vùng đồng xa phía đầu ngọn kênh tại vùng nam sông Hậu của Cần Thơ, Hậu Giang là sau mùa lũ, nước rút chậm. Bà con nông dân chỉ còn một chọn lựa giống lúa ngắn ngày là IR50404 để không trễ thời vụ cho cả một cánh đồng lớn. Hơn nữa đây là giống có khả năng cho năng suất cao.

 Có lẽ cùng suy nghĩ như vậy mà ở bên kia bờ bắc sông Hậu là Đồng Tháp, ông Trọng Bình, nông dân ấp Tân Mỹ, huyện Lấp Vò, nói: “Vụ lúa này Lấp Vò hầu như ai cũng làm lúa IR50404. Dạo này lúa rớt giá, dân đều rên, vì mua giá thấp bét. Lúa tươi vừa gặt ra hạt xong, thương lái trả mua tại ruộng khoảng 4.700 đồng/kg. Hỏi vì sao trồng IR50404 nhiều ư? Dễ hiểu quá, năm ngoái làm giống lúa này bán giá cao, thấy ngon ăn. Chọn IR50404 vì ưu thế năng suất cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh, chi phí thấp, dễ canh tác…, nào ngờ đoán gió trật chìa, giá rớt”.

 Ông Huỳnh Ngọc Chiến, Trưởng phòng NN- PTNT huyện Lấp Vò, cho biết: Toàn huyện có 14.200 ha lúa ĐX, trong đó có tới 91,5% làm lúa IR50404. Nằm kề là huyện Lai Vung, nông dân làm lúa giống này cũng trên 80-90% diện tích. Đó là do năm ngoái gặp lũ lớn, rút chậm. Ở vùng làm 3 vụ lúa/năm, vì chưa tìm được giống khác thay thế nên nông dân chỉ còn cách chọn IR50404 nhờ vào đặc tính ngắn ngày, nối tiếp vụ sau tránh được lũ.

  Mặt khác năm ngoái lúa IR50404 được giá 6.000-6.200 đồng/kg, cả năm Lấp Vò có diện tích canh tác lúa 34.000 ha, lúa IR50404 chiếm tới 55%. Đó là lý do năm nay nông dân đổ xô trồng IR50404. Theo ông Chiến, với tình hình giá lúa thấp như thế này sang vụ HT, TĐ tới, nông dân sẽ thay đổi giống. Chắc chắn IR50404 sẽ giảm mạnh, do chất lượng gạo vụ HT thấp, tỷ lệ gạo bạc bụng cao.

 Vụ ĐX này có tin một tỉnh có diện tích lúa IR 50404 tới hơn 65.000 ha, vượt nhiều lần mức khuyến cáo. Hiện chưa có địa phương nào thống kê chính xác nhưng ước đoán diện tích lúa IR50404 tăng rất nhiều so vụ lúa ĐX năm trước.

 Ông Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt nhắc lại khuyến cáo của Bộ NN-PTNT: Nông dân các địa phương trồng lúa chất lượng thấp diện tích không nên tăng quá 15-20%. Tuy nhiên mùa này một số tỉnh có diện tích lúa IR50404 tăng hơn 20%, có tỉnh 20-30%, thậm chí 60%. Chính vì diện tích lúa cấp thấp IR50404 tăng quá mức, gặp thị trường không thuận lợi, giá rớt là điều dễ hiểu.

 Nguồn NNVN

Trồng lúa IR50404 không theo khuyến cáo: Thiệt đủ đường!
Minh Tuấn

KTNT - Vụ đông xuân năm nay dù năng suất lúa đạt khá cao, từ 6,5-7 tấn/ha nhưng nông dân Đồng bằng sông Cửu Long vẫn kém vui vì giá lúa không cao, hiện dao động từ 4.350-4.500 đồng/kg (lúa tươi). Theo đó, sau khi trừ chi phí, nông dân không có lời.

Ông Lê Văn Bời ở ấp An Biên, xã An Nông (Tịnh Biên - An Giang) vừa thu hoạch 1ha lúa đông xuân sớm, với giọng buồn buồn, ông cho biết: “Năm nay sâu bệnh ít, năng suất lúa nhà tôi đạt 7 tấn/ha nhưng tư thương chỉ mua tại ruộng với giá 4.300 đồng/kg. Bán xong đống lúa tiếc hùi hụi, bởi 1 năm canh tác lúa chỉ trúng vụ đông xuân, nhưng bán với giá này, tôi chẳng lời được đồng nào”.

Ông Bời nhẩm tính, lúa nằm trong vùng bờ bao khép kín nên rất nặng chi phí phân bón, một công (1.000m2) tốn ít nhất 1 bao phân, chưa kể chi phí thuốc bảo vệ thực vật, giống, thuê máy gặt đập liên hợp, kéo lúa ra đê… “Tính chung một công lúa, nông dân chi phí tới 2,8 triệu đồng. Mỗi công thu hoạch được 700kg lúa, bán với giá 4.300 đồng/kg, chỉ lời 300.000 đồng. Chia 300.000 đồng đó cho 3 tháng, nông dân chúng tôi chỉ thu nhập 100.000 đồng/tháng, thua xa những người đi làm thuê, bốc vác”, ông Bời nói.

Cùng chung tâm trạng trúng mùa mất giá, ông Trần Văn Lũy canh tác 3ha lúa tại gò Cây Sung, thị trấn Tịnh Biên rầu rĩ than: “Trồng được 3ha giống lúa IR50404, hàng xáo ngoài Châu Đốc vô mua chê đường xa, kêu tôi phải dùng máy cày kéo lúa ra tận bờ kênh, nhưng cũng chỉ mua với giá 4.500 đồng/kg. Vụ đông xuân năm nay, lúa nhà tôi bị chuột cắn phá nhiều, năng suất chỉ đạt 6,5 tấn/ha. Bán với giá này, coi như lấy tiền cũ đổi tiền mới”.

Theo thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang, hiện nông dân trong tỉnh đã thu hoạch khoảng 5.000ha lúa đông xuân. Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi, vụ đông xuân năm nay, nhiều huyện trên địa bàn tỉnh vẫn trồng giống lúa cấp thấp IR50404, chiếm khoảng 60% diện tích dù ngay từ đầu vụ, Sở Nông nghiệp và PTNT đã khuyến cáo bà con không nên trồng quá 15% diện tích. Trong khi đó, đầu ra cho loại gạo này rất bấp bênh. Trong thời gian tới, nếu giá lúa vẫn nằm ở ngưỡng thấp thì việc tiêu thụ giống lúa này sẽ vẫn khó khăn.

Bà Tư Cẩm, tư thương chuyên thu mua lúa cho biết: “Giá lúa ở mức thấp khiến chúng tôi cũng gặp khó khăn. Giá thấp, bà con bán lúa không vui. Chưa kể, nhiều hộ không chịu bán, trữ lại chờ tăng giá”. “Vụ 3 vừa rồi, giống IR50404 được các nhà máy xay xát thu mua mạnh, dân dễ bán và có lời. Còn vụ này, giá lúa bấp bênh, nông dân than quá chừng…”, bà Tư Cẩm thở dài.

Hiện, trên địa bàn tỉnh An Giang có khoảng 36 doanh nghiệp, kinh doanh, xuất khẩu gạo, với tổng năng lực kho chứa 690.000 tấn gạo và 75.000 tấn lúa, công suất xay xát, bóc vỏ 1.198 tấn/giờ. Thực hiện công tác xây dựng hệ thống kho chứa lúa, gạo, An Giang sẽ đầu tư xây dựng mới kho chứa với tổng diện tích hơn 465.000m2, tương đương với sức chứa 620.000 tấn.

Tuy nhiên, bà Mai Thị Ánh Tuyết, Giám đốc Sở Công Thương An Giang cho biết, tính đến hết tháng 2/2012, chỉ có 4/17 doanh nghiệp triển khai đầu tư xây dựng hệ thống kho với tổng sức chứa 113.000 tấn trên địa bàn các huyện: Thoại Sơn, Chợ Mới và Tân Châu. Như vậy, đến nay so với quyết định của UBND tỉnh về xây dựng 4 triệu tấn kho chứa lúa thì mới đạt 15% kế hoạch.

Theo nhận định của Công ty xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX): “Hiện nay, Ấn Độ, Myanmar bắt đầu tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo cấp thấp, ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường xuất khẩu lúa gạo của nước ta. Hiện tại, các kho, phân xưởng của công ty cũng đang hoạt động hết công suất để thu mua gạo tạm trữ. Công ty có khoảng 12 xí nghiệp, phân xưởng, năng lực dự trữ khoảng 100.000 tấn. Tuy nhiên, đến thời điểm này, nhu cầu hợp đồng xuất khẩu gạo rất ít. Hy vọng thời gian tới, thị trường xuất khẩu gạo ổn định, công ty sẽ đẩy mạnh việc thu mua gạo cho nông dân”.

Ông Phạm Văn Bảy, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho rằng, thông thường vào thời điểm đầu năm, chúng ta đã ký được hợp đồng lớn với Philippines, Indonesia, Bangladesh. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có hợp đồng lớn nào được ký. Do vậy, lượng hàng giao trong quý I/2012 mới đạt 1,1 triệu tấn, giảm 40% so cùng kỳ (thời gian giao hàng kéo dài đến quý II/2012). Để đạt được số lượng xuất khẩu gạo 6,5-7 triệu tấn như dự kiến chúng ta phải nỗ lực rất nhiều.

Source: http://www.kinhtenongthon.com.vn
 

Giải bài toángiống lúa IR 50404
Nguồn:
CTO
 

Vụ lúa hè thu năm nay, nhiều nơi bà con nông dân ĐBSCL vẫn thích gieo sạ giống lúa IR 50404. Có nơi làm gần 30% diện tích, có nơi lên tới 40% diện tích trong khi Bộ NN&PTNT khuyến cáo chỉ nên làm 10% diện tích vì giống này cho gạo phẩm cấp thấp, khó cạnh tranh với gạo xuất khẩu cùng cấp của Ấn Độ. Chúng tôi đã phỏng vấn GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, xoay quanh vấn đề này...

* Thưa Giáo sư, vì sao giống lúa IR 50404 vẫn được nông dân sản xuất nhiều?

- Giống lúa IR 50404 được nông dân sản xuất nhiều năm qua trên diện rộng vì giống này có thời gian sinh trưởng ngắn, 90-95 ngày khi gieo sạ thẳng; năng suất cao, dễ canh tác, nhẹ phân; khả năng quang hợp nhanh nên không bị lép; có thị trường cho nhà sản xuất bún, bánh tráng... Nhưng nhược điểm của giống lúa này là gạo có hàm lượng amylose cao nên cứng cơm và độ bạc bụng lớn, không thích hợp với thị hiếu quốc tế; dễ bị gãy khi xay chà, làm tỷ lệ gạo nguyên thấp, nhất là canh tác trong vụ hè thu; và giá trị thương phẩm rất thấp.

Giống IR 50404 tồn tại trong sản xuất một cách không mong muốn là câu chuyện dài của lúa gạo ĐBSCL. Khi nền nông nghiệp phát triển theo chiều rộng, có nghĩa là chúng ta phát triển nhiều về số lượng thì năng suất và sản lượng được nhấn mạnh hàng đầu. Chiến lược xuất khẩu gạo “trên cơ sở hạt lúa” bị xem nhẹ mà phổ biến là xuất khẩu “trên cơ sở hạt gạo” với chuỗi giá trị được phân ra quá nhiều công đoạn. Gạo ngon Jasmine, OM 4900 bị đánh đồng giá trị với gạo phẩm cấp thấp IR 50404, OM 576.

Ra thị trường thì thương lái trộn lẫn nhiều mẫu gạo làm mình không biết chắc đó là giống lúa gì. Chúng tôi là nhà chuyên môn về giống lúa nhưng khi ra chợ vẫn không thể phân biệt gạo đang bán xuất xứ từ giống lúa nào; với tên lạ hoắc qua hàng chục mẫu gạo ghi trên nhãn như gạo Đài Loan, gạo Mỹ, gạo Thái hương lài, gạo Lựa v.v... Nhưng cái lỗi này không phải do bà con nông dân.

* Như vậy, liệu mô hình cánh đồng mẫu lớn đang làm có giúp thay đổi được thói quen sản xuất này hay không?

- Mô hình cánh đồng mẫu lớn là bài tập ban đầu để doanh nghiệp thay đổi chiến lược xuất khẩu gạo ngay từ hạt lúa. Có nghĩa là nông dân được giúp đỡ từ trên đồng ruộng, đến lúc thu hoạch, xử lý sau thu hoạch một cách bài bản. Giấc mơ thương hiệu gạo Việt chắc chắn sẽ thành hiện thực. Cái cốt lõi của vấn đề chính là tổ chức lại sản xuất từ qui mô nông hộ nhỏ thành trang trại lớn, hợp tác hóa hiện đại.

Bây giờ là lúc nông nghiệp Việt Nam chuyển mình sang phát triển theo chiều sâu. Có nghĩa là chất lượng cao và tính cạnh tranh của nông sản lớn là yếu tố quyết định đến sự giàu nghèo của bà con nông dân.

* Nhưng sao ta không xuất khẩu gạo IR 50404 theo giá cạnh tranh với Ấn Độ?

- Gạo phẩm cấp thấp có thị trường lớn trên thế giới, nhưng tính chất cạnh tranh khá quyết liệt khi kho dự trữ gạo đã tăng trên 140-160 triệu tấn/năm. Mà khả năng lưu kho của ta hiện chưa tới 2 triệu tấn/năm. Trong khi gạo lưu thông trên thị trường quốc tế ở mức trên dưới 30 triệu tấn/năm. Bây giờ Ấn Độ, Myanmar và các nước khác vào cuộc, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn về cạnh tranh giá. Đây chỉ là lý do trước mắt. Về lâu dài, Việt Nam phải xuất khẩu gạo phẩm cấp trung bình - cao mới giúp cho nông dân cải thiện bài toán thu nhập thấp từ rất nhiều năm qua. Nghĩa là nếu mãi xuất khẩu gạo phẩm cấp thấp thì nông dân vẫn tiếp tục nghèo.

* Vậy nhà khoa học có bảo đảm đủ các giống lúa tốt hơn thay cho giống IR 50404 không, thưa Giáo sư?

- Chúng ta có bộ giống lúa mới thay thế IR 50404, đáp ứng yêu cầu thị trường mới, hấp dẫn về giá và tăng thu nhập cho nông dân thực sự; chứ không phải xuất khẩu chỉ tăng thu nhập cho doanh nghiệp vì không có sự phân phối lại một cách công bằng thì nông dân nghèo vẫn nghèo. Đó là giống OM 4900 (gạo thơm), OM 6162, OM 6161 cho vùng Tây sông Hậu, chịu hạn, OM 6677 cho vùng đất phèn, OM 4498, OM 6976 cho vụ hè thu vốn rất kén giống và chịu mặn; giống OM 7347 (Cần Thơ 1) rất thích hợp cho vùng Cần Thơ nhờ phẩm chất gạo trắng hạt dài hơn hẳn Pathum Thani 1 của Thái Lan, hoặc bộ giống ST của Sóc Trăng. Đây mới là thế mạnh của hạt gạo Việt Nam.

* Sắp thu hoạch vụ hè thu 2012, rồi lại chuyển sang một vụ lúa mới, Giáo sư có khuyến cáo gì với bà con nông dân không?

- Nếu có lời khuyên cho bà con nông dân, tôi xin nói rằng bà con nông dân hãy mạnh dạn đổi mới giống lúa mới đang được Cục Trồng trọt, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khuyến cáo cho từng mùa vụ, cho từng chân đất, để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, để luôn luôn được an tâm với bốn chữ “trúng mùa, được giá”.

* Xin cảm ơn Giáo sư!

Source: http://www.hoinongdan.org.vn

 FOODCROPS. CÂY LƯỢNG THỰC 

Chất lượng thực phẩm sẽ bị ảnh hưởng khi nồng độ CO2 tăng

Chất lượng thực phẩm sẽ bị ảnh hưởng khi nồng độ CO2 tăng

Lần đầu tiên, một thử nghiệm thực địa đã chứng minh rằng nồng độ CO2 cao sẽ ức chế sự đồng hóa nitrat chuyển hóa thành prôtêin, cho thấy chất lượng dinh dưỡng của cây lương thực có thể gặp vấn đề khi biến đổi khí hậu được tăng cường.

 
Những phát hiện từ nghiên cứu thực nghiệm này do nhà thực vật học ở trường Đại học UC Davis dẫn đầu, được đăng tải trực tuyến ngày 6 tháng 4 trên tạp chí Nature Climate Change.

Chất lượng thực phẩm hiện đang suy giảm trong bối cảnh nồng độ CO2 gia tăng trong khí quyển, Arnold Bloom - tác giả chính của nghiên cứu và là giáo sư công tác tại Khoa Khoa học thực vật cho biết.

Quá trình đồng hóa hoặc tinh lọc nitơ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và cho năng suất của thực vật. Ở cây lương thực, nó có ý nghĩa đặc biệt  quan trọng vì cây trồng sử dụng nitơ để tạo ra prôtêin – chất dinh dưỡng cần thiết cho con người. Trong trường hợp đặc biệt là cây lúa mì, cây trồng này cung cấp khoảng một phần tư lượng prôtêin trong bữa ăn của con người nói chung.

Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trước đây đã chứng minh được rằng nồng độ của khí CO2 ức chế quá trình đồng hóa nitrat trong lá của cây ngũ cốc và những cây không thuộc họ đậu; tuy nhiên, vẫn chưa xác minh được mối liên hệ này ở các loài cây trồng đang canh tác.

Để quan sát phản ứng của lúa mì với các nồng độ khí CO2 khác nhau, các nhà nghiên cứu đã xem xét các mẫu lúa mì đã được trồng trong năm 1996 và 1997 tại Trung tâm Nông nghiệp Maricopa gần Phoenix, Arizona.

Vào thời điểm đó, hàm lượng CO2 cao trong không khí được giải phóng ở các cánh đồng canh tác cây trồng này, tạo ra một sự gia tăng nồng độ CO2 trong khí quyển ở các lô thử nghiệm, tương tự như những gì được dự báo sẽ xuất hiện trong vài thập kỷ tới. Lúa mì được trồng đối chứng cũng được trồng trong môi trường xung quanh, ở nồng độ CO2 không được xử lý.

Lá thu hoạch từ các lô trồng lúa mì thử nghiệm khác nhau được đặt trên đá lạnh, sau đó được sấy khô và được đựng trong bao hút chân không để giảm thiểu những thay đổi theo thời gian về các hợp chất nitơ khác nhau.

Trong nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu đã ghi lại ba thước đo khác nhau về đồng hóa nitrat, khẳng định rằng nồng độ CO2 cao trong khí quyển ức chế đồng hóa nitrat chuyển hóa thành prôtêin trên cánh đồng trồng lúa mì.

Những kết quả này là phù hợp với những phát hiện từ các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trước đó, cho thấy rằng có một số cơ chế sinh lý chịu trách nhiệm cho ức chế CO2 của quá trình đồng hóa nitrat trong lá, Bloom cho biết.

Bloom lưu ý rằng các nghiên cứu khác cũng cho thấy hàm lượng prôtêin trong hạt lúa mì, gạo và lúa mạch, cũng như trong củ khoai tây, đang suy giảm trung bình là 8% trong bối cảnh nồng độ CO2 gia tăng trong khí quyển.

Trong khi các loại phân bón nitơ có thể bù đắp một phần cho sự suy giảm chất lượng thực phẩm, nó cũng sẽ có những hậu quả tiêu cực, bao gồm: giá cao hơn, nhiều nitrat rò rỉ vào nguồn nước ngầm và gia tăng phát thải khí nitơ oxít gây hiệu ứng nhà kính

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Tìm đâu giống lúa chịu ngập mặn cho vùng ĐBSCL

FOODCROPS.Tương lai ĐBSCL đang gặp khó khăn, hiện tại có khoảng 7% số ruộng lúa chịu tác động của nước biển dâng (TS. Nguyễn Văn Bộ). Theo IRRI,  với một giống chịu ngập tốt hơn có thể tăng năng suất lên 3 tấn/ha, một giống chịu hạn tốt hơn có thể tăng năng suất lên tới 1.5 tấn/ha, một giống chịu mặn tốt hơn có thể tăng năng suất lên 2 tấn/ha. Vậy nếu một giống lúa có thể giải quyết cả hai vấn đề chịu mặn và chịu ngập thì năng suất có thể tiến đến mức nào ! Chỉ biết nếu ta có một giống lúa chống ngập, chúng vẫn chết nếu đồng ruộng bị nhiễm mặn. Bất kỳ một kỹ thuật mới hiện đại nào tương lai rồi cũng quay về đồng ruộng, quay về cùng sự thích ứng hiệu quả với thiên nhiên, với năng suất chính nó và vai trò thực tế của nó với chính an ninh lương thực khu vực

alt

Tìm cứu tinh cho đồng bằng sông Cửu Long

Minh Long

Trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long phải đối mặt với tình trạng nước biển dâng và xâm thực mặn, tương lai của những nông dân ở đây phụ thuộc vào nỗ lực lai tạo một giống lúa chịu được cả ngập lẫn mặn.

Các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) đang phối hợp với các đồng nghiệp từ Việt Nam tại thành phố Los Banos - ở phía đông nam thủ đô Manila của Philippines – để phát triển một giống lúa có khả năng chịu ngập úng trong hơn hai tuần và kháng mặn. Nó sẽ là một trong những giải pháp giúp nông dân Việt Nam đối phó với tình trạng ngập lụt và xâm thực mặn tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi cung cấp tới hơn 50% sản lượng gạo của Việt Nam, Asian Times đưa tin.

IRRI đang tiến hành hàng loạt thử nghiệm để tìm ra giống lúa có khả năng giải quyết cả hai vấn đề: ngập úng và xâm thực mặn.

"Nếu chúng ta chỉ lai tạo được giống lúa có khả năng chống ngập, chúng vẫn chết nếu đồng ruộng nhiễm mặn”, Bjorn Ole Sander, một nhà nghiên cứu của IRRI, phát biểu.

4 đập thủy điện mà Trung Quốc xây trên dòng sông Mekong đã gây tác động tới các ruộng lúa ở hạ nguồn sông. Do lượng nước trong sông giảm, nước biển tràn vào sông. Ngoài ra lượng phù sa mà vùng châu thổ nhận được từ sông trong mùa mưa hàng năm cũng giảm khiến độ màu của đất giảm theo.

Nỗ lực tìm kiếm giống lúa có khả năng chịu ngập và mặn bắt đầu từ bang Orissa của Ấn Độ. Bang Orissa là nơi mà SUB 1 - giống lúa có khả năng chống ngập - ra đời. SUB 1 có thể sống sót sau khi chìm hoàn toàn trong nước trong 14 ngày. Các giống lúa khác không thể sống quá một tuần nếu chìm hoàn toàn trong nước.

“Bằng cách lai tạo biến thể của SUB 1, chúng tôi có thể tạo ra giống lúa mới mà không cần áp dụng kỹ thuật biến đổi gene. Nó có thể sống dưới nước trong 17 ngày”, Sander tuyên bố.

Nhưng lai tạo giống lúa có khả năng chống cả mặn lẫn ngập là thách thức lớn hơn nhiều.

“Quá trình nghiên cứu một giống lúa như thế có thể sẽ kéo dài trong ít nhất 4 năm. Nhưng nó sẽ mang đến giải pháp cho tình trạng ngập lụt và xâm thực của nước biển tại vùng châu thổ sông Mekong”, Sander bình luận.

Nước mặn từ Biển Đông đã lấn sâu vào đồng bằng sông Cửu Long tới 40 km, trong khi cách đây 30 năm con số đó chỉ là 10 km.

“Tương lai của đồng bằng sông Cửu Long đang bị đe dọa. Đó là lý do khiến chúng tôi đang hợp tác với IRRI để nghiên cứu giống lúa có khả năng chống ngập và mặn. 7% số ruộng lúa tại đồng bằng sông Cửu Long đang hứng chịu tác động từ tình trạng nước biển dâng”, tiến sĩ Nguyễn Văn Bộ, giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, phát biểu.

Mất 40% đồng bằng Cửu long nếu nước biển dâng một mét

Hương Thu

Nước biển dâng cao một mét, gần 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long ngập trong nước, đó là kịch bản biến đổi khí hậu ước đoán cho cuối thế kỷ này, do Bộ Tài nguyên môi trường công bố.

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa công bố kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng mới nhất. Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng dựa trên ước tính về phát thải khí nhà kính toàn cầu, gồm các kịch bản ở mức thấp, trung bình và cao.

Theo kịch bản phát thải cao, thì cuối thế kỷ 21,toàn dải ven biển Việt Nam có nước biển dâng trong khoảng từ 57-73cm, khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang là nơi có mực nước biển tăng nhiều nhất, đến 105 cm.

Tiến sĩ Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường cho biết, theo tính toán, nếu mực nước biển dâng như trên, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long bị ngập; 35% dân số bị ảnh hưởng.

Riêng thành phố HCM, có 20 % diện tích sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nước biển dâng.

Về nhiệt độ, đến năm 2100, Việt Nam có nhiệt độ trung bình tăng từ 1,6 đến 3,7 độ C.

Theo đánh giá của LHQ, Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu. Trái đất nóng lên sẽ gây nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như bão tố hoặc nắng nóng dẫn đến ngập lụt, hạn hán. Nước biển dâng cao sẽ xâm nhập mặn vào các vùng đồng bằng ven biển, ảnh hưởng đến nông ngư nghiệp - sinh kế của nhiều triệu người.

Source: http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/07/tim-cuu-tinh-cho-dong-bang-song-cuu-long/

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Khí hậu ấm lên có thể làm 1/3 diện tích trái đất bị khô hạn

Khí hậu ấm lên có thể làm 1/3 diện tích trái đất bị khô hạn

Nhiệt độ tăng dự kiến sẽ mở rộng diện tích đất nông nghiệp bị khô hạn vào cuối thế kỷ này. Phần lớn những lo ngại về hạn hán trong tương lai về sự nóng lên toàn cầu tập trung vào các dự báo về lượng mưa, nhưng tỷ lệ bốc hơi cao hơn cũng có thể đóng một vai trò quan trọng do nhiệt độ ấm hơn lấy nhiều hơi ẩm từ đất hơn.
 
Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên sử dụng các mô phỏng khí hậu mới nhất để mô hình hóa các tác động của sự thay đổi lượng mưa và sự bốc hơi nước trong những giai đoạn hạn hán trong tương lai. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Climate Dynamics.

Nghiên cứu ước tính rằng, 12% diện tích đất sẽ trải qua hạn hán vào năm 2100 do những thay đổi về lượng mưa, nhưng tình trạng khô hạn sẽ diễn ra trên 30% diện tích đất nếu tỷ lệ bốc hơi cao hơn do tình trạng năng lượng và độ ẩm trong không khí gia tăng. Tình trạng bốc hơi gia tăng có nghĩa là ở khu vực dự kiến có mưa nhiều hơn bao gồm các khu vực được coi là vành đai lúa mì, ngô và lúa quan trọng ở miền tây nước Mỹ và Đông Nam Trung Quốc sẽ có nguy cơ hạn hán. Nghiên cứu này không bao gồm khu vực Nam Cực.

Trong bản báo cáo khí hậu mới nhất, Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cảnh báo rằng, độ ẩm của đất sẽ giảm trên toàn cầu và tình trạng hạn hán tại các khu vực đất nông nghiệp có nguy cơ tồi tệ hơn. IPCC cũng dự đoán đất đai bị khô hạn ở Địa Trung Hải, phía tây nam nước Mỹ và khu vực nam châu Phi. Những kết quả này cũng tương tự các kết quả thu được từ nghiên cứu khí hậu đăng trên tạp chí Climate Dynamics.

Thông qua việc sử dụng hai công thức về số liệu hạn hán, các tác giả nghiên cứu phân tích dự báo về lượng mưa và nhu cầu bay hơi từ mô phỏng mô hình khí hậu được đưa ra vào năm 2013. Cả hai công thức đều chỉ ra tình trạng khô hạn có thể sẽ ảnh hưởng tới các vùng ẩm ướt ở vĩ độ trung bình như khu vực Great Plains của nước Mỹ và miền đông nam Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết các khu vực khô hạn ở Trung Mỹ, Amazon và Nam Phi sẽ mở rộng hơn. Tại châu Âu, mùa hè khô cằn của Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Tây Ban Nha dự kiến sẽ mở rộng xa hơn về phía bắc.

Đồng tác giả nghiên cứu Jason Smerdon, một nhà khoa học khí hậu tại Lamont - Doherty cho biết: “Đối với nông nghiệp, sự cân bằng độ ẩm trong đất là thực sự quan trọng. Nếu mưa tăng nhẹ nhưng nhiệt độ cũng tăng thì hạn hán là một hệ quả tiềm tàng”.

Hiện nay, khi thời tiết xấu làm giảm năng suất cây trồng ở một số nơi, sản lượng cây trồng ở các khu vực khác thường có thể bù đắp để ngăn chặn tình trạng thiếu lương thực. Tuy nhiên, trong bối cảnh thời tiết ấm hơn trong tương lai, các loại cây trồng ở nhiều vùng có thể bị tàn lụi đồng thời. Đồng tác giả nghiên cứu Richard Seager cho biết: “Các cú sốc về giá thực phẩm có thể trở thành phổ biến hơn. Các vùng đất khô cằn sẽ cần phải quản lý chặt nguồn cung cấp nước của mình”.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC 

Lúa gạo thế giới 2011-2012

FOODCROPS. Tình hình lúa gạo thế giới năm 2011-2012 được đánh giá khả quan, theo tổ chức FAO dự báo, viễn cảnh sản xuất lúa gạo thế giới năm 2012 có thể tăng khoảng 2,4% đạt đến 738 triệu tấn lúa.


alt

Lúa gạo thế giới 2011-2012

Năm 2011, tình trạng sản xuất lương thực thế giới, chủ yếu là ngũ cốc như lúa mì, lúa gạo và bắp được củng cố, đạt đến 2.325 triệu tấn hay tăng 3,7% so với 2010 dù khí hậu bất thường xảy ra tại một số nước.

Riêng lúa gạo là loại thực phẩm quan trọng cho hơn 3,5 tỉ người hay trên 50% dân số thế giới. Năm qua, ngành lúa gạo có hai chuyển biến lớn: Chính phủ Thái Lan tăng giá gạo nội địa để giúp nông dân có đời sống tốt hơn và Ấn Độ bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu loại gạo thường dùng (không thơm Basmati) gây ảnh hưởng lớn đến thị trường gạo thế giới. Hàng năm tình trạng sản xuất và thương mại lúa gạo thế giới bị chi phối bởi các yếu tố chính sau đây:

1) Lúa rất quan trọng với an ninh lương thực và liên hệ đến tình trạng nghèo khó trên thế giới. Cho nên, nhiều nước đang phát triển đã thực hiện chính sách tự túc lúa gạo, với nhiều trợ cấp cho cả ngành sản xuất và thị trường tiêu thụ, nhưng chưa sánh kịp trợ cấp to lớn như các nước công nghiệp. Hai nước Malaysia và Trung Quốc, trái lại có chính sách tự túc giới hạn, khôn ngoan, theo thứ tự ở mức 65% và 90% nhu cầu nội địa.

2) Tuy khối lượng sản xuất lúa gạo thế giới rất lớn, chỉ sau lúa mì, nhưng số lượng giao dịch quốc tế tương đối nhỏ, chỉ khoảng 30-34 triệu tấn gạo hay 6-7% mỗi năm, do chính sách tự túc của nhiều nước. Vì vậy, thị trường thế giới dễ bị dao động khi có những biến chuyển nhỏ trong ngành sản xuất.

3) Một yếu tố quan trọng khác gây ảnh hưởng rõ rệt đến sản xuất lúa gạo thế giới là khí hậu bất định mỗi năm. Hiện nay, diện tích trồng lúa tưới tiêu chiếm gần 60% tổng diện tích trồng lúa, nhưng sản xuất đạt hơn 75% tổng sản lượng gạo thế giới. Cho nên, ngành trồng lúa còn phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng thời tiết, nhất là các loại lúa trồng nhờ nước trời đang chiếm 40% tổng diện tích. Theo thống kê về tình hình sản xuất lúa trong 50 năm qua, cứ bình quân 6-7 năm có một lần khí hậu bất lợi cho canh tác lúa thế giới và gây xáo trộn giá cả thị trường.

4) Sản xuất lúa châu Á phản ánh đậm nét tình trạng lúa gạo thế giới và đóng vai trò quyết định tối hậu đến giá cả và giao dịch quốc tế, vì châu lục này hàng năm sản xuất và đồng thời tiêu thụ hơn 90% lúa gạo toàn cầu. Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ và các chính sách nhập khẩu, tồn trữ lúa gạo của các châu lục khác cũng làm ảnh hưởng đến thị trường không nhỏ.

5) Các cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế, tài chính, năng lượng như từng thấy trong những thập niên qua, gần đây nhất là năm 2008, đã gây ra khủng hoảng lương thực thế giới làm tăng thêm 100.000 người thiếu đói và đưa tổng số người bị đói lên 1 tỉ người.

Sản xuất

Mặc dù bị ảnh hưởng hiện tượng Niña ở nhiều nơi châu Á như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và bão ở Philippines từ tháng 8 năm ngoái nhưng sản lượng lúa toàn cầu đã vượt lên mức kỷ lục nhờ vụ mùa phát triển trong điều kiện khí hậu thuận hòa sau đó. Cơ quan FAO ở Rome đã đánh giá năm 2011, sản lượng lúa đạt đến 721 triệu tấn hay 481 triệu tấn gạo, tăng 3% hay 24 triệu tấn so với 2010.

Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập, Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam vượt trội hơn số lượng thất thu từ Indonesia, Madagascar, Pakistan, Philippines và Thái Lan. Sự gia tăng còn do diện tích trồng lúa thế giới tăng lên 164,6 triệu ha hay tăng 2,2% và năng suất bình quân cũng tăng nhẹ lên mức 4,38 tấn/ha tức tăng 0,8% trong hơn 1 năm vừa qua.

Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) hay tăng 2,9% so với 2010 dù có nhiều trận bão lớn xảy ra ở Philippines và lũ lụt nặng nề kéo dài ở Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan. Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ và Trung Quốc, với sự tham gia ở mức độ thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan và Việt Nam. Riêng Việt Nam, Chính phủ tính toán sản xuất lúa đạt đến 42 triệu tấn lúa hay tăng 1 triệu tấn so với 2010, do diện tích trồng lúa thêm 200.000 ha đưa tổng số lên 7,7 triệu ha, năng suất đạt đến 5,5 tấn/ha.

Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7,35 triệu tấn gạo mang về khoảng 3,5 tỉ Mỹ kim. Ấn Độ thu hoạch 154,5 triệu tấn lúa hay tăng 11 triệu tấn so với năm 2010 nhờ mùa mưa thuận lợi, ngoại trừ vài tỉnh ở Tây Nam có hạn hán. Trung Quốc sản xuất đến 203 triệu tấn lúa hay tăng 3%, đạt được mục tiêu tự túc trong suốt thập niên qua. Thái Lan bị ngập lụt nặng ở cánh đồng trung tâm làm thiệt hại 1,6 triệu ha tương đương 4 triệu tấn lúa, sản xuất năm 2011 khoảng 32,2 triệu tấn lúa, thấp hơn 7% so với năm 2010 (34,5 triệu tấn). Hậu quả này làm ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu gạo năm 2012 của Thái Lan.

Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn lúa (17 triệu tấn gạo), cao hơn 3% năm 2010 dù mưa bất thường, do được mùa ở Ai Cập, một nước sản xuất lúa tưới tiêu lớn trong vùng và tăng sản xuất ở Benin, Ghana, Mali, Nigeria, Sierra Leone thuộc Tây Phi Châu. Trong khi Đông Phi Châu như Tazania, Zambia, Madagascar và Nam Phi Châu có tình trạng ngược lại do mưa ít, ngoại trừ Malawi và Mozambique nhờ đầu tư nhiều cho hệ thống tưới tiêu. Ba nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập, Nigeria và Madagascar, chiếm đến 55% tổng sản lượng lúa. Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ 5,2 triệu tấn trong 2010 lên 5,8 triệu tấn trong 2011 và Nigeria từ 4,2 lên 4,3 triệu tấn; trong khi Madagascar giảm từ 4,8 xuống 4,3 triệu tấn trong cùng thời kỳ.

Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn lúa hay 19,8 triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm trước đó, do được mùa và giá gạo cao từ các nước Argentina, Brazil, Columbia, Guyana, Paraguay, Uruguay và Venezuela. Trong khi đó Mexico và Ecuador bị khô hạn, Honduras, Nicaragua và El Salvador bị ngập lụt. Bazil là nước sản xuất lúa gạo lớn nhất của châu Mỹ (chủ yếu lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với 11,7 triệu tấn 2010 nhờ khí hậu tốt. Sản xuất lúa của nước này chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn vùng.

Hoa Kỳ sản xuất lúa gần 8,5 triệu tấn, giảm 21% so với 2010 (11 triệu tấn) do khí hậu không thuận lợi và diện tích trồng thu hẹp. Đó là mức sản xuất thấp nhất kể từ 1998 của Hoa Kỳ. Sản xuất lúa Úc Châu tăng đến 800.000 tấn, gấp 4 lần so với 2010 (0,2 triệu tấn) nhờ cung cấp đầy đủ nước tưới. Sản xuất lúa ở châu Âu tăng thêm 0,2 triệu tấn, đạt đến 4,6 triệu tấn nhờ cải thiện năng suất, đặc biệt ở nước Ý và Liên bang Nga được mùa, nhưng giảm thu hoạch ở Pháp và Tây Ban Nha.

Thương mại

Giao dịch lúa gạo quốc tế 2011 đã tăng đến 34,3 triệu tấn hay 9% hơn 2010, phần lớn do nhu cầu nhập khẩu gạo của một số nước châu Á: Bangladesh, Indonesia, Iran, Trung Quốc và châu Phi như Côte d’Ivoire, Madagascar, Mali, Nigeria, Senegal. Nguồn gạo xuất khẩu tăng chủ yếu do Ấn Độ sau khi nước này bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo không phải Basmati vào tháng 9 vừa qua. Ngoài ra, còn các nước khác cung cấp số lượng gạo xuất khẩu khá lớn như Argentina, Australia, Brazil, Myanmar, Uruguay và Việt Nam trong khi Ai Cập, Hoa Kỳ, Pakistan và Trung Quốc giảm bớt xuất khẩu.

Viễn ảnh giao dịch lúa gạo thế giới 2012 có thể giảm đôi chút, khoảng 500.000 tấn gạo. Theo dự báo của FAO, giao dịch này chỉ đạt đến 33,8 triệu tấn gạo do nhu cầu châu Á giảm bớt chút ít. Về mặt xuất khẩu, Thái Lan giảm xuất khẩu từ 10,3 triệu tấn gạo 2011 xuống khoảng 8,2 triệu tấn 2012, do tình trạng ngập lụt nặng và thay đổi chính sách lúa gạo. Ấn Độ sẽ bù đắp giảm sút này của Thái Lan. Theo dự đoán, các nước Pakistan, Trung Quốc, Úc Châu và Việt Nam sẽ tăng xuất khẩu gạo vào năm tới. Còn Argentina, Brazil, Hoa Kỳ, Myanmar và Uruguay sẽ giới hạn xuất khẩu.

Sử dụng lúa gạo thế giới 2011-2012 đạt đến 470 triệu tấn gạo, tăng 9,7 triệu tấn hay 2% hơn năm vừa qua. Số lượng tiêu dùng này gồm có 397 triệu tấn dành cho thức ăn, 12 triệu tấn cho nuôi gia súc, và sử dụng khác như làm giống, chế biến và thất thoát sau thu hoạch khoảng 61 triệu tấn hay 3%. Khẩu phần thực phẩm trung bình tăng từ 56,5 kg/người/năm trong 2010 lên 56,8 kg 2011. Riêng tại các nước đang phát triển khẩu phần tăng thêm 0,4 kg lên mức 67,8 kg và tại các nước phát triển giảm 1% còn 12,2 kg mỗi năm. Gạo tồn trữ dự đoán 145 triệu tấn trong 2011, tăng 10,5 triệu tấn hay 8% so với 2010, số lượng này có thể cung cấp 30% nhu cầu thế giới. FAO ước đoán gạo tồn trữ tăng thêm 4 triệu tấn đến 149 triệu tấn trong 2012.

Giá gạo thế giới đạt đỉnh cao 570 Mỹ kim/tấn (gạo Thái 100% B) vào tháng 12/2010 và tháng 1/2011, bắt đầu giảm dần từ tháng 2 đến tháng 5/2011 (500 Mỹ kim/tấn) do thu hoạch mùa lúa đông xuân ở châu Á. Từ tháng 6 đến tháng 11/2011, giá gạo tăng cao trở lại (630 Mỹ kim/tấn) do lũ lụt tại một số nước châu Á, và Chính phủ Thái đưa ra chính sách tăng giá lúa gạo hỗ trợ nông dân kể từ 7/10/2011, với 502 Mỹ kim cho mỗi tấn gạo trắng premium và 667 Mỹ kim cho gạo thơm, tức tăng 66 và 33% so với thời điểm bấy giờ, theo thứ tự. Vào tháng 9/2011, giá gạo Việt Nam và Indonesia tăng 32% và 12% so với tháng trước. Vào cuối tháng 11/2011, giá gạo Việt Nam 5% tấm là 560 Mỹ kim/tấn và 25% tấm là 510 Mỹ kim/tấn.

Ấn Độ đang trở lại thị trường quốc tế với sức cạnh tranh cao do giá gạo thấp. Nước này còn mở rộng thị trường đến một số nước châu Phi. Gạo Ấn Độ 5% tấm chỉ còn 394 Mỹ kim/tấn tháng 11 so với 412 Mỹ kim/tấn tháng 10. Pakistan xuất khẩu ít hơn do thất mùa, giá gạo 25% tấm là 391 Mỹ kim/tấn trong tháng 11 so với 420 Mỹ kim tháng 10. Trung Quốc vẫn giữ giá gạo nội địa không thay đổi từ tháng 3 đến tháng 11, nhưng cao hơn cùng thời điểm năm trước đó 14%. Tại các nước Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Lào, Nepal và Philippines giá gạo nội địa không thay đổi từ tháng 9/2010 đến nay.

Năm 2011, Brazil xuất khẩu kỷ lục đến 1 triệu tấn gạo so với 0,4 triệu tấn 2010. Uruguay tập trung xuất khẩu gạo vào thị trường Trung Đông. Hoa Kỳ xuất khẩu giảm với 3,4 triệu tấn gạo năm 2011 so với 3,9 triệu tấn năm 2010. Giá gạo xuất khẩu cũng theo khuynh hướng thế giới giảm 5%. Gạo hạt dài 2/4 còn 593 Mỹ kim/tấn tháng 11 so với 625 Mỹ kim/tấn tháng 10. Năm 2012, giá gạo thế giới sẽ giảm do số lượng xuất khẩu dư thừa và số lượng gạo giao dịch nhỏ hơn so với năm trước. Đây là hậu quả tất nhiên của sản xuất và tồn trữ tăng gia liên tục trong thập niên vừa qua.

Tóm lại, theo Tổ chức FAO dự báo, viễn cảnh sản xuất lúa gạo thế giới năm 2012 khá sáng sủa, có thể tăng khoảng 2,4% đạt đến 738 triệu tấn lúa; nhưng giao dịch gạo thế giới sẽ giảm bớt 1% ở mức 33,8 triệu tấn gạo, do Thái Lan giảm số lượng xuất khẩu 20% và một số nước khác cùng có khuynh hướng này. Sự thay đổi chính sách lúa gạo của Thái Lan và Ấn Độ sẽ làm cho thị trường lúa gạo thế giới năm tới không được ổn định. Ấn Độ và Pakistan sẽ thay thế phần lớn số lượng xuất khẩu sút giảm của Thái Lan.

Source: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/2/2/88582/Lua-gao-the-gioi-2011-2012.aspx

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Robot tưới cây thông minh

Robot tưới cây thông minh

Hãng robot Droplet vừa tạo ra được một loại robot có tên Droplet, có thể tự động tưới nước phù hợp với từng giống cây và các điều kiện thời tiết khác nhau, nhờ được trang bị những công nghệ tự động hóa mới nhất, công nghệ điện toán đám mây và một số dịch vụ kết nối khác.

 Robot Droplet có khả năng tự động ngắm hướng vòi phun, lượng nước và tần suất tưới nước cho cây theo những lịch trình mà robot tự tính toán dựa trên phân tích các dữ liệu đầu vào. Trên thực tế, robot Droplet hoàn toàn có thể thay thế con người trong việc chăm sóc cây, thậm chí nó có thể làm tốt hơn với việc tiết kiệm tới 90% lượng nước lãng phí trong quá trình tưới nước cho cây theo cách thông thường, qua đó giảm chi phí chăm sóc cây.

 Robot Droplet giống như một vòi phun nước có khả năng tự điều chỉnh hướng dòng nước phun ra từ ống đến thân cây trong bán kính 9,14 m. Việc cho robot vận hành khá đơn giản, người dùng chỉ cần khai báo tên của các loại cây có mặt trong khu vực cần tưới thông qua qua các phương tiện điện tử cầm tay như điện thoại, máy tính bảng được kết nối không dây với robot. Robot Droplet có khả năng ghi nhớ,  người dùng cần điều chỉnh hướng vòi phun bằng tay đến mỗi cây lần đầu tiên, robot sẽ lưu từng vị trí của các cây vào bộ nhớ của nó để tự vận hành những lần sau.

 Ngoài ra, dựa trên thông tin về tên các loại cây, robot sẽ tự tra cứu thông tin trên mạng nhằm xác định lượng nước cũng như tần số tưới cho phù hợp với từng loại cây. Nó cũng tự tra cứu dữ liệu về tình hình thời tiết thời gian thực ở địa điểm tưới để có kế hoạch tưới phù hợp với thời tiết.

Hãng robot Droplet đã công bố giá bán loại robot này là 300 USD.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Lúa Japonica ở miền núi phía Bắc

FOODCROPS. Giống lúa Japonica có nguồn gốc từ các nước ôn đới được cấy rộng rãi ở sông Hồng và dần lên miền núi phía Bắc. Giống lúa thích hợp với vùng khí hậu cận ôn đới, khả năng chịu lạnh tốt, sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ thấp.

alt

Lúa Japonica “đổ bộ” miền núi phía Bắc

Giống lúa Japonica có nguồn gốc từ các nước ôn đới được các nhà khoa học Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo, cho ra đời một số giống: ĐS1, ĐS2, ĐS3, J01, J02, J03… Sau khi được cấy rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các giống Japonica đang “đổ bộ” lên miền núi phía Bắc bằng những ưu thế vượt trội…

Giống lúa Japonica du nhập vào Việt Nam bằng con đường không chính thức, sau nhiều năm nghiên cứu, chọn tạo GS.TS Hoàng Tuyết Minh cho ra đời giống lúa ĐS1, đã được Bộ NN-PTNT công nhận là giống quốc gia. GS.TS Đỗ Năng Vịnh cũng chọn tạo thành công giống lúa Japonica1 (J01). Sau 2 giống trên, một loạt giống lúa ĐS2, ĐS3, J02, J03… nối tiếp nhau ra đời mang thương hiệu Việt Nam. Các giống lúa này đang được trồng rộng rãi ở nhiều địa phương: Hưng Yên, Thái Bình, Hoà Bình, Hà Nội, Nam Định...

Có nguồn gốc vùng ôn đới, nên giống lúa Japonica thích hợp với vùng khí hậu cận ôn đới, khả năng chịu lạnh tốt, sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ thấp từ 12- 150C, chịu thâm canh, khả năng chống chịu sâu bệnh cao, thời gian sinh trưởng từ 120-150 ngày, năng suất trung bình 60-75tạ/ha đối với ĐS1, 64-66 tạ/ha đối với J01. Chất lượng gạo ngon, phù hợp với tập quán canh tác của đồng bào vùng cao trên diện tích ruộng một vụ và hai vụ.

Vụ mùa 2009 Trung tâm Chuyển giao công nghệ & khuyến nông (Viện Khoa học Nông nghiệp VN) đưa một số giống lúa Japonica: ĐS1, J01 vào SX thử ở các xã vùng cao Yên Bái, Thái Nguyên, Sơn La... Tiếp đến vụ xuân năm 2010 giống lúa ĐS1 được trồng ở các xã vùng cao Yên Bái như Sơn Lương, Gia Hội, Nậm Búng (Văn Chấn), Nậm Có (Mù Cang Chải), Hát Lừu (Trạm Tấu) với diện tích trên 50 ha. Tham gia cấy giống Japonica có gần 300 hộ thuộc các dân tộc: Thái, Mông, Tày trình độ canh tác và điều kiện thổ nhưỡng khác nhau nhưng kết quả thu được vượt ngoài dự kiến.

Đối chứng với các giống lúa lai: Nhị ưu 838, Q.ưu số 1, Tạp giao 1…thì giống ĐS1 có khả năng chống chịu được sâu bệnh: rầy nâu, đạo ôn, khô vằn, bạc lá… Chiều cao cây từ 95-105 cm, khóm to cây cứng khả năng chống đổ tốt. Bông tuy ngắn, nhưng hạt to, sít hàng nên năng suất tương đương với các giống lúa lai. Giống J01 thời gian sinh trưởng từ 120-125 ngày, ngắn hơn so với ĐS1, bông dài, hạt to, tỷ lệ hạt chắc đạt trên 85% nên năng suất cao hơn giống ĐS1.

Với đặc tính sinh học chống chịu được lạnh cao nên giống Japonica rất phù hợp với vụ xuân, nhất là khu vực miền núi nhiều năm rét đậm kéo dài, nhiều giống lúa lai chết rét. Vụ xuân 2012, Trung tâm Chuyển giao công nghệ & khuyến nông đã mở rộng mô hình cấy giống ĐS1, J01 trên diện tích 112 ha xã Phù Nham huyện Văn Chấn, 150 ha ở xã Hạt Lừu, huyện Trạm Tấu.

Ông Nguyễn Văn Duyên Chủ tịch xã Phù Nham cho biết: Phù Nham với diện tích 295,1 ha ruộng, do nằm giữa lòng chảo Mường Lò cuộc sống người dân chủ yếu dựa vào cây lúa. SX vụ xuân vô cùng khó khăn do rét đậm kéo dài, năm 2009 Phù Nham cấy 5 ha tại thôn bản Loọng và bản Ten, năng suất đạt 68 tạ/ha. Do khả năng chịu lạnh tốt, năng suất cao nên năm 2011 bà con cấy cả hai vụ xuân và mùa, với tổng diện tích 40 ha, năng suất đều đạt trên 60 tạ/ha. Ngoài ra giống J01 cũng được cấy trên diện tích 5 ha. Vụ xuân 2012 xã Phù Nham cấy 112 ha giống lúa ĐS1 và J01, năng suất dự kiến 66 tạ/ha là chắc chắn. Với giống lúa đặc sản này chúng tôi mong muốn nhà nước tạo điều kiện cho người dân tiêu thụ sản phẩm...

Cuộc “đổ bộ” của giống lúa Japonica lên miền núi, nhất là các huyện vùng cao mỗi năm một tăng. Năm 2010 huyện Trạm Tấu cấy 5 ha, năm 2011 diện tích tăng lên 15 ha đến vụ xuân 2012 diện tích vượt lên 150 ha, xã Hát Lừu cấy toàn bộ bằng giống ĐS1. Giải thích vì sao diện tích lúa Japonica tăng đột biết như vậy, ông Vũ Quỳnh Khánh- Bí thư huyện uỷ cho biết: Diện tích giống lúa Japonica tăng nhanh ở Trạm Tấu là do giống lúa phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nên năng suất rất cao. Nếu hai vụ trước huyện phải hỗ trợ giống và phân bón thì vụ xuân năm nay chỉ hỗ trợ giống...

Do giá lúa cao lại dễ bán, nên nhiều địa phương của tỉnh Yên Bái đã cấy Japonica cả hai vụ xuân và vụ mùa, diện tích cả hai vụ từ 700-900 ha. Đồng bào vùng cao của tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên… bắt đầu biết tới giống lúa Japonica. Gạo ĐS1, J01 của Yên Bái được một số Cty kinh doanh lương thực đưa vào nhiều siêu thị ở Hà Nội.

GS.TS Đỗ Năng Vịnh khao khát: Để phát triển nhanh diện tích giống lúa Japonica ở các tỉnh miền núi nhà nước cần có cơ chế chính sách tạo cơ hội cho người dân tiếp cận và mở rộng diện tích cấy các giống lúa này hạn chế sự phụ thuộc vào nước ngoài nhập các giống lai giá vừa đắt lại không chủ động. Trong tương lai không xa, giống lúa Japonica sẽ trở thành đặc sản có thương hiệu “Gạo núi Japonica” mà người tiêu dùng hướng tới…

GS.TS Hoàng Tuyết Minh: Thống kê chưa đầy đủ, các giống lúa ĐS1, J01 đang được cấy rộng khắp ở các tỉnh miền Bắc từ Thanh Hoá trở ra. Diện tích ĐS1 gần 100.000 ha, J01 khoảng 1.000 ha. Sau ĐS1, J01 chúng ta có thêm các giống ĐS2, ĐS3, J02, J03... Màu xanh của giống lúa Japonica đã phủ khắp nơi. Với bộ giống lúa tốt như vậy cá nhân tôi cũng như tác giả của các giống lúa trên mong sao Trung tâm Chuyển giao công nghệ & khuyến nông cũng như các địa phương nhanh chóng đưa xuống ruộng đồng, để bà con nông dân được hưởng thành quả khoa học, nâng cao thu nhập…

Source: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/2/2/95544/Lua-Japonica-do-bo-mien-nui-phia-Bac.aspx

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nông dân Pháp trước "bài toán" giảm dùng thuốc trừ sâu

Nông dân Pháp trước "bài toán" giảm dùng thuốc trừ sâu

Thu hoạch lúa mì vụ Đông của Pháp sẽ giảm hơn 10% nếu nông dân thực hiện mục tiêu giảm 50% lượng thuốc trừ sâu sử dụng.

 Đây là kết quả nghiên cứu mới được các nhà khoa học Pháp công bố, cho thấy những thách thức của việc cung cấp lương thực cho dân số đang ngày càng gia tăng trên toàn cầu.

 Theo nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí Báo cáo khoa học tự nhiên, nếu giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng, sản lượng lúa mì vụ Đông của Pháp sẽ giảm khoảng 2-3 triệu tấn/năm, tương đương 5-13% sản lượng toàn quốc, và lượng lúa mì xuất khẩu của nước này giảm 15%.

 Với dự báo tới năm 2050, thế giới sẽ phải bổ sung lượng lương thực đủ để nuôi thêm 2 tỷ ''miệng ăn'' nữa, cộng với tình trạng thiếu đất trồng trọt, việc tăng sản lượng cây trồng trên mỗi ha chưa bao giờ trở nên cấp thiết như hiện nay.

 Trước đây, trong giai đoạn 1960-1990, thuốc trừ sâu đóng một vai trò quan trọng góp phần tăng gấp đôi sản lượng bình quân của ngũ cốc trên toàn thế giới, nhưng ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe con người và đa dạng sinh học đã khiến vấn đề này gây tranh cãi.

 Nông dân châu Âu được khuyến khích hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, và chính sách môi trường của Pháp đặt mục tiêu giảm 50% lượng thuốc trừ sâu sử dụng vào năm 2018.

 Để tính toán những ảnh hưởng của chính sách cắt giảm trên, nhóm chuyên gia đã tiến hành phân tích dữ liệu từ 176 lô đất trồng lúa mì thử nghiệm tại bốn địa điểm ở Pháp, trong đó so sánh sản lượng cây trồng ở lô có phun thuốc trừ sâu, giảm thuốc trừ sâu và không phun thuốc trừ sâu.

 Kết quả cho thấy khi giảm 50% lượng thuốc trừ sâu, sản lượng lúa mì giảm 0,4-0,9 tấn/ha, còn nếu loại bỏ hoàn toàn thuốc trừ sâu sẽ giảm 2-2,3 tấn/ha; trong khi sản lượng lúa mì bình quân toàn Pháp đạt 7,11 tấn/ ha từ năm 2008-2012.

 Theo các nhà khoa học, đối với lúa mì vụ Đông ở Pháp, nếu giảm 50% lượng thuốc trừ sâu, có thể giảm chi phí đầu vào (dùng mua thuốc trừ sâu) khoảng 66 euro/ha.

 Tuy nhiên, khi sản lượng lúa mì bị giảm 0,4 tấn /ha, với mức giá lúa mì hiện nay là hơn 200 euro/tấn, người nông dân có thể thiệt hại 88 euro trên mỗi ha lúa mì.

 Đây sẽ là bài toán đối với các nông dân khi phải hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu.

 Mặc dù vậy, nhóm chuyên gia cho biết giảm lượng thuốc trừ sâu có thể mang lại những lợi ích khác, như giảm chi phí, bao gồm chi phí lọc nước bị nhiễm thuốc trừ sâu - tiêu tốn của Pháp từ 4-15 tỷ euro trong năm 2011.

 Nghiên cứu trên không tính đến ảnh hưởng của việc giảm lượng thuốc trừ sâu đối với các loại cây trồng khác, hay liệu lợi ích môi trường có thể tác động tới sản lượng cây trồng trong dài hạn hay không./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Xây dựng Nông thôn mới ở tỉnh Điện Biên

CÂY LƯƠNG THỰC. GSTS Nguyễn Văn Luật, anh hùng lao động, nguyên Viện Trưởng Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long, vừa gửi bài Xây dựng Nông thôn mới ở tỉnh Điện Biên, đồng hành bởi Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc.

 

alt
 
Xây dựng Nông thôn mới ở tỉnh Điện Biên
GSTS Nguyễn Văn Luật

Lộ trình xây dựng xã nông thôn mới (NTM) ở tỉnh Điện Biên đến năm 2015 là 20/98 xã , hiện có xã Thanh Chăn đang vươn lên dẫn đầu , sau đó là xã Mường Phăng, và nhiều xã khác như Thanh Hưng, Thanh Yên, Thanh Xương và xã Ăng Tờ huyện Mường Áng...Theo Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng mô hình nông thôn mới thì xã Thanh Chăn là một trong 11 xã được Trung Ương chọn làm thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong cả nước. Chủ tịch UBND xã Thanh Chăn Cà Văn Pánh cho biết mặt bằng dân trí thấp, có gần 1.200 hộ, trong đó có 60% là người Thái Đen và Thái Trắng (chỉ khác nhau về tập quán) và người Khơ Mú; 80% dân số làm nông nghiệp. Theo anh Trần Văn Hân, Phó Chủ tịch xã, Thanh Chăn dù mới bắt đầu xây dựng vài năm gần đây mà đã đạt 12/19 tiêu chí, và vài năm nữa, vào năm 2013, có thể đạt đủ 19 tiêu chí. Hiện nay, nhiều tiêu chí đã hoàn thành như đường giao thông, đường vành đai biên giới, đường ống dẫn nước sinh họat, y tế, giáo dục, điện (100% hộ có điện dùng), nước sạch, trường học; các công trình văn hóa như sân vận động, nhà thi đấu đa năng, trung tâm học tập cộng đồng, chợ trung tâm.., đang “cán đích” đưa vào sử dụng. Hộ nghèo trước chiếm tỷ lệ trên 30% nay còn 17,7%. Đường ô tô đi từ thành phố Điện Biên đến Thanh Chăn tuy còn xấu, nhưng mạng lưới giao thông xã đi lại dễ dàng.

Như vậy, hạ tầng cơ sở ở xã Thanh Chăn NTM được cải thiện rõ rệt, mức thu nhập của dân theo báo cáo tăng 1,4-1,5 lần so với mức bình quân của xã trước đây 2 năm, cán bộ và nhân dân phấn khởi. Một điều nữa đáng mừng là cán bộ địa phương, cán bộ ngành nông nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, các nhà khoa học trẻ của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (VKHKTMNPB) cùng với cán bộ khuyến nông của tỉnh và huyện Điện Biên đều hợp tác tốt trong việc chuyển giao “cần câu cá” giúp nông dân phát triển nông nghiệp tòan diện ở vùng thuần nông này. Kết quả ban đầu cũng rất rõ: Cải tạo diện tích đồi gò trồng CAQ: xòai, hồng Xiêm, chanh, bưởi, nhãn, cam xen ổi đuổi rầy chổng cánh gây bệnh Greening; sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu.. ;nuôi cá rô Phi đơn tính, nuôi cá tổng hợp, nuôi tôm càng xanh. Chương trình hỗ trợ 50 con bò, đưa tổng số đàn trâu bò của Thanh Chăn lên gần 1000 con; cả xã đã xây dựng hơn 600 hầm biogaz, trong đó giúp 100% cho 54 hộ nghèo. Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết gia súc gia cầm đã được đưa ra khỏi gầm nhà sàn, là kết quả của việc kiên trì vận động bà con nông dân từ bỏ tập quán không tốt cho sức khỏe con người, và xác nhận mô hình nuôi nhốt là tốt nhất. Giống cỏ nuôi trâu bò cho năng suất và chất lượng cao Watemala, cùng với nhiều giống CAQ, giống chè, giống tôm càng xanh, giống cá rô đơn tính, giống lúa.. các đơn vị hữu quan địa phương và Viện VKHKTMNPB đưa về và hướng dẫn nông dân sản xuất trên hàng chục ha mô hình. Sự hưởng ứng và tiếp thu của nông dân còn thể hiện tên gọi thân thương mà bà con đặt cho những nhà khoa học kỹ thuật trực tiếp chuyển giao công nghệ, như cô Cá rô đơn tính, cô Tôm càng xanh, câu bưởi Diễn, cậu Trà xanh.. Tôi rất vui khi liên hệ với việc đưa giống lúa mới vào ĐBSCL trước đây, bà con nông dân, cả anh lái xe ôm gọi anh hai ôm em (OM), ôm em cực sướng (OMCS), bác lá Kim vàng chữa đau răng, chặn cơn hen xuyễn..

Trong đợt nghiên cứu khảo sát nhanh phong trào XDNTM này, tôi được biết nhiều cán bộ Trung ương đã đến Thanh Chăn và có những chỉ đạo rất thiết thực, như Nguyên PTT Trương Vĩnh Trọng (anh Hai Nghĩa), nguyên Bộ trưởng Nông nghiệp Lê Huy Ngọ..; những cán bộ lãnh đạo địa phương sâu sát như bà BT tỉnh ủy Lò Mai Chinh, TB Dân vận Lò Thị Mại.., và nhiều cán bộ trong ngành rất năng động như ThS Hiển Giám đốc Sở, PCT xã phụ trách nông nghiệp Hân, CB khuyến nông Mai, Xuân, Lò Thi Thùy..Trong số những CB này, nhiều người là con cháu của chiến sỹ Điện Biên Phủ năm xưa. Các vị trên ít nhiều đã để lại dấu ấn giúp Thanh Chăn hòan tất 19 tiêu chí NTM. Tuy vậy mà Thanh Chăn không vướng vào tình trạng mô hình nông nghiệp Định Công, Thạnh Thắng, Quỳnh Lưu ở thập kỷ 60 của thế kỷ trước: tốn kém tiếp quá nhiều đòan khách đến.

Tỉnh Điện Biên nói chung và Thanh Chăn nói riêng, nằm trong vùng rừng núi Tây Bắc, nhưng rừng đến nay bị khác khác gỗ khá triệt để, nên ý nghĩa kinh tế không còn là bao. Chủ lực của nền kinh tế hiện nay vẫn là nền sản xuất lúa gạo. Giống lúa nào ở đồng bằng đưa lên mà trụ được đều cho gạo chất lượng cao hơn, năng suất không thua kém mà có khi hơn ở đồng bằng. Hiện nay ở tỉnh Điện Biên sản xuất bằng giống lúa IR64 đến từ ĐBSCL vào giữa những năm 80 TK trước, với tên ban đầu là OM89, chiếm tỷ lệ diện tích cao nhất, khỏang 40%, trước đó là 70%, trong tổng số 15.000 ha lúa; sau đó là các giống nhập từ Trung Quốc như Bắc Thơm, khỏang trên 30%. Trước đây không lâu, 3.000 ha lúa ở lòng chảo Điện Biên, trong đó có xã Thanh Chăn cũng dùng lúa IR64 như trên, còn nay thay dần bằng giống lúa Bắc Thơm bán được giá và lời trên 1 đơn vị diện tích cao hơn. Theo đồng chí Giám đốc Sở, đã có nơi làm hai vụ lúa trên năm, dân thu nhập 120 triệu đồng.

Trong khi còn ở tình trạng độc canh lúa trên thì một nền nông lâm ngư nghiệp đa canh, đa dạng đang phát triển ở địa phương miền núi này, mà mô hình XDNTM Thanh Chăn đang thể hiện vai trò đi đầu mặc dầu mới ở bước đầu. Sự có mặt của Viện VKHKTMNPB có cơ sở chính khang trang tại Phú Thọ, có ý nghĩa lớn trong việc hỗ trợ Thanh Chăn phát triển nông nghiệp tòan diện và đạt 19 tiêu chí NTM nhanh hơn. Không những Viện đã có nhiều giống cây con nông lâm nghiệp với công nghệ sản xuất và chế biến hiện đại, mà Viện còn nằm trong hệ thống Viện Khoa học. Nông nghiệp Việt Nam (VASS), có thể tiếp nhận và chuyển giao nhanh chóng những thành tựu nghiên cứu phù hợp của hàng chục viện bạn, kể cả kinh nghiệm sản xuất hay ở hàng chục tỉnh vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Hòang Liên Sơn, ở đâu Viện cũng có điểm nghiên cứu, nhằm chuyển giao đến Thanh Chăn trong sự nghiệp góp phần XDNTM. PGSTS Lê Quốc Doanh, một Viện trưởng trẻ rất năng động, đã nhiều lần đến Thanh Chăn, cử nhiều nhà khoa học trẻ của Viện xuống xã cùng với cán bộ địa phương, giúp bà con nông dân sản xuất thử và làm mô hình mở rộng như đã đề cập phần nào trong phần viết trên

Chúng tôi đến Điện Biên từ Phú Thọ, đi ban đêm vào tuần trăng tròn, chỉ cảm nhận hạ tầng cơ sở được nâng cấp qua đường ô tô và điện sáng từ các nhà dân trong tầm nhìn, không thấy đèn dầu, đèn điện đều dùng bóng compac tiết kiệm điện năng. Có những đọan đường dài không gặp ai đồng hành, chỉ có mặt trăng khi ở bên trái khi bên phải, khi đi trước khi đi sau, ngó ngó, nghiêng nghiêng. Cậu tài xế ngẫu hứng đọc câu ca dao: “Đường lên Tây Bắc loanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Chúng tôi cảm nhận sự hùng vĩ vùng Tây Bắc ở góc độ khác, góc độ điện khí hóa, hiện đại hóa vào ban đêm Khi về, đi một mạch hơn 500 km từ sáng đến tối là đến Hà Nội. Đường nhựa tốt hơn cả đường đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL. Ban ngày thấy hai bên đường còn nhiều nhà tranh vách tạm bợ, nhà sàn. Tuy nhiên, chúng tôi tin tưởng rằng đường, điện, nước và những cơ sở hạ tầng khác đang đánh thức vùng Tây Bắc, và cả vùng núi phía Bắc có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội.

Tiềm năng cần kể đến đầu tiên là RỪNG, mặc dầu rừng kinh tế ở đây đã bị khai thác quá mức, trong khi vùng Tây Bắc có tỉnh Yên Bái nhờ tiếp sức của Chương trình 5 triệu ha rừng mà độ che phủ đạt gần 60%, 12 vạn lao động chiếm ¼ dân số của tỉnh sống nhờ rừng. Chúng tôi đã tham mưu với địa phương và PGS Doanh về thành phần cây rừng không chỉ là cây lấy gỗ, mà nên xen vào những cây rừng lương thực thực phẩm, như hạt rẻ, cây rau sắng, cây hồ đào, cây mít ăn hạt, cây xa kê hay cây bánh mì..; rừng cây ăn quả thích hợp như nhiều lòai cây có tập quán nhưng có giống mới và lòai cây mới di thực về; rừng cây công nghiệp như cây chè, và những cây công nghiệp khác; kết hợp với chăn nuôi dưới tán rừng..

Tiềm năng phát triển sản xuất cây lương thực thực phẩm ngắn ngày mà hiện chủ lực vẫn là cây lúa theo hướng đa dạng sản xuất trên ruộng lúa. Có tới 80% dân số làm nông nghiệp như ở xã Thanh Chăn, và cả ngàn trâu bò cầy kéo thì vắng bóng máy nông nghiệp ở đây là điều dễ hiểu. Vì vậy, đánh thức tiềm năng này phải là công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Hồi còn làm Bộ trưởng, ông Lê Huy Ngọ có tặng Điện Biên 2 giàn dụng cụ gieo lúa theo hàng trước cả khi miền Bắc có phong trào mở rộng khá nhanh diện tích áp dụng cải tiến kỹ thuật này. Ngòai lợi ích giảm nhanh được công lao động sản xuất lúa trong khi công lao động ngày một khan hiếm, một lợi ích vô giá là người phụ nữ khỏi phải cúi cấy, cả bà già, em gái, các chị có chửa, trong mùa đông thì chân phát cước nứt nẻ; mùa hè nước nóng nung đỏ chân. Hồi cuối những năm 80 TK trước, tiến bộ kỹ thuật này được Nông trường Sông Hậu áp dụng khỏang 6 000 ha; tỉnh Trà Vinh áp dụng trên hàng vạn ha. Lúc đầu chúng tôi phải ký cam kết nếu có thất thóat phải bù, nhưng chỉ đến nửa vụ là nông dân tự hủy cam kết này. PGS Viện trưởng Doanh có dự định sẽ đưa hàng chục giàn dụng cụ gieo lúa theo hàng và cho cán bộ kỹ thuật cùng với cán bộ khuyến nông địa phương tập huấn cho cho bà con nông dân. Một thông tin mới: theo một tổng kết của tỉnh Lạng Sơn, gieo thẳng hàng bằng giàn kéo tay giảm được 85 – 90% lao động làm mạ và cấy, tiết kiệm được hàng triệu đồng/ha.

Trong bối cảnh diễn biến khí hậu ngày càng phức tạp, dưới sự lãnh đạo của các cấp Đảng và Chính quyền, Thanh Chăn và nhiều xã ở vùng Trung Du và Miền Núi phía Bắc sẽ dẫn đầu trong việc góp phần tích cực mô hình xây dựng mô hình nông thôn mới với ý nghĩa quan trọng tương tự như việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn ở các tỉnh phía Nam./.

Source:  http://cayluongthuc.blogspot.com/2011/12/xay-dung-nong-thon-moi-o-tinh-ien-bien.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Thương mại lương thực toàn cầu có thể làm giảm bớt tình trạng khan hiếm nước

Thương mại lương thực toàn cầu có thể làm giảm bớt tình trạng khan hiếm nước

Thương mại lương thực toàn cầu giúp tiết kiệm lượng nước ngọt trị giá tới 2,4 tỷ đô la Mỹ và đã có một tác động lớn đến tình trạng thiếu nước ở nhiều khu vực. Đây là kết quả của một nghiên cứu mới do Viện Nghiên cứu Tác động khí hậu Potsdam thực hiện.

Việc buôn bán lương thực thực phẩm liên quan đến lượng nước được sử dụng cho sản xuất, và lượng nước này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu trong khu vực sản xuất, ví dụ Ma-rốc cần 2.700 lít nước để sản xuất 1 kg ngũ cốc, trong khi Đức chỉ sử dụng hết 520 lít. Khi phân tích tác động của thương mại đối với tình trạng khan hiếm nước ở địa phương, các nhà khoa học phát hiện ra rằng điều quan trọng không phải là lượng nước sử dụng mà là nguồn gốc của nước. Trong khi các khu vực của Ấn Độ hay Trung Đông giảm bớt tình trạng khan hiếm nước thông qua việc nhập khẩu lương thực, một số nước ở Nam Âu xuất khẩu hàng nông sản từ các khu vực khan hiếm nước, do đó làm gia tăng tình trạng khan hiếm nước tại địa phương.

Tác giả của nghiên cứu Anne Biewald cho biết: Nông nghiệp chiếm 70% lượng tiêu thụ nước ngọt toàn cầu và do đó ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng khan hiếm nước ở địa phương. Lượng nước sử dụng trong sản xuất hàng nông sản xuất khẩu không giúp xác định được nguồn nước trong khu vực, nhưng chỉ ra lượng nước sử dụng trung bình của quốc gia hay thậm chí toàn cầu.

Khi kết hợp các mô phỏng sinh học của lượng nước sử dụng trong sản xuất nông nghiệp với sử dụng đất cho kinh tế nông nghiệp và các mô phỏng sử dụng nước, lần đầu tiên, các nhà khoa học đã có thể xác định tác động tích cực và tiêu cực đến sự khan hiếm nước thông qua thương mại quốc tế cây trồng, gia súc và thức ăn chăn nuôi. Những tác động này được phân tích ở cấp độ địa phương tại các nước lớn như Ấn Độ hay Mỹ với các vùng khí hậu khác nhau và các điều kiện địa phương khác nhau về nguồn nước. Trước đây, các quốc gia này chỉ có thể được đánh giá thông qua năng suất nước trung bình toàn quốc. Ông Biewald cho biết: “Tình trạng khan hiếm nước địa phương được giảm bớt thông qua việc nhập khẩu hàng hóa nông nghiệp, và do đó giảm được các hoạt động sản xuất nông nghiệp tại các khu vực của Ấn Độ, Ma-rốc, Ai Cập và Pakistan. Nhưng sự khan hiếm nước trở nên trầm trọng hơn do việc xuất khẩu nông sản tại các khu vực của Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Afghanistan và Mỹ”. Mặc dù thực tế là chỉ riêng Châu Âu đã tiêu tốn lượng nước dành cho sản xuất nông sản xuất khẩu trị giá 3,1 tỷ đô la Mỹ, các nhà khoa học phát hiện ra rằng thương mại quốc tế lương thực trên toàn cầu hiện nay đã giúp con người tiết kiệm được lượng nước giá trị 2,4 tỷ đô la Mỹ.

Nghiên cứu cho thấy thương mại có tác động đáng kể đến sản xuất nông nghiệp. Hiệu quả sản xuất chăn nuôi tại các khu vực hiện nay có sự khác nhau: ví dụ 1 kg thịt bò được sản xuất với lượng thức ăn đầu vào ở Mỹ ít hơn so với ở châu Phi, vì vậy việc thiết lập các vùng chuyên sản xuất một số nông sản và xuất khẩu sang các khu vực khác sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Đồng tác giả của nghiên cứu Hermann Lotze – Campen cho biết: “Thương mại lương thực toàn cầu thực sự cung cấp khả năng làm giảm căng thẳng về nước và giúp việc sử dụng nước trên toàn cầu hiệu quả hơn. Khi nói đến việc thực hiện các công cụ chính sách ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu như tự do hóa thương mại, thuế nhập khẩu, trợ cấp nông nghiệp, người ra quyết định cũng phải xem xét các tác động gián tiếp đến nguồn nước”.

FOODCROPS. CÂY LƯỢNG THỰC

 

Cú hích từ cánh đồng mẫu lớn

CÂY LƯƠNG THỰC Theo SGGP Online "Việt Nam luôn trong nhóm các quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo nhưng thu nhập của người trồng lúa vẫn ở mức rất thấp. Điệp khúc thiếu vốn, kỹ thuật, trúng mùa mất giá luôn đeo đẳng nông dân trồng lúa ở ĐBSCL nhiều năm qua… Làm thế nào để cải thiện thu nhập cho người trồng lúa, nâng tầm sản xuất, xuất khẩu lúa gạo Việt Nam lên vị thế mới là mối quan tâm hàng đầu của ngành nông nghiệp. 2 vụ đông xuân và hè thu vừa qua ở ĐBSCL, mô hình cánh đồng mẫu lớn đạt hiệu quả rất khả quan, bước đầu giải được bài toán khó này."

alt 

Nông dân phấn khởi

Nông dân Nguyễn Văn Cường ở xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang có 1ha lúa với thâm niên 2 vụ liên tiếp tham gia cánh đồng mẫu lớn cùng Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) phấn khởi nói: “Hiệu quả đem lại rất cao. Quan trọng nhất là nông dân quyết định được đầu ra của hạt lúa. Công ty cho ứng trước giống xác nhận, phân bón, nông dược và cử cán bộ kỹ thuật hỗ trợ quy trình sản xuất. Chúng tôi được lợi 3 vấn đề: Chi phí sản xuất giảm khoảng 3 triệu đồng/ha/vụ từ việc bớt lần phun thuốc, giống, công lao động…

Tiếp cận quy trình sản xuất mang tính bền vững, kỹ thuật cao. Đặc biệt là xóa điệp khúc trúng mùa rớt giá. Hiện nông dân thấy lúa có giá thì bán, nếu không thì lưu kho miễn phí”. Vụ đông xuân vừa qua, chi phí sản xuất 1kg lúa trên cánh đồng hơn 1.000ha tại xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang giảm tới 30% so với canh tác nông hộ nhỏ lẻ. Với năng suất đạt 8 - 9 tấn/ha, giá bán từ 6.300 - 6.700 đồng/kg, gần 500 hộ dân tham gia đạt mức lợi nhuận rất cao, hơn 150%. Vụ hè thu này, có 684 nông hộ tham gia, năng suất bình quân đạt 6,1 tấn/ha, cao hơn 200kg so với các hộ canh tác nhỏ lẻ bên ngoài, giá thành sản xuất dưới 2.900 đồng/kg, giảm 300 đồng/kg.

Cánh đồng mẫu lớn đầu tiên của tỉnh Trà Vinh trong vụ hè thu vừa qua tại xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh có 302 nông hộ tham gia với diện tích 300ha cũng đạt hiệu quả ngoài mong đợi. Chi phí sản xuất chưa tới 2.100 đồng/kg, thấp hơn bên ngoài gần 900 đồng/kg. Tham quan cánh đồng mẫu lớn này, tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Cục trưởng Cục BVTV khẳng định: “Vụ hè thu mà năng suất đạt 7,5 tấn là thành công lớn. Năng suất cao nhờ hệ thống thủy lợi nội đồng hoàn chỉnh, toàn cánh đồng xuống giống đồng loạt, sản xuất theo quy trình hiện đại, ít sâu bệnh…”. Ông Kiên Ninh, Chủ tịch UBND xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh nói: “Tham gia mô hình cánh đồng mẫu lớn thu nhập bà con được nâng lên 20%-30%. Điều này góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho nông dân, xây dựng nông thôn mới của địa phương”.

Chỉ mới phát động trong vụ lúa đông xuân và hè thu vừa qua, ĐBSCL có hơn 6.400 hộ tham gia với diện tích 8.200ha (riêng vụ hè thu là 7.800ha), kết quả hết sức khả quan. Tiến sĩ Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt phấn khởi: “Kết quả bước đầu như thế là rất tốt. Quan trọng nhất là mô hình được sự đồng thuận của bà con nông dân. Các doanh nghiệp như: AGPPS, Công ty Phân bón Bình Điền, Công ty Gentraco, Angimex... mạnh dạn đầu tư với lãi suất 0%, chủ yếu hướng đến lợi nhuận cho bà con nông dân.

“Tích tụ ruộng đất” theo hướng mới

Các chuyên gia xác định: Việc lúa gạo Việt Nam thua kém Thái Lan về chất lượng suốt thời gian dài vì chưa có vùng nguyên liệu đủ lớn để có thể chủ động về sản lượng xuất khẩu. Thực trạng sản xuất lúa gạo hiện nay chủ yếu dưới hình thức nhỏ lẻ, thiếu liên kết; cản trở việc áp dụng cơ giới hóa, khó áp dụng công nghệ nhằm tăng năng suất, kiểm soát nguồn gốc và chất lượng; xây dựng thương hiệu… Đặc biệt là thất thoát sau thu hoạch rất lớn, khoảng 13,7%, tương đương 635 triệu USD/năm, ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người trồng lúa…

Vua lúa giống Dương Văn Châu (Năm Châu) ở xã Thanh Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phản ánh: “Để nông dân có lợi hơn thì nhất thiết phải tổ chức lại quy trình sản xuất một cách chuyên nghiệp. Việc tập hợp nông dân tham gia các cánh đồng lớn, cùng làm một vài giống lúa tốt, thích ứng biến đổi khí hậu… là rất cần thiết. Doanh nghiệp đứng ra cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, kỹ thuật sản xuất rồi bao tiêu sản phẩm… Có như thế nông dân mới giảm được chi phí đầu tư, có điều kiện áp dụng cơ giới hóa, giảm thất thoát, hạn chế các khâu trung gian, tăng lợi nhuận trên cánh đồng của mình. Doanh nghiệp thì được lượng hàng hóa lớn, chất lượng cao, bán được giá…”.

Nông dân tham gia cánh đồng mẫu lớn tại xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang được bao tiêu sản phẩm. Ảnh: BÌNH ĐẠI

Theo ông Huỳnh Văn Thòn, Tổng giám đốc AGPPS, đơn vị tiên phong trong việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn tại ĐBSCL: “Nếu không có lợi thì việc xây dựng cánh đồng mẫu chỉ để lấy tiếng, không mở rộng được. Với việc sản xuất theo quy trình của công ty, hạt lúa có chất lượng, thương hiệu, địa chỉ xuất xứ nên giá bán cao hơn vài chục USD trở lên, từ đó phân phối lại giá trị lợi nhuận cho bà con nông dân”. Hiện ngoài nhà máy sấy lúa công suất 500 tấn/ngày và kho chứa 35.000 tấn tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; AGPPS vừa đầu tư thêm 2 nhà máy sấy lúa và kho chứa tại huyện Thoại Sơn (An Giang) và Tân Hồng (Đồng Tháp). Trong tháng 9-2011 sẽ xây dựng thêm một nhà máy sấy lúa ở huyện Vĩnh Hưng (Long An) với công suất 1.000 tấn/ngày cùng cánh đồng mẫu lớn tại các địa phương này.

Ông Đoàn Minh Triết, Phó chủ tịch UBND huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cho biết: “Địa phương đang triển khai đề án thí điểm mô hình xóa bờ thửa - sản xuất lớn quy mô 200ha. Theo đó, sẽ thành lập một công ty nông nghiệp huy động nông dân hùn đất, góp vốn bằng tiền để có diện tích ruộng lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận”. Tại huyện Tam Nông (Đồng Tháp), mô hình công ty nông nghiệp cũng vừa ra đời theo hướng “dồn điền, đổi thửa”. Trước mắt, năm 2012, các địa phương ở ĐBSCL đăng ký thực hiện các cánh đồng mẫu lớn khoảng 70.000ha.

BÌNH ĐẠI

Mục tiêu của việc xây dựng các cánh đồng mẫu lớn là kết hợp bà con nông dân cùng nhau sản xuất; đặc biệt là các nông hộ sản xuất nhỏ, ít am hiểu kỹ thuật, thiếu vốn... Việc tích tụ ruộng đất hình thành các cánh đồng lớn không phải từ một vài người mua gom đất mà hàng trăm nông dân vẫn làm được do liên kết lại, phối hợp tốt với các doanh nghiệp. Về phía nhà nước cần mạnh dạn đầu tư cơ sở hạ tầng, cấu trúc nông thôn, hệ thống thủy lợi nội đồng, đê bao chống lũ… để mô hình này phát triển trọn vẹn

TS Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt Bộ NN-PTNT

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module