Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Tin Tức Tổng Hợp

IRRI và FAO từng bước nỗ lực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững

IRRI và FAO từng bước nỗ lực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững 

Chú trọng vào an ninh lương thực và giúp người nông dân nghèo bằng cách thúc đẩy khả năng hồi phục cây trồng và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) và Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã thống nhất hợp tác chặt chẽ hơn nữa để hỗ trợ sản xuất lúa gạo bền vững tại các quốc gia đang phát triển nhằm cải thiện an ninh lương thực và đời sống, đồng thời vẫn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Một thỏa thuận đã được ký kết nhằm mục đích kết hợp tốt hơn kiến thức khoa học và kỹ thuật của hai tổ chức để có thể mở rộng và tăng cường hiệu quả công việc trên phạm vi toàn cầu.

Mối quan hệ này chủ yếu hướng đến việc thúc đẩy hệ thống canh tác lúa gạo thông qua các hoạt động xây dựng năng lực – bao gồm hỗ trợ chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách và chiến lược tầm cỡ quốc gia và khu vực – để mang lại lợi ích cho nông dân quy mô nhỏ, đặc biệt là phụ nữ.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, lúa là cây lương thực thiết yếu đối với an ninh lương thực và xu hướng tiêu dùng đang gia tăng. Đồng thời, sản xuất lúa gạo là hoạt động dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của biến đỏi khí hậu, bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lũ lụt.

Cả FAO và IRRI đều tích cực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững thông qua sản xuất theo chuỗi giá trị - sản xuất, tiếp thị và tiêu dùng – để tối ưu hóa các đặc điểm dinh dưỡng, là công cụ cải thiện đời sống và giảm nghèo, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

FAO đã phát triển Sáng kiến khu vực đối với Châu Á và Thái Bình Dương để thúc đẩy khả năng hồi phục cây trồng trong khi vẫn gia tăng hiệu quả và thu nhập của nông dân. Tại khu vực châu Phi và Mỹ La tinh, tổ chức đã hợp tác khoa học và kỹ thuật bao gồm chia sẻ công nghệ và các biện pháp canh tác tốt nhất để tăng sản lượng và năng suất, giảm thất thoát sau thu hoạch và cải thiện chất lượng hạt gạo.

IRRI tập trung đẩy mạnh năng lực của tất cả các bên tham gia trong ngành lúa gạo thông qua các hoạt động phát triển năng lực, trong đó có Diễn đàn lúa gạo bền vững.

Diễn đàn lúa gạo bền vững là liên minh toàn cầu nhằm thúc đẩy hiệu quả nguồn lực và tính bền vững trong thương mại, sản xuất và tiêu thụ, và chuỗi cung trong ngành gạo toàn cầu. Diễn đàn lúa gạo bền vững vừa mới đưa ra bộ tiêu chuẩn đầu tiên của thế giới về lúa gạo bền vững. Thông qua Diễn đàn lúa gạo bền vững, IRRI hướng tới sử dụng các tiêu chuẩn về môi trường và kinh tế - xã hội để duy trì năng suất của người sản xuất lúa nhỏ, giảm tác động tới môi trường của việc canh tác lúa và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm và chất lượng.

FAO và IRRI sẽ cùng hỗ trợ các quốc gia sản xuất lúa gạo tiếp nhận các giống lúa cải tiến, cung cấp giống lúa được chứng nhận và chuyển giao kiến thức thông qua phương pháp tiếp cận có sự tham gia của trường học nông dân.

Hai tổ chức cũng sẽ đẩy mạnh quan hệ hợp tác trong vấn đề xử lý sau thu hoạch, giúp nông dân và nhà sản xuất gia tăng giá trị bằng cách phát triển và tiếp thị sản phẩm phụ từ lúa gạo để tạo ra các sản phẩm giàu năng lượng, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm khác

 

Tăng CO2 do biến đổi khí hậu có thể không giúp cải thiện sản xuất nông nghiệp

Tăng CO2 do biến đổi khí hậu có thể không giúp cải thiện sản xuất nông nghiệp

Mặc dù nhiều nhà khoa học đã lập luận rằng mức độ tăng cacbon điôxít sẽ có lợi cho sản xuất cây trồng nhưng mô hình gần đây về tác động của sự gia tăng CO2 cho thấy lượng CO2 ở mức cao có thể có ít ảnh hưởng tích cực đến quá trình quang hợp thực vật.

Các nhà nghiên cứu của Đại học Purdue đã kiểm tra ảnh hưởng của việc gia tăng CO2 và nhiệt độ nóng lên đối với việc sử dụng nước của cây trồng. Mặc dù tăng các-bon điôxit và nhiệt độ ấm hơn nói chung cải thiện quang hợp, nhưng trong những thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các lỗ chân lông trên lá cây, được biết đến như là khí khổng, được dự đoán sẽ thu hẹp trong những điều kiện này, làm giảm độ ẩm thực vật thải vào không khí.

Theo Qianlai Zhuang, Giáo sư về trái đất và khoa học khí quyển, mặc dù sự thay đổi này có thể có nghĩa là một số cây trồng sử dụng nước hiệu quả hơn ở một số khu vực khô hạn, nhưng sự thay đổi này trong sinh lý học thực vật sẽ gây nên những tác động khí hậu, dẫn đến lượng mưa ít hơn ở một số khu vực, gây hại cho cây trồng và năng suất cây trồng.

Ông cho biết: “Nghiên cứu này cho thấy trong khi tăng lượng cacbon điôxit trong khí quyển có thể trực tiếp tăng cường việc hấp thụ CO2 của thực vật, nó cũng có thể làm giảm sự thoát hơi nước ở thực vật, ảnh hưởng đến các mô hình lượng mưa toàn cầu và làm gia tăng sự nóng lên”.

Lisa Welp, trợ lý giáo sư hóa sinh học thuộc Khoa Trái Đất, Khoa học Hành tinh và Khí quyển Purdue, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết rằng trong nhiều hệ sinh thái trên mặt đất, lượng mưa được hình thành từ nước tràn vào bầu khí quyển nhờ hướng gió tạo ra từ cây cối, do đó thực vật gây ảnh hưởng đến cả lượng mưa và nhiệt độ.

Welp cho biết: “Vai trò của thảm thực vật trên đất liền đối với lượng mưa trên mặt đất thường được đơn giản hóa hoặc bỏ qua, nhưng nó là một động lực chính để xác định mô hình lượng mưa khu vực, và do đó để xác định năng suất trong các hệ sinh thái có lượng nước hạn hẹp. Nếu một số cây trồng giảm sự truyền nước vào khí quyển bằng cách giảm tỷ lệ thoát hơi nước, điều này dẫn đến sự suy giảm lượng mưa trong khu vực và gây nên hiện tượng nóng cục bộ vì nước bốc hơi từ lá thực vật hoạt động như máy điều hòa, giữ nhiệt độ bề mặt lạnh hơn”.

Nhìn chung, hiệu quả này là đủ mạnh để không giúp cải thiện sản xuất nông nghiệp toàn cầu. Trên thực tế, khi lượng khí cacbonic tăng lên trên toàn cầu, mô hình cho thấy thực vật ở hầu hết các khu vực trên thế giới chịu ảnh hưởng đáng kể do nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm.

Các-bon điôxit trong khí quyển đã tăng từ 280 phần triệu trước thời đại công nghiệp, bắt đầu vào cuối những năm 1700, lên mức hiện tại trên 400 phần triệu.

Zhuang và nghiên cứu sinh Peng Zhu đã đưa ra 6 thí nghiệm mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu về khí hậu lịch sử từ năm 1850 đến năm 2011. Họ thấy rằng mặc dù một số khu vực sẽ ghi nhận sự phát triển của cây trồng được cải thiện - bao gồm các khu vực của Canada, phần lớn Madagascar và mũi phía nam của Ấn Độ, các vùng khác trên hành tinh này đều sẽ chịu ảnh hưởng từ sự gia tăng CO2.

 

​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

 ​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

Cacbon đioxit (CO2) và các khí nhà kính khác trong khí quyển có thể giảm theo hai cách - bằng cách cắt giảm khí thải, hoặc bằng cách loại bỏ nó ra khỏi khí quyển, ví dụ như thông qua cây cối, đại dương và đất.
 

Hiệp định Paris lịch sử đặt ra mục tiêu hạn chế tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong tương lai ở mức dưới 2 ° C và theo đuổi các nỗ lực để thậm chí còn hạn chế mức tăng trung bình đến 1,5°C so với các giai đoạn tiền công nghiệp. Tuy nhiên, thời gian và chi tiết của những nỗ lực này lại tùy thuộc vào từng quốc gia quyết định.

Trong một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí Nature Communications, các nhà nghiên cứu đến từ Viện Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế (IIASA) đã sử dụng một mô hình toàn cầu về hệ thống cacbon để tính toán lượng cacbon thải ra và hấp thu thông qua các hoạt động tự nhiên và của con người.

Theo nghiên cứu, tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 25% lượng cung cấp năng lượng toàn cầu vào năm 2100, so với mức 95% hiện nay. Đồng thời phải giảm thiểu sử dụng đất, chẳng hạn như phá rừng. Điều này sẽ dẫn đến lượng phát thải tích lũy giảm 42% vào cuối thế kỷ so với tình huống kinh doanh bình thường.

“Nghiên cứu này đưa ra một tính toán rộng lớn về lượng cacbon điôxit trong khí quyển của chúng ta, nó đến từ đâu và nó đi đến đâu. Chúng tôi không chỉ xem xét khí thải đến từ nhiên liệu hóa thạch, mà còn từ nông nghiệp, sử dụng đất, sản xuất lương thực, năng lượng sinh học và hấp thu cacbon từ các hệ sinh thái tự nhiên", Brian Walsh, chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Thế giới, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

So sánh bốn kịch bản khác nhau về phát triển năng lượng trong tương lai, với một loạt kiểu kết hợp năng lượng tái tạo và năng lượng hóa thạch. Trong một kịch bản "tái tạo" cao, trong đó gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học tăng khoảng 5% mỗi năm, thì lượng khí thải rò rỉ có thể lên đến đỉnh điểm vào năm 2022. Tuy nhiên, nếu không có các công nghệ khí thải âm tính đáng kể, thì con đường đó vẫn sẽ dẫn đến tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên 2,5 độ C, không đạt được mục tiêu của Hiệp định Paris.

Theo Walsh, viễn cảnh năng lượng tái tạo cao là tham vọng, nhưng không phải là không thể - sản xuất năng lượng tái tạo toàn cầu đã tăng 2,6% trong giai đoạn 2013 và 2014, theo IEA. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy việc tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (với tốc độ tăng trưởng năng lượng tái tạo từ 2% đến 3%/năm), sẽ làm lượng khí thải cacbon đạt đỉnh ngay vào cuối thế kỷ này, gây ra nhiệt độ toàn cầu tăng lên 3,5°C vào năm 2100.

Nghiên cứu bổ sung cho một số lượng lớn các nghiên cứu của IIASA về chính sách giảm nhẹ khí hậu và cơ hội đạt được các mục tiêu.

Một mô hình mới

Nghiên cứu này là một trong những kết quả được công bố đầu tiên từ mô hình FeliX mới được phát triển. Đây là mô hình về hệ thống xã hội, kinh tế, môi trường trên trái đất và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Có thể tại mô hình miễn phí tại http://www.felixmodel.com/.

Giám đốc chương trình Dịch vụ và Quản lý Hệ sinh thái IIASA nhận xét: "So với các mô hình đánh giá khí hậu và các mô hình đánh giá tổng hợp khác, mô hình FeliX ít tốn kém hơn, nhưng nó cung cấp một cái nhìn tổng thể về toàn bộ chu kỳ cacbon, là điều quan trọng để chúng ta có thể hiểu biết về sự thay đổi khí hậu và năng lượng trong tương lai".

 

Những đợt nắng nóng ngắn cũng có thể làm hỏng vụ mùa cà phê

Những đợt nắng nóng ngắn cũng có thể làm hỏng vụ mùa cà phê

Một nghiên cứu của Đại học Lâm nghiệp thuộc Đại học bang Oregon (OSU) cho thấy khi cây cà phê chè (C. arabica) trải qua một đợt nắng nóng ngắn, thì chúng không thể ra hoa và trái.

Điều đó có nghĩa là không có hạt cà phê, và không có cà phê để uống.

C. arabica là loài cà phê chiếm ưu thế trên toàn cầu, chiếm 65% sản lượng thương mại trong gần 9,07 triệu tấn cà phê được tiêu thụ trên toàn cầu mỗi năm.

Liên tục sản xuất ra lá mới quanh năm, C. arabica tăng trưởng trên 80 quốc gia ở bốn lục địa ở vùng nhiệt đới.

Nghiên cứu của OSU đã khảo sát tuổi của lá và thời gian nắng nóng ảnh hưởng đến sự hồi phục của C. arabica do stress nhiệt trong quá trình kiểm tra nhà kính. Một phát hiện quan trọng là các lá non hơn đang phát triển có sự hồi phục rất chậm so với lá trưởng thành, và không một cây nào ra được hoa và quả khi trải qua một đợt nắng nóng giả lập.

Tác giả chính Danielle Marias, nhà sinh lý học thực vật thuộc tại OSU cho biết: "Điều này nhấn mạnh cây cà phê chè nhạy cảm với nhiệt độ ra sao. "Không có hoa có nghĩa là không sinh sản có nghĩa là không kết trái, và điều đó có thể là thứ tàn phá cho một nông dân trồng cà phê khi phải đối mặt với sự thất bại trong mùa thu hoạch.

"Nắng nóng là thứ rất căng thẳng đối với cây trồng và thường liên quan đến hạn hán. Tuy nhiên, ở những vùng trồng cà phê, thời tiết có thể không chỉ nóng hơn và khô hơn, mà còn có thể nóng hơn và ẩm ướt hơn, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tô muốn cô lập tác dụng của nhiệt."

Trong nghiên cứu của OSU, cây cà phê C. arabica được cho tiếp xúc với nắng nóng, làm cho nhiệt độ lá đạt mức gần 120 độ F, trong 45 hoặc 90 phút. Marias nhấn mạnh rằng, nhiệt độ lá này là kết cục thực tế của sự thay đổi khí hậu toàn cầu và còn cao hơn nhiệt độ không khí xung quanh.

Trong thời gian bị tiếp xúc với nắng nóng 90 phút, lá cây mất thời gian lâu nhất để hồi phục sinh lý.

Bất kể tuổi cây ra sao, tiếp xúc với nắng nóng càng lâu càng làm giảm hiệu quả sử dụng nước của cây, từ đó tiếp tục làm cho ảnh hưởng của stress nhiệt trở nên tồi tệ hơn, đặc biệt trong thời kỳ hạn hán.

 

Cháy sẽ trở thành chuyện bình thường trên hành tinh chúng ta

Cháy khắc nghiệt sẽ ngày càng trở thành chuyện bình thường trên hành tinh chúng ta

Thời tiết gây cháy nguy hiểm được dự báo cho Úc và Địa Trung Hải khi dấu vết các đám cháy khắc nghiệt toàn cầu mở rộng, nghiên cứu mới nhất cho thấy.

David Bowman, Giáo sư về Sinh học Biến đổi Môi trường Đại học Tasmania đứng đầu một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đến từ Đại học Idaho và Đại học bang Nam Dakota - để tổng hợp cơ sở dữ liệu vệ tinh toàn cầu về cường độ của 23 triệu đám cháy trong số 478 vụ cháy lớn nhất trong hoang dã.

"Các vụ cháy lớn là hiện tượng tự nhiên và xảy ra trên toàn cầu, đặc biệt là tại các khu rừng có mùa khô rõ rệt", Giáo sư Bowman cho biết.

Ngoại trừ việc khai khoang, thì nghiên cứu cho thấy những đám cháy cực lớn có liên quan với thời tiết bất thường - như hạn hán, gió, hoặc trong các vùng sa mạc, đặc biệt sau các mùa ẩm ướt.

"Trong số 478 vụ cháy lớn, chúng tôi xác định được 144 vụ cháy gây thiệt hại lớn về kinh tế và xã hội, tập trung ở các khu vực mà con người xây dựng thành các cảnh quan rừng dễ cháy, chẳng hạn như các khu vực xung quanh những thành phố ở miền nam nước Úc và phía tây Bắc Mỹ".

Sử dụng các mô hình dự báo biến đổi khí hậu để tìm hiểu hậu quả của biến đổi khí hậu, nghiên cứu phát hiện rằng, dự đoán sẽ có các đám cháy khác nghiệt hơn trong tương lai cho bờ biển phía đông của Úc, bao gồm Brisbane, và toàn bộ khu vực Địa Trung Hải – gồm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ

 

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai 

Năng suất ngũ cốc của ngành nông nghiệp là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu. Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) ước tính rằng để đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số thế giới vào năm 2030, ngành nông nghiệp sẽ phải sản xuất thêm một tỷ tấn ngũ cốc mỗi năm, tương đương với sự gia tăng 50% so với sản xuất 2,2 tỷ tấn trong năm 2011.

Với các công cụ sinh học phân tử sẵn có hiện nay, việc nhân giống cây trồng sẽ có thể đạt được sản lượng ngũ cốc đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực dân số thế giới tới năm 2040. Mặc dù nhiều sản phẩm nông nghiệp được trồng, nhưng cây trồng ngũ cốc vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên thế giới. Ngũ cốc được sử dụng không chỉ cho người tiêu dùng trực tiếp mà còn để phát triển chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học. Từ năm 1960 đến năm 2010, sản lượng ngũ cốc năm tăng 270% từ 800 triệu lên đến 2,2 tỷ tấn mặc dù diện tích canh tác chỉ tăng 8%. Trong năm thập kỷ qua, năng suất hạt trung bình trên thế giới tăng từ 1,3 lên 3,2 tấn/ha. Những tiến bộ công nghệ từ Cuộc cách mạng Xanh trong thập niên 1960 đã được tăng năng suất hơn gấp đôi và bổ sung hơn một tỷ tấn các loại hạt cung cấp lương thực cho thế giới. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng năng suất ngũ cốc từ những tiến bộ đã thúc đẩy Cuộc Cách mạng Xanh đang giảm dần. Điều này chỉ ra rằng để năng suất tăng lên đến năm 2040 sẽ đòi hỏi một số tiến bộ công nghệ mới để đảm bảo sự gia tăng 50% cần thiết trong sản xuất cây lương thực.

Tốc độ tăng trưởng hàng năm liên quan đến áp dụng các tiến bộ công nghệ trong cuộc Cách mạng Xanh ở các khu vực cho thấy, tiểu vùng Sahara châu Phi có tốc độ tăng trưởng thấp hơn vì những tiến bộ trong cuộc Cách mạng Xanh đã không thích nghi với đất, khí hậu và điều kiện địa mạo khác nhau của vùng đó. Hơn nữa, các điều kiện kinh tế trong khu vực không ủng hộ việc đầu tư vào các công nghệ mới. Phần còn lại của thế giới bao gồm hầu hết các nước phát triển, và sự khác biệt về năng suất, chỉ ra tiềm năng tăng trưởng ở các vùng khác.

Các nhà di truyền học hiện nay đã nghiên cứu phát triển được các hạt giống chuyên biệt bằng cách lập bản đồ ADN của cây có thể cải thiện việc kiểm soát các loại cây trồng bằng cách tăng năng suất cùng với việc sử dụng các đầu vào ít hơn. Khi các công cụ công nghệ sinh học phát triển đến năm 2040, chi phí thực hiện các dự án nghiên cứu chuyển gen có thể sẽ giảm đáng kể và năng suất cây trồng chuyển gen sẽ lan rộng từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.

Vài năm trước, chi phí xác định một gen trong một cây là 2 USD, thì bây giờ chỉ còn 0,15 USD và những phát triển hiện nay đang diễn ra có thể làm cho chi phí này giảm xuống chỉ còn 30 USD cho một triệu gen. Vào năm 2040, việc xác định gen có thể trở thành thói quen và không còn là rào cản lớn phát triển cây trồng.

Kỹ thuật tạo giống phân tử ở thực vật có khả năng sẽ đẩy nhanh việc thương mại hóa cây trồng mới có năng suất hạt cao hơn và đặc tính nông học tốt hơn. Chi phí lập trình tự và lập bản đồ gen được giảm dần đến điểm mà các công nghệ này sẽ có khả năng trở nên phổ biến vào năm 2040. Ngô chịu hạn, mới đây đã nhận được giấy phép của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Ủy ban châu Âu, là một ví dụ về ứng dụng các công nghệ chọn lọc nhờ phân tử chỉ dấu (marker), đẩy nhanh quá trình nhân giống cây trồng.

Công nghệ chuyển gen thực vật đã có những bước tiến đáng kể với một số kỹ thuật đột phá trong thuốc trừ sâu và kháng thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, ứng dụng của nó đã bị chậm lại vì các mối lo ngại của công chúng và quy định về tác hại tiềm tàng của công nghệ. Nó dường như sẽ không được phát triển đầy đủ và triển khai vào năm 2040.

Các tiến bộ trong nghiên cứu bộ gen thực vật đòi hỏi nông dân phải gia tăng chi phí sản xuất. Chi phí của hạt giống biến đổi gen có thể cao hơn so với hạt giống thông thường 5-7 lần. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của Mỹ, việc canh tác các loại cây trồng biến đổi gen kháng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu vẫn có lãi. Trong năm 2011, 88% cây ngô và 94% cây đậu tương ở Mỹ là biến đổi gen.

Nhờ hiệu quả trong việc phát triển, các loại cây trồng biến đổi gen tiếp tục tăng đến năm 2040, những lợi thế kinh tế của việc sử dụng các loại cây trồng này cũng sẽ tăng lên.

 

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực 

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức nghiêm trọng trên toàn cầu, việc đảm bảo đủ lương thực cho tất cả người dân là một trong những thách thức lớn mà nhiều nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) phải đối mặt.

Vì vậy, trong những năm gần đây, hợp tác để đảm bảo an ninh lương thực luôn được đề cao trong các hoạt động của APEC. Các nền kinh tế APEC đã đề xuất và thực hiện thành công nhiều sáng kiến về an ninh lương thực. Và với các sáng kiến mới nhất mà Việt Nam đưa ra trong Năm APEC 2017, nhiều người kỳ vọng APEC sẽ có bước tiến mới trong việc đối phó với thách thức này.

Mối lo không của riêng ai

Theo Liên Hợp Quốc (UN), năm 2009, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, số lượng người thiếu lương thực trên thế giới đã vượt ngưỡng 1 tỷ người. Trong bối cảnh dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,2 tỷ người hiện nay lên 9,6 tỷ người vào năm 2050, để đáp ứng được nhu cầu lương thực vào thời điểm đó, sản lượng lương thực toàn cầu sẽ phải tăng thêm 70%. Điều này đang đặt ra thách thức không hề nhỏ cho thế giới trong việc đảm bảo an ninh lương thực.

Đối với khu vực APEC, nơi hiện chiếm khoảng 40% dân số thế giới, mặc dù tỷ lệ người thiếu lương thực đã giảm còn 24% trong giai đoạn 1990-2006 nhưng các nghiên cứu mới nhất cho thấy đảm bảo đủ lương thực cho người dân vẫn là một vấn đề lớn đối với hầu hết các nền kinh tế thành viên.

Nguyên nhân chủ yếu là do khu vực châu Á-Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các thảm họa do thiên tai gây ra như mất mùa hay gián đoạn nguồn cung lương thực. Các số liệu thống kê chính thức cho thấy khu vực này phải hứng chịu 70% thiên tai trên thế giới. Phần lớn các nền kinh tế APEC đều nằm trên “Vành đai lửa Thái Bình Dương” và do vậy hứng chịu 90% các trận động đất trên toàn cầu.

Mặt khác, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn do tác động tiêu cực của hiện tượng biến đổi khí hậu, tình trạng thiếu nước và vấn đề đô thị hóa, trong khi đầu tư công vào lĩnh vực nông nghiệp lại đang có xu hướng giảm.

Tuyên bố Niigata

Nhận thức rõ thách thức mà các nền kinh tế APEC đang phải đối mặt, tháng 10/2010, các bộ trưởng phụ trách về an ninh lương thực của APEC đã nhóm họp lần đầu tiên ở Niigata (Nhật Bản) và thông qua Tuyên bố Niigata về an ninh lương thực. Đây được coi là kế hoạch toàn diện đầu tiên của APEC nhằm thúc đẩy các nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực bền vững trong khu vực.

Theo Tuyên bố Niigata, các nền kinh tế APEC dễ tổn thương trước các rủi ro về an ninh lương thực mà ví dụ điển hình là các cuộc biểu tình và bạo động diễn ra trong giai đoạn giá cả lương thực tăng cao vào các năm 2007 và 2008. Vì vậy, các bộ trưởng APEC khẳng định với tư cách là một diễn đàn có tầm ảnh hưởng lớn về hợp tác kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, APEC đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện an ninh lương thực khu vực và toàn cầu.

Trong Tuyên bố Niigata, các bộ trưởng APEC đã chỉ ra hai mục tiêu mà các nền kinh tế APEC sẽ theo đuổi gồm: Phát triển nông nghiệp bền vững; Tạo thuận lợi cho đầu tư, thương mại và thị trường, đồng thời chỉ rõ các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó.

Tuyên bố Niigata nhấn mạnh để đối phó với sự mất cân đối về cung-cầu lương thực do dân số và thu nhập tăng, cần phải tăng cường năng lực cung cấp lương thực, đối phó với thiên tai, biến đổi khí hậu và phục hồi, phát triển khu vực nông thôn.

Mặt khác, để đảm bảo an ninh lương thực, không thể thiếu sự phân phối lương thực ổn định, hiệu quả và công bằng. Các nền kinh tế thành viên APEC cần phải hợp tác xúc tiến thương mại nông sản, đảm bảo sự tin cậy của thị trường, chuẩn bị môi trường kinh doanh thuận lợi và đảm bảo an toàn thực phẩm, đồng thời cần xúc tiến đầu tư một cách có trách nhiệm vào lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, bảo vệ bản quyền.

Và những bước tiến của APEC

Kể từ sau thành công của Hội nghị Bộ trưởng APEC về An ninh Lương thực (AMMFS) lần thứ nhất ở Niigata, các bộ trưởng APEC đã nhóm họp định kỳ hai năm một lần. Tại mỗi hội nghị, các bộ trưởng APEC đều thông qua các kế hoạch hành động mới về an ninh lương thực.

Đáng chú ý, trong khuôn khổ Năm APEC 2014 ở Trung Quốc, các quan chức cấp cao APEC đã thông qua Lộ trình An ninh Lương thực APEC hướng tới năm 2020; trong đó đặt ra mục tiêu dài hạn là xây dựng cơ cấu hệ thống lương thực khu vực đủ để đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho các nền kinh tế thành viên, nâng cao năng suất và cung cấp lương thực ở mức giá có thể chi trả cho những người có thu nhập thấp.

Ngoài AMMFS, năm 2011, APEC đã thành lập diễn đàn Đối tác Chính sách về An ninh Lương thực (PPFS) để tăng cường sự phối hợp giữa Hội đồng Cố vấn Kinh doanh APEC (ABAC), khu vực tư nhân và các bên liên quan trong nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực khu vực một cách thực chất hơn.

Mặt khác, một số ủy ban và nhóm công tác của APEC cũng thường xuyên nhóm họp để thảo luận về các chủ đề liên quan tới an ninh lương thực, gồm Ủy ban Thương mại và Đầu tư (CTI) và các tiểu ban trực thuộc như Diễn đàn Hợp tác An toàn Thực phẩm (FSCF), Nhóm công tác về Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp (ATCWG), Nhóm Công tác về Đại dương và Nghề cá (OFWG) và Đối thoại chính sách cấp cao về Công nghệ Sinh học Nông nghiệp (HPLDAB).

Năm 2017, mặc dù AMMFS không nhóm họp nhưng với tư cách chủ nhà, Việt Nam vẫn lựa chọn “tăng cường an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu” là một trong 4 chủ đề ưu tiên nhằm giúp các nền kinh tế APEC ứng phó hiệu quả hơn các tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Và để cụ thể hóa chủ đề ưu tiên đó, tại diễn đàn Đối tác Chính sách An ninh lương thực ( PPFS) ở Nha Trang hồi tháng 2/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã đưa ra ba sáng kiến gồm: Kế hoạch hành động để thực hiện Chương trình APEC về an ninh lương thực và biến đổi khí hậu; Tuyên bố Cần Thơ về tăng cường phát triển bền vững và an ninh lương thực thích ứng với biến đổi khí hậu; Kế hoạch hành động để thực hiện Khung chiến lược của APEC về phát triển thành thị-nông thôn nhằm củng cố an ninh lương thực và tăng trưởng chất lượng.

Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra hai đề xuất gồm: “Phát triển kinh doanh nông nghiệp để hỗ trợ chuyển đổi lao động nông thôn tại các nền kinh tế thành APEC” và “Thích ứng biến đổi khí hậu: Tác động tới Chiến lược an ninh lương thực”.

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN bên lề diễn đàn, ông Trần Kim Long, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch PPFS, cho biết trong quá trình xây dựng sáng kiến và đề xuất, các nền kinh tế thành viên APEC đánh giá cao nước chủ nhà Việt Nam trong việc đưa ra các sáng kiến và đề xuất đúng trọng tâm, sự chuẩn bị chu đáo các tài liệu liên quan để triển khai hiệu quả PPFS.

“Điều này tạo tiền đề chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo của Năm APEC Việt Nam 2017; trong đó có Đối thoại Chính sách Cấp cao về an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ vào tháng 8/2017”, ông Long nói.

 

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

Cần cách làm mới, tư duy mới

Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ (KH-CN) có vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, muốn áp dụng KH-CN vào nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất, cần có những cách làm mới và tư duy mới.

Đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch

Với nền nông nghiệp Việt Nam, câu chuyện công nghệ sau thu hoạch yếu kém, làm thương hiệu và phân phối các sản phẩm nông nghiệp chưa được chú trọng đã được thừa nhận. Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho biết đó chính là điểm hạn chế, yếu kém nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm vừa qua. Bộ KH-CN đã xây dựng bản đồ công nghệ sản xuất lúa ở Việt Nam và chỉ ra rằng, trong tất cả các khâu, thì thất thoát ở khâu thu hoạch - bảo quản - chế biến rất lớn. Việt Nam thất thoát hơn 14%, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 6%-7%.

Một ví dụ khác là cây thanh long ở Bình Thuận. Năm 2016, doanh thu cây thanh long ở Bình Thuận đạt khoảng 7.000 tỷ đồng/năm. Trong đó 60%-70% là do thương lái Trung Quốc thu mua, với mức giá khoảng 400USD/tấn. Người Trung Quốc mang về nước, tiến hành phân loại và chiếu xạ khử trùng. Loại 1, họ mang sang Nga và các nước Bắc Âu bán với giá 4.500 USD/tấn; loại 2 bán ở thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia với mức giá từ 2.500 - 3.500 USD/tấn; còn người Trung Quốc dùng loại 3 với mức giá 400-500 USD/tấn. Như vậy, chính trái thanh long do người nông dân Việt Nam sản xuất, đã được người Trung Quốc thu mua và sau khi xử lý họ đã bán với mức giá cao gấp 10 lần tại Việt Nam.

Không chỉ lúa và thanh long, nhiều cây trồng, vật nuôi khác cũng đang rơi vào tình trạng như vậy. Những mặt hàng nông sản, ngư nghiệp của Việt Nam bị mua ép với giá thấp và nước ngoài mua về để đóng gói, xử lý bán lại cho thị trường thế giới với giá cao, dưới tên một thương hiệu khác. Để khắc phục và làm tốt được những vấn đề đó, cần phải định hướng cụ thể và có sự đầu tư thích đáng cho ngành công nghiệp sau thu hoạch, nhất là ngành cơ khí, máy móc nông nghiệp. Bài toán về công nghệ chế biến và sau thu hoạch hiện nay là thấy rõ, nhất là nhận thức của doanh nghiệp và người sản xuất trong lĩnh vực này.

“Bộ KH-CN và Bộ NN-PTNT đang đặt quyết tâm thay đổi vấn đề này trong thời gian tới, nhất là đối với công nghệ sau thu hoạch và đảm bảo chất lượng hàng hóa nông nghiệp. Cần phải tăng giá trị gia tăng rong hàng hóa nông nghiệp Việt Nam, đảm bảo thu nhập của doanh nghiệp và người nông dân, cũng như tạo ra nguồn lợi nhuận đủ lớn để tái đầu tư cho ngành này”, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng khẳng định.

Tập trung vào chất lượng và chuỗi giá trị

Việt Nam có hơn 70% dân số làm nông nghiệp, đóng góp khoảng 20% GDP trong khi ở những quốc gia phát triển, như Hà Lan, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp chỉ chiếm 2%-4% dân số, nhưng đóng góp tới 40% GDP.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, GDP nông nghiệp Việt Nam đang giảm, tốc độ tăng năng suất chậm lại, trong khi khoảng cách về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đang nới rộng. Để có thể thay đổi được điều này, ngành nông nghiệp Việt Nam cần có một cách nhìn và cách làm mới.

Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho rằng, thời gian qua nông nghiệp Việt Nam đã tập trung vào tăng sản lượng và năng suất, nhưng bây giờ đã thay đổi, tập trung vào tăng chất lượng và chuỗi giá trị gia tăng. Để có thể cạnh tranh hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp đã tập trung vào việc tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi liên kết, làm cơ sở để thúc đẩy việc ứng dụng KH-CN, kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất ở các mặt hàng có lợi thế. Sự tham gia vào sản xuất nông nghiệp của một loạt các tập đoàn, doanh nghiệp lớn thời gian vừa qua; hay sự canh tác, nuôi trồng một số giống cây con đặc chủng để xuất khẩu đi những thị trường đặc thù  là biểu hiện của sự thay đổi đó.

Theo Bộ KH-CN, thành công của những mô hình sản xuất tôm giống ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Đầu tư thủy ản Nam Miền Trung; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa, giống hoa của Công ty CP Rừng hoa Đà Lạt; mô hình liên kết chuỗi giá trị trong chăn nuôi của Công ty TNHH Hùng Nhơn, trang trại chăn nuôi bò, nuôi tôm thịt đến trồng chuối xuất khẩu Huy Long An… đều xuất phát từ tư duy mới và áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào quá trình sản xuất, canh tác, chế biến…

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch CLB Nông nghiệp công nghệ cao DAA (Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam) cho rằng, cần phải có cách làm mới trong nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết giá trị, doanh nghiệp hóa nông nghiệp, nông dân. Cách làm mới này sẽ góp phần thay đổi ngành nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao; từ ngành có giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng thấp sang ngành có giá trị vượt trội so với các ngành công nghiệp truyền thống; hình thành một chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả cạnh tranh cung cấp sản phẩm có chất lượng. Những thay đổi này sẽ mang lại cuộc sống khỏe mạnh, an toàn và sung túc hơn cho người dân Việt Nam và nâng tầm vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên thế giới một cách bền vững.

Robot nano sinh học từ DNA và Protein

Robot nano sinh học từ DNA và Protein 

Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một robot phân tử có kích cỡ bằng một tế bào có thể thay đổi hình dạng của nó khi hồi đáp một tín hiệu DNA.

Đây là lần đầu tiên một hệ thống robot phân tử có thể nhận biết các tín hiệu và kiểm soát chức năng thay đổi hình dạng của nó. Điều này có nghĩa là trong tương lai gần, chúng có thể hoạt động như những sinh vật sống.

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Tohoku và Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Nhật Bản đã phát triển một robot được tạo ra từ DNA và protein. Kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên Science Robotics.

Sử dụng những phân tử sinh học tinh vi như DNA và các protein có vai trò hết sức quan trọng. Chẳng hạn như những tế bào bạch cầu có thể đuổi theo vi khuẩn bằng cách cảm nhận những tín hiệu hóa học và di chuyển về phía mục tiêu. Trong lĩnh vực hóa học và sinh học tổng hợp, những công nghệ nền tảng cho việc tạo ra những cỗ máy phân tử đa dạng, chẳng hạn như cảm biến, bộ vi xử lí và bộ dẫn động, được tạo ra bằng cách sử dụng những phân tử sinh học.

Một robot phân tử là một hệ thống phân tử nhân tạo được tạo ra bằng cách tích hợp những cỗ máy phân tử. Các nhà nghiên cứu tin rằng việc tạo ra được một hệ thống như vậy có thể dẫn đến bước đột phá quan trọng – một robot được thiết kế trên cơ sở phân tử.

Để đạt được mục tiêu này, các nhà nghiên cứu tích hợp những cỗ máy phân tử vào một màng tế bào nhân tạo để tạo ra một robot phân tử. Robot phân tử do nhóm nghiên cứu nói trên phát triển có kích thước cực kì nhỏ - khoảng một phần triệu của một mét – tương đương kích thước tế bào ở người.

Nó bao gồm một bộ dẫn động phân tử tạo ra từ protein và một bộ li hợp phân tử tạo ra từ DNA. Hình dạng của thân robot (màng tế bào nhân tạo) có thể được thay đổi nhờ bộ dẫn động, trong khi sự truyền lực do bộ dẫn động sinh ra có thể được kiểm soát bởi bộ li hợp phân tử.

Nhóm nghiên cứu đã chứng minh qua các thử nghiệm rằng robot phân tử này có thể thay đổi hình dạng trước các tín hiệu DNA cụ thể.

Giáo sư Shin-ichiro Nomura thuộc nhóm nghiên cứu phát triển robot phân tử ở Đại học Tohoku, chia sẻ: "Thật thú vị khi thấy chuyển động thay đổi hình dạng của robot qua kính hiển vi. Nó có nghĩa là bộ li hợp DNA do chúng tôi thiết kế đã hoạt động hoàn hảo, bất chấp những điều kiện phức tạp bên trong robot”.

Việc tạo ra một robot phân tử có các thành phần được thiết kế ở cấp độ phân tử và có thể hoạt động trong môi trường nhỏ và phức tạp, như cơ thể con người, được cho là sẽ mở rộng đáng kể khả năng của công nghệ robot. Những kết quả của nghiên cứu này có thể đưa đến những sự phát triển về mặt công nghệ giúp giải quyết những vấn đề y tế quan trọng, chẳng hạn như một robot điều trị cho việc nuôi cấy sống các tế bào và robot giám sát ô nhiễm môi trường.

 

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module