Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Technology

Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư

Trung Quốc lai tạo thành công gạo tím phục vụ việc chữa bệnh ung thư

Các nhà khoa học Trung Quốc đã lai tạo thành công loại gạo tím biến đổi gene giàu chất chống oxy hóa phục vụ việc chữa trị bệnh ung thư và các bệnh khác.

Hãng tin Tân hoa xã ngày 2/7 dẫn kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Molecular Plant cho biết lợi ích đối với sức khỏe con người của loại gạo mới này là do nó giàu hợp chất mầu hữu cơ tự nhiên anthocyanin.

Hợp chất này nằm trong nhóm sắc tố để tạo nên chất chống oxy hóa và nhiều màu sắc khác nhau cho hoa mầu và cây trái.

Theo công trình nghiên cứu trên, việc ăn nhiều gạo giàu hợp chất anthocyanin mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ của con người, làm giảm các nguy cơ của một số căn bệnh ung thư, tim mạch, tiểu đường và các căn bệnh mãn tính khác.

Loại hợp chất này có ở nhiều loại hoa quả và rau có màu tím, màu đỏ và màu xanh.

Trước đây, các nỗ lực sử dụng kỹ thuật biến đổi gene để sản xuất hợp chất anthocyanin trong gạo đã thất bại do quá trình trao đổi chất diễn ra hết sức phức tạp.

Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu thuộc Đại học Nông nghiệp Nam Trung Hoa và các cộng sự lần đầu tiên xác định được các gene có liên quan đến việc tạo thành hợp chất anthocyanin trong các loại gạo khác nhau.

Các nhà khoa học đã phát triển cái gọi là "hệ thống sử dụng hoán đổi gene năng suất cao" và sử dụng 8 gene cần thiết để sản xuất hợp chất anthocyanin trong các loại gạo, với mong đợi tạo ra loại gạo tím giàu hợp chất màu hữu cơ tự nhiên và hoạt tính cao chống oxy hóa.

Nhà nghiên cứu Yao-Guang Liu nhấn mạnh "đây là can thiệp đầu tiên của kỹ thuật biến đổi gien trong chuỗi phản ứng phức hợp ở thực vật." Kế hoạch của các nhà khoa học trong tương lai là có thể sử dụng kỹ thuật trên để sản xuất các chất dinh dưỡng quan trọng và các tiền chất sản xuất thuốc chữa bệnh.

Hiện, các nhà nghiên cứu đang có kế hoạch kiểm chứng độ an toàn của gạo tím mới trong quá trình trao đổi sinh hóa ở thức ăn và cố gắng dùng kỹ thuật biến đổi gene để tổng hợp chất anthocyanin trong các loại cây trồng khác như các loại ngũ cốc có màu tím./.

 

 

Công nghệ kiểm soát sinh học

Công nghệ kiểm soát sinh học 

Như đã diễn ra trong cuộc Cách mạng Xanh, những đột phá công nghệ có triển vọng xuất hiện nhất trong nông nghiệp đến năm 2040 nhiều khả năng sẽ từ tạo giống cây trồng để cải thiện các đặc điểm thực vật mong muốn. Sự khác biệt trong tạo giống cây trồng hiện tại so với 50 năm trước là sự có mặt của các công cụ dựa trên sinh học phân tử, kiểm soát sinh học, các công cụ này đã cung cấp nhiều hiểu biết về cấu tạo di truyền của thực vật và mối quan hệ của nó với các tính trạng nông học quan trọng liên quan đến năng suất cây trồng. Công nghệ kiểm soát sinh học là một trong các công nghệ nâng cao năng suất cây trồng.

Mặc dù hầu hết nông dân sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ hay cây trồng biến đổi gen để kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại, nhưng công nghệ kiểm soát sinh học là một sự thay thế cũng đã được sử dụng. Kiểm soát sinh học bao gồm phát thả một kẻ thù tự nhiên cụ thể (ký sinh trùng, động vật ăn thịt, hoặc các mầm bệnh trong tự nhiên) để kiểm soát cỏ dại xâm lấn và côn trùng, giun tròn và các mầm bệnh thực vật. Công nghệ này đòi hỏi phải nghiên cứu sâu rộng về một loại sâu hại cụ thể trong một khu vực cụ thể và cho một cây trồng cụ thể. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và một số trường đại học có các chương trình nghiên cứu kiểm soát sinh học nhằm vào các sâu bệnh cụ thể. Các dự án kiểm soát sinh học của USDA bao gồm kiểm soát cá dòng cây họ cam quýt châu Á với một ký sinh, kiểm soát châu chấu bằng các nấm bệnh và kiểm soát cây xa cúc Nga bằng ruồi mật. Dự án Nghiên cứu Đích mục tiêu Cụ thể của EU đang nghiên cứu việc tăng cường và khai thác các tác nhân kiểm soát sinh học thổ nhưỡng để quản lý hạn chế sinh học trong các cây trồng. Tổ chức Bảo vệ thực vật Địa Trung Hải và châu Âu có một danh sách dài các tác nhân kiểm soát sinh học được sử dụng rộng rãi trong 50 quốc gia thành viên. Mặc dù công nghệ kiểm soát sinh học đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ, nhưng nó có thể có tác động ngày càng tăng trong tương lai khi những lo ngại về việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học tăng lên.

Kiểm soát sinh học là một thành phần của Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), là một quá trình để quản lý vấn đề sâu bệnh kết hợp với các kiểm soát sinh học, nuôi trồng, vật lý và hóa học để giảm tối thiểu những rủi ro về kinh tế, an toàn và môi trường. Nông dân hiện đang sử dụng một số khía cạnh quản lý dịch hại tổng hợp và có thể sẽ bao gồm thêm nhiều thành phần khi các kiến thức thu được từ sinh học phân tử của sâu bệnh và cỏ dại tăng lên cùng với những lợi thế của việc giảm sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt.

Việc ứng dụng sinh học phân tử đã được các nhà khoa học trên toàn thế giới đề xuất làm phương tiện để kiểm soát sinh học và thuốc trừ sâu sinh học hiệu quả hơn bằng cách nâng cao tỷ lệ thành công, hiệu năng và độ tin cậy của chúng. Kỹ thuật di truyền có thể tăng tốc độ tiêu diệt sâu bệnh, giảm số lượng ban đầu của các tác nhân kiểm soát sinh học cần thiết, và kéo dài hiệu lực của các tác nhân. Công nghệ này mới ở giai đoạn đầu phát triển. Một ví dụ về tiềm năng của nó là các nhà khoa học tại Viện khoa học sinh học Thượng Hải (Trung Quốc) và Đại học Maryland (Hoa Kỳ) đã tăng độc tính của một loại nấm côn trùng bằng cách sử dụng chuyển gen từ một con bọ cạp có một chất độc thần kinh đối với côn trùng cụ thể. Các loại nấm biến đổi gen có độc tính của nó đối với sâu trong cây thuốc lá tăng 22 lần. Một nghiên cứu khác đã chứng minh cho thấy các virus và nấm biến đổi gen cực độc kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại. Tuy nhiên, do kiểm soát sinh học biến đổi gen vẫn còn trong giai đoạn phát triển ban đầu, nên nó sẽ không có khả năng có tác động rõ ràng đến nông nghiệp vào năm 2040.

 

Cách trồng ngô không độc

 Cách trồng ngô không độc

Kỹ thuật di truyền là công cụ giúp ngăn ngừa quá trình lây nhiễm nấm mốc tạo ra aflatoxins Ngô bị nhiễm nấm Aspergillus có khả năng giải phóng ra các chất độc gây ung thư. Ngô biến đổi gen tạo ra các phân tử giống như ninja “sát thủ” có thể kích hoạt cuộc tấn công vào nấm mốc xâm nhập, ngăn chặn việc sản sinh ra độc tố gây ung thư.

Theo như nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Science Advances, ngày 10/3/2017, các phân tử ARN chuyên biệt này chờ đợi cho đến khi chúng phát hiện thấy Aspergillus, là loại nấm mốc có thể biến hạt ngũ cốc và đậu thành thực phẩm gây độc hại cho sức khỏe. Sau đó, các phân tử này sẽ hoạt động, ngăn chặn nấm mốc sản sinh ra protein chịu trách nhiệm tạo ra aflatoxin. Với aflatoxin và các chất độc từ nấm khác ảnh hưởng đến 25% cây trồng trên toàn cầu, phát hiện này có thể giúp tăng cường an toàn thực phẩm trên toàn cầu, các nhà nghiên cứu kết luận.

Monica Schmidt, nhà di truyền học thực vật tại Đại học Arizona, Tucson, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: "Nếu không có protein, sẽ không có độc tố”. Schmidt và các đồng nghiệp đã sử dụng một kỹ thuật gọi là can thiệp ARN, tận dụng cơ chế bảo vệ tự nhiên mà sinh vật sử dụng để bảo vệ cây trồng chống lại virus. Các nhà nghiên cứu đã biến đổi ngô để tạo ra các đoạn ARN ngắn tương hợp với các đoạn ARN của nấm được tạo ra từ gen aflC. Gen này mã hóa một bước quan trọng của quá trình hóa sinh mà nấm sử dụng để tạo ra độc tố. Khi ARN được biến đổi của ngô tương thích với ARN của nấm, sẽ kích hoạt Aspergillus tách riêng ARN của chính nó, ngăn chặn protein chủ chốt và do đó độc tố không được tạo ra.

Sau đó, nhóm nghiên cứu đã tạo ra sự lây nhiễm cả ngô biến đổi gen và ngô không biến đổi với A. flavus, là loài Aspergillus giải phóng aflatoxin mạnh nhất. Sau khi cho ngô - và nấm - phát triển trong một tháng, các nhà nghiên cứu không phát hiện thấy aflatoxin ở ngô đã bị biến đổi. Nhưng họ đã đo được hơn 1.000 phần tỷ aflatoxin ở ngô không biến đổi gen, và đôi khi lên tới 200.000 phần tỷ. Tại Hoa Kỳ, ngô trồng phục vụ cho tiêu dùng của con người được sử dụng làm thức ăn gia súc hoặc bị hủy nếu chúng có trên 20 phần tỷ aflatoxin. Loại ngô bị nhiễm nấm không thể dùng được cho người và động vật trị giá lên đến 270 triệu đô la mỗi năm.

Ở những quốc gia không sàng lọc chất độc, người ta ăn ngô bị nhiễm nấm, điều đó có thể gây nôn mửa, đau bụng và ở mức cao hơn thậm chí là hôn mê. Việc tiếp xúc lâu dài với aflatoxin nồng độ thấp có thể làm chậm quá trình phát triển ở trẻ và gây ung thư gan. "Đó không chỉ là vấn đề kinh tế, nó là vấn đề sức khoẻ", Schmidt nói.

Charles Woloshuk, nhà nghiên cứu bệnh lý thực vật tại Đại học Purdue, Tây Lafayette, Indiana cho biết, việc cho phép A. flavus phát triển và tập trung vào ngăn ngừa nó tạo ra độc tố là một cách tiếp cận tốt. Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu đã thất bại khi cố gắng tạo giống kháng nấm để chống lại aflatoxin. Tuy nhiên, theo Woloshuk, việc nhắm vào mục tiêu nấm theo cách đó có thể gây ra những đột biến nấm cho phép chúng tiếp tục lây nhiễm cây trồng.

Việc can thiệp vào ARN không phải là không nguy hiểm. ARN được thiết kế đặc biệt có thể sai lầm và làm những điều chúng không định làm, chẳng hạn như ảnh hưởng đến sự phát triển của hạt hoặc sự tăng trưởng của cây. Nhưng một phân tích về ngô biến đổi gen đã chỉ ra rằng ARN đang theo hướng đúng. Woloshuk cho rằng "Đó là một tín hiệu tốt”.

Các phương pháp phòng chống nấm khác hiện nay tập trung vào việc bảo quản kín khi ngô đã thu hoạch để tránh nhiễm Aspergillus. Nhưng việc này không hiệu quả nếu ngô bị nhiễm bệnh trước khi được chọn. Kết hợp ngô biến đổi gen, không những bảo vệ được cây trồng khi đang phát triển ngoài đồng ruộng, cùng với kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch sẽ là cách tốt nhất để ngăn chặn Aspergillus lây nhiễm ở ngô. Schmidt cho biết, đây là bước đầu tiên cho thấy tính khả thi, tuy nhiên, đây là một chặng đường dài, và hy vọng quá trình này sẽ được nghiêm cứu thêm.

 

Sắn Phú Yên, giống sắn mới và kỹ thuật thâm canh

FOODCROPS. Các giống sắn mới năng suất cao và kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp tại Phú Yên. Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu, Hoàng Kim, Nguyễn Trọng Tùng và tập thể.  Năm giống sắn mới năng suất cao, triển vọng ở Phú Yên KM419, KM444, KM440, KM397. KM414 đạt năng suất sắn củ tươi và năng suất tinh bột vượt 18-40% so với giống sắn KM94. Tại ruộng trình diễn ở xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh ở thời điểm thu hoạch 7 tháng sau trồng, những giống sắn mới này đều đạt năng suất vượt trên 40 tấn/ ha (bình quân 3,5 – 5,0 kg/ gốc) cao hơn so với KM94 và KM98-5. Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn 1) Sử dụng giống sắn tốt đạt năng suất sắn lát khô và năng suất bột cao; 2) Hom giống sắn tốt, sạch bệnh, bảo quản hom tốt, chặt hom 15-18 cm, trồng đúng cách; 3) Trồng đúng khung thời vụ tốt nhất của địa phương để hom giống nảy mầm tốt; rãi vụ sắn bằng cách: xác định bộ giống sắn phù hợp; chọn thời vụ trồng và xác định thời điểm thu hoạch hợp lý (6, 7, 8, 9, 10, 11 … 18 tháng sau trồng) đạt năng suất và lợi nhuận cao. 4) Sắn nên trồng đất bằng ít dốc, dinh dưỡng tốt, canh tác sắn theo đường đồng mức có băng chống xói mòn và áp dụng các giải pháp trồng sắn trên đất dốc (có sách hướng dẫn); 5) Khoảng cách trồng sắn KM419 là 1,0m x 0,70m tương ứng mật độ 14.000 gốc/ ha; 6) Trồng xen hai hàng đậu phộng (hoặc đậu xanh, đậu cowpea) giữa hàng sắn; 7) Bón phân 100 kg N + 80 kg P2O5+ 120 kg K2O + 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh (hoặc 6- 10 tấn phân chuồng), bón đúng quy trình, lót đủ, thúc 1 sớm, thúc 2 đủ kali. 8) Chăm sóc làm cỏ sớm và kịp thời, ít nhất ba lần (trong 2 tháng đầu), giữ sạch cỏ; 9)  Quản lý tốt sâu bệnh hại (đặc biệt là rệp sáp hồng và bệnh chồi rồng); 10) Thu hoạch, chế biến, kinh doanh khép kín, đạt lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường.


ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Phú Yên có lúa, mía, sắn là ba cây trồng chính. Năm 2013, diện tích sắn Phú Yên đạt 22,30 nghìn ha, sản lượng 379,90 nghìn tấn  (Tổng cục Thống kê 2014). C
ây sắn là sự lựa chọn của các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vì lợi thế chịu được đất nghèo, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch, dễ chế biến.  Sắn Phú Yên được trồng tập trung tại huyện Sông Hinh và huyện Đồng Xuân, với diện tích sắn năm 2013 là 9.987 ha và 4.300 ha, sản lượng tương ứng 194.746,5 tấn 83.850 tấn, chiếm 65% diện tích và 62% sản lượng sắn của toàn tỉnh. Tại hai huyện này, tỉnh đã có hai nhà máy sản xuất tinh bột sắn với tổng công suất 270 tấn nguyên liệu /ngày (Công ty cổ phần Tinh bột sắn FOCOCEV có công suất 150 tấn nguyên liệu/ngày; Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Đồng Xuân có công suất 120 tấn nguyên liệu/ ngày). Ngoài ra, tỉnh còn có 60 cơ sở chế biến tinh bột sắn thủ công với công suất 0,5 – 1,0 tấn/ngày/cơ sở, chủ yếu ở huyện Tây Hòa và thị xã Sông Cầu. Việc ứng dụng giống sắn mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiến bộ, bền vững kèm theo là yêu cầu cấp thiết của sản xuất.


Sản xuất sắn tại huyện Sông Hinh tăng mạnh những năm gần đây. Năm 2013, tổng diện tích sắn toàn huyện là 9.987 ha, năng suất sắn củ tươi là 20 tấn/ha, sản lượng sắn là 199.740 tấn. Năm 2014, thiên tai hạn hán nên tổng diện tích sắn toàn huyện là 8.822 ha, năng suất sắn củ tươi đầu vụ là 14,9 tấn/ha, sản lượng sắn ước đạt 131.448 tấn. Toàn huyện Sông Hinh có 07 nhóm đất, trong đó có ba nhóm đất chính là đất đỏ vàng (66,7%), đất xám (16,1%) và đất mùn trên núi (6,9%) chiếm 89,7% tổng diện tích tự nhiên, các nhóm đất còn lại có diện tích ít.
Cây sắn được trồng nhiều nhất ở các xã Đức Bình Đông; Sơn Giang; EaLy; thị trấn Hai Riêng... chủ yếu trên đất đỏ vàng. Giống sắn sử dụng chủ yếu là 3 giống KM98-5, KM140KM94. Cây sắn sau khi thu hoạch lựa chọn những cây không bị sâu bệnh để làm giống; hom chặt dài 15 – 20 cm. Thời vụ trồng chủ yếu vào cuối mùa mưa. Đất trồng chủ yếu là đất đồi núi có độ dốc cao. Đất được cày bằng máy, sau đó bừa để làm sạch cỏ dại. Rạch hàng để đặt hom. Khoảng cách trồng phổ biến là 1m x 0,8m, trồng sắn theo cách cuốc hốc. Phân bón cho cây sắn ở Sông Hinh ít được sử dụng, nhất là đồng bào thiểu số. Làm cỏ 2 lần kết hợp vun luống vào 2 thời kỳ bón phân.  Thu hoạchsắn khoảng 7 - 12 tháng sau trồng tùy thời vụ trồng và thời điểm thu hoạch. Chủ yếu dùng sức người trong khâu thu hoạch. Những năm gần đây tình trạng nông dân ở Sông Hinh ồ ạt chuyển đổi các loại cây trồng sang trồng sắn do giá sắn cao, cây sắn  đầu tư ít và hiệu quả cao, dẫn đến nạn phá rừng trồng sắn trên đất dốc nhiều và nguy cơ phá vỡ quy hoạch vùng nguyên liệu mía. Mặt khác dân trồng sắn quảng canh ít đầu tư hoặc đầu tư không đúng mức, không áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp nên đất sắn nguy cơ bị suy kiệt và xói mòn nghiêm trọng. Đề tài Nghiên cu tuyn chn ging sn ngn ngày và k thut thâm canh rãi v nhm phc v cho vic phát trin cây sn bn vng tnh Phú Yên” thực hiện tại hai huyện Sông Hinh và Đồng Xuân là rất cấp thiết. Hội thảo đầu bờ “Giới thiệu các giống sắn mới và kỹ thuật canh tác”nhằm thông tin về các giống sắn mới và quy trình kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp tại địa phương, tóm tắt kết quả đề tài sắn Phú Yên và kế hoạch thực hiện năm 2015.  

NĂM GIỐNG SẮN MỚI NĂNG SUẤT CAO 

Giống sắn KM419 (SVN5)

Nguồn gốc:
Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ tổ hợp lai BKA900 x KM 98-5 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai,  và tập thể 2014).

Đặc điểm giống
: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 34,9-54,9 tấn / ha (vượt 27,7- 29.6% so với KM94), hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7%, năng suất tinh bột 10,1 -15,8 tấn /ha, năng suất sắn lát khô 15,6-21,6 tấn/ha (so với KM94 hàm lượng tinh bột 25,0- 28,4 %, năng suất tinh bột 6,4-9,5 tấn/ ha, năng suất sắn lát khô 6,4-9,5 tấn/ha). Giống sắn KM419 có chiều cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, rất thích hợp với chế biến và thị trường, nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá.

Giống sắn KM419 đã được khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất và phát triển rộng tại Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên,… được nông dân các địa phương ưa chuộng và phát triển nhanh trong sản xuất với tên gọi sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm. Đặc biệt tại tỉnh Tây Ninh, KM419 là giống sắn chủ lực được trồng trên 50% diện tích sắn của toàn tỉnh mang lại bội thu năng suất và hiệu quả cao về kinh tế xã hội. Giống sắn KM419 được Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với các Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên đề nghị công nhận giống, định hướng ưu tiên sử dụng cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ và vùng trung du miền núi phía Bắc. Giống KM419 đã được Hội đồng giống Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống  năm 2014.

Giống sắn KM444

Nguồn gốc: Giống sắn KM444 còn có các tên khác là HL2004-28 (SVN7) do Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Cây có củ, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh chọn tạo và giới thiệu. (Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Viết Hưng, Hoàng Kim Diệu, Nguyễn Trọng Hiễn, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2014). Giống sắn HL2004-28 được tuyển chọn ban đầu từ dòng số 28 của tổng số 2152 hạt sắn thu năm 2004 từ cây mẹ của giống sắn KM444 (là con lai chọn lọc của tổ hợp lai  (GM444-2 x GM444-2) x XVP do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam lai hữu tính năm 2003

Đặc điểm giống
: Giống sắn HL2004-28 (= SVN7 = KM444) có gốc thân hơi cong, phân cành cao. Lá màu xanh đậm, ngọn xanh nhạt. Dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng. Đặc điểm nổi bật của giống KM444 là rất ít nhiễm sâu bệnh. Năng suất củ tươi đạt 37,5 – 48,3 tấn/ha. Hàm lượng bột đạt 28,3- 29,2%. Giống sắn SVN7 (HL2004-28) chọn dòng từ hạt giống sắn cây mẹ KM444 đã được Hội đồng giống Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống tạm thời năm 2014. Tại vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ các dòng khảo nghiệm tác giả của KM444 năm 2004 trong thực tế sản xuất được nông dân ưa chuộng, giữ lại và nhân giống, rất cần bình tuyển giống tốt thích hợp cho vùng sinh thái.   

Giống sắn KM 440

Nguồn gốc: Giống sắn KM440 được tạo dòng từ các cây đầu dòng ưu tú của giống sắn KM140 theo phương pháp CIAT bằng cách thu hạt sắn tự thụ (lai lại, back cross) của cây giống gốc KM140 và chọn lọc phả hệ. Giống sắn gốc KM140 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x KM 36 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2007, 2009). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống quốc gia năm 2009 trên toàn quốc và đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật (VIFOTEC) toàn quốc năm 2010. Giống sắn KM440 được tạo dòng từ giống sắn KM140.

Đặc điểm giống sắn KM440:

+ Thân xanh, thẳng, ngọn xanh, cây cao vừa phải, không phân nhánh.

+ Năng suất củ tươi:     35,4 – 48,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô:          37,9 – 41,7%.

+ Hàm lượng tinh bột: 27,2- 29,3%.
+ Năng suất bột :            9,5 -10,0 tấn/ha

+ Chỉ số thu hoạch:      56 -63 %.
+ Thời gian thu hoạch:   8-10 tháng.

+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Thời gian giữ bột sớm hơn KM94

Giống sắn KM397
Nguồn gốc
: KM397 là con lai của KM108-9-1 x KM219 chính là tổ hợp lai kép (SM937-26 x SM937-26) x (BKA900 x BKA900) do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chon tạo và khảo nghiệm năm 2003 (Hoàng Kim và ctv 2009). Giống SM937-6 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1995 (Trần Ngọc Quyền và ctv, 1995). BKA900 là giống sắn ưu tú nhập nội từ Braxil có ưu điểm năng suất củ tươi rất cao nhưng chất lượng cây giống không thật tốt, khó giữ giống cho vụ sau. KM397 kết hợp được nhiều đặc tính quý của hai giống cha mẹ SM937-26 và BKA900.

Đặc điểm giống
: KM397 có thân nâu tím, thẳng, nhặt mắt, không phân nhánh; lá xanh thẫm, ngọn xanh, củ đồng đều, dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng, thích hợp xắt lát phơi khô và làm bột. Thời gian thu hoạch 8-10 tháng sau trồng, năng suất củ tươi 33,0 - 54,0 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,5 – 29,6%, tỷ lệ sắn lát khô 42,5 - 44,3%, năng suất tinh bột 9,2- 13,5 tấn/ha, năng suất sắn lát khô 13,8 - 17,6 tấn/ ha. chỉ số thu hoạch 60 - 63,0%. Giống sắn KM397 chịu khô hạn tốt, rất ít nhiễm sâu bệnh, thời gian giữ bột tương đương KM94

Giống sắn KM414
Nguồn gốc:
KM414 hiện có hai dòng đều được ưa thích trong sản xuất. Đó là KM414-2 (hình bên phải, dân gọi là Sắn Lá Tre cực ngắn ngày, để phân biệt với giống sắn KM414-1 là Sắn Cao Sản, hình bên trái và phân biệt với KM325 là Sắn Lá Tre xanh và SC205 là Sắn Lá Tre cọng đỏ) Quá trình dục thành giống đang giữ lại KM414-2.

KM414-1 và KM414-2 là con lai của tổ hợp KM146-7-2 x KM143-8-1, chính là tổ hợp lai kép (KM98-5 x KM98 -5) x (KM98-1 x KM98-1) do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chon tạo và khảo nghiệm năm 2003 (Hoàng Kim và ctv, 2009). Hai giống sắn KM98-1 và KM98-5 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT lần lượt công nhận giống năm 1999 và 2009 (Hoàng Kim và ctv, 1999; Trần Công Khanh và ctv, 2005). Giống sắn lai KM414 kết hợp được nhiều đặc tính quý của hai giống cha mẹ KM98-1 và KM98-5.

Đặc điểm giống:
Giống sắn
KM414 -2 có thân màu nâu xám, nhặt mắt, ít phân nhánh, lá xanh đậm, xẻ thùy sâu, ngọn xanh, thịt củ màu trắng hơi vàng nhạt, củ to, thích hợp thu hoạch sớm và bán sắn lát khô. Năng suất củ tươi đạt 43,5 đến 54,6 tấn/ha; hàm lượng bột đạt 25,6 đến 27,9%.
Giống sắn KM414 -1 có thân màu xám trắng, phân cành cao, lá xanh, ngọn xanh, dạng củ không được ưa thích bằng giống KM419, thịt củ màu trắng, thích hợp làm sắn lát khô và làm bột. Năng suất củ tươi đạt 42,3 đến 52,3 tấn/ha; hàm lượng bột đạt 27,8 đến 29,3%.

MƯỜI BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH RÃI VỤ SẮN
(Quy trình kỹ thuật chi tiết kèm theo)

1) Sử dụng giống sắn tốt đạt năng suất sắn lát khô và năng suất bột cao;

2) Hom giống sắn tốt, sạch bệnh, bảo quản hom, chặt và trống đúng cách;
3) Trồng đúng khung thời vụ tốt nhất của địa phương để hom giống nảy mầm tốt; rãi vụ sắn bằng cách: xác định bộ giống sắn phù hợp; rãi thời vụ trồng và xác định thời điểm thu hoạch hợp lý (6, 7, 8, 9, 10, 11 … 18 tháng sau trồng) để đạt năng suất và lợi nhuận cao.

4) Sắn trồng đất bằng, ít dốc, dinh dưỡng tốt, làm đất trồng theo đường đồng mức và áp dụng các giải pháp hiệu quả chống xói mòn trên đất dốc

5) Khoảng cách trồng sắn 1,0 x 0,70 tương ứng mật độ 14.000 gốc/ ha,
6) Trồng xen hai hàng đậu phộng (hoặc đậu xanh, đậu cowpea) giữa hàng sắn (nếu thuận)

7) Bón phân 100 kg N + 80 kg P2O5+ 120 kg K2O + 1.000 kg phân hữu cơ VS /ha  (hoặc 10 tấn phân chuồng), bón đúng quy trình: lót đủ, thúc 1 sớm, thúc 2 đủ kali.
8) Chăm sóc làm cỏ sớm và kịp thời, ít nhất ba lần (trong 2 tháng đầu) và giữ sạch cỏ;
9)  Quản lý tốt sâu bệnh hại (đặc biệt là rệp sáp hồng và bệnh chồi rồng)

10) Thu hoạch, chế biến, kinh doanh khép kín.

 Xem thêm:
VTV Phú Yên. Thời sự 11h30 (23/1/2015)
Nông nghiệp Việt Nam. Giới thiệu 5 giống sắn mới
VTV Cần Thơ . Giới thiệu 5 giống sắn mới...
Phú Yên online: Chuyển giao 5 giống sắn mới cho nông dân sản xuất
TTNCKH Nông Vận: Phú Yên Chuyển giao 5 giống sắn mới cho nông dân sản xuất

Mười kỹ thuật thâm canh sắn


Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu,
Hoàng Kim, Nguyễn Trọng Tùng và tập thể

 

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương Namfoodcrops.vnKim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook

 

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOODCROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang phổ biến trong sản xuất hiện nay Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

TS. Hoàng Kim

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG

Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ)

Nguồn gốc: Giống HL518 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang KOKEY14 (Nhật vàng)

Nguồn gốc: Giống Kokey 14 có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống khoai lang HL491 (Nhật tím)

Giống HL491 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị..

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang MURASAKIMASARI (Nhật tím 1)

Nguồn gốc: Giống Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai lang HL284 (Nhật trắng)

HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang KB1

KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Những bài liên quan
Việt Nam - Khoai lang Atlas - CIP-collab
Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/03/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Công nghệ tưới tiêu tiên tiến

Công nghệ tưới tiêu tiên tiến

Do nông nghiệp sử dụng khoảng 70% nguồn cung nước ngọt toàn cầu và 40% nông nghiệp sử dụng thủy lợi, nên công nghệ làm giảm yêu cầu tưới tiêu là rất quan trọng đối với khả năng cung cấp nước lâu dài. Gia tăng dân số toàn cầu sẽ làm tăng thêm nhu cầu đối với tài nguyên đất và nước canh tác. Các kỹ thuật thủy lợi thường dùng rất kém hiệu quả. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc báo cáo rằng tưới tiêu nông nghiệp lãng phí trung bình 60% lượng nước lấy từ các nguồn nước ngọt. Những thất thoát diễn ra do bay hơi, thấm, hoặc cỏ dại phát triển. Việc tăng hiệu quả tưới tiêu cho sản xuất lương thực toàn cầu phụ thuộc vào tưới tiêu sẽ có tác động lớn đến nguồn cung cấp nước.


Mặc dù nông nghiệp sử dụng nước mưa, chiếm 58% sản xuất nông nghiệp toàn cầu, không dựa vào nước sông và hồ, những vẫn có các công nghệ có thể góp phần làm tăng năng suất nông nghiệp sử dụng nước mưa và làm giảm nhu cầu sử dụng các nguồn nước mặt. 69% diện tích ngũ cốc toàn cầu là sử dụng nước mưa, bao gồm 40% diện tích lúa, 66% lúa mì, 82% ngô và 86% hạt thô. Việc áp dụng công nghệ quản lý nước ở các vùng nông nghiệp nước mưa có thể đóng góp cho năng suất nông nghiệp nói chung.

Khử muối trong nước biển và nước lợ đang được sử dụng rộng rãi ở một số trường hợp đã đạt được chi phí sản xuất nước gần bằng khai thác nước ngọt. Tuy nhiên, khử muối có thể khả thi về mặt kinh tế cho các hộ gia đình và sản xuất công nghiệp, chứ không khả thi cho nông nghiệp quy mô lớn. Việc áp dụng công nghệ làm tăng hiệu quả sử dụng nước là lựa chọn duy nhất mà những người nông dân có được để đối mặt với tình trạng khan hiếm nước trên toàn cầu.

Công nghệ tưới tiêu tiên tiến

Hệ thống tưới nhỏ giọt dưới bề mặt. Nhận thức được hiệu quả của tưới ít nước, nông dân đã bắt đầu sử dụng tưới nhỏ giọt, làm giảm đáng kể những thất thoát nước. Hệ thống tưới nhỏ giọt bao gồm các ống nhựa có các đầu thoát hoặc lỗ có khoảng cách đều nhau dẫn dòng nước được kiểm soát trực tiếp vào đất. Để tránh bay hơi và đưa nước vào vùng rễ chính của cây, các hệ thống tưới nhỏ giọt dưới mặt đất (SDI) đang trở thành tiêu chuẩn. Kể từ những năm 1960, Israel đã đi đầu trong việc áp dụng tưới nhỏ giọt trên thế giới như là cách thức hiệu quả nhất để cấp nước cho cây trồng và đã có những sáng tạo có thể áp dụng cho nông nghiệp quy mô lớn. Trong khí hậu sa mạc, sự bốc hơi nước là nguyên nhân gây ra đến 45% thất thoát nước trong tưới bề mặt thông thường hay tưới phun. Tưới nhỏ giọt có thể giảm tổn thất bay hơi từ 30-70%. Hiệu quả tưới nước nói chung (tỷ lệ nước cấp vào cánh đồng được giữ lại trong vùng rễ cây) đối với SDI là 90-95% so với 35-60% tưới theo luống hay 60-80% đối với các hệ thống phun nước.

Ban đầu những người nông dân sử dụng SDI cho các cây trồng theo hàng hàng năm và cây ăn quả lưu niên, nhưng cải tiến thiết kế đã làm cho công nghệ này thích hợp cho bất kỳ cây trồng nào, bao gồm cả những loại cây trồng không thành hàng hoặc luống. Những tiến bộ trong công nghệ tưới nhỏ giọt vẫn đang tiếp tục diễn ra, đặc biệt là ở Israel, và công nghệ có khả năng phát triển cho đến năm 2040. Các hạn chế lớn của SDI là chi phí ban đầu của nó, khoảng 1700- 2000 USD/ha so với 250-1400 USD /ha đối với tưới thông thường. Một lợi thế chi phí bổ sung của SDI là hiệu quả sử dụng phân bón. SDI cấp nước trực tiếp cho rễ vì vậy cần ít nitrate từ đất và phân bón hơn. Những ưu điểm khác của SDI bao gồm:

- Kiểm soát tốt hơn cỏ dại và bệnh do không có nước ẩm phía trên làm hạn chế các điều kiện cho nảy mầm và gây bệnh.
- Giảm lo ngại về nước thải làm nhiễm cây trồng với các vi sinh vật gây bệnh.
- Tuổi thọ lâu dài, trung bình là 15 năm vì hệ thống được chôn dưới mặt đất và tránh được nhiệt và ánh nắn.

Ngoài Israel, SDI hiện chưa được áp dụng rộng rãi, nhưng hiệu quả sử dụng nước cao của nó và các chi phí có khả năng giảm với các thiết kế cải tiến có thể sẽ làm cho nó thành tiêu chuẩn cho thủy lợi vào năm 2040.

Tưới tiêu chuyển hơi nước. Để sử dụng nước muối hoặc nước bị ô nhiễm khác phục vụ cho nông nghiệp, tưới tiêu chuyển hơi nước sử dụng các màng ống cho bay hơi chôn ngầm chỉ chuyển hơi nước từ bên trong ống ra đất bên ngoài. Hơi ngưng tụ trong đất ở những nơi cây có thể hấp thụ nước; muối hoặc khoáng chất ô nhiễm khác nằm lại trong ống. Công nghệ này mới ở giai đoạn đầu với chỉ một vài ứng dụng thử nghiệm được thực hiện cho đến nay. Mặc dù kỹ thuật này có thể là sự khởi đầu của bước đột phá trong việc sử dụng nước mặn để tưới tiêu, nhưng chưa có đủ cơ sở để khẳng định nó có thể cạnh tranh với các công nghệ khử muối khác để sản xuất nước phục vụ nông nghiệp vào năm 2040.

Tưới tiêu thay đổi tỷ lệ. Người nông dân có thể sử dụng nông nghiệp chính xác để tiết kiệm nước trong tưới cho cây trồng. Nông nghiệp chính xác sử dụng các công nghệ tiên tiến như các vệ tinh định vị toàn cầu (GPS), cảm biến từ xa, hình ảnh trên không, và các hệ thống thông tin địa lý (GIS) để đánh giá tình trạng nông học có liên quan đến biến đổi tại cánh đồng. Một người nông dân có thể sử dụng các thông tin được thu thập bởi các hệ thống này để đánh giá chính xác mật độ gieo hạt, yêu cầu phân bón, và các điều kiện khác, bao gồm cả thời gian và lượng nước cho cây phát triển tối ưu trong các khu vực nhau trên cánh đồng của mình. Một máy thu GPS cung cấp các dữ liệu vị trí trên cánh đồng chi tiết tới một mét hoặc ít hơn. Thông tin này cùng với cảm biến từ xa về điều kiện đất đai, dẫn đến một loạt bản đồ GPS của một cánh đồng. Những bản đồ này hiển thị độ ẩm và mức phân bón cũng như các yếu tố thổ nhưỡng khác ảnh hưởng đến tăng trưởng cây trồng. Quá trình này đã cho ra đời một công nghệ mới nổi: tưới tiêu thay đổi tỷ lệ.

Do sự biến đổi trong cánh đồng - kết quả từ các loại đất, địa hình, hoặc nhiều loại cây trồng - khác nhau về thời gian và lượng nước tưới cần thiết ở các khu vực khác nhau. Tỷ lệ sử dụng nước được kiểm soát bằng cách thay đổi thời gian nước chảy trong hệ thống tưới tại các địa điểm cụ thể trong cánh đồng. Trong một nghiên cứu được thực hiện ở nam Georgia (Hoa Kỳ) sử dụng hệ thống thủy lợi trung tâm, đã tiết kiệm được 5,7 triệu gallon nước mỗi năm trên 279 mẫu Anh, so với sử dụng nước thống nhất trên các cánh đồng này. Các công cụ để áp dụng việc tưới tiêu thay đổi tỷ lệ đang phát triển và vào năm 2040 chi phí của chúng có khả năng sẽ giảm xuống đủ để ứng dụng rộng rãi.

Công nghệ quản lý nước trong nông nghiệp nước mưa. Việc quản lý nước trong nông trại sử dụng nước mưa có thể làm tăng đáng kể năng suất cây trồng. Nâng cao năng suất nhờ cải thiện việc quản lý nước là rất rõ ràng, ngay cả với phương thức canh tác của địa phương. Khi tích hợp với nhiều loại năng suất cao, sự cải thiện năng suất được nâng cao đáng kể. Với mưa rơi trên cây trồng trong vùng bán khô cằn, 15-30% được cây trồng sử dụng trong thoát hơi, 30-50% không hiệu quả do bay hơi từ đất, 10-30% thấm qua đất, và 10-25% chảy bề mặt. Quản lý nước trong nông nghiệp nước mưa liên quan đến hai công nghệ cơ bản: thu gom và kiểm soát sự bốc hơi. Nước mưa được khai thác bằng cách thu gom và lưu giữ nước chảy thoát để dùng cho tưới tiêu trong mùa khô. Thứ hai là giảm thiểu sự bốc hơi từ đất và tối đa hóa sự thoát hơi của cây trồng bằng "thay đổi bay hơi". Từ trước đến nay, nước mưa được lưu trữ trong các bể, ao, nhưng công nghệ mới chứa nước trong tầng ngậm nước ngầm thông qua một bể xả hoặc thông qua một giếng chiết nạp. Quản lý đất để giảm sự bay hơi bằng cách sử dụng lớp phủ, không làm đất, trồng xen canh, và chắn gió cũng có tác dụng thay đổi bay hơi.

 

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc, lúa là cây trồng lớn thứ 3 trên thế acheter viagra giới sau lúa mì và bắp. Nó là thực phẩm chính ở các khu vực rộng lớn trên thế giới và với nhu cầu đang tăng lên và mối nguy hiểm đang hiện hữu của biến đổi khí hậu, khả năng hạn hán gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo là một mối bận tâm ngày càng tăng. Trung tâm Khoa học tài nguyên bền vững (CSRS) của RIKEN đang phát triển các chủng lúa chuyển gen mới kết hợp một gen từ cỏ thale cress (Arabidopsis thaliana) để giúp chúng kháng hạn tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu CSRS cho hay cây trồng có thể thích nghi với hạn hán bằng cách tạo ra các loại hóa chất có tên osmoprotectant vốn bao gồm nhiều dạng đường khác nhau. Bằng cách tăng nồng độ của các chất bảo vệ này trong tế bào, chúng có thể giữ nước tốt hơn.

Chìa khóa để sản sinh một loại đường bảo vệ có tên galactinol là enzyme Galactinol synthase (GolS). Làm việc với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) ở Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Quốc tế Nhật Bản (JIRCAS), Trung tâm CSRS đã đưa khả năng sản sinh GolS vào lúa bằng cách cắt ghép một gen từ loài cỏ kháng hạn-mặn thale cress.

“Gen Arabidopsis GolS2 lần đầu tiên được xác định bằng nghiên cứu cơ bản tại RIKEN. Sử dụng nó, chúng tôi có thể cải thiện sức kháng với sức ép lên quan đến hạn hán và tăng sản lượng hạt của lúa trong điều kiện ruộng khô. Đây là một trong những trường hợp hình mẫu tốt nhất mà kiến thức nghiên cứu cơ bản đã được áp dụng thành công hướng tới nghiên cứu giải pháp cho một vấn đề liên quan đến lương thực”, nhà nghiên cứu tại RIKEN Fuminori Takahashi cho biết.

Để sản xuất các chủng lúa mới này, nhóm bắt giống lúa châu Phi và Brazil và thông qua kỹ thuật cắt nối gen (gene splicing), họ có thể làm cho lúa biển hiện quá mức gen GolS2. Sau đó chúng trồng chủng lúa mới trong nhà kính dưới điều kiện có kiểm soát và kiểm tra các enzyme được cây trồng chuyển gen sản sinh và so sánh với một nhóm đối chứng không sửa đổi.

Sau đó nhóm kiểm tra cây trồng chuyển gen dưới các điều kiện hạn hán mô phỏng và phát hiện ra rằng lúa sửa đổi gen cho thấy lá ít xoăn hơn – một dấu hiệu cho thấy có sức ép hại hán. Cuối cùng lúa thử nghiệm được trồng và kiểm tra thực tế ở Cambodia và ở các khu vực và mùa khác nhau trong khoảng thời gian 3 năm. Trong mỗi trường hợp, lúa sửa đổi gen cho năng suất cao hơn, ít xoăn lá hơn, sản sinh nhiều sinh khối hơn, sinh sản tốt hơn, hàm lượng nước cao hơn và tạo ra nhiều chất diệp lục hơn thậm chí trong điều kiện hạn nhẹ đến hạn nặng.

“Giờ chúng tôi đang bắt đầu dự án cộng tác tiếp theo mà ở đó chúng tôi sẽ tạo ra giống lúa hữu ích mà không sử dụng công nghệ [sửa đổi gen]. Có thể mất 5 đến 10 năm để đạt được mục tiêu này nhưng chúng tôi phải tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu theo hướng đó vì hạn hán và biến đổi khí hậu có thể trở nên tồi tệ hơn trong tương lai”, Takahashi cho biết thêm

Giới thiệu 5 giống sắn mới tại Phú Yên

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Giới thiệu 5 giống sắn mới tại Phú Yên

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh)... Đọc thêm tại:http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn
Sau 7 tháng thu hoạch, những giống sắn mới này đều đạt năng suất trên 40 tấn/ha. Các giống đều có thời gian sinh trưởng 7 - 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 - 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7% (sắn KM94 chỉ đạt 25 - 28,4%). Trong đó, sắn KM419 vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến. KM419 được trồng, phát triển tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. Bà con còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm. Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rãi vụ nhằm phục vụ phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do Sở NN-PTNT Phú Yên phối hợp với ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Nông lâm Huế thực hiện.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn
Sau 7 tháng thu hoạch, những giống sắn mới này đều đạt năng suất trên 40 tấn/ha. Các giống đều có thời gian sinh trưởng 7 - 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 - 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7% (sắn KM94 chỉ đạt 25 - 28,4%). Trong đó, sắn KM419 vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến. KM419 được trồng, phát triển tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. Bà con còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm. Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rãi vụ nhằm phục vụ phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do Sở NN-PTNT Phú Yên phối hợp với ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Nông lâm Huế thực hiện.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Ngày 22/1, tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh), SởNN-PTNT tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu cho nông dân 5 giống sắn mới, gồm: giống KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414. 

Các giống sắn này có thời gian sinh trưởng từ 7 đến 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 đến 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 đến 30,7% (so với giống sắn KM94 hàm lượng tinh bột chỉ đạt 25 đến 28,4%). Trong đó, giống sắn KM419 (còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm) vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều, thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến, được trồng phát triển rộng tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. 

Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rải vụ nhằm phục vụ cho phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do SởNN-PTNT phối hợp với Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh và Trường đại học Nông lâm Huế thực hiện. Trong thời gian tới, SởNN-PTNT sẽ nhân rộng đưa các giống mới trên vào sản xuất.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

 

Công nhận 4 giống ngô biến đổi gen làm thực phẩm

Công nhận 4 giống ngô biến đổi gen làm thực phẩm

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNN) chính thức phê duyệt 4 giống ngô biến đổi gien đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hôm 11/8 vừa qua.

Bốn giống ngô được phê duyệt lần này bao gồm giống ngô Bt 11, MIR162 của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034 và NK603 của Công ty TNHH Dekalb Việt Nam.

Đây là bốn giống ngô biến đổi gen đầu tiên tại Việt Nam được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Đây cũng là giống cây trồng biến đổi gen đầu tiên được công nhận tại Việt Nam.

Thông tin từ Bộ NN&PTNN cho biết, giấy xác nhận phê duyệt này được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen.

Tuy nhiên, để có thể đưa vào sản xuất, 4 giống cây ngô biến đổi gen này vẫn phải chờ quyết định phê duyệt về an toàn sinh học của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Như vậy, các giống cây trồng biến đổi gen, bao gồm cả 4 giống ngô nói trên vẫn phải chờ sự phê duyệt của Bộ Tài nguyên Môi trường trước khi được phép sử dụng chính thức tại Việt Nam.

Mặc dù cây trồng biến đổi gen đã được trồng tại một số quốc gia trên thế giới, song việc sản xuất và sử dụng cây trồng biến đổi gen vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng khoa học.

Tại Việt Nam, tại Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg ngày 12/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”.

Tại quyết định này, phát triển và ứng dụng cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam được xác định là nhiệm vụ quan trọng của chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp quốc gia.

Mặc dù vậy, việc ứng dụng cây trồng biến đổi gen tại Việt Nam vẫn gây ra nhiều tranh cãi trong giới khoa học trong những năm qua.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOOD CROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính của các giống khoai lang Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1 (Nhật hồng)

alt

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống.. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội  từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ)  trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU)  trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

4.3 Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG  là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình

Giống khoa HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai HL518  do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai Kokey 14 (Nhật vàng) có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống HL491 (Nhật tím) do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị. Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai HL284 (Nhật trắng) thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

TS. Hoàng Kim

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Source: http://foodcrops.blogspot.com/2010/01/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

 

Công nghệ nông nghiệp chính xác: Lập bản đồ và quản lý và theo dõi năng suất

Công nghệ nông nghiệp chính xác: Lập bản đồ và quản lý và theo dõi năng suất 

Nền nông nghiệp chính xác bao gồm một loạt các công nghệ và thực hành liên quan giúp người nông dân nhận thức và giải quyết được những sự biến đổi đất có thể ảnh hưởng lên sự tăng trưởng của cây trồng. Các kỹ thuật canh tác chính xác hiện nay có xu hướng tập trung vào việc khám phá cách thức biến đổi của các yếu tố như chất lượng đất, nguồn nước, mô hình thoát nước,… trong một cánh đồng, sau đó áp dụng các chiến lược trồng, thu hoạch và quản lý để giải quyết những biến đổi đó. Thông tin, số liệu về các biến đổi trong cánh đồng có thể thu được từ nhiều nguồn như thao tác lấy mẫu và kiểm tra; thiết bị cầm tay, cảm biến gắn ở thiết bị, cảm biến đặt trên cánh đồng hay đặt trên mặt đất, trên không, hoặc các điều tra dựa trên vệ tinh. Các chiến lược quản lý có thể rất khác nhau, mục đích có thể là nhằm tăng năng suất cây trồng hoặc giảm tiêu thụ nguyên liệu đầu vào tốn kém như hạt giống, phân bón và thuốc diệt cỏ.

Canh tác chính xác tập trung vào việc nhận thức và thích ứng với các biến đổi trong cánh đồng có thể là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau giúp phát triển nền nông nghiệp chính xác. Mặc dù các nhà khoa học cây trồng từ lâu đã thử nghiệm nhiều phương pháp nhằm tận dụng thông tin, dữ liệu từ các bức ảnh chụp trên không hay từ vệ tinh cũng như từ những khảo sát được thực hiện trên cánh đồng để cung cấp tin tức về thực hành quản lý cây trồng, nhưng kỹ thuật canh tác chính xác chưa được áp dụng rộng rãi trước thập niên 1990, khi những thay đổi trong bối cảnh kinh doanh nông nghiệp Hoa Kỳ bắt đầu dần có xu hướng mang lại lợi ích cho các nông trại lớn và tích hợp theo chiều dọc ở mức độ cao. Khi các nông trại phát triển, các phương pháp quản lý nông trại truyền thống coi mỗi cánh đồng là một thực thể nguyên khối nhường chỗ cho kỹ thuật quản lý thay thế nhằm tập trung tìm hiểu các biến thể nội đồng và những ảnh hưởng của chúng đến yếu tố năng suất cây trồng. Đồng thời, giá thành của các hệ thống định vị vệ tinh vào thời điểm đó đang giảm mạnh, và các nguồn công nghệ thông tin khác nhau cần thiết để tạo ra, cập nhật và tận dụng bản đồ cánh đồng tùy chỉnh đang trở nên dễ dàng tiếp cận và có giá thành hợp lý đối với những nông dân.

Do lịch sử phát triển, nền nông nghiệp chính xác gắn bó chặt chẽ với các hoạt động thực hành nông nghiệp-công nghiệp quy mô lớn chiếm ưu thế trong các khu vực như miền trung tây Hoa Kỳ, miền nam Brazil, và nhiều vùng ở Canada, Đức và Úc. Chi phí vốn tương đối thấp, quỹ đất cao và tập trung vào hiệu quả (bao gồm cả hiệu quả lao động) giúp khuyến khích nông dân ở các khu vực này mua máy móc, phương tiện nông nghiệp lớn hơn và phức tạp hơn và có khả năng tích hợp các công nghệ canh tác chính xác.

Mặc dù một số kỹ thuật nông nghiệp chính xác có thể được sử dụng trên các trang trại quy mô nhỏ dựa trên sức lao động của con người thay vì lao động cơ khí, nhưng các công nghệ nông nghiệp chính xác tiên tiến nhất lại dựa trên tính tự động ở mức độ rất cao, không chỉ tính ứng dụng mà còn cả về ra quyết định. Nền nông nghiệp chính xác có thể sẽ bổ sung đáng kể vào chi phí hiện tại, và có thể là đến năm 2040 sự gia tăng sản lượng với công nghệ bổ sung này chưa thể bù đắp cho các chi phí bổ sung. Đối với các công nghệ nông nghiệp chính xác được nhân rộng trong tương lai và theo cách thức tác động đáng kể đối với sản lượng lương thực toàn cầu và tiêu thụ tài nguyên, thì những hướng dẫn hay hệ thống ứng dụng tự động hóa đang nổi lên ở các phương tiện máy móc nông nghiệp sẽ phải giảm về kích thước và chi phí để có thể hoạt động được trên các mảnh đất nhỏ ở các nước đang phát triển vốn được xem là nơi có thể tăng năng suất tiềm năng lớn nhất.

Tổng quan về công nghệ nông nghiệp chính xác sau đây minh họa một lộ trình phát triển mà trong đó nền nông nghiệp cơ giới hóa sẽ trải qua một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ và có thể được áp dụng phù hợp với hầu như bất kỳ địa điểm nào.

Các thành phần cơ bản: Lập bản đồ và quản lý

Xét trong nhiều khía cạnh, thiết bị thu nhận định vị vệ tinh là một công nghệ nền tảng trong nền nông nghiệp chính xác và được ứng dụng rộng rãi nhất trong tất cả các công nghệ nông nghiệp chính xác. Thiết bị thu này thường sử dụng tín hiệu từ chùm vệ tinh của Hệ thống định vị toàn cầu Hoa Kỳ (GPS), cùng với điều chỉnh tín hiệu từ máy phát trên mặt đất cố định để cung cấp thông tin vị trí cực kỳ chính xác - một yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng cho các ứng dụng nông nghiệp chính xác. Một trong những ứng dụng phổ biến nhất của đầu thu GPS trong nông nghiệp chính xác là tạo ra các bản đồ đất tọa độ địa lý. Nông dân sẽ sử dụng đầu thu GPS cầm tay để đánh dấu chính xác các vị trí của mẫu đất, sau đó đối chiếu mẫu đất và tọa độ GPS trong một cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (GIS). Có các công nghệ và kỹ thuật khác nhau để xác định tính chất đất, bao gồm xét nghiệm mẫu, đầu dò đo độ dẫn điện của đất (để xác định hàm lượng nước), và đồng hồ đo độ pH cầm tay (nhiều trong số đó tích hợp hay kết nối với đầu thu GPS để tạo ra dữ liệu tọa độ địa lý, mà không đòi hỏi việc phải nhập riêng những dữ liệu này). Nhiều cảm biến còn có thể được gắn trên các phương tiện đi lại để giúp việc đo đạc được thực hiện nhanh hơn tại vị trí là những cánh đồng rộng lớn. Cảm biến từ xa cũng có thể đo liên tục chỉ số chất lượng đất và truyền những số liệu này tại một cơ sở dữ liệu trung tâm.

GPS và GIS cũng được sử dụng để đo lường và sắp xếp các chỉ số thể hiện sức khỏe và tình trạng của cây trồng. Chẳng hạn như đối với thao tác lấy mẫu đất, một loạt các cảm biến và phương pháp có thể được sử dụng để thực hiện đo lường các tọa độ địa lý. Ví dụ, cảm biến cầm tay và cảm biến gắn trên xe có sẵn có thể đo hàm lượng của chất diệp lục trong lá cây bằng cách đo năng lượng ánh sáng phản chiếu trên lá. Hàm lượng diệp lục trong lá thấp cho thấy sự thiếu hụt dinh dưỡng, bệnh hại ở cây trồng hoặc các vấn đề khác. Bên cạnh đó còn có các loại cảm biến tương tự được thiết kế để đo lường các chỉ số sức khỏe khác như nhiệt độ cây trồng (thể hiện sự thiếu hụt nước), hàm lượng đường (giúp xác định độ chín của quả), và sự phá hoại của côn trùng.

Nông dân có thể sử dụng số liệu quan trắc địa lý để hỗ trợ hoạt động quản lý nông trại theo vùng, từ đó, thay đổi các ứng dụng đầu vào cây trồng (giống, phân bón, thuốc trừ sâu) dựa vào các yếu tố như sức sống cây trồng và độ màu mỡ của đất. Kỹ thuật phổ biến giúp kiểm soát đầu vào theo vùng là chia một nông trại thành các khu quản lý, rồi sau đó tính toán phân bố tối ưu đầu vào trong mỗi khu. Phương pháp phân khu được phổ biến vì nó tương đối dễ sử dụng với hệ thống ứng dụng không chính xác, phân tán đồng đều lượng đầu vào trong một mô hình rộng. Tính toán đầu vào cần thiết thường được xem là nhiệm vụ của phần mềm chuyên dụng, đòi hỏi chi phí giấy phép đắt tiền. Tuy nhiên, lượng đầu vào có thể được tính toán thủ công bằng cách sử dụng công thức trong trường hợp người nông dân nắm bắt được những kiến thức cần thiết. Vấn đề đang diễn ra chủ yếu với nền nông nghiệp chính xác là xác định những mức độ đầu vào thích hợp với các điều kiện nông trại khác nhau. Các công thức khuyến cáo hiện nay thường dựa trên giá trị nghiên cứu khoa học cây trồng của nhiều thập niên. Tuy nhiên, chúng thường được sử dụng để quản lý "toàn bộ khu vực nông trại" thông thường trên cơ sở từng khu vực, và không nhất thiết phải phù hợp với các kỹ thuật quản lý quy mô nhỏ hơn nhiều trong canh tác chính xác. Các nhà nghiên cứu đang phát triển các thuật toán, được thiết kế riêng để áp dụng canh tác chính xác và có thể được tùy chỉnh với các điều kiện trong các khu vực nông trại riêng không phân biệt khu vực. Không giống như nhiều công nghệ nông nghiệp chính xác, việc lập bản đồ đầu vào tọa độ không gian địa lý tương đối đơn giản để thích ứng để hoạt động trong các hệ thống nông trại quy mô nhỏ phổ biến ở các nước đang phát triển.

Do tính trung tâm đối với cả canh tác chính xác cơ giới hóa và phi cơ giới hóa, công nghệp lập bản đồ và công nghệ đề xuất đều có khả năng trở thành các thành tố canh tác chính xác quan trọng nhất.

Các hệ thống tích hợp đầu tiên: theo dõi năng suất

Theo dõi năng suất, giải pháp canh tác chính xác được tích hợp đầu tiên mới xuất hiện, đã được áp dụng ở máy gặt-đập liên hợp những năm 1990 và hiện đang là loại phổ biến nhất của hệ thống canh tác chính xác tích hợp. Máy theo dõi năng suất điển hình sử dụng một cảm biến tác động để đo lượng ngũ cốc được xử lý khi vào thùng chứa hạt của máy gặt đập. Cảm biến riêng biệt đo độ ẩm của hạt để giúp hiệu chỉnh các biến đổi do độ ẩm gây ra trong hạt, qua đó, nâng cao độ tin cậy của phép đo dòng hạt này. Máy theo dõi năng suất cho phép nông dân theo dõi sản lượng có độ chính xác hơn so với phương pháp cũ (như cân hạt khi bán). Các dữ liệu năng suất chính xác này giúp nông dân kiểm soát được việc quản lý, điều hành nông trại, chẳng hạn như đàm phán cho thuê cây trồng. Nông dân cũng sử dụng thành phần cảm biến độ ẩm trong máy theo dõi năng suất để thu thập thông tin về điều kiện cây trồng, có thể đưa ra các chiến lược trồng trọt và các thực hành xử lý xây trồng tiếp theo.

Theo dõi năng suất trở thành một công cụ mạnh mẽ, hiệu quả hơn rất nhiều khi kết hợp với thông tin định vị vệ tinh và phần mềm lập bản đồ. Máy gặt đập liên hợp được trang bị cả thiết bị giám sát năng suất và hệ thống GPS có thể tương quan đo lường năng suất tức thời với các địa điểm chính xác trong một khu vực nông trại. Sau đó phần mềm chuyên dụng có thể sử dụng những dữ liệu liên quan đó để tạo bản đồ năng suất, có thể chỉ cho người nông dân các khu vực trên cánh đồng có mức năng suất đặc biệt cao hay thấp. Bản đồ năng suất có thể giúp nông dân khắc phục một loạt các vấn đề về nông trại của mình mà nếu không thì họ sẽ gặp khó khăn lớn trong việc sử dụng các kỹ thuật khác như lập bản đồ đất tọa độ địa lý. Ví dụ, một khu vực có năng suất thấp của một cánh đồng cũng trồng ngũ cốc lại có độ ẩm cao bất thường có thể có vấn đề về thoát nước. Theo dõi năng suất còn có thể giúp nông dân theo dõi kết quả thử nghiệm với các chiến lược trồng khác nhau và kỹ thuật quản lý để xác định những thứ sẽ hoạt động tốt nhất cho các khu vực cụ thể trên cánh đồng

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Liên Kết Chính

 

 

  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 


 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module