Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

  • PDF

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc, lúa là cây trồng lớn thứ 3 trên thế giới sau lúa mì và bắp. Nó là thực phẩm chính ở các khu vực rộng lớn trên thế giới và với nhu cầu đang tăng lên và mối nguy hiểm đang hiện hữu của biến đổi khí hậu, khả năng hạn hán gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo là một mối bận tâm ngày càng tăng. Trung tâm Khoa học tài nguyên bền vững (CSRS) của RIKEN đang phát triển các chủng lúa chuyển gen mới kết hợp một gen từ cỏ thale cress (Arabidopsis thaliana) để giúp chúng kháng hạn tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu CSRS cho hay cây trồng có thể thích nghi với hạn hán bằng cách tạo ra các loại hóa chất có tên osmoprotectant vốn bao gồm nhiều dạng đường khác nhau. Bằng cách tăng nồng độ của các chất bảo vệ này trong tế bào, chúng có thể giữ nước tốt hơn.

Chìa khóa để sản sinh một loại đường bảo vệ có tên galactinol là enzyme Galactinol synthase (GolS). Làm việc với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) ở Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Quốc tế Nhật Bản (JIRCAS), Trung tâm CSRS đã đưa khả năng sản sinh GolS vào lúa bằng cách cắt ghép một gen từ loài cỏ kháng hạn-mặn thale cress.

“Gen Arabidopsis GolS2 lần đầu tiên được xác định bằng nghiên cứu cơ bản tại RIKEN. Sử dụng nó, chúng tôi có thể cải thiện sức kháng với sức ép lên quan đến hạn hán và tăng sản lượng hạt của lúa trong điều kiện ruộng khô. Đây là một trong những trường hợp hình mẫu tốt nhất mà kiến thức nghiên cứu cơ bản đã được áp dụng thành công hướng tới nghiên cứu giải pháp cho một vấn đề liên quan đến lương thực”, nhà nghiên cứu tại RIKEN Fuminori Takahashi cho biết.

Để sản xuất các chủng lúa mới này, nhóm bắt giống lúa châu Phi và Brazil và thông qua kỹ thuật cắt nối gen (gene splicing), họ có thể làm cho lúa biển hiện quá mức gen GolS2. Sau đó chúng trồng chủng lúa mới trong nhà kính dưới điều kiện có kiểm soát và kiểm tra các enzyme được cây trồng chuyển gen sản sinh và so sánh với một nhóm đối chứng không sửa đổi.

Sau đó nhóm kiểm tra cây trồng chuyển gen dưới các điều kiện hạn hán mô phỏng và phát hiện ra rằng lúa sửa đổi gen cho thấy lá ít xoăn hơn – một dấu hiệu cho thấy có sức ép hại hán. Cuối cùng lúa thử nghiệm được trồng và kiểm tra thực tế ở Cambodia và ở các khu vực và mùa khác nhau trong khoảng thời gian 3 năm. Trong mỗi trường hợp, lúa sửa đổi gen cho năng suất cao hơn, ít xoăn lá hơn, sản sinh nhiều sinh khối hơn, sinh sản tốt hơn, hàm lượng nước cao hơn và tạo ra nhiều chất diệp lục hơn thậm chí trong điều kiện hạn nhẹ đến hạn nặng.

“Giờ chúng tôi đang bắt đầu dự án cộng tác tiếp theo mà ở đó chúng tôi sẽ tạo ra giống lúa hữu ích mà không sử dụng công nghệ [sửa đổi gen]. Có thể mất 5 đến 10 năm để đạt được mục tiêu này nhưng chúng tôi phải tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu theo hướng đó vì hạn hán và biến đổi khí hậu có thể trở nên tồi tệ hơn trong tương lai”, Takahashi cho biết thêm

Symbiogenics: Chiến lược giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu lên cây lúa

  • PDF

Symbiogenics: Chiến lược giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu lên cây lúa 

Gạo là nguồn cung cấp gần một nửa nhu cầu calo hàng ngày cho mọi người trên phạm vi toàn cầu, các nhà khoa học có thể làm cho cây lúa trở nên thích nghi với biến đổi khí hậu và những hậu quả thảm khốc đi kèm, bằng cách cấy ghép các bào tử của nấm (sống cộng sinh trên các loài thực vật có khả năng chống chịu tốt với môi trường khắc nghiệt), lên cây lúa và các loại hạt hoặc cây trồng cho hạt khác, theo các nhà nghiên cứu ở Trung tâm khảo sát địa chất Hoa Kỳ (USGS).

Khi thiên tai xảy ra, rất dễ dẫn đến tình trạng thiếu lương thực thực phẩm; do đó, các nhà nghiên cứu ở Trung tâm khảo sát địa chất Hoa Kỳ (USGS) và đồng nghiệp đã tiến hành cấy ghép bào tử nấm (tồn tại tự nhiên ở các loài thực vật bản địa ven biển vốn giỏi chịu mặn và chịu nhiệt) lên hai giống lúa thương mại.

Thí nghiệm "hoàn toàn thành công," theo Tiến sĩ Rusty Rodriguez, tác giả và là nhà nghiên cứu làm việc tại Trung tâm khảo sát địa chất Hoa Kỳ (USGS), cây lúa phát triển mạnh, gia tăng đáng kể khả năng chịu mặn, chịu lạnh và hạn hán, mặc dù các giống lúa thử nghiệm trong điều kiện tự nhiên thường thích nghi kém với những điều kiện môi trường khắc nghiệt. Tạo ra cây lúa có khả năng chịu nhiệt để đơm bông kết hạt trong điều kiện khô hạn là đề tài nghiên cứu tiếp theo của nhóm các nhà khoa học kể từ khi sản xuất lúa gạo giảm 10% cho mỗi 1oC gia tăng vượt ngưỡng nhiệt độ bình thường trong mùa trồng lúa.

"Đây là bước đột phá thú vị," Rodriguez cho biết. "Khả năng đưa loài nấm định cư trên cây lúa làm gia tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, cũng như gia tăng sản lượng hạt và bộ rễ của cây lúa, loài thực vật vốn không liên quan đến gen di truyền của những loài thực vật bẩm sinh trước đó mà loài nấm này đã sống cộng sinh, điều này cho thấy nấm có thể hữu ích trong việc giúp thực vật thích ứng với nạn hạn hán, nhiễm mặn và sự gia tăng nhiệt độ, vốn được dự đoán là sẽ ngày càng tệ hơn trong những năm tới vì sự ấm lên của khí hậu toàn cầu."

Thực ra, Rodriguez nói, sử dụng loài nấm nhỏ xíu này – còn gọi là nấm endophytes, là một trong những chiến lược duy nhất thực sự làm giảm nhẹ ảnh hưởng của thay đổi khí hậu trên cây trồng trong hệ sinh thái nông nghiệp và ngoài môi trường tự nhiên. "Chúng tôi đã đặt tên gọi đặc trưng cho phạm vi nghiên cứu là "symbiogenics" hay còn gọi là sự cộng sinh gen, hay là sự chuyển đổi thông tin di truyền trong tế bào. Tuy nhiên, DNA của bản thân cây lúa vẫn không thay đổi" Rodriguez nói thêm. "Thay vào đó, chúng tôi đang tạo lại những gì thường xảy ra thuộc về bản chất, với sản lượng gạo được dự báo sẽ giảm 15% ở các nước đang phát triển trước năm 2050, chiến lược này rất khả thi."

Cách thức nấm endophytes làm việc: Tất cả thực vật đều có nấm vi sinh hay vi khuẩn sống cộng sinh, chúng không gây ra bệnh cho thực vật. Loại nấm endophytes mà Rodriguez và các đồng nghiệp đang thí nghiệm, đều có tính chất hỗ sinh mạnh mẽ, nghĩa là thực vật và nấm có mối quan hệ gắn bó, cực đại lợi ích cho cả hai đối tác thông qua việc gia tăng khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu của thực vật, và cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho nấm.

Nhà khoa học lấy nấm endophytes từ cỏ dunegrass, loài cỏ thường tiếp xúc đến nước biển nên có khả năng chịu mặn, và cho nấm endophytes định cư ở chỗ cây lúa và các hạt giống với các bào tử nấm, các hạt giống nảy mầm và bào tử nấm endophytes xâm nhập vào mô của cây lúa. Kết quả thật ấn tượng, nấm endophytes làm giảm lượng nước tiêu thụ của cây lúa đến một một nửa, làm gia tăng sự tăng trưởng của cây lúa và tạo ra số lượng hạt nhiều hơn một nửa và có trọng lượng nặng hơn.

"Thông thường, người ta nghĩ rằng cỏ dunegrass là loài thực vật chịu mặn tốt, bởi vì sự thích nghi di truyền xảy ra trong suốt thời gian dài (theo Học thuyết Đắc - uyn ), nhưng chúng tôi nhận thấy khi đưa nấm endophytes ra khỏi cỏ dunegrass, loài thực vật này không còn khả năng chịu mặn nữa," Rodriguez nói. "Điều này có nghĩa là trong môi trường sinh sống tự nhiên thực vật có thể không có những yếu tố di truyền tự thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nhưng nhờ vào việc thiết lập sự cộng tác có lợi với nấm endophytes đã làm cho loài thực vật có khả năng chống chịu mặn tốt hơn".

Trong suốt 40 năm vừa qua dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhiệt độ không khí tối thiểu trong các vụ mùa trồng lúa đã gia tăng đáng kể ở Trung Quốc và Philippine, dẫn đến việc giảm đáng kể trong sản lượng gạo được sản xuất ở các nước này, dự đoán sản lượng gạo sẽ tiếp tục giảm trong tương lai. "Thảm họa thiên nhiên cùng với sự gia tăng dân số đã góp phần tạo nên tình trạng thiếu thốn lương thực thực phẩm và làm gia tăng giá gạo, làm tệ hại thêm tình trạng suy dinh dưỡng và nạn đói trên phạm vi toàn cầu."

Tác giả nhấn mạnh, kết quả của nghiên cứu trên có thể để bù đắp cho một vài ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu bằng những liên kết chặt chẽ như: sớm tạo ra giống lúa mới cùng với phương thức sản xuất nông nghiệp thích hợp trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến sản lượng gạo sản xuất mỗi năm.

Kết quả nghiên cứu trên đã được đăng tải trên tạp chí PLoS One

 

Cách trồng ngô không độc

  • PDF

 Cách trồng ngô không độc

Kỹ thuật di truyền là công cụ giúp ngăn ngừa quá trình lây nhiễm nấm mốc tạo ra aflatoxins Ngô bị nhiễm nấm Aspergillus có khả năng giải phóng ra các chất độc gây ung thư. Ngô biến đổi gen tạo ra các phân tử giống như ninja “sát thủ” có thể kích hoạt cuộc tấn công vào nấm mốc xâm nhập, ngăn chặn việc sản sinh ra độc tố gây ung thư.

Theo như nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Science Advances, ngày 10/3/2017, các phân tử ARN chuyên biệt này chờ đợi cho đến khi chúng phát hiện thấy Aspergillus, là loại nấm mốc có thể biến hạt ngũ cốc và đậu thành thực phẩm gây độc hại cho sức khỏe. Sau đó, các phân tử này sẽ hoạt động, ngăn chặn nấm mốc sản sinh ra protein chịu trách nhiệm tạo ra aflatoxin. Với aflatoxin và các chất độc từ nấm khác ảnh hưởng đến 25% cây trồng trên toàn cầu, phát hiện này có thể giúp tăng cường an toàn thực phẩm trên toàn cầu, các nhà nghiên cứu kết luận.

Monica Schmidt, nhà di truyền học thực vật tại Đại học Arizona, Tucson, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: "Nếu không có protein, sẽ không có độc tố”. Schmidt và các đồng nghiệp đã sử dụng một kỹ thuật gọi là can thiệp ARN, tận dụng cơ chế bảo vệ tự nhiên mà sinh vật sử dụng để bảo vệ cây trồng chống lại virus. Các nhà nghiên cứu đã biến đổi ngô để tạo ra các đoạn ARN ngắn tương hợp với các đoạn ARN của nấm được tạo ra từ gen aflC. Gen này mã hóa một bước quan trọng của quá trình hóa sinh mà nấm sử dụng để tạo ra độc tố. Khi ARN được biến đổi của ngô tương thích với ARN của nấm, sẽ kích hoạt Aspergillus tách riêng ARN của chính nó, ngăn chặn protein chủ chốt và do đó độc tố không được tạo ra.

Sau đó, nhóm nghiên cứu đã tạo ra sự lây nhiễm cả ngô biến đổi gen và ngô không biến đổi với A. flavus, là loài Aspergillus giải phóng aflatoxin mạnh nhất. Sau khi cho ngô - và nấm - phát triển trong một tháng, các nhà nghiên cứu không phát hiện thấy aflatoxin ở ngô đã bị biến đổi. Nhưng họ đã đo được hơn 1.000 phần tỷ aflatoxin ở ngô không biến đổi gen, và đôi khi lên tới 200.000 phần tỷ. Tại Hoa Kỳ, ngô trồng phục vụ cho tiêu dùng của con người được sử dụng làm thức ăn gia súc hoặc bị hủy nếu chúng có trên 20 phần tỷ aflatoxin. Loại ngô bị nhiễm nấm không thể dùng được cho người và động vật trị giá lên đến 270 triệu đô la mỗi năm.

Ở những quốc gia không sàng lọc chất độc, người ta ăn ngô bị nhiễm nấm, điều đó có thể gây nôn mửa, đau bụng và ở mức cao hơn thậm chí là hôn mê. Việc tiếp xúc lâu dài với aflatoxin nồng độ thấp có thể làm chậm quá trình phát triển ở trẻ và gây ung thư gan. "Đó không chỉ là vấn đề kinh tế, nó là vấn đề sức khoẻ", Schmidt nói.

Charles Woloshuk, nhà nghiên cứu bệnh lý thực vật tại Đại học Purdue, Tây Lafayette, Indiana cho biết, việc cho phép A. flavus phát triển và tập trung vào ngăn ngừa nó tạo ra độc tố là một cách tiếp cận tốt. Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu đã thất bại khi cố gắng tạo giống kháng nấm để chống lại aflatoxin. Tuy nhiên, theo Woloshuk, việc nhắm vào mục tiêu nấm theo cách đó có thể gây ra những đột biến nấm cho phép chúng tiếp tục lây nhiễm cây trồng.

Việc can thiệp vào ARN không phải là không nguy hiểm. ARN được thiết kế đặc biệt có thể sai lầm và làm những điều chúng không định làm, chẳng hạn như ảnh hưởng đến sự phát triển của hạt hoặc sự tăng trưởng của cây. Nhưng một phân tích về ngô biến đổi gen đã chỉ ra rằng ARN đang theo hướng đúng. Woloshuk cho rằng "Đó là một tín hiệu tốt”.

Các phương pháp phòng chống nấm khác hiện nay tập trung vào việc bảo quản kín khi ngô đã thu hoạch để tránh nhiễm Aspergillus. Nhưng việc này không hiệu quả nếu ngô bị nhiễm bệnh trước khi được chọn. Kết hợp ngô biến đổi gen, không những bảo vệ được cây trồng khi đang phát triển ngoài đồng ruộng, cùng với kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch sẽ là cách tốt nhất để ngăn chặn Aspergillus lây nhiễm ở ngô. Schmidt cho biết, đây là bước đầu tiên cho thấy tính khả thi, tuy nhiên, đây là một chặng đường dài, và hy vọng quá trình này sẽ được nghiêm cứu thêm.

 

Sắn Phú Yên, giống sắn mới và kỹ thuật thâm canh

  • PDF
FOODCROPS. Các giống sắn mới năng suất cao và kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp tại Phú Yên. Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu, Hoàng Kim, Nguyễn Trọng Tùng và tập thể.  Năm giống sắn mới năng suất cao, triển vọng ở Phú Yên KM419, KM444, KM440, KM397. KM414 đạt năng suất sắn củ tươi và năng suất tinh bột vượt 18-40% so với giống sắn KM94. Tại ruộng trình diễn ở xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh ở thời điểm thu hoạch 7 tháng sau trồng, những giống sắn mới này đều đạt năng suất vượt trên 40 tấn/ ha (bình quân 3,5 – 5,0 kg/ gốc) cao hơn so với KM94 và KM98-5. Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn 1) Sử dụng giống sắn tốt đạt năng suất sắn lát khô và năng suất bột cao; 2) Hom giống sắn tốt, sạch bệnh, bảo quản hom tốt, chặt hom 15-18 cm, trồng đúng cách; 3) Trồng đúng khung thời vụ tốt nhất của địa phương để hom giống nảy mầm tốt; rãi vụ sắn bằng cách: xác định bộ giống sắn phù hợp; chọn thời vụ trồng và xác định thời điểm thu hoạch hợp lý (6, 7, 8, 9, 10, 11 … 18 tháng sau trồng) đạt năng suất và lợi nhuận cao. 4) Sắn nên trồng đất bằng ít dốc, dinh dưỡng tốt, canh tác sắn theo đường đồng mức có băng chống xói mòn và áp dụng các giải pháp trồng sắn trên đất dốc (có sách hướng dẫn); 5) Khoảng cách trồng sắn KM419 là 1,0m x 0,70m tương ứng mật độ 14.000 gốc/ ha; 6) Trồng xen hai hàng đậu phộng (hoặc đậu xanh, đậu cowpea) giữa hàng sắn; 7) Bón phân 100 kg N + 80 kg P2O5+ 120 kg K2O + 1.000 kg phân hữu cơ vi sinh (hoặc 6- 10 tấn phân chuồng), bón đúng quy trình, lót đủ, thúc 1 sớm, thúc 2 đủ kali. 8) Chăm sóc làm cỏ sớm và kịp thời, ít nhất ba lần (trong 2 tháng đầu), giữ sạch cỏ; 9)  Quản lý tốt sâu bệnh hại (đặc biệt là rệp sáp hồng và bệnh chồi rồng); 10) Thu hoạch, chế biến, kinh doanh khép kín, đạt lợi nhuận cao và bảo vệ môi trường.


ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Phú Yên có lúa, mía, sắn là ba cây trồng chính. Năm 2013, diện tích sắn Phú Yên đạt 22,30 nghìn ha, sản lượng 379,90 nghìn tấn  (Tổng cục Thống kê 2014). C
ây sắn là sự lựa chọn của các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vì lợi thế chịu được đất nghèo, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch, dễ chế biến.  Sắn Phú Yên được trồng tập trung tại huyện Sông Hinh và huyện Đồng Xuân, với diện tích sắn năm 2013 là 9.987 ha và 4.300 ha, sản lượng tương ứng 194.746,5 tấn 83.850 tấn, chiếm 65% diện tích và 62% sản lượng sắn của toàn tỉnh. Tại hai huyện này, tỉnh đã có hai nhà máy sản xuất tinh bột sắn với tổng công suất 270 tấn nguyên liệu /ngày (Công ty cổ phần Tinh bột sắn FOCOCEV có công suất 150 tấn nguyên liệu/ngày; Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Đồng Xuân có công suất 120 tấn nguyên liệu/ ngày). Ngoài ra, tỉnh còn có 60 cơ sở chế biến tinh bột sắn thủ công với công suất 0,5 – 1,0 tấn/ngày/cơ sở, chủ yếu ở huyện Tây Hòa và thị xã Sông Cầu. Việc ứng dụng giống sắn mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiến bộ, bền vững kèm theo là yêu cầu cấp thiết của sản xuất.


Sản xuất sắn tại huyện Sông Hinh tăng mạnh những năm gần đây. Năm 2013, tổng diện tích sắn toàn huyện là 9.987 ha, năng suất sắn củ tươi là 20 tấn/ha, sản lượng sắn là 199.740 tấn. Năm 2014, thiên tai hạn hán nên tổng diện tích sắn toàn huyện là 8.822 ha, năng suất sắn củ tươi đầu vụ là 14,9 tấn/ha, sản lượng sắn ước đạt 131.448 tấn. Toàn huyện Sông Hinh có 07 nhóm đất, trong đó có ba nhóm đất chính là đất đỏ vàng (66,7%), đất xám (16,1%) và đất mùn trên núi (6,9%) chiếm 89,7% tổng diện tích tự nhiên, các nhóm đất còn lại có diện tích ít.
Cây sắn được trồng nhiều nhất ở các xã Đức Bình Đông; Sơn Giang; EaLy; thị trấn Hai Riêng... chủ yếu trên đất đỏ vàng. Giống sắn sử dụng chủ yếu là 3 giống KM98-5, KM140KM94. Cây sắn sau khi thu hoạch lựa chọn những cây không bị sâu bệnh để làm giống; hom chặt dài 15 – 20 cm. Thời vụ trồng chủ yếu vào cuối mùa mưa. Đất trồng chủ yếu là đất đồi núi có độ dốc cao. Đất được cày bằng máy, sau đó bừa để làm sạch cỏ dại. Rạch hàng để đặt hom. Khoảng cách trồng phổ biến là 1m x 0,8m, trồng sắn theo cách cuốc hốc. Phân bón cho cây sắn ở Sông Hinh ít được sử dụng, nhất là đồng bào thiểu số. Làm cỏ 2 lần kết hợp vun luống vào 2 thời kỳ bón phân.  Thu hoạchsắn khoảng 7 - 12 tháng sau trồng tùy thời vụ trồng và thời điểm thu hoạch. Chủ yếu dùng sức người trong khâu thu hoạch. Những năm gần đây tình trạng nông dân ở Sông Hinh ồ ạt chuyển đổi các loại cây trồng sang trồng sắn do giá sắn cao, cây sắn  đầu tư ít và hiệu quả cao, dẫn đến nạn phá rừng trồng sắn trên đất dốc nhiều và nguy cơ phá vỡ quy hoạch vùng nguyên liệu mía. Mặt khác dân trồng sắn quảng canh ít đầu tư hoặc đầu tư không đúng mức, không áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp nên đất sắn nguy cơ bị suy kiệt và xói mòn nghiêm trọng. Đề tài Nghiên cu tuyn chn ging sn ngn ngày và k thut thâm canh rãi v nhm phc v cho vic phát trin cây sn bn vng tnh Phú Yên” thực hiện tại hai huyện Sông Hinh và Đồng Xuân là rất cấp thiết. Hội thảo đầu bờ “Giới thiệu các giống sắn mới và kỹ thuật canh tác”nhằm thông tin về các giống sắn mới và quy trình kỹ thuật thâm canh rãi vụ sắn thích hợp tại địa phương, tóm tắt kết quả đề tài sắn Phú Yên và kế hoạch thực hiện năm 2015.  

NĂM GIỐNG SẮN MỚI NĂNG SUẤT CAO 

Giống sắn KM419 (SVN5)

Nguồn gốc:
Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ tổ hợp lai BKA900 x KM 98-5 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai,  và tập thể 2014).

Đặc điểm giống
: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 34,9-54,9 tấn / ha (vượt 27,7- 29.6% so với KM94), hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7%, năng suất tinh bột 10,1 -15,8 tấn /ha, năng suất sắn lát khô 15,6-21,6 tấn/ha (so với KM94 hàm lượng tinh bột 25,0- 28,4 %, năng suất tinh bột 6,4-9,5 tấn/ ha, năng suất sắn lát khô 6,4-9,5 tấn/ha). Giống sắn KM419 có chiều cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, rất thích hợp với chế biến và thị trường, nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá.

Giống sắn KM419 đã được khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất và phát triển rộng tại Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên,… được nông dân các địa phương ưa chuộng và phát triển nhanh trong sản xuất với tên gọi sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm. Đặc biệt tại tỉnh Tây Ninh, KM419 là giống sắn chủ lực được trồng trên 50% diện tích sắn của toàn tỉnh mang lại bội thu năng suất và hiệu quả cao về kinh tế xã hội. Giống sắn KM419 được Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với các Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên đề nghị công nhận giống, định hướng ưu tiên sử dụng cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ và vùng trung du miền núi phía Bắc. Giống KM419 đã được Hội đồng giống Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống  năm 2014.

Giống sắn KM444

Nguồn gốc: Giống sắn KM444 còn có các tên khác là HL2004-28 (SVN7) do Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Cây có củ, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh chọn tạo và giới thiệu. (Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Viết Hưng, Hoàng Kim Diệu, Nguyễn Trọng Hiễn, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2014). Giống sắn HL2004-28 được tuyển chọn ban đầu từ dòng số 28 của tổng số 2152 hạt sắn thu năm 2004 từ cây mẹ của giống sắn KM444 (là con lai chọn lọc của tổ hợp lai  (GM444-2 x GM444-2) x XVP do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam lai hữu tính năm 2003

Đặc điểm giống
: Giống sắn HL2004-28 (= SVN7 = KM444) có gốc thân hơi cong, phân cành cao. Lá màu xanh đậm, ngọn xanh nhạt. Dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng. Đặc điểm nổi bật của giống KM444 là rất ít nhiễm sâu bệnh. Năng suất củ tươi đạt 37,5 – 48,3 tấn/ha. Hàm lượng bột đạt 28,3- 29,2%. Giống sắn SVN7 (HL2004-28) chọn dòng từ hạt giống sắn cây mẹ KM444 đã được Hội đồng giống Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống tạm thời năm 2014. Tại vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ các dòng khảo nghiệm tác giả của KM444 năm 2004 trong thực tế sản xuất được nông dân ưa chuộng, giữ lại và nhân giống, rất cần bình tuyển giống tốt thích hợp cho vùng sinh thái.   

Giống sắn KM 440

Nguồn gốc: Giống sắn KM440 được tạo dòng từ các cây đầu dòng ưu tú của giống sắn KM140 theo phương pháp CIAT bằng cách thu hạt sắn tự thụ (lai lại, back cross) của cây giống gốc KM140 và chọn lọc phả hệ. Giống sắn gốc KM140 là con lai của tổ hợp KM 98-1 x KM 36 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim, Võ Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Hỷ, Phạm Văn Biên, Đào Huy Chiên, Reinhardt Howeler và Hernan Ceballos 2007, 2009). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống quốc gia năm 2009 trên toàn quốc và đoạt giải Nhất Hội thi sáng tạo kỹ thuật (VIFOTEC) toàn quốc năm 2010. Giống sắn KM440 được tạo dòng từ giống sắn KM140.

Đặc điểm giống sắn KM440:

+ Thân xanh, thẳng, ngọn xanh, cây cao vừa phải, không phân nhánh.

+ Năng suất củ tươi:     35,4 – 48,5 tấn/ha.
+ Tỷ lệ chất khô:          37,9 – 41,7%.

+ Hàm lượng tinh bột: 27,2- 29,3%.
+ Năng suất bột :            9,5 -10,0 tấn/ha

+ Chỉ số thu hoạch:      56 -63 %.
+ Thời gian thu hoạch:   8-10 tháng.

+ Nhiễm nhẹ bệnh cháy lá.
+ Thời gian giữ bột sớm hơn KM94

Giống sắn KM397
Nguồn gốc
: KM397 là con lai của KM108-9-1 x KM219 chính là tổ hợp lai kép (SM937-26 x SM937-26) x (BKA900 x BKA900) do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chon tạo và khảo nghiệm năm 2003 (Hoàng Kim và ctv 2009). Giống SM937-6 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1995 (Trần Ngọc Quyền và ctv, 1995). BKA900 là giống sắn ưu tú nhập nội từ Braxil có ưu điểm năng suất củ tươi rất cao nhưng chất lượng cây giống không thật tốt, khó giữ giống cho vụ sau. KM397 kết hợp được nhiều đặc tính quý của hai giống cha mẹ SM937-26 và BKA900.

Đặc điểm giống
: KM397 có thân nâu tím, thẳng, nhặt mắt, không phân nhánh; lá xanh thẫm, ngọn xanh, củ đồng đều, dạng củ đẹp, thịt củ màu trắng, thích hợp xắt lát phơi khô và làm bột. Thời gian thu hoạch 8-10 tháng sau trồng, năng suất củ tươi 33,0 - 54,0 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,5 – 29,6%, tỷ lệ sắn lát khô 42,5 - 44,3%, năng suất tinh bột 9,2- 13,5 tấn/ha, năng suất sắn lát khô 13,8 - 17,6 tấn/ ha. chỉ số thu hoạch 60 - 63,0%. Giống sắn KM397 chịu khô hạn tốt, rất ít nhiễm sâu bệnh, thời gian giữ bột tương đương KM94

Giống sắn KM414
Nguồn gốc:
KM414 hiện có hai dòng đều được ưa thích trong sản xuất. Đó là KM414-2 (hình bên phải, dân gọi là Sắn Lá Tre cực ngắn ngày, để phân biệt với giống sắn KM414-1 là Sắn Cao Sản, hình bên trái và phân biệt với KM325 là Sắn Lá Tre xanh và SC205 là Sắn Lá Tre cọng đỏ) Quá trình dục thành giống đang giữ lại KM414-2.

KM414-1 và KM414-2 là con lai của tổ hợp KM146-7-2 x KM143-8-1, chính là tổ hợp lai kép (KM98-5 x KM98 -5) x (KM98-1 x KM98-1) do nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chon tạo và khảo nghiệm năm 2003 (Hoàng Kim và ctv, 2009). Hai giống sắn KM98-1 và KM98-5 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT lần lượt công nhận giống năm 1999 và 2009 (Hoàng Kim và ctv, 1999; Trần Công Khanh và ctv, 2005). Giống sắn lai KM414 kết hợp được nhiều đặc tính quý của hai giống cha mẹ KM98-1 và KM98-5.

Đặc điểm giống:
Giống sắn
KM414 -2 có thân màu nâu xám, nhặt mắt, ít phân nhánh, lá xanh đậm, xẻ thùy sâu, ngọn xanh, thịt củ màu trắng hơi vàng nhạt, củ to, thích hợp thu hoạch sớm và bán sắn lát khô. Năng suất củ tươi đạt 43,5 đến 54,6 tấn/ha; hàm lượng bột đạt 25,6 đến 27,9%.
Giống sắn KM414 -1 có thân màu xám trắng, phân cành cao, lá xanh, ngọn xanh, dạng củ không được ưa thích bằng giống KM419, thịt củ màu trắng, thích hợp làm sắn lát khô và làm bột. Năng suất củ tươi đạt 42,3 đến 52,3 tấn/ha; hàm lượng bột đạt 27,8 đến 29,3%.

MƯỜI BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH RÃI VỤ SẮN
(Quy trình kỹ thuật chi tiết kèm theo)

1) Sử dụng giống sắn tốt đạt năng suất sắn lát khô và năng suất bột cao;

2) Hom giống sắn tốt, sạch bệnh, bảo quản hom, chặt và trống đúng cách;
3) Trồng đúng khung thời vụ tốt nhất của địa phương để hom giống nảy mầm tốt; rãi vụ sắn bằng cách: xác định bộ giống sắn phù hợp; rãi thời vụ trồng và xác định thời điểm thu hoạch hợp lý (6, 7, 8, 9, 10, 11 … 18 tháng sau trồng) để đạt năng suất và lợi nhuận cao.

4) Sắn trồng đất bằng, ít dốc, dinh dưỡng tốt, làm đất trồng theo đường đồng mức và áp dụng các giải pháp hiệu quả chống xói mòn trên đất dốc

5) Khoảng cách trồng sắn 1,0 x 0,70 tương ứng mật độ 14.000 gốc/ ha,
6) Trồng xen hai hàng đậu phộng (hoặc đậu xanh, đậu cowpea) giữa hàng sắn (nếu thuận)

7) Bón phân 100 kg N + 80 kg P2O5+ 120 kg K2O + 1.000 kg phân hữu cơ VS /ha  (hoặc 10 tấn phân chuồng), bón đúng quy trình: lót đủ, thúc 1 sớm, thúc 2 đủ kali.
8) Chăm sóc làm cỏ sớm và kịp thời, ít nhất ba lần (trong 2 tháng đầu) và giữ sạch cỏ;
9)  Quản lý tốt sâu bệnh hại (đặc biệt là rệp sáp hồng và bệnh chồi rồng)

10) Thu hoạch, chế biến, kinh doanh khép kín.

 Xem thêm:
VTV Phú Yên. Thời sự 11h30 (23/1/2015)
Nông nghiệp Việt Nam. Giới thiệu 5 giống sắn mới
VTV Cần Thơ . Giới thiệu 5 giống sắn mới...
Phú Yên online: Chuyển giao 5 giống sắn mới cho nông dân sản xuất
TTNCKH Nông Vận: Phú Yên Chuyển giao 5 giống sắn mới cho nông dân sản xuất

Mười kỹ thuật thâm canh sắn


Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu,
Hoàng Kim, Nguyễn Trọng Tùng và tập thể

 

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương Namfoodcrops.vnKim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook

 

Giống khoai lang ở Việt Nam

  • PDF

FOODCROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang phổ biến trong sản xuất hiện nay Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

TS. Hoàng Kim

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG

Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ)

Nguồn gốc: Giống HL518 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang KOKEY14 (Nhật vàng)

Nguồn gốc: Giống Kokey 14 có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống khoai lang HL491 (Nhật tím)

Giống HL491 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị..

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang MURASAKIMASARI (Nhật tím 1)

Nguồn gốc: Giống Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai lang HL284 (Nhật trắng)

HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang KB1

KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Những bài liên quan
Việt Nam - Khoai lang Atlas - CIP-collab
Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/03/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

  • PDF

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

Các nhà khoa học tại Trung tâm Khoa học Tài nguyên Bền vững RIKEN (CSRS) đã phát triển các giống lúa chịu hạn trong các tình huống thực tế.

Được đăng tải trên tạp chí Công nghệ Sinh học Thực vật, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: cây lúa biến đổi gien với một gien từ cây Arabidopsis cho năng suất cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien khi phải chống chịu hạn hán tự nhiên. Nghiên cứu được thực hiện với sự cộng tác giữa các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) tại Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Khoa học Nông nghiệp Nhật Bản (JIRCAS) tại Nhật Bản.

Do lượng lúa gạo cần để giúp nuôi sống dân số toàn cầu tăng lên, nên hậu quả của việc giảm cây trồng do hạn hán đang trở nên nghiêm trọng hơn. Các nhà khoa học tại RIKEN và các cộng sự đã giải quyết vấn đề này bằng cách phát triển các giống lúa biến đổi gien có khả năng chịu hạn hơn.

Thông thường, cây trồng thích ứng với căng thẳng do hạn hán bằng cách tạo ra osmoprotectants - các phân tử giống như các loại đường hòa tan giúp nước không bị thoát ra ngoài lá. Galactinol synthase (GolS) là một enzyme cần thiết để tạo ra một trong những loại đường quan trọng này được gọi là galactinol. Trong các nghiên cứu trước đó, các nhà khoa học của RIKEN đã chỉ ra rằng cây Arabidopsis biểu hiện gien AtGolS2 để ứng phó với căng thẳng do hạn hán và mặn.

Trong nghiên cứu này, họ đã tạo ra một số dòng lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có biểu hiện gien này, và với các cộng sự từ CIAT và JIRCAS, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra xem cây lúa phát triển tốt như thế nào trong các điều kiện khác nhau của những năm khác nhau.

Kết quả rất khả quan. Thứ nhất, họ đã trồng nhiều giống lúa khác nhau trong điều kiện nhà kính và cho thấy lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có hàm lượng galactinol cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien. Tiếp theo, họ đã kiểm tra khả năng chịu hạn trong giai đoạn tăng trưởng của cây vì thời kỳ này thường trùng với thời gian diễn ra hạn hán. Sau ba tuần, các dòng biến đổi gien có lá mọc cao hơn, ít bị cuốn lá hơn - phản ứng thường thấy khi bị căng thẳng do hạn hán.

Khả năng chịu hạn tiếp theo được xác nhận vào giai đoạn tạo hạt ở ba cuộc thử nghiệm tại Colombia. Những thử nghiệm này diễn ra trong các mùa khác nhau và các địa điểm khác nhau. Tuy nhiên, các dòng biến đổi gien ở cả hai giống lúa đều cho năng suất và sinh khối lớn hơn, ít bị cuốn lá hơn và khả năng tạo hạt cao hơn so với lúa không biến đổi gien.

Cuối cùng, họ đã khảo nghiệm lúa biến đổi gien trong 3 năm ở các môi trường tự nhiên khác nhau. Một lần nữa, một số dòng biến đổi gien cho thấy năng suất hạt cao hơn trong điều kiện hạn hán nhẹ và nghiêm trọng.

 

Nước ngầm được sử dụng để trồng lương thực đang biến mất

  • PDF

11% Lượng nước ngầm được sử dụng để trồng lương thực đang biến mất 

Lúa mì, gạo, đường, sợi bông và ngô nằm trong số các cây trồng được giao dịch quốc tế quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Theo Chương trình Nước của Liên hợp quốc, để sản xuất ra các loại cây trồng này, nhiều nước phụ thuộc vào nền nông nghiệp tưới tiêu, chiếm khoảng 70% lượng nước ngọt toàn cầu. Một nguồn nước ngọt là các tầng nước ngầm, một số trong đó được bổ sung thêm lượng nước chậm đến nỗi chúng chủ yếu là nguồn tài nguyên không tái tạo được.

Một nghiên cứu mới của các nhà nghiên cứu tại Đại học College London và Viện Nghiên cứu Không gian Goddard của NASA ở thành phố New York cho thấy, 11% nước ngầm không phục hồi được dùng cho việc tưới tiêu các cây trồng mà sau đó được buôn bán trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, hai phần ba số cây trồng xuất khẩu phụ thuộc vào nước ngầm không tái tạo được sản xuất ở Pakistan (29%), Hoa Kỳ (27%) và Ấn Độ (12%).

Tác giả chính của nghiên cứu, Carole Dalin thuộc Đại học College London, cho biết: "Không chỉ riêng các nước đang trải qua tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm, mà còn cả các đối tác thương mại của họ. "Khi người ta tiêu thụ các thực phẩm nhập khẩu, họ nên biết rằng họ có thể có ảnh hưởng đến môi trường ở nơi khác."

Dalin và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu thương mại về các mặt hàng nông nghiệp của các nước từ Tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc. Sau đó, họ kết hợp nó với mô hình thủy văn toàn cầu - đã được chứng thực bằng thông tin cơ sở và dữ liệu vệ tinh của NASA - để tìm ra nguồn nước sử dụng để sản xuất 26 loại cây trồng cụ thể từ nước khởi điểm đến nơi đến cuối cùng. Phân tích của họ là phân tích đầu tiên xác định những cây trồng cụ thể nào đến từ các hồ chứa nước ngầm không tái tạo và nơi chúng được tiêu thụ.

Đồng tác giả Michael Puma đến từ Viện Nghiên cứu Không gian Goddard của NASA và Đại học Columbia ở thành phố New York cho biết, "Ví dụ như, tôi đang ở Nhật Bản, và tôi đang nhập ngô từ Mỹ. Điều quan trọng đứng từ quan điểm của Nhật Bản là cần biết rằng ngô này đang được sản xuất với nguồn nước bền vững, bởi vì bạn có thể tưởng tượng rằng nếu nước ngầm suy giảm quá mức về lâu dài, thì Mỹ sẽ gặp khó khăn khi sản xuất cây trồng đó".

Trên phạm vi toàn cầu, 18 phần trăm tất cả các loại cây trồng được bán trên thị trường quốc tế. 82% còn lại vẫn ở trong nước cho thị trường nội địa. Tuy nhiên, số lượng các loại cây trồng xuất khẩu khác sử dụng nước ngầm không bền vững đã tăng đáng kể từ năm 2000 đến năm 2010. Ví dụ như, Ấn Độ có lượng xuất khẩu cây trồng làm suy giảm nước ngầm tăng gấp đôi trong khi đó Pakistan tăng 70% và Hoa Kỳ tăng 57 phần trăm.

Các nước xuất khẩu và nhập khẩu các loại cây trồng này có thể có nguy cơ bị mất mùa và lợi nhuận trong tương lai, khi sản xuất bằng nước ngầm không phục hồi được. Các nhà nhập khẩu có thể cần phải tìm nguồn thay thế, có thể với chi phí cao hơn.

Các nhà nhập khẩu chính các loại cây trồng có nguồn nước ngầm không phục hồi được bao gồm Mỹ, Iran, Mexico, Nhật Bản, Ả-rập Xê-út, Canada, Bangladesh, Anh, Irac và Trung Quốc – nước đi từ nhà xuất khẩu ròng trong năm 2000 đến nhà nhập khẩu ròng trong năm 2010. Các quốc gia nằm trong danh sách các nước nhập khẩu lẫn xuất thường thì thường xuất khẩu hàng hoá khác với hàng nhập khẩu.

Các tầng nước ngầm hình thành khi nước tích tụ trên mặt đất theo thời gian, đôi khi qua hàng trăm hoặc hàng ngàn năm. Các lớp nước ngầm không thể tái tạo được là những nơi không tích lũy lượng mưa đủ nhanh để thay thế lượng nước bị mất trên bề mặt, do bị chảy vào sông hồ một cách tự nhiên hoặc trong trường hợp này là do con người bơm lấy. Khi mà nước ngầm bị cạn kiệt, thì nó sẽ mãi mãi mất đi trong khoảng thời gian sống của con người, và sẽ không còn có để hỗ trợ trong các cuộc khủng hoảng như hạn hán, Dalin giải thích.

Sự suy giảm của các lớp ngậm nước trên toàn thế giới đã được quan sát thấy trong mười lăm năm qua từ một cặp vệ tinh gọi là GRACE, có chức năng phát hiện những thay đổi trong từ trường của Trái đất để nhìn thấy sự chuyển động của các khối như băng và trong trường hợp này là nước ngầm.

Theo Matt Rodell, nhà thủy văn học, thuộc Trung tâm Không gian Goddard của NASA ở Greenbelt, Maryland, người không tham gia trong nghiên cứu, nhận xét: "Điều tiên tiến trong nghiên cứu này là kết nối ước tính lượng nước ngầm cạn kiệt với dữ liệu cấp quốc gia. Cần có nhiều nghiên cứu hơn để xem xét sự tăng trưởng dân số, thay đổi chế độ ăn, thay đổi khí hậu, thực hiện công nghệ tưới tiêu và những thay đổi chính sách để hiểu được khi nào những tầng lớp ngậm nước này có thể bắt đầu cạn kiệt".

Dalin cho biết, lượng nước tuyệt đối ở nhiều tầng nước ngầm rất khó để lượng định, mặc dù các chuyên gia ở nhiều vùng đang tìm kiếm các phương pháp tốt hơn để xác định lượng nước còn lại và thời gian nó có thể kéo dài bao lâu. Theo bà, hiện tại và trong tương lai, các nhà hoạch định chính sách và nông dân địa phương sẽ cần phải quyết định một chiến lược sử dụng nguồn nước không tái tạo để cân bằng nhu cầu sản xuất ngắn hạn và sự bền vững lâu dài.

 

Giới thiệu 5 giống sắn mới tại Phú Yên

  • PDF

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Giới thiệu 5 giống sắn mới tại Phú Yên

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh)... Đọc thêm tại:http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn
Sau 7 tháng thu hoạch, những giống sắn mới này đều đạt năng suất trên 40 tấn/ha. Các giống đều có thời gian sinh trưởng 7 - 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 - 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7% (sắn KM94 chỉ đạt 25 - 28,4%). Trong đó, sắn KM419 vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến. KM419 được trồng, phát triển tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. Bà con còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm. Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rãi vụ nhằm phục vụ phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do Sở NN-PTNT Phú Yên phối hợp với ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Nông lâm Huế thực hiện.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn
Sau 7 tháng thu hoạch, những giống sắn mới này đều đạt năng suất trên 40 tấn/ha. Các giống đều có thời gian sinh trưởng 7 - 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 - 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7% (sắn KM94 chỉ đạt 25 - 28,4%). Trong đó, sắn KM419 vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến. KM419 được trồng, phát triển tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. Bà con còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm. Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rãi vụ nhằm phục vụ phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do Sở NN-PTNT Phú Yên phối hợp với ĐH Nông lâm TP.HCM, ĐH Nông lâm Huế thực hiện.... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

Ngày 22/1, tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh), SởNN-PTNT tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu cho nông dân 5 giống sắn mới, gồm: giống KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414. 

Các giống sắn này có thời gian sinh trưởng từ 7 đến 10 tháng, năng suất củ tươi từ 35 đến 55 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,8 đến 30,7% (so với giống sắn KM94 hàm lượng tinh bột chỉ đạt 25 đến 28,4%). Trong đó, giống sắn KM419 (còn gọi là giống sắn siêu bột Nông Lâm) vượt trội vì có chiều cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, củ đồng đều, thịt củ màu trắng rất thích hợp chế biến, được trồng phát triển rộng tại tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên. 

Đây là đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh trồng rải vụ nhằm phục vụ cho phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên”, do SởNN-PTNT phối hợp với Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh và Trường đại học Nông lâm Huế thực hiện. Trong thời gian tới, SởNN-PTNT sẽ nhân rộng đưa các giống mới trên vào sản xuất.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Sở NN-PTNT Phú Yên đã tổ chức hội thảo đầu bờ giới thiệu 5 giống sắn mới (KM419, KM440, KM444, KM397 và KM414) tại xã Đức Bình Đông (huyện Sông Hinh). ... Đọc thêm tại: http://nongnghiep.vn/gioi-thieu-5-giong-san-post138064.html | NongNghiep.vn

 

Công nhận 4 giống ngô biến đổi gen làm thực phẩm

  • PDF

Công nhận 4 giống ngô biến đổi gen làm thực phẩm

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNN) chính thức phê duyệt 4 giống ngô biến đổi gien đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hôm 11/8 vừa qua.

Bốn giống ngô được phê duyệt lần này bao gồm giống ngô Bt 11, MIR162 của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034 và NK603 của Công ty TNHH Dekalb Việt Nam.

Đây là bốn giống ngô biến đổi gen đầu tiên tại Việt Nam được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Đây cũng là giống cây trồng biến đổi gen đầu tiên được công nhận tại Việt Nam.

Thông tin từ Bộ NN&PTNN cho biết, giấy xác nhận phê duyệt này được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen.

Tuy nhiên, để có thể đưa vào sản xuất, 4 giống cây ngô biến đổi gen này vẫn phải chờ quyết định phê duyệt về an toàn sinh học của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Như vậy, các giống cây trồng biến đổi gen, bao gồm cả 4 giống ngô nói trên vẫn phải chờ sự phê duyệt của Bộ Tài nguyên Môi trường trước khi được phép sử dụng chính thức tại Việt Nam.

Mặc dù cây trồng biến đổi gen đã được trồng tại một số quốc gia trên thế giới, song việc sản xuất và sử dụng cây trồng biến đổi gen vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong cộng đồng khoa học.

Tại Việt Nam, tại Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg ngày 12/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”.

Tại quyết định này, phát triển và ứng dụng cây trồng biến đổi gen ở Việt Nam được xác định là nhiệm vụ quan trọng của chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp quốc gia.

Mặc dù vậy, việc ứng dụng cây trồng biến đổi gen tại Việt Nam vẫn gây ra nhiều tranh cãi trong giới khoa học trong những năm qua.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC