Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Trung Quốc và khoai lang tím Nhật

  • PDF

FOODCROPS. Báo Nông Nghiệp và bài viết của Hữu Đức về tình hình gia tăng trồng khoai lang tím giống Nhật Bản để bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc của hai vùng trồng khoai thuận lợi Kiên Giang và Vĩnh Long .

alt 

Chạy theo khoai lang tím
Hữu Đức

Theo làn sóng nhà nhà trồng khoai lang tím giống Nhật Bản bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, nông dân ở huyện Bình Tân (Vĩnh Long) hăm hở vỡ đất trồng khoai mở rộng lên 6.000 ha, lớn nhất vùng ĐBSCL.

Vừa sau vụ khoai đầu năm trúng mùa, trúng giá cao ngất. Lại nghe nói thương lái Trung Quốc sang thuê đất trồng khoai ở Bình Minh (Vĩnh Long) nên dân trồng khoai càng vững tin. Dù người tính thận trọng đến mấy cũng khó ngồi yên nhìn mấy ông hàng xóm vác cuốc ra đồng lên luống trồng khoai...

Hàng năm mùa khoai lang ở Bình Tân bắt đầu từ sau khi thu hoạch lúa đông xuân. Tháng 1 trồng, đến tháng 4 vỡ khoai. Tháng 4 vừa qua nông dân Bình Tân trúng mùa và bán được cao giá nhất từ trước tới nay. Lúc đỉnh điểm 820.000 đồng/tạ (60 kg/tạ). Nhưng tới những ngày này giá khoai tím hạ dần, chỉ còn 440.000 đồng/tạ. Vậy mà chạy dọc theo quốc lộ 54, hai bên đồng từ chợ Bà lên tới các xã Tân Qưới, Tân Lược, huyện Bình Tân, xen kẽ với mấy thửa ruộng lúa thu đông, nơi có đê bao vững vẫn còn hàng vạn luống khoai thẳng tắp, xòe lá xanh rì.

Nhiều năm qua ở ĐBSCL có hai vùng đất trồng khoai lang bền bỉ do trời phú điều kiện thổ nhưỡng thích nghi và duy trì liền mạch thị trường tiêu thụ. Ở Kiên Giang có 1.000 ha khoai lang tập trung nhiều nhất các huyện Hòn Đất, Kiên Lương, Giồng Riềng. Lâu nay khoai từ vùng này được bán nhiều về TP HCM và các tỉnh trong vùng. Mấy năm gần đây khoai Kiên Giang bắt đầu mở mũi xuất bán sang Campuchia, Thái Lan và bán cho thương lái xuất qua Trung Quốc.

Trong khi đó Vĩnh Long có vùng khoai lang Bình Minh, Bình Tân. Riêng Bình Tân mau chóng nổi lên thành vùng trồng khoai chuyên canh. Khoai từ đây bán đi khắp vùng ĐBSCL và tiêu thụ mạnh nhất là mấy nhà vựa địa phương thu mua, đóng thùng chuyển theo xe tải bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc.

Ông Bảy Tố, nông dân xã Thành Lợi, huyện Bình Tân kể: “Thương lái Trung Quốc chuộng mua khoai lang tím. Nhưng họ không mua trực tiếp mà thông qua mấy nhà vựa. Cuối tháng 4 vừa rồi, tôi thu 7 công khoai lang tím năng suất đạt 30-40 tạ/công, bán giá 820.000 đồng/tạ, lãi 18-19 triệu đồng/công. Nhưng họ lựa hàng gắt lắm, củ tròn mới mua, củ dài loại ra bán rẻ, vả lại thị trường nội địa không ăn hàng nhiều khoai tím này”.

Đang mùa mưa. Hàng xuất đi Trung Quốc yếu, giá rớt dần. Đi tới mấy ruộng khoai thu hoạch rộ, dây khoai còn dính củ, bùn đất ướt lấm lem. Dân trồng khoai nói, vỡ khoai mà nhằm ngay mưa là cực trần thân, phải dùng quạt cho khoai ráo, lặt dây và lựa ra mới cân bán được. Đã vậy, khi giá xuống, thị trường chậm ăn thì càng có cớ cho thương lái õng ẹo, kêu hoài chưa muốn tới.

Một nhóm nông dân ở Tân Qưới, huyện Bình Tân ngồi bàn với nhau, mấy hôm trước nghe lái Trung Quốc ra xem hàng, bảo giảm còn 490 ngàn đồng/tạ, nhưng rồi qua mấy tay lái “em” địa phương ém giá còn 440-450 ngàn đồng/tạ. Thế nhưng có người tính, dù cho khoai có rớt mất nửa giá so với hồi tháng 4, với giá 400.000 đồng/tạ, nếu trồng đạt năng suất 40 tạ/công thì chỉ cần 3 công khoai sau một vụ 4 tháng cũng thu 48 triệu đồng, trừ chi phí 10 triệu đồng, lãi ròng chừng 1 cây vàng là ngon rồi.

Nông dân Đỗ Văn Hải, xã Tân Bình, huyện Bình Tân trồng 7 công khoai. Hồi tháng 4, vỡ khoai đợt đầu gần 5 công bán được 700.000 đồng/tạ, tổng thu 162 triệu đồng, trừ chi phí 40 triệu đồng, lãi trên 120 triệu. Phần đất còn lại trồng giống khoai lang trắng, khoai sữa bán thị trường nội địa. Đó là vì ông Hải dè chừng thị trường Trung Quốc dội hàng. Thế nhưng khoai trắng, khoai sữa bán về khắp các chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang) hay ghe chở về tới Cà Mau…được chừng 130.000 đồng/tạ. Nay rớt giá còn 100.000 đồng/tạ, thiệt là mức chênh lệch thấp xa nên ai cũng chạy theo trồng giống khoai tím là phải.

Dù vậy, hiện thời ông Hải chưa hết phân vân: “Hổm nay dân trồng khoai Bình Tân, có người lo ngại khoai xuất bán tiểu ngạch sang Trung Quốc bị ngưng ngang. Phần tôi cũng tin rằng thị trường này bấp bênh và lắm rủi ro. Vì khoai tím một khi dội chợ thì thị trường nội địa cũng không thể nào tiêu thụ hết được. Biết vậy, nhưng tâm lý nông dân là chạy theo giá, thấy lãi nhiều thì liều chơi đại”.

Nguyễn Thanh Tâm, nông dân xã Tân Qưới (Bình Tân) nhìn xa ngoài ruộng khoai trầm ngâm: “Nhớ hồi trước vùng này trồng nhiều giống khoai lang Dương Ngọc, khoai trắng, khoai sữa. Dân Sài Gòn và các tỉnh trong vùng ăn hàng đều đều. Rồi một dạo trồng khoai giống cao sản cũng đạt năng suất, bán ra Hà Nội. Nhưng về sau không còn hút hàng nữa nên thôi. Nay dân trồng khoai tím chạy theo thị trường Trung Quốc nên khoai lang Dương Ngọc bỏ mất giống rồi. Mai mốt thị trường có ăn lại chẳng biết tìm đâu ra giống khoai ngon này”.

Theo Phòng NN- PTNT huyện Bình Tân, toàn huyện có 15.288 ha đất tự nhiên, với hơn 93.700 nhân khẩu. Trong đó hơn phân nửa dân số sống trên vùng chuyên canh khoai lang 6.000 ha. Các mô hình luân canh lúa - khoai, khoai - hoa màu đem lại thu nhập bình quân 100-120 triệu đồng/ha và nếu trúng giá đạt tới 170-200 triệu đồng/ha.

Ông Nguyễn Văn Liêm, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Vĩnh Long: “Bình Tân nổi tiếng trồng khoai ai cũng khen ngon, năng suất cao. Thị trường Trung Quốc vừa qua tiêu thụ dễ tính nhưng chưa biết mai mốt sẽ ra sao nếu họ “thắt lại” yêu cầu tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy để vùng trồng khoai phát triển lâu bền nông dân cần hướng tới làm ăn liên kết, sản xuất theo hợp đồng và theo qui trình kỹ thuật đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đây cũng là cách dự phòng có thể chuyển hướng thị trường xuất khẩu sang nước khác”.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Mở khoá bí mật di truyền cây bắp

  • PDF

FOODCROPS. Hai bài báo khoa học về "Mở khóa di truyền của cây bắp" được công bố trên tạp chí Science đã thông tin một sự kiện lớn về di truyền cây bắp có thể là một cuộc cách mạng cho ngành chọn tạo giống.

alt 

Các nhà nghiên cứu của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và nhiều Trường Đại Học Hoa Kỳ đã tham gia nghiên cứu và tìm thấy không có sự kiện 'big genes' hoặc gene regions (các vùng của gen) điều khiển những tính trạng số lượng của cây bắp. Thay vào đó, chúng tạo ra hiện tượng biến dị di truyền trong bộ gen này như một sản phẩm của "genes working together, each with a small effect that could be manipulated by breeders." (các gen hoạt động cùng nhau, mỗi gen có một ảnh hưởng riêng có thể được thao tác bởi nhà chọn giống). Ed Buckler và ctv. đã phát triển và đánh giá hơn một triệu cây bắp để phân lập gen điều khiển sự trổ bông. Buckler nói rằng "Chúng tôi gặp khó khăn khi xem xét big genes và big effects, nhưng chúng không hề tồn tại. Thay vào đó, có nhiều gen nhỏ hơn trong genome đóng góp vào điều khiển thời gian ra hoa". Họ xác định được 29-56 quantitative trait loci (QTLs) ảnh hưởng đến thời gian ra hoa. Nghiên cứu trên 1.100 chỉ thị phân tử đối với các gen này, người ta định tính được cách thức di truyền, tổng thể của bộ gen, mỗi bố mẹ đóng góp vào một nửa. Nhưng họ cũng quan sát thấy có những khác biệt rất tinh tế, chứng tỏ rằng nhiều gen có các ảnh hưởng nhỏ đối với quá trình sinh dục. Trên tạp chí khác, họ ghi nhận rằng chưa thể bao trùm hết tính chất quan trọng của sự kiện tái tổ hợp trong lần nghiên cứu đầu tiên như vậy; trong đó, nhiều vùng rộng lớn của genome không tái tổ hợp được ở tâm động của nhiễm sắc thể cây bắp lai. Vùng này đóng góp có ý nghĩa vào cường lực lai của bắp.
Xem tạp chí Science http://dx.doi.org/10.1126/science.1174320
http://dx.doi.org/10.1126/science.1174276
For more information, read http://www.ars.usda.gov/is/pr/2009/090806.2.htm
và http://www.news.cornell.edu/stories/Aug09/maizeGenetics.html http://www.plantphysiol.org/cgi/content/abstract/150/4/1750

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nông nghiệp chính xác giúp ngăn 25% số vụ mất mùa

  • PDF

Nông nghiệp chính xác giúp ngăn 25% số vụ mất mùa 

Theo số liệu của hãng nghiên cứu thị trường Gartner, tới năm 2018, nông nghiệp chính xác có thể đạt giá trị 3,7 tỷ USD.

 
Dự báo của Business Insider cho thấy, tới năm 2020, trên thế giới có khoảng 75 triệu thiết bị Internet of Thing (Internet vạn vật - IoT) trong lĩnh vực nông nghiệp. Sử dụng các thiết bị để tạo ra nền nông nghiệp chính xác đang là xu hướng chuyển dịch của nhiều quốc gia.
 
Bản đồ sống về tài sản của nông dân
 
Liên Hợp Quốc cho biết, tổng dân số thế giới hiện là 7,3 tỷ người và sẽ đạt mức 9,7 tỷ người vào năm 2050. Số liệu của Tổ chức Nông - Lương Liên Hợp Quốc cho thấy, tốc độ tăng trưởng dân số như hiện nay đòi hỏi con người phải sản xuất ra một lượng lương thực nhiều hơn tới 70% so với năm 2006 thì mới đủ cung cấp cho toàn thế giới. Điều đó đòi hỏi phải có giải pháp căn cơ và IoT có thể là một trong những lựa chọn hàng đầu.
 
Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi Onfarm - công ty chuyên cung cấp công nghệ phần cứng có liên quan tới nông nghiệp tại California, Mỹ, khi sử dụng IoT trong đồng ruộng, năng suất tăng 1,75%, lượng nhiên liệu tiêu tốn giảm từ 7-13USD/hécta, nước sử dụng để tưới tiêu giảm 8%. Nước Mỹ - nơi IoT được sử dụng rộng rãi nhất - có thể đạt năng suất 7.340kg ngũ cốc/ hécta so với con số bình quân trên thế giới là 3.851kg/hécta.
 
Thành tích này không có gì là quá kinh ngạc. Theo ông Tim McPhail - Giám đốc bộ phận chính sách công thuộc Công ty truyền thông đa quốc gia Vodafone, việc kết nối các thiết bị như máy tính, cảm ứng, điện thoại với nhau bằng dịch vụ hệ thống (trang web) cho phép nông dân đưa ra được những quyết định chính xác dựa trên số liệu và phân tích thực tế, để có thể đạt được năng suất mùa vụ và vật nuôi cao nhất.
 
“Bắt đầu bằng cảm ứng đa chiều để đo mọi thứ từ chất lượng đất, không khí, độ ẩm, nhiệt độ tới số lượng gia súc, cùng hình ảnh vệ tinh (với sự giúp sức của máy bay không người lái), người nông dân có được “bản đồ sống” về tài sản của mình theo dữ liệu thời gian thực. Những dữ liệu này cùng với các dự báo thời tiết và cập nhật tình hình sâu bệnh, giá cả thị trường... sẽ giúp nông dân lập được kế hoạch từ sớm. Kết hợp với các công cụ công nghệ mới, họ có thể đưa ra những quyết định sáng suốt: Khi nào phun thuốc sâu, khi nào tưới nước, khi nào là thời điểm lý tưởng để thu hoạch, vận chuyển, cho ăn” - ông Tim McPhail nói.
 
Giảm rủi ro do thời tiết, dịch bệnh
 
Theo một nghiên cứu trên lĩnh vực nông nghiệp của Tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia IBM, 90% số vụ mất mùa có thể ngăn chặn được, trong đó 25% được thực hiện nhờ công nghệ nông nghiệp chính xác.
 
Tương tự, Công ty nghiên cứu IoT BeeCham (Anh) gần đây mới đưa ra một bản báo cáo, trong đó nhấn mạnh rằng khu vực nông nghiệp cần phải làm nhiều hơn để đưa các công nghệ thông minh vào sản xuất nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm.
 
“Khi nông nghiệp luôn phải đối mặt với những thách thức không lường trước được như thời tiết thay đổi, sự biến đổi khí hậu trong thời gian dài, việc cung cấp cho các nhà sản xuất cái nhìn chính xác về công việc hằng ngày của họ có thể giúp nâng cao sản lượng vụ mùa với cùng hay thậm chí là ít hơn nguồn lực và tạo ra một quá trình sản xuất đáng tin cậy, giúp quản lý nhu cầu người dùng tốt hơn” - báo cáo viết.
 
Ông Tim McPhail lấy ví dụ cụ thể: “Các máy bay không người lái - được trang bị camera hình ảnh hồng ngoại - có thể phát hiện được những con gia súc có nhiệt độ cơ thể bất thường (tức là mang bệnh) để xử lý trước khi bệnh kịp lan rộng”.
 
Không những vậy, IoT trong nông nghiệp còn đóng vai trò lớn trong chuỗi cung cấp sau thu hoạch cho người tiêu dùng bởi nó có thể giúp phát hiện gian lận, xử lý ô nhiễm, giảm thiểu hư hỏng và đảm bảo truy xuất nguồn gốc thực phẩm. Liên minh châu Âu đã khởi động dự án trị giá 30 triệu euro có tên Nông nghiệp và lương thực 2020 để có thể tiếp cận và cải thiện công nghệ IoT. Ở Kansas, Mỹ, các nhà nông đã sử dụng cảm ứng để bảo quản nước và ở Bangladesh, một dự án công nghệ cảm ứng mới sẽ sớm được triển khai.

 

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

  • PDF

Lúa chuyển gen sử dụng gen cỏ dại để chống lại hạn hán

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc, lúa là cây trồng lớn thứ 3 trên thế acheter viagra giới sau lúa mì và bắp. Nó là thực phẩm chính ở các khu vực rộng lớn trên thế giới và với nhu cầu đang tăng lên và mối nguy hiểm đang hiện hữu của biến đổi khí hậu, khả năng hạn hán gây ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo là một mối bận tâm ngày càng tăng. Trung tâm Khoa học tài nguyên bền vững (CSRS) của RIKEN đang phát triển các chủng lúa chuyển gen mới kết hợp một gen từ cỏ thale cress (Arabidopsis thaliana) để giúp chúng kháng hạn tốt hơn.

Các nhà nghiên cứu CSRS cho hay cây trồng có thể thích nghi với hạn hán bằng cách tạo ra các loại hóa chất có tên osmoprotectant vốn bao gồm nhiều dạng đường khác nhau. Bằng cách tăng nồng độ của các chất bảo vệ này trong tế bào, chúng có thể giữ nước tốt hơn.

Chìa khóa để sản sinh một loại đường bảo vệ có tên galactinol là enzyme Galactinol synthase (GolS). Làm việc với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) ở Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp Quốc tế Nhật Bản (JIRCAS), Trung tâm CSRS đã đưa khả năng sản sinh GolS vào lúa bằng cách cắt ghép một gen từ loài cỏ kháng hạn-mặn thale cress.

“Gen Arabidopsis GolS2 lần đầu tiên được xác định bằng nghiên cứu cơ bản tại RIKEN. Sử dụng nó, chúng tôi có thể cải thiện sức kháng với sức ép lên quan đến hạn hán và tăng sản lượng hạt của lúa trong điều kiện ruộng khô. Đây là một trong những trường hợp hình mẫu tốt nhất mà kiến thức nghiên cứu cơ bản đã được áp dụng thành công hướng tới nghiên cứu giải pháp cho một vấn đề liên quan đến lương thực”, nhà nghiên cứu tại RIKEN Fuminori Takahashi cho biết.

Để sản xuất các chủng lúa mới này, nhóm bắt giống lúa châu Phi và Brazil và thông qua kỹ thuật cắt nối gen (gene splicing), họ có thể làm cho lúa biển hiện quá mức gen GolS2. Sau đó chúng trồng chủng lúa mới trong nhà kính dưới điều kiện có kiểm soát và kiểm tra các enzyme được cây trồng chuyển gen sản sinh và so sánh với một nhóm đối chứng không sửa đổi.

Sau đó nhóm kiểm tra cây trồng chuyển gen dưới các điều kiện hạn hán mô phỏng và phát hiện ra rằng lúa sửa đổi gen cho thấy lá ít xoăn hơn – một dấu hiệu cho thấy có sức ép hại hán. Cuối cùng lúa thử nghiệm được trồng và kiểm tra thực tế ở Cambodia và ở các khu vực và mùa khác nhau trong khoảng thời gian 3 năm. Trong mỗi trường hợp, lúa sửa đổi gen cho năng suất cao hơn, ít xoăn lá hơn, sản sinh nhiều sinh khối hơn, sinh sản tốt hơn, hàm lượng nước cao hơn và tạo ra nhiều chất diệp lục hơn thậm chí trong điều kiện hạn nhẹ đến hạn nặng.

“Giờ chúng tôi đang bắt đầu dự án cộng tác tiếp theo mà ở đó chúng tôi sẽ tạo ra giống lúa hữu ích mà không sử dụng công nghệ [sửa đổi gen]. Có thể mất 5 đến 10 năm để đạt được mục tiêu này nhưng chúng tôi phải tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu theo hướng đó vì hạn hán và biến đổi khí hậu có thể trở nên tồi tệ hơn trong tương lai”, Takahashi cho biết thêm

Sắn mía ở Đồng Xuân Phú Yên

  • PDF

CÂY LƯƠNG THỰC. Báo Phú Yên Online. Đồng Xuân: Tập trung chuyển đổi cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế. Trong cơ cấu phát triển kinh tế của huyện Đồng Xuân, mía và sắn là những cây trồng chủ lực. Thế nhưng, thời gian qua, nông dân vẫn còn sản xuất giống cũ, hiệu quả kinh tế thấp, vì thế ngành nông nghiệp địa phương này chú trọng du nhập những giống mới nhằm tăng hiệu quả kinh tế.(Mô hình trồng sắn xen đậu phộng trên đồi dốc ở xã Xuân Phước huyện Đồng Xuân, ảnh: Hoài Nam)

Theo Phòng NN-PTNT huyện Đồng Xuân, hiện toàn huyện trồng khoảng 3.000 ha mía và 4.700ha sắn. Giống sắn trồng chủ yếu là KM94, chiếm 98% diện tích, nhưng đang bị thoái hóa, nhiễm bệnh chổi rồng. Trước tình hình này, từ năm 2010 đến nay, tại các xã Xuân Phước, Xuân Quang 2, Xuân Long từ nguồn vốn nghiên cứu khoa học công nghệ tỉnh và Quỹ Môi trường toàn cầu… huyện đã xây dựng mô hình trồng đậu phộng xen sắn trên đất dốc và mô hình trồng đậu phộng xen sắn thích ứng với ngập lụt. Các mô hình này mang lại thu nhập cao cho nông dân,đồng thời góp phần cải tạo đất.

Tại xã Xuân Phước, mô hình trồng đậu phộng xen sắn trên đất đồi dốc bằng giống đậu phộng LDH.01 và đậu Lỳ (một giống đậu địa phương) được trồng xen với giống sắn SM 2075-18, KM 98-5, NA1 và BKA 900. Kết quả, mô hình cho thu nhập 67,3 triệu đồng/ha, so với trồng sắn thuần chỉ đạt 30,5 triệu đồng/ha; lãi ròng của mô hình trên là 50 triệu đồng/ha. Năng suất của giống đậu phộng LDH.01 đạt 17,2 tạ/ha, trong khi đó giống đậu thuần chỉ gần 11 tạ/ha. Cũng qua mô hình này, năng suất sắn của các giống mới trồng khảo nghiệm dao động từ 27,2 đến 40,5 tấn/ha, trong khi đó năng suất sắn giống KM94 (đối chứng) chỉ đạt từ 25 đến 30 tấn/ha. Điều đáng quan tâm là hàm lượng tinh bột sắn đạt từ 25,2 đến 26,5%, còn giống sắn KM94 chỉ đạt 23% độ bột. Cũng qua công tác khảo nghiệm, Phòng NN-PTNT huyện Đồng Xuân đã chọn các giống sắn SM 2075-18, KM 98-5,NA1 và BKA 900 thay thế giống KM94 bị bệnh chổi rồng. Ông Nguyễn Hồng Tâm, Chủ tịch Hội Nông dân xã Xuân Phước giãi bày: “Trồng đậu phộng xen sắn trên đất gò đồi cho năng suất, chất lượng cao. Mô hình này làm thay đổi tập quán trồng trọt của bà con nông dân, hạn chế trồng sắn thuần vì có chi phí cao do bón nhiều phân”.

Còn mô hình trồng đậu phộng xen sắn thích ứng với ngập lụt tại xã Xuân Quang 2, với việc trồng sắn hom đôi năng suất đạt trên 42 tấn/ha, cao hơn giống đối chứng 162%, lãi ròng thu được gần 30 triệu đồng/ha. Mô hình trồng sắn hom đơn năng suất đạt trên 30 tấn/ha, cao hơn so với đối chứng 20%, lãi ròng thu được gần 18 triệu đồng/ha. Trong khi đó sắn hom đơn ngoài mô hình (đối chứng) năng suất chỉ đạt 25,5 tấn/ha, lãi ròng 14 triệu đồng/ha. Mô hình này giúp nông dân canh tác sắn tăng khả năng thích ứng với vùng ngập lụt. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ cho rằng: “Trồng đậu phộng xen sắn, trước mắt tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị canh tác, về lâu dài là hướng đến sản xuất bền vững. Vì thế, ngành nông nghiệp tỉnh Phú Yên đưa vào cơ cấu giống cây trồng, nhân rộng mô hình để nông dân canh tác bền vững”. Tuy nhiên, qua 2 vụ, diện tích này vẫn còn ít, chỉ khoảng 30/4.700 ha (tỉ lệ0,75%). Giải pháp trong thời gian đến là đưa bộ giống sắn trung ngắn ngày: SM937-26, KM 419, KM98-5, KM98-1, KM140 trồng rải vụ đáp ứng nhu cầu phát triển vùng nguyên liệu.

Đối với cây mía, bộ giống R579, R570, MY55-14, F156 trồng tại huyện Đồng Xuân từ năm 2004 đến nay chưa được thay thế. Diện tích trồng trên các đồi núi, độ dốc cao, nằm rải rác, manh mún vì thế khó áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất. Trong thời gian đến, huyện Đồng Xuân tiếp tục nghiên cứu và trồng khảo nghiệm các loại giống mía cao sản như SM 937-26, KM 98-1, KM140. Tuy nhiên mô hình trồng các loại giống mới đòi hỏi có nước tưới mới đạt hiệu quả kinh tế cao. Vừa qua, xã Xuân Quang 3 đã đầu tư kiên cố hóa mương bê tông nông thôn đoạn qua soi đội 8, đội 9 nhằm chuyển đổi mô hình trồng mía có nước tưới cho 8ha ở vùng soi này. Ông Lâm Văn Minh, Chủ tịch UBND xã Xuân Quang 3 cho hay: “Năm nay người dân trong xã trồng thử nghiệm mô hình 1,7ha, sau đó là tưới toàn bộ diện tích còn lại”.

Ngoài xã Xuân Quang 3, các xã Xuân Quang 1, Xuân Phước cũng đầu tư cơ sở hạ tầng mở rộng diện tích trồng mía có nước tưới, tuy nhiên tỉ lệ vẫn còn thấp, chiếm khoảng 1,2%. Để việc chuyển đổi cây trồng đạt hiệu quả, giải pháp liên kết 4 nhà (Nhà nước – Nhà khoa học- Nhà doanh nghiệp – Nhà nông) trong việc xác định phương pháp xây dựng, phát triển và quản lý vùng nguyên liệu mía, sắn theo quy hoạch được triển khai thực hiện. Đồng thời các nhà máy đường, tinh bột sắn cần tăng cường đầu tư để người dân đủ vốn để tái đầu tư và thực hiện đúng các quy trình canh tác mang lại hiệu quả kinh tế. Ông Nguyễn Lý Nguyên, Phó chủ tịch UBND huyện Đồng Xuân cho hay: “Huyện đã giao trách nhiệm Phòng NN- PTNT chủ động tuyển chọn các giống sắn, mía và kỹ thuật canh tác phù hợp với chân đất. Địa phương cũng kêu gọi các nhà máy đóng trên địa bàn đầu tư cơ sở hạ tầng không ngừng mở rộng diện tích, nâng cao năng suất cây trồng, trong đó công tác giống và biện pháp canh tác phải được quan tâm đúng mức”.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Khoai tây: một trong nguồn dinh dưỡng tốt nhất với giá cả phải chăng

  • PDF

Khoai tây: một trong nguồn dinh dưỡng tốt nhất với giá cả phải chăng
Thanh Vân _ dostdongnai, Theo Eurekalert

Một mối lo ngại thường được bày tỏ trong các cuộc tranh luận về y tế đang diễn ra hiện nay là tình trạng không đủ khả năng về tài chính để mua các loại rau tươi, đặc biệt là các loại rau giàu chất dinh dưỡng. Một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí PLOS ONE, cho thấy khoai tây là một trong những nguồn dinh dưỡng tốt nhất trong cửa hàng nông phẩm, với giả rẻ hơn so với hầu hết các loại rau sống khác và cung cấp một nguồn kali với giá cả phải chăng nhất trong các loại rau thường được mua, chỉ đứng sau đậu.

Tiến sĩ Adam Drewnowski và các đồng nghiệp từ Đại học Washington  đã sử dụng phương pháp kết hợp xem xét thông tin về chất dinh dưỡng cùng với dữ liệu về giá cả thực phẩm quốc gia để tạo ra một "chỉ số về khả năng chi trả", và chỉ số này sau đó được sử dụng để kiểm tra các chất dinh dưỡng tính trên từng đơn vị chi phí cho 98 loại rau củ cũng như năm nhóm rau củ, gồm rau củ có màu xanh đậm, rau củ có màu cam/đỏ, rau củ ở dạng tinh bột, các loại đậu (đậu hạt và đậu trái) và các loại rau củ "khác".

Kết quả cho thấy  tuy các loại rau củ màu xanh đậm có điểm số về mật độ chất dinh dưỡng cao nhất, nhưng sau khi tính toán chi phí, thì rau củ ở dạng tinh bột (trong đó có khoai tây) và các loại đậu cung cấp giá trị dinh dưỡng tốt hơn xét về mặt chi phí. Đặc biệt, khoai tây, là một trong các lựa chọn chi phí thấp nhất cho bốn chất dinh dưỡng quan trọng gồm kali, chất xơ, vitamin C và magiê. Trong số các loại rau thường được mua, thì khoai tây và đậu cung cấp nguồn kali và chất xơ với chi phí thấp nhất – đây là hai chất dinh dưỡng được quan tâm trong Bản Hướng dẫn chế độ ăn uống của Bộ Nông nghiệp Mỹ 2010.

"Khả năng nhận diện được các loại rau củ nhiều chất dinh dưỡng với giá cả phải chăng là một việc quan trọng đối với các gia đình khi muốn tiết kiệm chi tiêu trong thực phẩm cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách của chính phủ khi muốn cân bằng dinh dưỡng và kinh tế cho các chương trình thực phẩm như các chương trình ăn trưa ở nhà trường," trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Adam Drewnowski, nhận xét. "Và, khi nói đến dinh dưỡng với giá cả phải chăng, thì thật khó để đánh bại khoai tây".

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Ban Khoai Tây Hoa Kỳ và  bổ sung thêm bằng chứng vào nguồn cơ sở dữ liệu ngày càng nhiều về khoa học dinh dưỡng của khoai tây trong một chế độ ăn uống lành mạnh. Ngoài ra, một củ khoai tây với kích thước trung bình chỉ chứa 110 calo, nhưng có hàm lượng kali rất cao (620g) so với một quả chuối (450g), cung cấp gần một nửa giá trị vitamin C hàng ngày (45%), và không chứa chất béo, natri hay cholesterol.

Thông tin về Ban Khoai Tây Hoa Kỳ

Ban Khoai Tây Hoa Kỳ (USPB) là tổ chức nghiên cứu  và tiếp thị khoai tây của Mỹ. Có trụ sở tại Denver, Colorado, USPB đại diện cho hơn 2.500 người trồng khoai tây và xử lý khoai tây trên cả nước. USPB được thành lập vào năm 1971 bởi một nhóm các nhà trồng khoai tây để thúc đẩy các lợi ích của việc ăn khoai tây. Ngày nay, là một tổ chức về hàng hóa rau củ lớn nhất, USPB tự hào được công nhận là một tổ chức sáng tạo trong ngành nông phẩm và thúc đẩy khoai tây trở thành một nguồn dinh dưỡng thật sự tốt đẹp.

Source: http://www.eurekalert.org/pub_releases/2013-05/fi-nrs052413.php

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Cây Ngô điểm tin chon lọc

  • PDF

FOODCROPS. Cây Ngô điểm tin chon lọc: Về giống ngô nếp King 80; Ưu điểm của giống ngô LVN10 phủ polimer; Bệnh bạch tạng trên cây bắp; Phòng trừ sâu đục thân cây ngô

alt 

VỀ GIỐNG NGÔ NẾP KING 80
(Báo NNVN - Số ra ngày 24/9/2009) (01-10-2009)

Hỏi: Hiện nay ở quê tôi nhiều người mua và trồng giống ngô nếp King 80 cho hiệu quả kinh tế rất cao. Tôi cũng muốn trồng theo nhưng còn băn khoăn về giống và khả năng tiêu thụ. Xin quí báo cho biết kỹ hơn về giống ngô mới này: Giống đã được công nhận chưa? Cách trồng có gì mới so với các giống ngô khác? Nếu trồng nhiều thì có nơi nào mua lớn không? Có thể liên hệ mua giống ở đâu cho bảo đảm?
Trả lời: Để giải đáp những băn khoăn của bạn về giống ngô nếp King 80, chúng tôi đã làm việc với Văn phòng đại diện công ty Monsanto Thái Lan tại Việt Nam, chủ nhân của giống ngô nếp mới này. Cán bộ công ty, KS. Đoàn Thế Hùng cho biết: King 80 là giống ngô nếp lai đơn do Cty Monsanto Thái Lan lai tạo thành công năm 2005 từ tổ hợp lai SwcB 5-2780/SwcA 5-7290, được nhập nội và đăng ký trong mạng lưới khảo nghiệm Quốc gia từ năm 2007 đến nay.

Giống ngô nếp mới này đã được khảo nghiệm cơ bản và diện rộng về tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định (DUS) và đánh giá giá trị canh tác, giá trị sử dụng (VCU) tại Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia và Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón phía Nam; được trồng thử nghiệm nhiều vụ liền trên một số vùng trồng ngô trọng điểm của nước ta như: An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh (phía Nam), Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang (phía Bắc).

Tháng 11/2008 giống được Bộ NN-PTNT ra quyết định công nhận là giống tạm thời, đưa vào sản xuất thử và ngày 3/9/2009 vừa qua Bộ đã ra quyết định số 317 QĐ/TT-CLT công nhận giống ngô nếp King 80 của Cty Monsanto Thái Lan là giống quốc gia và cho phép đưa vào sản xuất đại trà trên phạm vi cả nước bắt đầu từ vụ đông năm 2009 vì những ưu điểm vượt trội so với các giống ngô nếp khác. Tất cả các Sở NN-PTNT tham gia trồng khảo nghiệm giống ngô nếp King 80 vừa qua đều khẳng định những ưu điểm vượt trội và quyết định đưa vào cơ cấu giống sản xuất của địa phương, đặc biệt là vụ đông.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng trung bình 87-110 ngày để thu bắp già, từ trồng cho đến thu bắp tươi từ 58-63 ngày (tùy điều kiện canh tác và mùa vụ); có thể kéo dài thời gian thu hoạch 3-4 ngày mà chất lượng không giảm. Cây sinh trưởng khỏe, độ đồng đều cao, tán lá gọn, chiều cao cây trung bình 172-180cm, chiều cao đóng bắp thấp 60-65cm nên khả năng chống đổ tốt. Trái dài 16-18cm, khối lượng bình quân 300-350 g/trái, dạng trái nù, lá bi bao kín đầu trái, tỷ lệ trái đạt loại 1 cao 75-80%. Năng suất bắp tươi đạt 15-17 tấn/ha. Hạt trắng sữa, ăn mềm, dẻo, thơm đặc trưng, thích hợp cho ăn tươi và chế biến bắp đông lạnh xuất khẩu.

Một số lưu ý: Ngoài kỹ thuật trồng ngô thông thường, bà con cần lưu ý một số điểm khi trồng giống King 80: Vì là giống ngắn ngày nên có thể trồng liên tục nhiều vụ quanh năm trên đất tưới tiêu chủ động. Tuy nhiên cần tính toán thời gian để tránh bắp trỗ cờ, phun râu vào lúc trời quá nóng (trên 37oC) hoặc quá lạnh (dưới 15oC). Trồng cách ly không gian và thời gian với các giống dùng cho chăn nuôi và bắp ngọt để đảm bảo chất lượng. Trồng khoảng cách 30cmx70cm, đảm bảo mật độ 4.500-4.600 cây/1.000m2. Mỗi công (1.000m2) cần 0,9-1kg hạt giống. Là giống ngắn ngày nên cần chú ý bón thúc sớm và gọn (lần 1 sau trồng 7-10 ngày, lần 2 sau trồng 15-17 ngày, lần cuối sau trồng 25-28 ngày).

Khả năng tiêu thụ: Hiện nay các tỉnh phía Bắc trồng King 80 để lấy bắp ăn tươi dưới dạng quà như luộc, nướng… nhất là các tháng trái vụ cho thu nhập khá cao. Chúng tôi được biết ở phía Nam có Công ty TNHH MT (Cụm công nghiệp Tân Mỹ Chánh, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang, ĐT: 073. 3951690) hiện đang liên doanh với nhiều địa phương trồng giống bắp King 80 để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Canada dưới dạng bắp hấp nguyên trái đông lạnh rất có giá trị.

Theo bà Trần Thị Hiền, PGĐ công ty, chỉ có bắp Chợ Gạo - Tiền Giang (giống bắp nếp King 80) mới làm được bắp hấp chân không nguyên trái đông lạnh nên Cty đang cần rất nhiều nguyên liệu nhưng chưa đáp ứng đủ. Trung bình mỗi tháng Cty xuất sang thị trường Mỹ gần 100 tấn nông sản các loại, trong đó có 50.000 trái bắp. Bạn có thể liên hệ với địa chỉ trên đây để ký kết hợp đồng liên doanh trồng và tiêu thụ sản phẩm.

Xin liên hệ với: Công ty TNHH Chánh Nông (846 Hưng Phú, P.10, Q.8, TP. Hồ Chí Minh, ĐT: 08.39540257) hoặc các đại lý hạt giống của Cty trên phạm vi cả nước để mua giống và được tư vấn thêm về kỹ thuật.

Nguyên Khê

ƯU ĐIỂM CỦA GIỐNG NGÔ LVN10 PHỦ POLIMER
(Báo NNVN - Số ra ngày 3/9/2009)

Ông Đào Văn Thạch, TGĐ Công ty Sao Cao Nguyên (Lâm Đồng), một trong những đơn vị tham gia sản xuất ngô giống lai LVN10 cho biết: Trong những năm gần đây giống ngô LVN10 đang phải cạnh tranh gay gắt với các giống ngô khác làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng và tỷ trọng giống ngô LVN10 từng một thời rất phổ biến ở các địa phương.

Nguyên nhân là do trên thị trường hiện có rất nhiều giống ngô lai ngắn ngày có năng suất cao. Bên cạnh đó, do chất lượng hạt giống của LVN10 ngày càng giảm như độ thuần hạt giống chưa đạt, hạt giống nảy mầm kém hoặc sức mọc mầm yếu; Các tính trạng cấu thành năng suất không ổn định như tỷ lệ 2 trái/cây, tỷ lệ hạt/trái thấp làm ảnh hưởng đến năng suất… Do năng lực sản xuất của các công ty không đồng đều nhau, chính vì vậy chất lượng hạt giống ngô LVN10 ngày càng giảm.

Để nâng cao chất lượng hạt giống LVN10, từ năm 2007, bên cạnh việc thực hiện nghiêm ngặt các khâu sản xuất giống, Cty Sao Cao Nguyên còn sử dụng công nghệ mới trong chế biến bảo quản hạt giống, đó là công nghệ phủ màng polimer cho hạt giống ngô LVN10 nhằm làm cho hạt giống sạch, bóng, đẹp đặc biệt là độ nảy mầm đều và mạnh hơn. Công nghệ phủ polimer còn có tác dụng chống nấm bệnh, sâu hại và bảo quản hạt giống được tốt hơn. Với công nghệ phủ polimer, giống ngô LVN10 của Cty ngày càng được nông dân tin dùng, vụ hè thu 2009, Cty cung ứng ra thị trường hàng trăm tấn ngô lai LVN10 chất lượng cao.

Mới đây các hội thảo đầu bờ giống ngô LVN10 có phủ polimer của Cty Sao Cao Nguyên tại một số tỉnh miền Trung – Tây Nguyên cho thấy năng suất của LVN 10 không thua kém bất kỳ một giống ngô ngoại nhập nào khác. Anh Nguyễn Chí Thạnh ở thôn Phú An, xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, một nông sản xuất giống ngô LVN10 cho biết: Giống ngô LVN10 phủ polimer có tỷ lệ nảy mầm, sức sinh trưởng, độ đồng đều, độ thuần giống, tỷ lệ 2 trái/cây... vượt trội so với các giống ngô tôi từng gieo trồng. Giống  LVN10 có thời gian sinh trưởng trong vụ hè thu khoảng 95 ngày, tương đương với các giống đại trà và phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.

Còn ông Ôn Ba cũng ở thôn Phú An trồng giống ngô LVN10 có phủ polimer được 2 vụ cho hay: Vụ ĐX 2008-2009, tôi trồng 1 sào (500m2) ngô LVN10 thu được 3tạ (6tấn/ha), đặc biệt vụ hè thu này tôi trồng 1 sào giống bắp đó, tuy gặp thời tiết bất lợi nắng nóng gay gắt, thời kỳ trổ cờ gặp thời tiết nắng nóng trên 35oC nhưng sản lượng cũng đạt trên 2,5 tạ (5tấn/ha). Bên cạnh đó giống ngô LVN10 còn chịu hạn và kháng bệnh tốt trong khi đó giá giống LVN10 lại rẻ hơn rất nhiều so với một số giống ngô lai ngoại nhập còn năng suất không hề thua kém.

Không riêng tại các tỉnh miền Trung, giống ngô LVN10 phủ polimer còn khẳng định ưu việt tại Tây Nguyên. Anh Nguyễn Văn Kiên ở Ia Trốc, Ia Pa, tỉnh Gia Lai cho biết: Vụ hè thu năm nay tôi trồng 0,7ha giống ngô LVN10 có phủ polimer của Công ty Sao Cao Nguyên đạt năng suất trên 8 tấn/ha. Theo anh Kiên do hạt giống được xử lý polymer nên tỉ lệ nảy mầm  và sức tăng trưởng mạnh, LVN10 đạt tỉ lệ 2 trái/cây khoảng 80% nên năng suất cao hơn khoảng 15% so với giống LVN10 của Cty khác mà tôi đã từng trồng.

Công Khanh

BỆNH BẠCH TẠNG TRÊN CÂY BẮP
(Báo NNVN - Số ra ngày 27/8/2009)

Thời gian gần đây bà con nông dân trồng bắp trên các vùng chuyên canh đang đối mặt với bệnh bạch tạng gây hại khá nghiêm trọng trên cây bắp, nhiều nông dân buộc phải nhổ bỏ hoặc gieo trồng cây khác, nếu cố gắng dùng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ thì cũng không đạt được hiệu quả. Một trong những nguyên nhân là do bệnh mới nông dân chưa nhận diện được bệnh cũng như chưa dùng đúng thuốc đặc trị bệnh này.

Để phòng trừ bệnh có hiệu quả, bà con chú ý những điểm sau:

1- Nhận diện đúng bệnh
Bệnh bạch tạng được gọi với nhiều tên khác nhau như: Mốc sương, Java downy mildew. Bệnh gây hại khá phổ biến trên bắp từ trung du cho đến đồng bằng. Trong năm, bệnh gây hại tập trung trong khoảng tháng 10 đến tháng 2, 3 dương lịch. Do nhiệt độ thấp về đêm, sáng có sương mù, ẩm độ cao. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá. Cây bệnh có thể xuất hiện rất sớm, khi bắp có 2-3 lá thật, và có thể kéo dài đến trổ cờ. Triệu chứng điển hình là vết sọc vàng dài, mặt dưới và trên vết bệnh có mốc trắng (là những bào tử lây nhiễm). Cây nhiễm nặng lá màu trắng bạc, lùn và chết dần.

Bệnh do nấm Slerospora maydis gây ra, theo ghi nhận gần đây bệnh gây hại nặng trên các giống bắp trắng nù địa phương, nhất là trên diện tích trồng có mật độ cao.

Bệnh bạch tạng phát tán lây nhiễm bằng bào tử, hoặc hạt giống nhiễm.

2- Phòng trừ tổng hợp
- Vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo trồng.
- Gieo trồng đồng loạt.
- Không chọn giống từ cây nhiễm bệnh.
- Nên xử lý giống trước khi gieo với thuốc trừ bệnh Manthane M 46, Juliet 80 WP.
- Không trồng liên tục nhiều vụ, luân canh với cây khác họ nhất là cây lúa.
- Bón phân NPK, không bón nhiều phân đạm.
- Sử dụng thuốc khi mới phát hiện như Manthane M46, Juliet 80WP phun kỹ, Foraxyl 35 WP, đều 2 mặt lá, nếu cần thiết nên xử lý lần 2, lần 3 sau đó 5 đến 10 ngày.

Đối với vùng chuyên canh bắp thì phòng ngừa bệnh là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng suất sau này, phun ngừa định kỳ. Trong đó biện pháp kỹ thuật canh tác là yếu tố quyết định đến áp lực bệnh, do đó điều cần thiết khi gieo trồng bắp chuyên canh bà con chú ý đến khâu sửa soạn đất, giống, và thời vụ tập trung để giảm áp lực bệnh. Như thế chúng ta sẽ giảm được chi phí sản xuất, tăng chất lượng thương phẩm, cuối cùng là tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị sản xuất.

Thái Loan

PHÒNG TRỪ SÂU ĐỤC THÂN CÂY NGÔ
(Báo Kinh tế Nông thôn)

KTNT - Sâu đục thân cây ngô có tên kkoa học là Ostrinia nubilalis, là loại sâu hại rất phổ biến trên ngô. Ngoài ra, chúng còn sống và đục thân trên các loại cây khác như cao lương, kê, bông vải, đay và một số cây thuộc họ hòa thảo khác. ở nước ta, sâu đục thân ngô thường gây hại nặng ở nhiều vùng và trong mọi mùa vụ.

Ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sâu phá hại ngô thường tập trung vào các tháng mùa mưa do độ ẩm cao. Ruộng ngô bị sâu đục thân nặng làm số cây bị hại có khi lên đến 80-90%, dẫn đến năng suất bị giảm sút. Sâu đục thân gây hại ngô chủ yếu ở giai đoạn ngô bắt đầu trổ cờ cho đến khi thu hoạch làm cho cây suy yếu, còi cọc, hạt lép khiến năng suất giảm.

Thành trùng cái của loài sâu này dài 10-15mm, sải cánh rộng 30mm, cánh trước màu vàng nhạt. Con trưởng thành đực nhỏ hơn, màu nâu đến nâu vàng. Chúng hoạt động về đêm, ban ngày thường ẩn nấp trong bẹ lá hay nõn lá non. Con cái đẻ trứng thành từng ổ ở mặt sau của những lá bánh tẻ gần gân chính, mỗi ổ có vài chục trứng, đôi khi lên đến hàng trăm trứng. Một con cái có thể đẻ hàng ngàn trứng, khi mới đẻ, trứng có màu trắng sữa.

Sau khi đẻ một tuần thì trứng nở. Khi còn nhỏ, sâu non cắn nõn lá ngô hay cuống hoa đực, khi lá mở ra sẽ thấy trên lá có những lỗ thủng thẳng hàng, nếu bị hại nặng có thể làm rách lá. Khi sâu lớn sẽ chui vào thân cây và ăn phần mô mềm trong thân, thải phân ra ngoài khiến thân cây bị rỗng. Quan sát trên cây ngô sẽ thấy nhiều lỗ thủng do sâu chui vào kèm theo là nhiều cục phân sâu thải ra bám quanh lỗ thủng. Khi gần hóa nhộng sâu dài tới 30mm, chúng hóa nhộng, ở trong đường đục trong thân cây hoặc trong bẹ lá, lõi bắp, lá bao.

Biện pháp phòng trừ

Không nên trồng nhiều vụ ngô liên tục trong năm để cắt đứt vòng đời của sâu. Không trồng ngô với những cây ký chủ khác như kê, cao lương, đay trên một cánh đồng. Tốt nhất, nên luân canh cây trồng giữa ngô và các loài cây khác như lúa nước, các loại rau để cắt đứt nguồn thức ăn liên tục của sâu trên đồng ruộng. Biện pháp luân canh cây trồng thường đem lại hiệu quả rất cao trong quản lý sâu bệnh. Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ trước và sau khi trồng. Thân cây ngô sau khi thu hoạch có thể sử dụng cho trâu bò hoặc thu gom lại đốt càng sớm càng tốt nhằm diệt sâu non trong thân ngô, giảm áp lực sâu cho vụ sau.

Khi thấy có triệu chứng sâu non trên lá, nõn cây cần phải diệt ngay trước khi chúng chui vào trong thân. Có thể sử dụng các loại thuốc để phun như Padan 95SP, Regent 5SC; Viphensa 50ND; Phetho 50ND, Forsan 50EC/60EC, Diazol 60EC... hoặc sử dụng thuốc hạt bỏ vào loa kèn như Basudin 10H, Padan 4G; Vibasu 10H, Regent 0,2G , thuốc sẽ lưu dẫn vào trong thân để diệt sâu.

ThS. Trần Văn Hiến

CAYLUONGTHUC. http://cayluongthuc.blogspot.com/

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nghiên cứu giúp nông dân Trung Quốc chống xói mòn đất và tăng lợi nhuận

  • PDF

Nghiên cứu giúp nông dân Trung Quốc chống xói mòn đất và tăng lợi nhuận 

Nhà nghiên cứu Bozhi Wu và các cộng sự nghiên cứu của ông đã tìm ra cách cải thiện tính ổn định về kinh tế và môi trường cho nền nông nghiệp Trung Quốc. Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu việc trồng xen, trồng nhiều hơn một vụ mỗi mùa trên đất đồi. Họ tập trung vào một loại ngũ cốc thiết yếu là cây ngô. Họ so sánh việc chỉ trồng ngô, chỉ trồng ớt với việc xen canh ngô với ớt hoặc xen canh ngô với cỏ Setaria.

Trong một khoảng thời gian bốn năm, nhóm nghiên cứu đã đo lường dòng chảy, tình trạng xói mòn, và lợi nhuận kinh tế của bốn loại hệ thống canh tác khác nhau. Họ so sánh việc trồng chỉ ngô, việc trồng chỉ có ớt, và sau đó xen ngô với ớt và ngô với cỏ Setaria. Đất được nghiên cứu là ở tỉnh Vân Nam phía tây nam Trung Quốc. Tất cả các cánh đồng đều có mưa, không có hệ thống tưới tiêu.

Wu nói: “Việc giảm xói mòn có thể duy trì hoặc làm tăng độ màu mỡ của đất và tăng năng suất. Chúng tôi nghiên cứu các hệ thống xen canh có thể làm giảm xói mòn, ổn định sản xuất lương thực và tăng thu nhập cho nông dân”.

Việc xen canh có thể có lợi cho đất bằng nhiều cách. Lớp phủ đất bổ sung được cung cấp bởi vụ thứ hai giúp giảm sự xói mòn. Các cây trồng xen canh giúp hấp thụ thêm nước và chất dinh dưỡng. Điều này có thể giúp làm giảm lượng các chất dinh dưỡng bị tràn ra các vùng đất liền kề. Cuối cùng, việc trồng các loại cây trồng khác nhau trên đất làm tăng tính đa dạng sinh học. Điều này có thể giúp kiểm soát sâu bệnh. Tuy nhiên, nghiên cứu của Wu đã chỉ ra một động lực khổng lồ khác.

Nghiên cứu cho thấy rằng nông dân có thể thu được lợi ích kinh tế cao nhất từ ​​việc trồng ớt với ngô. Các địa điểm nghiên cứu có trồng ớt hay cỏ setaria cho thấy sự xói mòn đất ít hơn và nông dân kiếm được nhiều tiền hơn. Nhưng cây ớt cho thấy mức tăng trưởng kinh tế cao nhất. Việc thu được thêm 1.000 – 2.000 USD mỗi năm cho mỗi hecta trồng là một lợi ích kinh tế thực sự.

Và nó không chỉ là những lợi ích về kinh tế mà việc trồng xen canh mang lại. Ở phía tây nam Trung Quốc, hơn 440.000 km2 bị ảnh hưởng bởi các vấn đề xói mòn. Để liên hệ với Hoa Kỳ, hãy tưởng tượng nếu chúng ta mất tất cả đất đai của California do tình trạng xói mòn, con số này vẫn còn ít hơn diện tích đất ước tính bị ảnh hưởng bởi những vấn đề xói mòn ở Tây Nam Trung Quốc. Ước tính thiệt hại về kinh tế do đất xói mòn đối với châu Á là 1,2 tỷ USD. Vì vậy, việc chống xói mòn là một vấn đề lớn trong ngành nông nghiệp.

Cây Setaria hiện đang được sử dụng ở Trung Quốc như một loại cỏ làm thức ăn chăn nuôi, với ngành chăn nuôi đang phát triển nhanh chóng. Do hệ thống rễ sâu hơn của cây, việc trồng xen canh với cây setaria đã quản lý xói mòn và chống tình trạng rửa trôi phân bón tốt hơn so với trồng xen với ớt. Tuy nhiên, lợi ích môi trường của ớt kết hợp với lợi ích kinh tế của cây ớt là lựa chọn tốt nhất.

Cả hai hệ thống xen canh - ớt và cây setaria với ngô – đều giảm xói mòn và cải thiện kinh tế. Mặc dù đây là những kỹ thuật canh tác mới, nhóm nghiên cứu cho rằng những lợi ích kinh tế sẽ giúp lan truyền những phương pháp mới này ở miền nam Trung Quốc. Do tác động kinh tế nhanh hơn, khuyến cáo chính cho vùng đồi ở miền nam Trung Quốc là trồng ngô xen canh ớt. Tất nhiên, giá cả hàng hóa thay đổi theo thời gian, vì vậy việc thiết kế các hệ thống xen canh sẽ phụ thuộc vào các cơ hội thị trường.

 

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

  • PDF

Nghiên cứu giống lúa chịu hạn mới

Các nhà khoa học tại Trung tâm Khoa học Tài nguyên Bền vững RIKEN (CSRS) đã phát triển các giống lúa chịu hạn trong các tình huống thực tế.

Được đăng tải trên tạp chí Công nghệ Sinh học Thực vật, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: cây lúa biến đổi gien với một gien từ cây Arabidopsis cho năng suất cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien khi phải chống chịu hạn hán tự nhiên. Nghiên cứu được thực hiện với sự cộng tác giữa các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) tại Colombia và Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Khoa học Nông nghiệp Nhật Bản (JIRCAS) tại Nhật Bản.

Do lượng lúa gạo cần để giúp nuôi sống dân số toàn cầu tăng lên, nên hậu quả của việc giảm cây trồng do hạn hán đang trở nên nghiêm trọng hơn. Các nhà khoa học tại RIKEN và các cộng sự đã giải quyết vấn đề này bằng cách phát triển các giống lúa biến đổi gien có khả năng chịu hạn hơn.

Thông thường, cây trồng thích ứng với căng thẳng do hạn hán bằng cách tạo ra osmoprotectants - các phân tử giống như các loại đường hòa tan giúp nước không bị thoát ra ngoài lá. Galactinol synthase (GolS) là một enzyme cần thiết để tạo ra một trong những loại đường quan trọng này được gọi là galactinol. Trong các nghiên cứu trước đó, các nhà khoa học của RIKEN đã chỉ ra rằng cây Arabidopsis biểu hiện gien AtGolS2 để ứng phó với căng thẳng do hạn hán và mặn.

Trong nghiên cứu này, họ đã tạo ra một số dòng lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có biểu hiện gien này, và với các cộng sự từ CIAT và JIRCAS, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra xem cây lúa phát triển tốt như thế nào trong các điều kiện khác nhau của những năm khác nhau.

Kết quả rất khả quan. Thứ nhất, họ đã trồng nhiều giống lúa khác nhau trong điều kiện nhà kính và cho thấy lúa biến đổi gien của Braxin và Châu Phi có hàm lượng galactinol cao hơn so với cây lúa không biến đổi gien. Tiếp theo, họ đã kiểm tra khả năng chịu hạn trong giai đoạn tăng trưởng của cây vì thời kỳ này thường trùng với thời gian diễn ra hạn hán. Sau ba tuần, các dòng biến đổi gien có lá mọc cao hơn, ít bị cuốn lá hơn - phản ứng thường thấy khi bị căng thẳng do hạn hán.

Khả năng chịu hạn tiếp theo được xác nhận vào giai đoạn tạo hạt ở ba cuộc thử nghiệm tại Colombia. Những thử nghiệm này diễn ra trong các mùa khác nhau và các địa điểm khác nhau. Tuy nhiên, các dòng biến đổi gien ở cả hai giống lúa đều cho năng suất và sinh khối lớn hơn, ít bị cuốn lá hơn và khả năng tạo hạt cao hơn so với lúa không biến đổi gien.

Cuối cùng, họ đã khảo nghiệm lúa biến đổi gien trong 3 năm ở các môi trường tự nhiên khác nhau. Một lần nữa, một số dòng biến đổi gien cho thấy năng suất hạt cao hơn trong điều kiện hạn hán nhẹ và nghiêm trọng.