Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Nông nghiệp thông minh: Luân canh tôm lúa

  • PDF

DẠY VÀ HỌC. Tiến sĩ Alan Phan,Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa, người có trên 43 năm bôn ba làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc trong bài: "Tài sản mềm của Việt Nam" đăng trên Góc nhìn Alan Phan đã có nhận xét: "Hai ngành nghề Việt Nam có lợi thế hàng đầu tại ASIAN đó là nông nghiệp công nghệ cao và công nghệ thông tin nếu biết phát triển đồng bộ và sáng tạo." Đồng tình với TS.Alan Phan trên tầm nhìn và quan điểm này, nhưng cụm từ "nông nghiệp thông minh" sẽ mang nhiều ý nghĩa hơn. "Luân canh tôm lúa một kiểu nông nghiệp thông minh" đăng trên báo Nhân Dân (GS. Nguyễn Văn Luật) mang nét đặc trưng đó.  "Nông nghiệp thông minh" vừa dung nạp được kiểu nông nghiệp truyền thống có từ bao đời, vừa có kiểu nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp đô thị, nông nghiệp miệt vườn, nông nghiệp du lịch, nông nghiệp an dưỡng, và vừa có "nông nghiệp công nghệ cao" chứ không phải áp dụng "nông nghiệp công nghệ cao" bằng bất cứ giá nào! Bản chất của loại hình "nông nghiệp thông minh" hay :"nông nghiệp công nghệ cao" là tạo ra những sản phẩm xanh, sạch, an toàn được đảm bảo bởi những cơ quan kiểm phẩm nổi danh thế giới là bước đầu. Phát huy trí sáng tạo, tổng kết thực tiễn và giáo dục huấn luyện nông dân công nghệ mới và quy trình canh tác thích hợp hiệu quả. Sử dụng đội ngũ trí thức trẻ bén nhậy, năng động, bám sát thực tiễn, đổi mới huấn luyện theo phương thức học để làm sẽ tạo nên làn sóng thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam.

alt

Luân canh tôm lúa - Một kiểu Nông nghiệp thông minh
GSTS. Nguyễn Văn Luật

Cho tới nay có khá nhiều kiểu nông nghiệp được đặt tên: ngoài kiểu nông nghiệp truyền thống có từ bao đời, có kiểu nông nghiệp sinh thái, kiểu nông nghiệp đô thị, nông nghiệp miệt vườn, nông nghiệp du lịch, nông nghiệp an dưỡng,.. và vừa qua mới chính thức xuất hiện tên kiểu “Nông nghiệp thông minh” ở Hội nghi :”Phát triển và xây dựng thương hiệu gạo ở vùng luân canh tôm lúa”, được tổ chức tới 3 lần, lần vừa qua (5/10/2012) tại TP Sóc Trăng, chỉ đạo bởi Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, PGS.TS Bùi Bá Bổng và Cục trưởng Cục Trồng trọt mới: PGS TS Lê Quốc Doanh. Có hàng trăm đại biểu từ các địa phương có kiểu nông nghiệp này, và các doanh nghiệp lên quan, các nhà khoa học quan tâm

Kiểu “Nông nghiệp thông minh” không phải do chúng ta tự phong để tự khen, mà vừa qua một nhà khoa học nước ngoài đến tham quan tìm hiểu, khi biết được những lợi ích đã thể hiện trong thực tế hàng thập kỷ của kiểu nông nghiệp này mà “thốt lên” như vậy. Bởi vì, kiểu nông nghiệp thông minh canh tác tôm – lúa bao hàm nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp hữu cơ: tận dụng tối đa mầu mỡ để lại của vụ trước làm đầu vào cho vụ sau rất hiệu quả. Sau mùa tôm độ mầu mỡ của đất ruộng lúa tăng lên rõ, đến mức không hoặc nếu cần thì có thể chỉ dùng tối thiểu phân hóa học và thuốc sát trùng nhằm giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến vụ tôm. Năng suất vụ lúa ít khi đạt bốn tấn, bù lại là giá trị vụ tôm có thể cao hơn gấp hai đến năm lần vụ lúa. Vụ lúa lại khử hóa những chất độc hại sinh ra sau vụ tôm

Điều đáng chú ý hơn cả là, luân canh TÔM – LÚA là một trong những cách làm có hiệu quả rất cao cho người trồng lúa tăng thu nhập để trở nên khá giả và giàu có, vì nếu chỉ trồng lúa chuyên canh với diện tích nhỏ lẻ, khoảng 0,5 đến 1 ha như hiện nay thì rất khó đủ ăn đủ tiêu. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi có diện tích canh tác lúa khoảng 3 – 5 ha trở lên. Ở vùng ven biển, nơi hứng chịu đầu tiên và nhiều nhất của biến đổi khí hậu, thì có lẽ chỉ có kiểu nông nghiệp này mới có thể giúp người nông dân vươn lên khá giả và giàu có. Người nông dân làm tôm - lúa quan tâm hơn đến bờ bao, đến rừng phòng hộ ven biển. Một tin vui: Bộ Nông nghiệp và PTNT vừa cho biết: Nhà nước sẽ tăng đầu tư thủy lợi cho vùng cho nuôi tôm cá, không tập trung vào nơi sản xuất lúa như trước đây.

Tỉnh Kiên Giang có diện tích nuôi tôm rộng nhất, tới trên 66.000 ha, thuộc vùng U Minh Thượng có diện tích đất nông nghiệp 146 ngàn ha, nhiễm phèn mặn, nước ngọt chỉ dựa vào nước mưa nên rất thiếu. Gần đây do biến đổi khí hậu nên mặn xâm nhập cao, sản xuất một vụ lúa mùa bấp bênh, lúa chết vì độ mặn tăng, tôm chết vì bệnh. Từ khi chuyển sang hệ thống canh tác tôm - lúa thì nhiều hộ vươn lên khá giả và giàu có. Ngành nông nghiệp địa phương đã nghiên cứu đề xuất quy trình quy phạm thực hiện luân canh tôm lúa thích hợp, từ xây dựng đồng ruộng, chuẩn bị ao vèo, vuông lắng, bờ bao, cống bọng..; cho đến con giống sạch bệnh, thả 3 – 5 con/m2, thả trong ao vèo 7 – 10 ngày, rồi thả bung cả ruộng nuôi..Với lúa, dùng giống cao sản ngắn ngày như OM2517, OM900, AS996, OM6162, ST5..;hay giống mùa địa phương Một bụi trắng lùn, Một bụi đỏ, ...

Diện tích canh tác tôm - lúa ở tỉnh Cà Mau đứng thứ nhì, đạt 43.000 ha. Một kết quả sản xuất ở tỉnh Cà Mau cho thấy, nuôi tôm không luân canh với lúa mỗi năm đạt 250 – 400 kg tôm; có luân canh với lúa, đạt 300 – 500 kg tôm với tiền lời độ 50 triệu đồng; lại thu thêm được khoảng 3,5 tấn lúa với đầu tư thấp. Giống lúa dùng trong sản xuất thường là Một bụi đỏ, Trắng tròn, Tép hành, trái mây.. và các giống mới như OM1490, AS996, OM576, OM2717..

Các tỉnh còn lại của ĐBSCL đều có canh tác tôm-lúa, như Bặc Liêu là tỉnh thức ba về diện tích, đạt trên 23 ngàn ha; tỉnh Sóc Trăng trên 11 ngàn.. Theo thống kê của Phân Viện Quy hoạch và TKNN Nam bộ năm 2010, thì diện tích canh tác tôm-lúa của cả ĐBSCL là 155. 500 ha, phần lớn ở bốn tình kể trên.

Ngoài thế mạnh đặc biệt về hiệu quả kinh tế và môi trường của “con tôm ôm cây lúa” như cách nói của cố nhà thơ Tố Hữu, là tiềm năng thế mạnh của hạt lúa cho gạo có giá trị cao, một tiềm nang dễ đạt được ở vùng sản xuất nông nghiệp thông minh này. Ở cuối thập kỷ của thế kỷ 20, với sự giúp đỡ về vốn của tỉnh Hậu Giang lúa đó, Viện Lúa ĐBSCL hợp tác với cố Giám đốc Nông trường 30 tháng 4 Trần Ngọc Hoàng (kiêm Giám đốc Nông trường Sông Hậu) và KS Hồ Quang Cua ở huyện Mỹ Xuyên, nhân giống và phát triển sản xuất bằng hạt giống Khaodokmali. Đồng thời, sản xuất thử cả giống Basmati đắt giá nhất thế giới. Chúng tôi lấy hạt giống từ Viện Lúa Quốc tế (IRRI) về và tích cực nhân giống..

Hàng tấn hạt giống của hai giống lúa thơm đặc sản trên được nhiều nơi đến mua để sàn xuất thử. Giống Khaodokmali được công nhận và tồn tại trong sản xuất ở nhiều nơi hàng chục năm sau. Chất lượng, bao gồm cả mùi thơm của hai giống trên được sản xuất ở vùng canh tác tôm lúa đâu có kém ở ở Pakistan, Ấn Độ và Thái Lan. Nhưng càng vào sâu trong nội địa càng giảm chất lượng, mặc dầu năng suất có tăng chút ít. Điều này càng làm sáng tỏ ở vùng ven biển ta chịu ảnh hưởng của nước mặn lợ có nhiều giống địa phương có chất lượng gạo rất cao, như giống Nàng Loan, Móng chim rơi, Nàng hương.., và cả một số giống mới thích hợp như ST5, ST22.. Cho nên, việc phấn đấu để có thương hiệu gạo đặc sản từ vùng này là có cơ sở thực tế, trong khi giống Khaodokmali và Basmati không trụ được, trước hết bởi vì dài ngày, năng suất thấp, giá thu mua chưa thỏa đáng.

Ở ĐBSCL hiện nay có 2 đơn vị nghiên cứu đang tích cực tạo chọn giống lúa thơm đặc sản đạt thương hiệu quốc gia, đã có những dòng và giống thử nghiệm rất triển vọng: Viện Lúa ĐBSCL và tỉnh Sóc Trăng. Ở tỉnh Sóc Trăng, KS Cua (đang được Nhà nước xem xét phong tặng AHLĐ) cùng cộng tác viên đã có tập- đoàn giống/ dòng ST, có giống thơm đặc sản qua chào hàng gạo có Cty nước ngoài trả đến gần 1000 USD/ tấn; Viện Lúa ĐBSCL, cũng đang được xem xét phong tặng AHLĐ lần thứ 2, cũng có nhiều dòng/ giống triển vọng, trong đó có giống của TS Nghĩa sản xuất thử tại trại chọn và nhân giống chịu mặn chịu phèn ở Long Phú, vừa thu hoạch một giống có 85 ngày mà đạt 7 tấn thóc khô/ha. Chúng tôi mong 2 đơn vị này hợp tác hơn, để cùng với Cty thích hợp, nhanh chóng có giống đạt thương hiệu quốc gia./.

Tư liệu

1./ Nuôi tôm sú trên nền ruộng muối. Mô hình 1 ha, ở xã An Ngãi, nuôi 15 con/ m2


Luân canh tôm lúa -  xây dựng mô hình mang tính bền vững
Nguyễn Bình
(Nguồn: Báo Đất Mũi)


Ở buổi đầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm, việc thực hiện trồng lúa trên đất nuôi tôm chưa được nông dân “mặn mà”. Nay, cách nghĩ cách làm của nông dân vùng chuyển dịch hoàn toàn đổi khác, với phương châm đa canh đa con trên cùng diện tích nhằm phát huy hiệu quả của đất. Nổi bật, trong năm 2007, 2008, mô hình sản xuất luân canh tôm-lúa trở thành “cao trào” được đông đảo nông dân vùng chuyển dịch hưởng ứng, xem đây là một mô hình canh tác bền vững. (Không nằm trong vùng quy hoạch, nhưng nhiều năm liền anh Phan Văn Giao, ấp Lý Ấn, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, sản xuất thành công một vụ lúa trên đất nuôi tôm)(Nhiều nơi nông dân khẩn trương gieo cấy vụ lúa trên đất nuôi tôm)

Khởi sắc Tôm Lúa

Năm 2007, nông dân Cà Mau thực hiện việc gieo cấy lúa trên đất nuôi tôm đạt 31.757ha, vượt chỉ tiêu 5.757ha. Bước sang năm 2008, đạt 43.415ha, vượt kế hoạch 167%. Những địa phương thực hiện mô hình tôm-lúa nổi bật: Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời... có những vùng không nằm trong vùng quy hoạch luân canh tôm-lúa, nhưng người dân vẫn hưởng ứng gieo cấy và đạt năng suất cao. Năng suất lúa bình quân từ 3,5 - 4 tấn/ha, có nơi sản lượng lên đến trên 4 tấn/ha. Từ những kết quả khả quan trong hai vụ mùa liên tiếp, bước vào vụ canh tác năm 2009, Cà Mau đề ra kế hoạch thực hiện tôm-lúa trên địa bàn toàn tỉnh là 35.000ha. Tính đến trung tuần tháng 10, toàn tỉnh đã gieo cấy tôm-lúa được trên 46.000ha. Con số này còn có thể tăng lên, vì hiện nhiều nơi nông dân vẫn đang cải tạo đất để gieo sạ, cấy lúa.

Điểm sáng trong mùa vụ năm nay, ngoài chỉ tiêu của tỉnh giao, các huyện còn chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện của địa phương mình, tăng từ 300 - 500ha so với kế hoạch. Điển hình là Cái Nước, huyện nằm trong vùng quy hoạch Nam Cà Mau, tuy lợi thế lúa-tôm không bằng các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời... của vùng Bắc Cà Mau, nhưng Cái Nước đã có hai mùa lúa-tôm thắng lợi. Năm 2009, tỉnh giao chỉ tiêu cho huyện 2.000ha lúa-tôm, huyện xây dựng kế hoạch phấn đấu 2.500ha. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn huyện đã gieo cấy được trên 4.000ha. Có những ấp, nông dân thực hiện cấy lúa trên đất nuôi tôm gần như 100%. Anh Phan Văn Bảo, cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Hòa Mỹ, phấn khởi: “Tôm-lúa đã thật sự trở thành mô hình “lý tưởng” của vùng chuyển dịch. Giờ đây, mỗi khi nhắc đến tôm là người dân thường kèm theo lúa”. Anh Phan Văn Giao, ấp Lý Ấn, xã Hưng Mỹ, cho biết: “Cách đây ba năm, tôi là người đầu tiên nơi đây thực hiện mô hình tôm-lúa. Nhờ hiệu quả khả quan từ những vụ mùa trước mà năm nay, tôi còn thuê thêm đất để làm”. Hiện tại, lúa trong vuông anh Giao đã được gần hai tháng tuổi, phát triển rất tốt, ước tính vụ lúa-tôm này trên 4 tấn/ha.

Ở huyện Phú Tân, chuyện luân canh tôm-lúa mới chỉ được “manh nha” trong một hai năm trở lại đây, nhưng đang có dấu hiệu phát triển khá mạnh mẽ. Được biết, vụ tôm-lúa năm 2009, tỉnh giao chỉ tiêu là 500ha, huyện xây dựng kế hoạch 800ha và đến nay, toàn huyện đã thực hiện được trên 4.000ha. Huyện Đầm Dơi không nằm trong chỉ tiêu tỉnh giao, vậy mà hiện nay trên địa bàn huyện vẫn có khá nhiều hộ dân thực hiện chủ trương cấy lúa trên đất nuôi tôm và khôi phục mô hình tôm-lúa (Nông dân chăm sóc vụ mùa tôm-lúa; Mô hình canh tác luân canh tôm-lúa trên vùng chuyển dịch đang phát triển bền vững)

Để mô hình luân canh bền vững

Hơn hai năm trở lại đây, trong quá trình canh tác luân canh tôm-lúa, nông dân cũng dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, khi sản xuất vụ mùa, bà con biết chọn những giống lúa thích nghi tốt với vùng đất. Hằng năm, vào thời điểm tháng 6, 7, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh kết hợp Phòng Nông nghiệp các huyện nằm trong vùng quy hoạch luân canh tôm-lúa mở các lớp hướng dẫn kỹ thuật, phát tài liệu cho bà con nông dân.

Tuy nhiên, ở những vùng sản xuất tôm-lúa ngoài quy hoạch, thời gian gần đây một số nơi đã bắt đầu xuất hiện bệnh trên lúa ở đất nuôi tôm, do nông dân chưa tuân thủ đúng quy trình của các nhà chuyên môn đưa ra trong quá trình luân canh tôm-lúa. Ông Trương Minh Thành, ấp Thị Tường B, xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước, thừa nhận: “Do vào thời điểm rửa phèn trên đất nuôi tôm để chuẩn bị cấy lúa lại đúng ngay vào lúc tôm trúng nên khó tuân thủ nghiêm ngặt theo quy trình đưa ra. Vì vậy, cấy lúa xuống một thời gian bị vàng, rồi chết cứ nghĩ là sâu bệnh, nhưng không ngờ là do mình cải tạo đất chưa tốt”.

Theo hướng dẫn của ngành chức năng, khu vực Bắc Cà Mau do chân ruộng trũng, điều kiện thoát nước khó khăn nên bố trí gieo cấy trong tháng 9 đến đầu tháng 10; khu vực Nam Cà Mau chân ruộng tương đối cao, có điều kiện rửa mặn tốt nên gieo cấy từ đầu đến giữa tháng 9 là phù hợp. Thế nhưng, qua khảo sát cả những vùng quy hoạch và ngoài vùng quy hoạch, nông dân vẫn chủ quan, chẳng những không cải tạo tốt đất vuông mà còn gieo cấy không đúng lịch thời vụ đã đưa ra. Kỹ sư Lê Quang Hiền, Trưởng phòng Nông nghiệp, Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư tỉnh, khuyến cáo: “Để luân canh tôm-lúa hiệu quả, điều cần thiết nhất là nông dân cần nắm bắt kỹ các quy trình từ cải tạo, rửa đất cho đến lịch thời vụ xuống giống, gieo cấy. Sau khi cấy có mưa nhiều nên tiến hành tiếp tục xổ nước, rửa phèn; củng cố lại bờ bao tránh rò rỉ, xâm mặn trong suốt mùa vụ”. Theo kỹ sư Hiền thì ruộng tôm-lúa thông thường rất ít xảy ra sâu bệnh. Những sâu bệnh thường gặp là sâu phao, sâu cuốn lá ở giai đoạn đẻ nhánh. Để hạn chế mật độ sâu bệnh, bà con nên dùng biện pháp rút nước, hạn chế tối đa sử dụng thuốc hóa học, chỉ sử dụng khi cần thiết, nên chọn thuốc vi sinh ít độc hại cho môi trường và tôm. Ngoài ra, sản xuất theo mô hình luân canh tôm-lúa sẽ góp phần cách ly được sự phát triển của các loại virút, vi khuẩn, làm suy giảm sự lưu chuyển của dịch bệnh. Chính từ trồng lúa trên đất nuôi tôm ổn định mà đảm bảo được môi trường nước, sản lượng tôm nuôi tăng lên, hạn chế rủi ro.

Hội thảo “Phát triển hệ thống sản xuất lúa-tôm bền vững vùng ven biển ĐBSCL” tại Sóc Trăng vào tháng 9 cũng khẳng định, nhiều năm qua, mô hình tôm-lúa đã mang lại lợi ích rất lớn cho nhà nông và tính bền vững về môi trường của mô hình này. Hội thảo cũng chọn ra hai tỉnh trong vùng ven biển ĐBSCL để mở rộng mô hình sản xuất luân canh tôm-lúa, trong đó có Cà Mau. Vì vậy, để mô hình tôm-lúa ổn định, bền vững, thời gian tới, các địa phương trong tỉnh cần sớm đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án “Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất tôm, lúa” của tỉnh; trong đó, chú trọng đến tập huấn khuyến nông-khuyến ngư cho nhà nông trong vùng sản xuất luân canh tôm-lúa; kế hoạch nắm bắt lịch thời vụ; vùng tôm-lúa cần có quy hoạch, xây dựng lại hệ thống thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu mùa vụ. Đề án còn là nền tảng tích cực để thực hiện thành công trong việc chuyển đổi sản xuất luân canh tôm-lúa mang tính căn cơ và lâu dài.

More: Tài sản mềm Việt Nam

Source: http://dayvahoc.blogtiengviet.net/2012/10/24/naang_nghiar_p_thaang_minh_luacn_canh_ta

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Sử dụng công nghệ laser trong trồng lúa

  • PDF

alt

Sử dụng công nghệ laser trong trồng lúa ở miền Tây Nam bộ

Với việc sử dụng công nghệ laser khiến mặt ruộng từ chỗ chênh lệch từ 3cm trở lên giờ chỉ còn 1,8cm; 2ha ruộng trước đây mất 10 giờ bơm nước/lần thì bây giờ chỉ cần 5 giờ để bơm (7 lần bơm/vụ); phân bón thì bớt được 2 bao/ha; lúa giống để gieo giảm còn 90-100kg/ha (so với trước là từ 120-130kg/ha) …
 
Khởi xướng cuộc cách mạng công nghệ này vào năm 2004, Viện Lúa quốc tế chuyển giao cho Trung tâm Năng lượng và Máy nông nghiệp (Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh) bộ thiết bị san bằng mặt ruộng định vị bằng tia laser để thử nghiệm trên một số cánh đồng ở Việt Nam.

Hiệu quả đã phát huy ngay sau lần thử nghiệm đầu tiên. Tiến sĩ Phan Hiếu Hiền, Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh cho biết: Từ khi tiếp nhận kỹ thuật hiện đại này, trung tâm đã kết hợp với các địa phương như: Long An, Bạc Liêu, An Giang, Lâm Đồng, Tây Ninh để san mặt ruộng. Thiết bị gồm máy kéo kết móc với cụm gàu san, bộ phát tia laser, …

Công nghệ san bằng mặt ruộng sử dụng kỹ thuật laser bắt đầu được áp dụng đại trà ở Long An đã cho thấy mở ra một hướng đi mới trong việc cải thiện hiệu quả canh tác lúa.Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH-CN (Sở KH-CN Long An) đang chủ trì dự án sử dụng công nghệ laser san phẳng mặt ruộng để trồng lúa. Với việc sử dụng công nghệ laser khiến mặt ruộng từ chỗ chênh lệch từ 3cm trở lên giờ chỉ còn 1,8cm; 2ha ruộng trước đây mất 10 giờ bơm nước/lần thì bây giờ chỉ cần 5 giờ để bơm (7 lần bơm/vụ); phân bón thì bớt được 2 bao/ha; lúa giống để gieo giảm còn 90-100kg/ha (so với trước là từ 120-130kg/ha)…

 Anh Trần Quang Khải, KS trưởng dự án, cho biết sử dụng công nghệ này vào đồng ruộng sẽ kéo mức chênh lệch của mặt ruộng về điều kiện lý tưởng cho sản xuất lúa nước. Mặt ruộng bằng phẳng sẽ giúp giảm các chi phí sản xuất khoảng 2,5 triệu đồng/ha. Theo KS Lê Quốc Dũng, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng KH-CN, tại vùng lúa chất lượng cao ở 4 huyện vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An, sau lần đầu san bằng mặt ruộng bằng công nghệ laser thì phải 5 năm sau mới cần làm mặt ruộng lại.

Qua khảo sát, bước đầu ứng dụng công nghệ Laser năng suất bình quân đạt 6 tấn/hécta, tăng 1 từ 1-1,5 tấn/ha và giá cao lúa được thu mua cao hơn từ 500 - 1.000 đồng (hiện giá 6.300 đồng/kg đối với giống lúa VĐ 20 và 5000 đồng/kg đối với giống lúa OM4900), so với diện tích không ứng dụng công nghệ laser.

 Ông Phan Thanh Bình, Giám đốc Sở KH-CN tỉnh Long An, cho biết đã có một nhóm nông dân ở Vĩnh Hưng đang định đầu tư công nghệ này để mở dịch vụ san mặt ruộng bằng công nghệ laser. Tùy theo độ chênh lệch mặt ruộng mà mức chi phí san phẳng bằng công nghệ laser khác nhau.

Theo ông Nguyễn Thanh Bình, ứng dụng công nghệ laser san phẳng mặt ruộng kết hợp cùng các ứng dụng khoa học-kỹ thuật tiến bộ khác sẽ là cơ sở giúp cho tỉnh Long An xây dựng thành công 40.000 ha lúa chất lượng cao theo quy hoạch trong thời gian tới.

Theo Congnghesinhhoc24h.

Video Clip

FOODCROPS. CAY LUONG THUC

 

Dự thảo Luật Đất đai: Thời hạn giao đất nông nghiệp là 50 năm

  • PDF

alt 

Dự thảo Luật Đất đai: Thời hạn giao đất nông nghiệp là 50 năm

Dự thảo Luật Đất đai đề xuất quy định thống nhất thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 50 năm

Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho biết, theo quy định hiện hành thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 20 năm, còn thời hạn giao đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là 50 năm...

Để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất đai và yên tâm đầu tư sản xuất, trong dự thảo sửa đổi Luật Đất đai, Bộ đã đề xuất quy định thời hạn giao đất trong hạn mức sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân lên 50 năm và áp dụng thống nhất cho các loại đất nông nghiệp.

Cụ thể, dự thảo Luật quy định rõ: "Thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 50 năm. Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.

Còn thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng là không quá 50 năm".

Bên cạnh đó, dự thảo quy định thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; tổ chức kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức kinh tế liên doanh để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm; đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá 70 năm.

Hạn mức giao đất nông nghiệp

Về hạn mức giao đất nông nghiệp, tại Điều 112, dự thảo Luật nêu rõ: Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 03 ha đối với mỗi loại đất.

Còn hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân là không quá 10 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng và không quá 30 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Đồng thời, dự thảo quy định rõ hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 ha đối với đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất.

Nếu hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 ha.

Còn trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm là không quá 05 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; và không quá 25 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi. Trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá 25 ha.

Ngoài ra, tại Điều 113, dự thảo quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân và giao Chính phủ quy định cụ thể cho phù hợp với đặc điểm của từng vùng và từng thời kỳ, tạo điều kiện cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai để hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nông nghiệp.

 Source: baodientu.chinhphu.vn

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Tình hình cây trồng công nghệ sinh học 2012

  • PDF

FOODCROPS.  Cây trồng CNSH được 6,7 triệu nông dân tại 29 nước trên thế giới đưa vào canh tác với diện tích trồng 160 triệu ha. Triển vọng áp dụng cây trồng công nghệ sinh học vẫn cho thấy triển vọng tiếp tục gia tăng trên toàn cầu (Clive James, 2012). Các nước đang phát triển đứng đầu về diện tích áp dụng đại diện cho 40% dân số toàn cầu với  Brazil và Argentina ở châu Mỹ Latinh; Ấn Độ và Trung Quốc ở châu Á; và Nam Phi trên lục địa châu Phi .

alt 

Tình trạng cây trồng chuyển gen /cây trồng CNSH
Bản tóm tắt của ISAAA, số 43
Clive James, 2012

Manila, Philippines (Ngày 7/2/2012) – Diện tích trồng cây CNSH trên toàn cầu tiếp tục tăng mạnh. Theo ông Clive James, tác giả của Báo cáo thường niên về cây trồng CNSH được ISAAA (Tổ chức  quốc  tế về tiếp thu  các  ứng  dụng  về CNSH trong nông nghiệp) công bố hôm nay, trong năm 2011 đã có thêm 12 triệu ha được đưa vào canh tác, tăng 8% so với năm 2010.

Ông James cho biết “mức tăng ứng dụng cao chưa từng thấy này là minh chứng cho niềm tin và sự tin tưởng vào cây trồng CNSH của hàng triệu nông dân trên thế giới”. “Kể từ khi cây trồng CNSH được đưa vào thương mại hoá năm 1996, nông dân tại 29 nước trên thế giới đã đưa ra 100 triệu quyết định về việc trồng và tiếp tục trồng lại trên 1,25 tỷ ha – một diện tích canh tác cây trồng lớn hơn 25% so với tổng diện tích của Hoa Kỳ hay của Trung Quốc.

Trong năm 2011 cây trồng CNSH đã được 16,7 triệu nông dân tại 29 nước đưa vào canh tác trên diện tích 160 triệu ha (tăng so với mức 148 triệu ha năm 2010), trong số 29 nước canh tác cây trồng CNSH này có 19 nước đang phát triển và 10 nước công nghiệp.  Với diện tích trồng  năm 2011  tăng tới  94  lần  so  với năm  1996,  cây  trồng  công nghệ sinh  học  trở thành công nghệ cây trồng được đưa vào ứng dụng nhanh nhất trong lịch sử gần đây.

Tại các nước đang phát triển, diện tích trồng cây CNSH tăng nhanh gấp đôi và lớn gấp hai lần so với mức tăng và diện tích trồng ở các nước công nghiệp.

Các nước đang phát triển đã khẳng định sự yêu tích đối với công nghệ cây trồng CNSH trong năm 2011. Các nước đang phát triển đứng đầu về diện tích trồng cây trồng CNSH là Brazil và Argentina ở châu Mỹ Latinh; Ấn Độ và Trung Quốc ở châu Á; và Nam Phi trên lục địa châu Phi, cùng đại diện cho 40% dân số toàn cầu.

Trong năm 2011, diện tích trồng cây CNSH ở các nước đang phát triển tăng 11% hay tương đương 8,2 triệu ha, tăng nhanh gấp đôi và lớn gấp hai lần so với mức tăng 5% và diện tích 3,8 triệu ha ở các nước công nghiệp.

Theo  Ông James,  diện  tích trồng  cây  CNSH  ở các  nước đang  phát  triển chiếm  khoảng  50% diện tích trồng cây CNSH trên toàn cầu trong năm 2011 và dự kiến sẽ vượt diện tíchtrồng của các  nước công  nghiệp  vào năm  2012. Bên  cạnh đó,  trên  90% nông  dân  toàn  cầu  (tương đương 15  triệu nông  dân) là nông  dân  nhỏ, nghèo  tài nguyên  ở các nước đang  phát triển, tăng 8% hay 1,3 triệu người so với năm 2010.

Những tiến bộ đáng kể đạt được trên toàn thế giới

Các tiến bộ đáng kể đạt được trên toàn thế giới và là  yếu tố rất quan trọng cho  viễn cảnh tổng thể thương mại hóa công nghệ sinh học toàn cầu.

 Những điểm đáng chú ý được ghi nhận trong báo cáo bao gồm:

- Hoa Kỳ tiếp tục là nước có diện tích trồng cây CNSH lớn nhất trên toàn cầu với 69,0 triệu ha, với tỷ lệ áp dụng trung bình ~ 90% trên tất cả các loại cây trồng công nghệ sinh học chủ chốt.

- Brazil đứng thứ hai chỉ sau Mỹ với diện tích trồng 30,3 triệu ha. Đây là năm thứ ba liên tiếp,  Brazil   sự  gia tăng  lớn  nhất thế  giới  với  diện  tích 4,9  triệu  ha,  mức  tăng  ấn tượng 20% so với năm 2010.

- Ấn  Độ tổ chức kỷ niệm  10  năm canh  tác  bông CNSH,  công  nghệ đã biến  bông  trở thành cây trồng sinh lợi nhất và hiệu quả nhất của nước này với diện tích trồng 10,6 triệu ha năm 2011.

- Ở Trung  Quốc,  tỷ lệ bông Bt/tổng  diện  tích trồng bông đạt 71,5% tương  đương  3,9 triệu ha. Động lực cho sự tăng trưởng này là 7 triệu nông dân nhỏ, nghèo tài nguyên,  những người mà diện tích canh tác trung bình chỉ 0,5 ha.

- Tại Philippine, diện tích trồng ngô CNSH tăng 20%, đạt trên 600.000 ha. Philippine là nước duy nhất ở Châu Á trồng ngô CNSH.

- Châu  Phi trồng  2,5 triệu ha  cây trồng  CNSH, và đang đạt  được  những tiến bộ trong khảo nghiệm thực địa theo quy định quản lý đối với các nước mới trồng và cây trồng CNSH.

Brazil là động lực tăng trưởng toàn cầu

Với tốc độ tăng trưởng lớn như vậy ở Brazil, các nhà lãnh đạo toàn cầu thừa nhận nước này là "động lực" cho sự tăng trưởng trên toàn thế giới.

Ông James cho biết "Brazil có một hệ thống phê duyệt nhanh và đã tạo ra công nghệ ba dòng chảy để hỗ trợ tăng trưởng". "Mô hình bao gồm: các loại cây trồng công nghệ sinh học độc quyền từ khu vực tư nhân được áp dụng trên hơn 30 triệu ha; quan hệ đối tác khu vực công / tư đã đưa ra một sản phẩm được phê duyệt; và năng lực để phát triển và cung cấp cây trồng công nghệ sinh học 'cây nhà lá vườn' – đậu kháng virus do trong nước phát triển. Tập hợp lại, các  dòng công  nghệ  này cung  cấp  cho Brazil  một  sự nghiên  cứu đa  dạng  về  các  sản  phẩm công nghệ sinh học mới cho đất nước. Cách tiếp cận này là có hiệu quả cao cho Brazil và một bài học quan trọng cho các nước khác trên toàn thế giới, "Ông James nói.

Nhìn nhận về thành công trong tương lai

Trong suốt mười sáu năm thương mại hóa cây trồng CNSH, nhiều bài học đã được ngành này đúc kết. Từ những cân nhắc về quy định và phê duyệt để nuôi dưỡng nghiên cứu mạnh mẽ về công nghệ sinh học, đạt được tăng trưởng và phát triển ổn định thông qua sự nhìn nhận sâu sắc và đổi mới toàn cầu với động lực thúc đẩy bởi ngành này cũng như của chính phủ.

Theo Ông James, "ba yêu cầu cấp thiết để tiếp tục thành công trong việc thương mại hóa cây trồng công nghệ sinh học", "thứ nhất, các nước phải bảo đảm thiện chí chính trị và sự hỗ trợ; thứ hai, phải phát triển các công nghệ đặc tính thay đổi định hướng sáng tạo sẽ có tác động  cao, và thứ ba, đảm bảo việc bãi bỏ các quy định kiểm soát dựa trên cơ sở khoa học và tiết kiệm chi phí /thời gian, để cung cấp cho nông dân các công nghệ mới để tiếp tục tăng diện tích và năng suất kịp thời. "

Triển vọng

Tiềm năng đáng kể nằm ở chỗ các cây trồng CNSH có diện tích lớn như (ngô, đậu tương, bông và cải dầu) tiếp tục được gia tăng ứng dụng. Trong năm 2011, đã có 160 triệu ha các loại cây trồng này được canh tác và hiện tại có khoảng 150 triệu ha có sẵn cho việc áp dụng trong tương lai. Ba mươi triệu ha tiềm năng ở Trung Quốc đã được ưu tiên cho việc trồng ngô CNSH, nơi mà nhu cầu về ngô làm cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đang phát triển nhanh khi quốc gia này tiêu thụ nhiều thịt hơn.

Sự ủng hộ cho cây trồng công nghệ sinh học thay đổi khắp châu Âu, nơi mà diện tích trồng ngô  Bt trong  năm 2011    114.490 ha  kỷ lục,  tăng hơn 25%  so  với năm 2010.

Đồng  thời, BASF  đã  ngừng phát  triển   thương  mại  hóa  tất  cả các  sản  phẩm cây trồng công nghệ sinh học cho canh tác ở châu Âu kể từ giữa tháng 1 năm 2012. BASF sẽ tiếp tục quá trình quy định của EU cho các sản phẩm đã bắt đầu như  “Fortuna”, khoai tây kháng bệnh mốc sương.

Thương mại hoá lúa mì CNSH ở Bắc Mỹ đã trở lại. Tương tự như vậy, nhiều quốc gia và các công ty trên toàn thế giới hiện cũng đang nhanh chóng theo dõi sự phát triển của một loạt các đặc tính công nghệ sinh học trong lúa mì để cải thiện khả năng chịu hạn,  kháng bệnh    chất lượng  hạt.  Lúa   CNSh dự  kiến  sẽ  được thương  mại  hóa trước năm 2020.

Phù hợp với đề xuất của Bill Gates tại Hội nghị G20, phương pháp  tiếp cận của ISAAA để đạt được việc ứng dụng cây trồng CNSh dựa trên ba trụ cột của việc chia sẻ kiến thức giữa khu vực  công -        giữa  các nước công  nghiệp   phát  triển; đổi  mới; và hợp  tác sáng  tạo.

ISAAA đề xuất Chiến lược 3D theo ba hướng, dựa trên sự phát triển, bãi bỏ các quy định kiểm soát và triển khai kịp thời,  hiệu quả và hiệu lực các công nghệ cây trồng CNSH mới.

Để biết thêm chi tiết hoặc xem báo cáo tóm tắt, xin truy cập: www.isaaa.org. Báo cáo được tài trợ bởi hai tổ chức của Châu Âu là: Quỹ Bussolera-Branca từ Italia, tổ chức hỗ trợ việc chia sẻ kiến thức về cây trồng CNSH nhằm trợ giúp cho việc hoạch định chính sách của xã hội toàn cầu; và Ibercaja một trong những ngân hàng lớn nhất ở Tây ban Nha có trụsở chính đặt tại vùng trồng ngô của Tây Ban Nha.

Tổ chức quốc tế về tiếp thu các ứng dụng CNSH trong nông nghiệp (ISAAA) là một tổ chức phi lợi nhận có mạng lưới các trung tâm quốc tế nhằm góp phần loại bỏ đói nghèo thông qua việc chia sẻ kiến thức và ứng dụng công nghệ sinh học cây trồng. Clive James, Chủ tịch và là sáng lập viên của ISAAA, đã sống và làm việc trong 30 năm tại các nước đang phát triển ở Châu Á, Mỹ La tinh và Châu Phi, cống hiến nỗ lực của mình cho nghiên cứu nông nghiệp và các vấn đề phát triển mà trọng tâm là công nghệ sinh học cây trồng và an ninh lương thực toàn cầu.

Source: http://www.agbiotech.com.vn

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC 

Xây dựng hệ thống quản lý hạn hán và sa mạc hóa ở Việt Nam

  • PDF

FOODCROPS. Hạn hán và sa mạc hóa là một ba loại hình thiên tai ngoài bão lũ ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực duyên hải miền Trung và khu vực Nam Trung Bộ. Ðất sa mạc hóa ở Việt Nam phân bố trên khắp cả nước, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, những vùng đất trống, đất cát ven biển và đất nghèo bị suy thoái. Do tình trạng phá rừng, và sử dụng đất không hợp lý trong thời gian dài, diện tích đất đang chịu tác động của hoang mạc hóa sẽ tăng dần. Đã có sự xuất hiện những vùng sa mạc thực thụ như: Tuy Phong, Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận); Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận). Năm 2003,  ban điều phối quốc gia thực hiện công ước chống sa mạc hoá của Liên Hiệp quốc đã được thành lập. 

alt

Xây dựng hệ thống quản lý hạn hán và sa mạc hóa ở Việt Nam

Việt Nam là một trong 5 quốc gia dự báo sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu với các loại hình thiên tai xảy ra sẽ ngày càng nhiều và khốc liệt, điển hình là hạn hán và sa mạc hóa. Điều đó đòi hỏi cần phải nhanh chóng xây dựng và thực hiện các giải pháp chiến lược, các công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai, trong đó có việc xây dựng hệ thống quản lý hạn hán và sa mạc hóa ở Việt Nam.

Hạn hán và sa mạc hóa là một trong những loại hình thiên tai thường xuyên xảy ra ở nước ta, đặc biệt là khu vực duyên hải miền Trung và khu vực Nam Trung Bộ, mức độ gây thiệt hại chỉ đứng thứ 3 sau lũ, bão. Trong khi công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai tập trung chủ yếu vào công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn, thì các hoạt động phòng chống và giảm nhẹ thiên tai khác như hạn hán và sa mạc hóa còn ở mức ứng phó thụ động. Vì vậy, việc chú trọng hơn tới công tác phòng chống và quản lý hạn hán, sa mạc hóa là rất quan trọng. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, các nhà khoa học Viện Địa lý thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đề xuất xây dựng hệ thống quản lý hạn hán và sa mạc hóa ở Việt Nam.

Hạn hán, sa mạc hóa ở Việt Nam

Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn từ 1960 đến nay số năm bị hạn hán là 36 năm, chiếm 75%,  với mức độ hạn hán khác nhau (hạn vụ đông xuân 13 năm, vụ mùa 11 năm, vụ hè thu 12 năm). Trong khoảng thời gian 15 năm gần đây, tình hình hạn hán nước ta xảy ra thường xuyên hơn, nghiêm trọng hơn, trong đó có thể thống kê những đợt hạn hán nặng như hạn hán xảy ra ở Bắc và Trung bộ (1993), ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long (2004)… Tình hình hạn hán vẫn diễn biến rất phức tạp tại khu vực đồng bằng sông Hồng (2009-2010), tổng lượng mưa tháng 1/2010 chỉ đạt 85% lượng mưa trung bình nhiều năm, mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội chỉ đạt 0,10 m vào ngày 21/02/2010, nhiều hồ thuỷ điện trữ nước ở mức thấp hơn nhiều so với thiết kế như Hoà Bình 94%, Thác Bà 61%, Tuyên Quang 61%.

Ðất sa mạc hóa (hay hoang mạc hoá) ở Việt Nam không tập trung thành hoang mạc rộng hàng trăm nghìn ha như một số quốc gia khác, mà phân bố trên khắp cả nước, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, những vùng đất trống, đất cát ven biển và đất nghèo bị suy thoái. Trên 90% diện tích đất đang chịu tác động của hoang mạc hóa là các khu vực đất trống, đồi trọc bị thoái hóa mạnh, đất đá ong hóa do tình trạng phá rừng và sử dụng đất không hợp lý trong thời gian dài. Phần còn lại là các khu vực đụn cát, bãi cát di động tại các tỉnh ven biển miền trung, tập trung ở 10 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Tại đây đã xuất hiện những vùng sa mạc thực thụ (hoang mạc cát) như: Tuy Phong, Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận); Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận).

Thực trạng quản lý hạn hán, sa mạc hóa (hoang mạc hóa)

Năm 1998, Việt Nam đã thông qua và tham gia vào công ước quốc tế về phòng chống sa mạc hoá và trở thành thành viên thứ 134 của tổ chức này. Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Ban điều phối quốc gia thực hiện công ước chống sa mạc hoá của Liên Hiệp quốc, do Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trưởng ban. Song vấn đề quản lý hạn hán, sa mạc hóa (hoang mạc hóa) còn chưa được cụ thể hóa thành các thể chế, chính sách đối với vùng sinh thái đặc thù hoang mạc hóa, đồng thời chưa có công cụ mạnh ngăn ngừa sự lan tỏa sa mạc hóa. Trong đó, một chu trình quản lý thiên tai (bao gồm quản lý rủi ro và quản lý sự cố) mà nhiều nước đã áp dụng có hiệu quả trong việc giảm thiểu hạn hán và sa mạc hóa, ở nước ta còn chưa được sử dụng. Do đó, để quản lý hạn hán và sa mạc hóa ở Việt Nam có hiệu quả cần củng cố xây dựng hệ thống tổ chức quản lý hạn hán và sa mạc hóa và thực hiện theo chu trình quản lý thiên tai.

Các nhà khoa học Viện Địa lý đã tham khảo chu trình quản lý thiên tai của Hoa Kỳ và đề xuất đưa chu trình này vào ứng dụng tại Việt Nam. Chu trình quản lý thiên tai bao gồm hai giai đoạn chính là giai đoạn quản lý rủi ro và giai đoạn quản lý sự cố. Các hoạt động trong giai đoạn quản lý rủi ro đều mang tính phòng hạn và giảm nhẹ tác động do hạn hán trong khi các hoạt động trong giai đoạn quản lý sự cố mang tính ứng phó và khắc phục những tác động do hạn hán gây ra.

Củng cố xây dựng hệ thống tổ chức quản lý hạn hán và sa mạc

Trên cơ sở nhu cầu thực tế của công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai theo  tinh thần của Chiến lược phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, các nhà nghiên cứu Viện Địa lý (Viện KH&CN Việt Nam) đề xuất những giải pháp nhằm kiện toàn hệ thống phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, trong đó đặc biệt chú trọng công tác quản lý hạn hán và sa mạc hóa trong chiến lược phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu ở các cấp trung ương và địa phương.

Đối với cấp trung ương, Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai được nâng cấp thành Uỷ ban quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai do một Phó thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban. Giúp việc cho Uỷ ban quốc gia là Văn phòng Uỷ ban quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai và các tiểu ban.

Đối với cấp địa phương, tại cấp tỉnh thành lập một Ban chỉ đạo phòng chống và giảm nhẹ thiên tai duy nhất. Tại các Sở, ngành khác, theo chức năng nhiệm vụ được giao sẽ thành lập các tổ thường trực công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Ở cấp huyện và xã sẽ thành lập Ban chỉ huy phòng chống và giảm nhẹ thiên tai cấp xã, phường với quy mô gọn nhẹ, do Chủ tịch Huyện và Chủ tịch xã làm trưởng Ban, ở cấp huyện sẽ do phòng Nông nghiệp hoặc phòng kinh tế đảm nhiệm, tại cấp xã có cán bộ chuyên trách theo dõi. Dưới đây là cơ cấu tổ chức của Tiểu ban phòng chống hạn hán và sa mạc hóa.

Mặc dù công tác chỉ đạo, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng cũng còn nhiều điểm cần được điều chỉnh, và chú trọng hơn, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. Vì vậy, các đề xuất của các nhà khoa học Viện Địa lý có thể được coi là đóng góp tích cực nhằm thực hiện hiệu quả công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam nói chung, và công tác quản lý hạn hán và sa mạc hóa quốc gia nói riêng.

Source: http://www.vast.ac.vn

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Cơ cấu cây trồng ở Tây Nguyên

  • PDF

DẠY VÀ HỌC. Đất rừng Tây Nguyên đang chuyển đổi nhanh chóng thành đất trồng cà phê, cao su và sắn. Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên hiện đã thành vùng cao su, cà phê chủ yếu trong tổng diện tích cao su của cả nước năm 2010 là 740.000 ha và diện tích cà phê hơn 550.000 ha. Sản lượng sắn Tây Nguyên tăng đột biến gấp sáu lần trong vòng 10 năm từ 351.500 tấn năm 2000 lên 2.179.500 tấn năm 2010 do năng suất sắn tăng gấp đôi và diện tích sắn mở rộng từ 38000 ha năm 2000 lên 133.200 ha năm 2010. Sự cấp thiết phải soát xét, điều chỉnh, tổ chức, quản lý, quy hoạch phát triển trang trại hợp lý;  xác định hệ thống cây trồng vật nuôi và quy trình kỹ thuật thâm canh thích hợp, bền vững cho mỗi cây trồng, vật nuôi tại từng tiểu vùng cụ thể. Hoàn thiện giải pháp tổng thể với quan điểm phát triển Tây Nguyên bền vững hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội , văn hóa, môi trường. Trang DẠY VÀ HỌC xin giới thiệu bài Cơ cấu cây trồng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên với quan điểm phát triển bền vững của ông Nguyễn Văn Mễ là Đại biểu Quốc hội khoá 11, nguyên Chủ tịch UBND,HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế. Bài này trong cụm bài Đối thoại chiến lược nông nghiệp mới để rộng đường dư luận. Mỗi bài trích dẫn đều thể hiện quan điểm riêng của tác giả và mong được đóng góp ý kiến.


Cơ cấu cây trồng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên với quan điểm phát triển bền vững.

Nguyễn Văn Mễ

Tất cả chúng ta đều nhận thức rõ vị trí Tây Nguyên trong chiến lược quốc phòng – an ninh của đất nước. Tuy vậy, Tây Nguyên còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế- xã hội của cả nước nói chung; của vùng duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ và của chính vùng Tây Nguyên nói riêng. Bài viết này không đề cập đến mọi khía cạnh của quan điểm phát triển bền vững mà chỉ xới ra một số vấn đề về bố trí cơ cấu cây trồng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến yêu cầu bảo vệ rừng và nguồn nước, những yếu tố có tính sống còn đối với vùng cây công nghiệp và cây lương thực lớn nhất Việt Nam ; đồng thời là khu vực có nhu cầu ngày càng cao về nước cho sinh hoạt dân cư và sản xuất công nghiệp.

Trước hết, Tây Nguyên là nơi xuất phát của nhiều con sông lớn đổ về đồng bằng sông Cửu Long như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và tất cả các con sông vùng duyên hải từ Đà nẵng vào cực nam Trung Bộ. Nguồn nước cung cấp cho các con sông này đều gắn liền với ” kho nước ” Tây Nguyên,nơi có diên tích rừng tự nhiên chiếm gần 1/3 diện tích cả nước ( 2.846.500 ha/ 9529.400 ha ) ( 1 ). Nếu tính cả diện tích rừng tự nhiên của các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và vùng Đông Nam bộ thì diện tích rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của 19 tỉnh , thành phố chiếm gần 50%. Diện tích rừng đang bị gặm nhắm với tốc độ ngày càng nhanh cả từ phía đồng bằng lên cũng như từ phía Tây Nguyên xuống; chưa kể sự phá hoại rừng theo kiểu da báo trong từng địa phương để đáp ứng yêu cầu của dân cư tại chỗ, của đông đảo người nhập cư và của cả những người có vốn đầu tư từ các đô thị nhắm tới vùng này như một ” thánh địa ” để kiếm cơ hội làm giàu từ các trang trại trồng cà phê, cao su và một số cây trồng có độ che phủ kém khác.

Trong cơ cấu cây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên, diện tích trồng sắn chiếm một tỉ trọng lớn, chỉ sau cây lúa và tăng với tốc độ chóng mặt. Chỉ tính riêng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Đak Nông; Lâm Đồng  đã tăng từ 38000 ha ( năm 2000 ) lên 88.300 ha ( năm 2005 ) và 133.200 ha ( năm 2010), chiếm hơn 1/4 diện tích cả nước ( 133.200 ha/ 496.200 ha ) ( 2 ). Điều đáng lưu ý là diện tích dành cho việc trồng sắn trong thực tế lớn hơn con số này nhiều vì chỉ sau tối đa ba năm, khi năng suất giảm mạnh , người trồng sắn phải mở ra vùng đất mới để có thể duy trì qui mô sản xuất và đảm bảo thu nhập. Diện tích mở ra thường là những vùng rừng tự nhiên cận kề nương rẫy trồng sắn cũ và việc lấn dần theo kiểu ” tằm ăn dâu ” này đã làm mất đi hàng ngàn hecta rừng và phải nhiều năm sau số liệu rừng bị mất mới được phản ảnh trong thống kê của chính quyền các cấp. Trong số diện tích rừng bị lấn chiếm, có không ít vùng có độ dốc trên 30%, hoàn toàn không phù hợp với việc trồng sắn, vì phần đất màu mỡ sẽ nhanh chóng bị rửa trôi dẫn đến nguy cơ bị sạt lở đất , uy hiếp đến tính mạng, tài sản của đồng bào phần lớn cư trú ở vùng đất thấp hơn, ở các triền núi giáp thung lũng.

Nguyên nhân vì sao có sự phát triển mang tính đột biến của cây sắn? Có phải việc phát triển trồng sắn ở Tây Nguyên đã và đang có một tỉ lệ không nhỏ mang tính tự phát? Vì sao trong lúc nhiều quốc gia có sản lượng sắn lớn đã chủ động thu hẹp vùng sản xuất để chuyển sang nhập khẩu nguyên liệu sắn sơ chế, thì ở nước ta việc chuyển dịch cây trồng đang đi theo hướng ngược lại? Rõ ràng, chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp cả trước mắt và lâu dài đều đòi hỏi có sự xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng. Bên cạnh những mặt tốt về xây dựng mô hình sản xuất tập trung, chuyên canh để vươn lên trở thành nhà xuất khẩu cà phê, cao su hàng đầu thế giới thì công tác qui hoạch và quản lý qui hoạch về cây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên đã bộc lộ sự bất cập. Mối quan hệ giữa các tỉnh Tây Nguyên với vùng duyên hải, vùng Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh về qui hoạch vùng sản xuất và phân bổ các cơ sở chế biến không được điều tiết ở tầm vĩ mô, nên vùng Tây Nguyên bị tác động mạnh mẽ của ngoại lực để trở thành nơi cung cấp nguyên liệu cho hàng loạt nhà máy chế biến tinh bột mọc lên một cách ồ ạt ở các địa bàn lân cận. Chu kỳ canh tác ngắn; mức đầu tư thấp, lợi nhuận không cao nhưng có thể nhận được trong năm …là những tác nhân kích thích phong trào trồng sắn trong vùng đồng bào các dân tộc, vốn có truyền thống trồng và sử dụng lương thực từ sắn, chuyển từ giai đoạn tự cấp tự túc sang giai đoạn sản xuất” hàng hoá “.

Cũng trong chưa đầy 10 năm, diện tích trồng cao su ở 5 tỉnh Tây Nguyên  và các tỉnh Đông Nam Bộ cũng không ngừng mở rộng và trở thành vùng chuyên canh chủ yếu trong tổng diện tích hơn 740.000 ha của cả nước. Diện tích cà phê ở hai vùng này cũng chiếm phần lớn của tổng diện tích hơn 550.000 ha ( 3 ) . Không ít diện tích cao su, cà phê trồng mới cũng từ đất rừng chuyển đổi. Cơ cấu cây trồng ở vùng Tây Nguyên đã và đang có sự thay đổi mạnh mẽ, trong đó diện tích rừng , đặc biệt là rừng tự nhiên đang ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng; thay vào đó là sự tăng trưởng không được kiểm soát tốt đối với diện tích trồng cây công nghiệp và các loại cây lương thực thực phẩm ngắn ngày khác, trong đó có cây sắn.

Sự giảm sút diện tích rừng gây ra hậu quả tức thì là sự suy giảm nguồn nước dự trữ và đáp ứng nhu cầu tại chỗ cũng như nguồn cung cấp cho sản xuất và đời sống dân cư ở vùng hạ lưu khu vực duyên hải Trung Bộ và Đông Nam Bộ, trong  đó có thành phố Hồ Chí Minh và vùng động lực phía Nam. Bài toán cân đối nguồn nước của toàn vùng chưa tìm được lời giải tối ưu vì có quá nhiều  ẩn số, đòi hỏi phải lượng hoá sự sụt giảm do mất rừng và tính toán những tác động xảy ra do chế độ vận hành tài nguyên nước của hàng chục nhà máy thuỷ điện lớn, nhỏ.. đã làm cho lưu lượng nước chảy qua hệ thống sông ngòi trong khu vực sụt giảm nghiêm trọng. Tình trạng nước mặn xâm nhập sâu qua các cửa sông Thu Bồn, Vu Gia ở Quảng Nam và Đà Nẵng; sự thiếu hụt nước sinh hoạt đã xuất hiện ở Thành phố Buôn Mê Thuột và một số địa phương của hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum là những chỉ báo không thể xem thường.

Đã đến lúc cần làm rõ quy hoạch, kế hoạch bố trí cơ cấu cây trồng và các cơ sở chế biến nguyên liệu trong từng địa phương gắn với toàn vùng Tây Nguyên; với các địa bàn lân cận cũng như với cả nước theo hướng ưu tiên bảo vệ rừng và giải quyết hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa các loại cây trồng dài ngày- trung bình và ngắn ngày; trong đó, cần xác định rõ phạm vi, giới hạn về mặt diện tích có thể chấp nhận được của cây cao su, cà phê và cây sắn . Quy hoạch đó phải được chi tiết hoá đến từng vùng, thậm chí đến từng thửa đât, kèm theo những qui định về áp dụng chế độ thâm canh, luân canh; chống xói mòn , bảo vệ đất. Mặt khác, cần có những giải pháp về tuyên truyền, giáo dục ; về các chế tài hành chính và luật pháp..được áp dụng một cách mạnh mẽ, đồng bộ trong công tác quản lý quy hoạch bố trí cơ cấu cây trồng nói chung và quản lý, bảo vệ rừng nói riêng. Đồng thời cũng cần làm rõ phạm vi quản lý, trách nhiệm của bộ máy nhà nước, của người sử dụng đất, của các chủ rừng; trong đó có trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương; giám đốc các nông lâm trường; hợp tác xã..Kiên quyết không để tiếp tục xảy ra tình trạng ” lâm tặc ” và những người dân vì lợi ích ngắn ngày, đã và đang vô tình hay cố ý huỷ hoại diện tích rừng tự nhiên ít ỏi còn lại và gây ra sự giảm sút ” kho nước ” có liên quan đến sự phát triển bền vững sản xuất và đời sống của hàng chục triệu người vùng Tây Nguyên, duyên hải Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ. Trước mắt, cần tập trung giải quyết những yếu kém, bất cập của việc phát triển khá nhanh nhưng thiếu tính vững chắc của vùng sắn nguyên liệu ở các tỉnh Tây Nguyên; từng bước sắp xếp lại các nhà máy chế biến tinh bột trong khu vực; cân nhắc kỹ chủ trương xây dựng các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học từ sắn vì việc này làm tăng nguy cơ giảm sút diện tích rừng, vốn là giải pháp tối ưu để giải quyết khí thải độc hại./.

( 1 ), ( 2 ), ( 3 ) : Các số liệu dẫn chứng lấy từ Niên giám thống kê do Tổng cụ Thống kê phát hành năm 2005 và 2010.

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/06/co-cau-cay-trong-o-tay-nguyen.html

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Đồng bằng sông Cửu Long và vấn đề trị thủy

  • PDF

FOODCROPS. ĐBSCL luôn được sự quan tâm của các nhà chính sách trước hai mối tác động lớn là biến đổi khí hậu và quản lý thông tin các đập thủy điện được xây dựng trên dòng sông lớn Mekong. Việc quản lý công trình lớn nhỏ, trên hệ thống sông này sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai vựa lúa ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung. Bằng cách nào để giảm tác động của yếu tố này, khi điện năng lại cần thiết với một số nước đang thiếu và có địa hình thuận lợi?!, đảm bảo mục tiêu phù hợp đối với dòng sông theo Hiệp định Mekong 1995. Xây dập trên dòng chính có thể hủy hoại hệ sinh thái sông Mekong Nước biển dâng, hệ thống sông phức tạp, vấn đề trị thủy sẽ có thêm thách thức mới. Những diễn biến bất thường đối với vựa lúa ĐBSCL luôn có thể diễn ra vì yếu tố thời tiết, không chỉ dự phòng hạn chế  tổn thất đối với cây lúa mà còn với cả hệ thống cây trồng chính khác. Nông nghiệp  tương lai sẽ vẫn là giá đỡ cho đất nước đứng vững trong biến động của biến đổi khí hậu (TT. Nguyễn Tấn Dũng). Hai vấn đề “Phi công bất phú” và “phi nông bất an” sẽ còn cần cân bằng nhiều hơn (GS. Nguyễn Văn Luật).

alt

Vựa lúa ĐBSCL - Hiểm nguy giữa hai làn nước

ĐBSCL - vựa lúa, cá, trái cây của cả nước đang đứng trước 2 mối hiểm họa lớn từ thiên nhiên và con người. Đó chính là tác động của biến đổi khí hậu và hàng loạt đập thủy điện được xây dựng trên dòng chính sông Mekong…

Hiểm họa chực chờ

Có tới 6.000 công trình lớn nhỏ gồm hồ chứa nước, công trình thủy lợi… được xây dựng để khai thác nguồn nước trên toàn lưu vực sông Mekong trong vòng 60 năm qua. Gần đây, vấn đề này càng trở nên bức xúc từ việc xây dựng hàng loạt công trình lớn phương hại đến dòng chảy Mekong. Trên dòng chính sông Mekong sẽ có tới 19 đập thủy điện. Trong đó, khu vực thượng nguồn có 8 đập của Trung Quốc; 11 đập ở hạ ngồn gồm: 7 đập của Lào, 2 của Lào - Thái Lan, 2 của Campuchia với tổng dung tích hữu ích hơn 5,7 tỷ mét khối nước. Các chuyên gia đánh giá, tiềm năng thủy điện trên dòng chính sông Mekong lớn nhất là Lào, kế đến Campuchia và Thái Lan; Việt Nam không có vì nằm ở cuối nguồn. Nhưng hiểm họa do thủy điện trên dòng chính sông Mekong gây ra thì ĐBSCL gánh chịu nặng nề nhất.

Hiện tại, đập đầu tiên trong tổng số 11 cái đang dự tính hình thành ở hạ nguồn sông Mekong mang tên Xayaburi ở Lào đã có hồ sơ xin phép xây dựng. Đập Xayaburi cách ĐBSCL 1.930km, dài 820m, cao 280m, có tổng thời gian xây dựng 8 năm, dự kiến vận hành vào năm 2019. Một nhà đầu tư của Thái Lan sẽ xây dựng công trình này và hầu hết sản lượng điện từ đây được bán sang Thái Lan.

Tại hội thảo tham vấn quốc gia về công trình đập thủy điện Xayaburi (Lào), diễn ra tại Cần Thơ mới đây, các đại biểu, nhà khoa học các tỉnh, thành ĐBSCL cho rằng: “Hiểm họa sẽ rất lớn, do đó, không nên coi việc xây dựng công trình thủy điện trên dòng chính như việc thử nghiệm. Kiến nghị Chính phủ kiên quyết không tán thành việc xây dựng công trình này; đồng thời chuyển hướng nghiên cứu xây dựng trên các nhánh phụ của sông Mekong”. Đặc biệt, nhiều ý kiến nhấn mạnh đến vai trò của vựa lúa, vựa cá của ĐBSCL đối với thế giới là vấn đề quan trọng phải tính đến trong việc đánh giá tác động của đập thủy điện này. Các nhà khoa học ở ĐBSCL yêu cầu được tham gia nghiên cứu để đưa ra các luận cứ khoa học phản bác lại việc xây dựng đập thủy điện Xyaburi; đảm bảo mục tiêu sử dụng công bằng và hợp lý đối với dòng sông theo Hiệp định Mekong 1995.

Nguy cơ vựa lúa

ĐBSCL được các chuyên gia, nhà khoa học cảnh báo là 1 trong 3 đồng bằng sẽ chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu nặng nề nhất thế giới. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m, sẽ có khoảng 70% diện tích đất ở ĐBSCL bị mặn xâm nhập, mất khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa. Nhiều địa phương bị chìm trong nước. Nặng nhất là Bến Tre - mất hơn 50% diện tích, Long An gần 50%, Trà Vinh 46%, Sóc Trăng gần 44%, Vĩnh Long 40%… Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn lớn. Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách Nhà nước mà ĐBSCL đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng

Bà Võ Thị Bé Năm, Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (Bộ NN - PTNT), khẳng định: “ĐBSCL sẽ chịu tác động kép giữa cường độ dòng chảy của sông Mekong và tình trạng nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Nếu nước từ thượng nguồn bị giữ lại, gây hạn hán ở hạ nguồn thì nước mặn sẽ tràn vào các vùng trồng lúa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Khi xảy ra lũ ở thượng nguồn, các đập thủy điện đồng loạt xả nước, ĐBSCL của Việt Nam sẽ hứng trọn”. Trước nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu cùng với việc mọc lên của hàng loạt các đập thủy điện trên dòng chính Mekong, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban sông Mekong Việt Nam, Thứ trưởng Bộ TN-MT Nguyễn Thái Lai nhận định: “ĐBSCL có thể biến mất sau vài trăm năm nữa”.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của Trung tâm Quốc tế về quản lý môi trường khẳng định, xây đập trên dòng chính có thể “hủy hoại hệ sinh thái của sông Mekong”. Tổng lượng phù sa của sông Mekong (khoảng 160-165 triệu tấn/năm) sẽ bị giữ lại 50% do các đập của Trung Quốc và 25% từ các đập ở hạ lưu. 2,3-2,8 triệu ha đất nông nghiệp, chủ yếu của Việt Nam và Campuchia bị cằn cõi. Riêng lượng phù sa về ĐBSCL giảm từ 26 triệu tấn còn 7 triệu tấn/năm; lượng chất dinh dưỡng từ 4.157 tấn còn 1.039 tấn/năm. Tác động này sẽ làm giảm năng suất nông nghiệp, tăng hiện tượng xói lở bờ… Sản lượng khai thác thủy sản nhiều khả năng giảm tới 900.000 tấn; trong đó, ĐBSCL chiếm 400.000 tấn. Mất hầu hết môi trường sống thủy sinh tự nhiên; làm giảm 12-27% năng lực tái sinh của hệ thủy sinh; mất 20-25% giống loài có tính di truyền. Việt Nam có khoảng 14 triệu người bị ảnh hưởng.

Source: http://www.sggp.org.vn/nongnghiepkt/2011/1/249469/

Vụ lúa TĐ ở ĐBSCL: Lo lắng diễn biến bất thường

Từ giữa tháng 7/2011 là thời điểm lúa hè thu (HT) ở ĐBSCL thu hoạch rộ. Thị trường lúa gạo trong vùng đang tốt lên nên thôi thúc nông dân nhiều địa phương sau khi gặt lúa HT là xuống giống nối tiếp vụ thu đông (TĐ).

Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL cho biết có kế hoạch mở rộng diện tích vụ TĐ lên 602.400 ha, tăng gần 100.000 ha so năm 2010. Trong đó, các tỉnh trong vùng tăng làm lúa TĐ nhiều nhất là Đồng Tháp 100.000 ha, tăng 40.000 ha so năm so vụ lúa TĐ 2010, An Giang tăng từ 113.000 ha lên 130.000 ha, Cần Thơ từ 34.000 ha lên hơn 50.000 ha, Hậu Giang tăng từ 48.000 ha lên 53.000 ha… Chính vì việc cấp tập gia tăng lúa vụ TĐ, nhất là trong điều kiện thời tiết diễn biến bất thường, các cơ quan chuyên môn đã cảnh báo nhiều mối lo ngại có khả năng xảy ra.

Theo nhận định của Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ, các tỉnh Nam bộ thời tiết đang chuyển xấu dần, có mưa nhiều và giông vào những ngày giữa tuần; những ngày cuối tuần giảm mưa, ngày giảm mây và nắng, trưa chiều có mưa rào và dông rải rác. Trong đầu tháng 7/2011 thời tiết Nam bộ xen kẽ những ngày mưa nhiều là một vài ngày ít mưa.

Bên cạnh đó, từ cuối tháng 6 mực nước các sông Nam bộ bắt đầu dâng cao. Mực nước sông Cửu Long đang lên nhanh. Mực nước cao nhất tại Tân Châu có khả năng lên 1.80 m; tại Châu Đốc lên 1.65 m, cao hơn cùng kỳ năm 2010 là 0.6-0.7 m. Vùng hạ lưu, mực nước các sông Nam bộ biến đổi theo triều và đạt đỉnh cao vào những ngày giữa tuần ở mức cao hơn trung bình nhiều năm. Trong khi đó đây là thời điểm thu hoạch lúa HT và xuống giống lúa TĐ. Do đó nông dân sẽ gặp khó khăn hơn trong việc phơi sấy lúa và đề phòng lúa TĐ vừa mới sạ bị ngập úng chết.

Hiện nay, toàn vùng ĐBSCL xuống giống vụ TĐ đạt 179.772 ha, nhanh hơn vụ TĐ cùng kỳ. Cục Trồng trọt đề nghị các địa phương kết thúc xuống giống lúa TĐ vào ngày 20/8, tối đa vào ngày 30/8 để đảm bảo an toàn cho khung thời vụ chung trong vùng, nhất là cho đợt xuống giống vụ ĐX tháng 11, 12.

PGS.TS Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt nhận xét: “Vụ lúa TĐ ở ĐBSCL muốn thắng lớn cần lưu ý yếu tố thời tiết diễn biến mùa mưa lũ, dịch bệnh; đặc biệt các địa phương cần khuyến cáo nông dân sử dụng giống lúa cho vụ này cần lưu ý tính chống chịu rầy nâu, vàng lùn - lùn xoắn lá (RN, VL-LXL), bệnh cháy lá nhất là giống lúa cứng cây để hạn chế đổ ngã. Hiện nay, Cục Trồng trọt đã đề xuất Bộ NN-PTNT kinh phí hơn 196 tỉ đồng hỗ trợ sản xuất lúa TĐ như giống lúa, gia cố bờ bao, bơm tát".

Theo nhận định các cán bộ ngành BVTV, sau hai vụ lúa ĐX và HT liên tiếp trúng mùa, được giá cho thấy nông dân hăm hở nối vụ. Có địa phương nông dân xé rào gieo sạ không tuân thủ lịch thời vụ khuyến cáo của địa phương. Mặt khác việc sử dụng thuốc BVTV của một số nông dân như phun xịt sớm, dùng thuốc liều mạnh trong hai vụ lúa vừa qua đã dẫn tới dịch RN, bệnh VL-LXL nhen nhóm dấu hiệu tái phát.

TS Nguyễn Hữu Huân, Cục phó Cục BVTV báo động: Hiện nay diện tích lúa nhiễm và mật số rầy đang gia tăng và sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Vì vậy các địa phương cần lưu ý diễn biến RN trên đồng ruộng cũng như theo dõi các bẫy đèn ở địa phương để chỉ đạo xuống giống lúa TĐ, mạ mùa và cấy lúa mùa theo lịch né rầy.

Dự báo các đợt rầy di trú tháng 7 cao điểm từ 17 đến 25/7/2011; tháng 8/2011 rầy nâu di trú từ 18 đến 28/8 mật số sẽ cao do thu hoạch lúa HT muộn, TĐ thu hoạch sớm trong tháng này sẽ nhiều hơn. Do đó để bảo vệ lúa TĐ, vụ mùa, giải pháp chính là chấn chỉnh lịch xuống giống né rầy, thời vụ gieo sạ, hạn chế tình trạng xuống giống xé rào, tự phát. Trong đó, lưu ý hạn chế tối đa việc quảng cáo, hướng dẫn nông dân phun thuốc trừ sâu sớm trong giai đoạn đẻ nhánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng nhận định: Vụ lúa HT đang qua giai đoạn khó khăn, nhưng cần tiếp tục theo dõi dịch hại để đảm bảo nông dân trúng mùa. Qua tín hiệu trên những cánh đồng gặt sớm ở một số địa phương cho thấy năng suất đạt rất cao 5,5- 5,8 tấn/ha, mức cao nhất từ trước tới nay. Qua đó, điều rút ra là lúa HT gieo vào tháng 4 gặt vào tháng 7 là rất trúng, vì đủ nước, không gặp mưa lớn, giá bán tốt.

Với vụ TĐ này diện tích lúa tăng lên, dự kiến sản lượng đạt 2.870.000 tấn, tăng thêm 500.000 tấn sẽ đóng góp đáng kể vào sản lượng lúa cả nước năm 2011 tăng thêm 1 triệu tấn lúa. Vì vậy, muốn đạt thắng lợi các địa phương cần lưu ý điều kiện hạ tầng, củng cố đê bao, cùng nông dân ra đồng giám sát theo dõi đề phòng dịch bệnh hại lúa.

Source: Báo Nông Nghiệp

Lúa là mục tiêu chính
GS-TS. Nguyễn Văn Luật

Nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL

Sản xuất lúa hằng năm tăng đều theo công nghệ sản xuất mới. Bên cạnh đó, vẫn có một số hạn chế cho việc sản xuất lúa hiệu quả cao. GS. TS. Nguyễn Văn Luật là một nhà quản lí đã nhiều năm lãnh đạo Viện Lúa ĐBSCL; nhưng ông còn là một chuyên gia giỏi về cây lúa. Trong các Diễn đàn, GS. luôn có những tham luận khoa học đề cập việc tăng năng suất lúa trên nền tảng của công nghệ sản xuất mới ở Việt Nam. GS-TS. Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, có cuộc trao đổi với Báo NNVN về những vấn đề ông quan tâm nhân Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ II năm 2011 từ ngày 8/11/2011 đến ngày 11/11/2011, tại Sóc Trăng.

PV: Thưa GS, về hưu không tham gia công tác quản lí, ông vẫn nặng lòng với nông dân và cây lúa?

 

GS. NVL: Vâng, nhưng nói “nặng tình” thì đúng hơn, nặng tình đến mức “phải lòng” nếu không nói quá. Đấy là ước nguyện của tôi mà, từ khi tự nguyện rời khỏi vị trí “giảng viên trẻ đại học NN 1 Hà Nội” để gần nông dân, gần cây lúa tính đến nay đã gần nửa thế kỷ đấy, trong thời gian đó ở ĐBSH thì tôi có góp phần đưa vụ lúa Xuân thành vụ chính; ở ĐBSCL thì góp phần đưa vụ lúa Thu Đông thành vụ lúa chính. Thật thú vị: khi mình còn trẻ thì “nặng tình” với nông dân và cây lúa ở ĐBSH  phù sa “cao tuổi” với vụ lúa xuân; Khi mình cao tuổi, hay tuổi đã sang thu thì vẫn trung thủy với hai đối tượng trên, nhưng ở vùng phù sa trẻ ĐBSCL với vụ lúa thu đông cùng với các giống lúa OMCS mà nhiều nhà báo dịch sai là “ôm em cực sướng.

 

PV: Ông nói nhiều về công nghệ sản xuất mới. Xin ông cho biết, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm.
GS. NVL: Hiện nay, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm chính là khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT mới nhất. Đấy là việc thực hiện “Ba không”: Không cúi cấy; Không phơi lúa; và Không gặt lúa bằng tay. Về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội do khuyến cáo này đưa lại rất to lớn, chắc hẳn là bà con nông dân mình và cán bộ khuyến nông đã rõ. Tôi chỉ xin nói thêm một chút: “Ba không” cũng là một “gói định hướng kỹ thuật mở” nhằm thực hiện “Ba tăng, Ba giảm”, một gói kỹ thuật mở mang tính phong trào nhằm đưa nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất, như PCT An Giang Huỳnh Thế Năng đã có nói. Vì là gói kỹ thuật mở, nên ở miền Bắc là “Không cúi cấy” còn ở ĐBSCL là “Không sạ lan lãng phí” mà dùng dụng cụ sạ lúa theo hàng. Dụng cụ này là IRRI SEEDER, vì mẫu máy của Viện Lúa Quốc tế, tôi mang về, cùng Viện tôi và doanh nghiệp tư nhân Hoàng Thắng nghiên cứu cải tiến, bà con nông dân miền Tây hưởng ứng sử dụng. Đến nay miền Bắc lại áp dụng nhanh hơn, tôi rất vui về điều đó, vì quê tôi ở Hà Nội mà. Nhiều nước trồng lúa có đến tham quan rút kinh nghiệm và mua mẫu máy đã cải tiến từ Việt Nam ta mang về phát triển ở nước mình.

 

PV: Còn theo ông, nông thôn mới có ý nghĩa như thế nào tới việc trồng lúa?
GS. NVL: Nông thôn mới có ý nghĩa rất quan trọng tới việc trồng lúa, là bước đi cơ bản nhất cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, cũng là biện pháp rất thiết thực nhằm “Đền ơn đáp nghĩa” với bà con nông dân mình vốn chịu nhiều thiệt thòi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nói nông nghiệp là giá đỡ cho đất nước mình đứng vững trong biến động về tài chính mấy năm qua. Và chắc chắn sẽ là giá đỡ trước biến đổi khí hậu toàn cầu  (BĐKH) ngày càng phức tạp. Nhiều nhà khoa học thế giới có nói BĐKH sẽ dẫn đến thay đổi vị trí quốc gia, nước nào sản xuất được nhiều lương thực thực phẩm sẽ là cường quốc, chứ không như hiện nay, nhiều nước phát triển “hy sinh” nông nghiệp, nông dân, và nông thôn nhằm tập trung vào mấy sản phẩm công nghiệp để giầu có. Họ chỉ biết “Phi công bất phú”, mà không biết “Phi nông bất an”.

 

PV: Thế, hoạt động khuyến nông giữ vai trò gì trong sản xuất lúa đạt thương hiệu bền vững?
GS. NVL: Hoạt động khuyến nông giữ vai trò quan trọng  trong sản xuất lúa đạt thương hiệu “Lúa gạo Việt Nam” bền vững trên thị trường thế giới, tất nhiên là trên cơ sở  phát triển sản xuất lúa bền vững. Tổ chức nòng cốt của họat động khuyến nông là Trung tâm Khuyến nông QG, và TTKN tỉnh/ thành, có màng lưới sâu rộng đến huyện, xã, ấp/ xóm. Còn hoạt động khuyến nông thì có rất nhiều tổ chức và cá nhân tham gia, như cá nhân chuyên gia Nguyễn Lân Hùng luôn xuất hiện và hướng dẫn kỹ thuật rất cụ thể, từ con giun, con dế đến con kỳ đà, con dê núi; từ cây lúa cây ngô đến cây tóc gây trầm kỳ Nam.. Nếu như tổ chức khuyến nông có điều kiện quy tụ được các họat động khuyến nông thì bà con nông sẽ được hưởng lợi nhiều hơn.

PV: “Festival lúa gạo Việt Nam” lần này tại Sóc Trăng, ông lại tham gia diễn đàn Nông nghiệp?
GS. NVL: Tất nhiên rồi. Tôi thường được Viện Lúa ĐBSCL hỗ trợ và Cty BVTV An Giang hỗ trợ ít nhiều qua Hội Giống Cây trồng Nam Bộ, nên chưa “lực bất tòng tâm”.

Xin cám ơn Giáo sư!

THẠCH THẢO

Nguồn: Trích từ Báo Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn - Ngày 14/08/2011 08:05:27

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nhiên liệu sinh học xu thế tương lai Việt Nam

  • PDF

FOODCROPS. Theo VietNamNet 22.1.2010, Ban điều hành đề án của Chính phủ về phát triển nhiên liệu sinh học (NLSH) do Bộ Công thương chủ trì vừa tổ chức Hội thảo quốc tế về phát triển NLSH và thực địa tại một số nhà máy, vùng nguyên liệu tại Phú Yên. Xu thế tất yếu trong tương lai. Trước tình hình ngày càng cạn kiệt các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong khi nhu cầu sử dụng năng lượng

alt

Trước tình hình ngày càng cạn kiệt các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong khi nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng, việc nghiên cứu, phát triển sản xuất và sử dụng NLSH đã và đang thu hút sự quan tâm rất lớn của các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng không ngoài xu thế ấy.

Tháng 11/2007, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn 2025” nhằm mục tiêu: Phát triển NLSH, một dạng năng lượng mới, tái tạo để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.

Sau 2 năm triển khai, đến cuối năm 2009 hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, triển khai sản xuất thử sản phẩm ... NLSH có đủ hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia. Năm 2009 có 3 dự án xây dựng và sản xuất thử nghiệm, xem xét 2 hồ sơ dự án phát triển vùng nguyên liệu và xây dựng nhà máy chế biến dầu diesel sinh học.

Tại cuộc hội thảo, các nhà khoa học đầu ngành về NLSH, quy hoạch vùng nguyên liệu cây trồng để phục vụ sản xuất NLSH của Việt Nam đều khẳng định: “Vấn đề phát triển NLSH là xu thế tất yếu trong tương lai”.

Kinh nghiệm của những nước có thế mạnh về lĩnh vực này như Brazil, Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc… cho thấy việc sản xuất NLSH, Ethanol không chỉ tạo nên nguồn lợi lớn từ việc thay thế nhiên liệu sinh học cho nguồn nhiên liệu hóa thạch mà nó còn bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và tạo công ăn việc làm bền vững cho người nông dân góp phần phát triển nền kinh tế xã hội.

TS Lê Việt Nga đang trao đổi với các chuyên gia nước ngoài.

TS Lê Việt Nga, thành viên Văn phòng Ban điều hành đề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn 2025 (Bộ Công thương), cho biết: “Qua khảo sát thực tế tại Phú Yên và các tỉnh miền Trung, có thể khẳng định rằng, vùng đất này có tiềm năng rất lớn và đầy đủ các điều kiện nói trên để có thể đầu tư sản xuất loại nhiên liệu sạch này với 3 yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

TS Lê Việt Nga cho biết: Phú Yên đang sẵn có một vùng nguyên liệu rất dồi dào để phục vụ cho ngành công nghiệp phát triển NLSH. Đó là mía, sắn, rỉ đường với diện tích và sản lượng lớn đủ sức để phục vụ một nhà máy có quy mô lớn. Bên cạnh đó, Phú Yên cũng như các tỉnh miền Trung còn một số lớn diện tích đất nông nghiệp đồi núi cằn cỗi có thể phát triển những đối tượng cây trồng làm nguyên liệu cho sản xuất NLSH như cây cao lương ngọt, Jatropha (cây cọc rào)...

Một điều thuận lợi nữa là lãnh đạo tỉnh, ngành công nghiệp Phú Yên rất quan tâm đến vấn đề này. Tại Phú Yên một số doanh nghiệp cũng đã nhận ra nguồn lợi từ sản xuất NLSH bước đầu phục vụ cho sản xuất của mình như nhà máy đường Tuy Hòa, nhà máy sắn Sông Hinh, sản phẩm NLSH đã giúp họ giảm đến hơn 80% tiền để đầu tư mua nhiên liệu phục vụ cho việc sản xuất của nhà máy.

TS Nguyễn Huy Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ Công thương) khuyến nghị: “Cần cân đối các vấn đề như đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực (nguyên liệu cho phát triển NLSH là cây công nghiệp, liên quan đến người nông dân), phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đầu ra cho người nông dân... phải đảm bảo phù hợp với điều kiện cũng như quy hoạch chiến lược của tỉnh. Một vấn đề khác cũng hết sức lưu ý đó là quy trình công nghệ sản xuất phải đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, hướng tới một chiến dịch sản xuất sạch hơn”.

Sau cuộc hội thảo và chuyến thực địa, nhiều nhà khoa học khẳng định Phú Yên nói riêng và các tỉnh khu vực miền Trung có nhiều tiềm năng để phát triển nguồn nhiên liệu sạch này.

Trần Quới

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2010/01/nhien-lieu-sinh-hoc-xu-tuong-lai-viet.html

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Một số văn bản quy trình quy phạm cây lương thực

  • PDF

FOOD CROPS. Quy trình, quy phạm là những tài liệu rất quan trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật . Sau đây là một số văn bản  quy trình, quy phạm cây lương thực: Quy trình kỹ thuật sản xuất lúa thuần; Quy phạm khảo nghiệm DUS giống lúa; Quy phạm khảo nghiệm VCU giống lúa; Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai; Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai hai dòng; Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai ba dòng; Quy phạm khảo nghiệm DUS giống ngô; Quy phạm khảo nghiệm VCU giống ngô; Quy trình nhân dòng thuần ngô lai; Quy trình sản xuất ngô rau; Quy phạm khảo nghiệm VCU giống khoai lang; Phương pháp kiểm định ruộng giống cây trồng; Phương pháp kiểm nghiệm hạt giống cây trồng; Phương pháp kiểm tra tính đúng giống và độ thuần đồng ruộng.

alt

Quy trình kỹ thuật sản xuất lúa thuần;

Quy phạm khảo nghiệm DUS giống lúa;

Quy phạm khảo nghiệm VCU giống lúa;

Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai;

Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai hai dòng;

Tiêu chuẩn hạt giống lúa lai ba dòng;

Quy phạm khảo nghiệm DUS giống ngô;

Quy phạm khảo nghiệm VCU giống ngô;

Quy trình nhân dòng thuần ngô lai;

Quy trình sản xuất ngô rau;

Quy phạm khảo nghiệm VCU giống khoai lang

Phương pháp kiểm định ruộng giống cây trồng;

Phương pháp kiểm nghiệm hạt giống cây trồng;

Phương pháp kiểm tra tính đúng giống và độ thuần đồng ruộng.

Nguồn: TS. Hoàng Kim Một số văn bản quy trình, quy phạm cây lương thực

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC