Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Sắn có tiềm năng trở thành cây trồng của thế kỷ 21

  • PDF

Sắn có tiềm năng trở thành cây trồng của thế kỷ 21
LHV - Mard, Theo FAO

Ngày 28/5, FAO cho biết một mô hình canh tác sắn thân thiện với môi trường của FAO có thể giúp sản lượng sắn tăng tới 400% một cách bền vững và đưa loại cây lương thực vốn là thức ăn của người nghèo trở thành cây trồng của thế kỷ 21.

Trong bản hướng dẫn mới được phát hành mang tựa đề: Hình thức canh tác mới cho cây sắn ở các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, FAO lưu ý rằng sản lượng sắn toàn cầu đã tăng 60% kể từ năm 2000 và mức tăng này sẽ còn tiếp diễn trong thập kỷ này do các nhà hoạch định chính sách đã nhận thức rõ tiềm năng to lớn của cây sắn.

Tuy nhiên, phương pháp sử dụng trong cuộc Cách mạng xanh thế kỷ trước nhằm tăng sản lượng sắn đã gây hại cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên và gia tăng phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. FAO cho biết các giải pháp trong cách tiếp cận mới giúp người nông dân đạt được năng suất cao hơn trong khi tình trạng đất trồng được cải thiện hơn với việc hạn chế sử dụng các loại hóa chất. Phương pháp mới giảm thiểu các hình thức gây xáo trộn đất từ các biện pháp canh tác thông thường như cày và khuyến nghị duy trì một lớp bảo vệ thực vật trên đất.

Thay vì hình thức độc canh thường thấy trong các hệ thống thâm canh, phương pháp mới của FAO khuyến khích trồng luân canh và khẳng định vai trò của phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp, trong đó sử dụng cây giống sạch bệnh và các loài thiên địch của sâu hại thay vì thuốc trừ sâu hóa học.

Cách tiếp cận này đã mang lại kết quả ngoạn mục. Tại Cộng hòa Dân chủ Công-gô, thông qua đào tạo trong việc sử dụng các cây giống khỏe mạnh, tạo lớp phủ và trồng xen canh, người nông dân tham gia các lớp học đã đạt mức tăng năng suất lên đến 250%.

Sắn là cây trồng đa năng của nông hộ nhỏ ở hơn 100 quốc gia. Rễ của nó rất giàu hyđrát-cácbon trong khi lá sắn chứa tới 25% protein cộng với sắt, canxi và các vitamin A và C. Các bộ phận khác của cây sắn có thể được sử dụng như thức ăn gia súc và gia súc được nuôi bằng thức ăn từ sắn có khả năng kháng bệnh tốt và tỷ lệ tử vong thấp.

Một nguyên nhân khác làm gia tăng nhu cầu sắn là giá ngũ cốc hiện tại đang ở mức cao. Điều này khiến sắn trở thành một sự lựa chọn thay thế hấp dẫn cho lúa mì và ngô, đặc biệt là sắn có thể được chế biến thành bột chất lượng cao có thể thay thế cho bột mì.

Cùng với tầm quan trọng như một nguồn lương thực thiết yếu giúp đảm bảo an ninh lương thực, cây sắn cũng có một loạt các ứng dụng công nghiệp khiến cho cây sắn có tiềm năng rất lớn thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn và nâng cao thu nhập nông thôn. Nhu cầu sắn làm nguyên liệu để sản xuất ethanol sinh học cũng đang phát triển nhanh chóng. Là một trong những cây lương thực chủ yếu ở châu Phi, cây sắn là cây ít bị ảnh hưởng nhất từ biến đổi khí hậu.

Với giải pháp mới của FAO, các nước đang phát triển có thể đạt mức sản lượng sắn cao hơn, giảm đói nghèo ở nông thôn và góp phần phát triển kinh tế quốc gia.

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Cây có củ và tác động của biến đổi khí hậu

  • PDF

Biến đổi khí hậu có thể khiến củ khoai lang siêu lớn
L.H - Dost-dongnai, theo New Scientist Environment

alt
Nồng độ khí carbon dioxit trong khí quyển tăng có thể mang đến một điều tích cực: tăng gấp đôi kích thước của khoai lang, cây lương thực quan trọng thứ năm ở các nước đang phát triển.

Hầu hết các nghiên cứu về những tác động của CO2 trong khí quyển cao đối với cây trồng đã phát hiện sản lượng tăng đối với lúa mì, lúa gạo và đậu nành. Khoai lang đang ngày càng trở thành một loại lương thực chủ yếu ở châu Phi và châu Á. Cây trồng này sản xuất "nhiều năng lượng ăn mỗi ha mỗi ngày hơn so với lúa mì, lúa gạo hay sắn", theo Trung tâm nghiên cứu khoai quốc tế.

Hope Jahren từ Đại học Hawaii ở Manao và các đồng nghiệp đã trồng khoai ở 4 mức nồng độ CO2 khác nhau: mức hiện nay là 390 phần triệu và 760, 1140 và 1520. Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu dự đoán rằng nồng độ CO2 trong khí quyển sẽ đạt từ 500 đến 1000 phần triệu vào năm 2100.

Đối với kịch bản ít cực đoan nhất với nồng độ 760 phần triệu, nhóm phát hiện kích thước củ cũng tăng lên đến 96%.

Nhóm nghiên cứu hiện đang kiểm hàm lượng dinh dưỡng của những củ khoa siêu kích cỡ này. "Liệu khoai lang này có giàu chất dinh dưỡng hơn không hay bạn có phải ăn nhiều gấp đôi để có đủ chất dinh dưỡng cần thiết không?" Ben Czeck thành viên của nhóm nghiên cứu đặt câu hỏi “Điều quan trọng là nghiên cứu trước đây cho thấy hàm lượng protein trong lúa mì, gạo, lúa mạch và khoai tây đã giảm 15% khi trồng trong điều kiện nồng độ CO2 tăng gấp so với hiện nay.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Sản xuất thành công đất nhân tạo

  • PDF

Sản xuất thành công đất nhân tạo 

Loại đất nhân tạo này được làm từ các sợi tự nhiên, ngâm bão hòa rất lâu trong một dung dịch đặc biệt.

Theo hãng tin TASS, các nhà khoa học tại Trường Đại học Liên bang Siberia ở Krasnoyarsk (Nga) đã nghiên cứu và phát triển thành công đất nhân tạo, có tên gọi là Biomat, giúp khôi phục hiệu quả các khu vực đất bị thoái hóa, bạc màu và phục vụ cho việc trồng trọt.

Bà Alena Burnova, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết Biomat được làm từ các sợi tự nhiên, ngâm bão hòa rất lâu trong một dung dịch đặc biệt.

Các khoảng trống giữa các sợi nói trên được phủ kín bằng các chất hữu cơ liên kết tự nhiên và hoạt động linh hoạt theo cơ chế sinh học. Khi cần, Biomat có thể được bổ sung thêm các chất gel giãn nở để tăng khả năng giữ nước, cần thiết cho các cây con.

Bà Burnova mô tả Biomat giống như là “một tấm thảm rất nhẹ”, có thể được sử dụng ở mọi nơi, nhất là tại các vùng đất phía bắc xa xôi của Nga, nơi việc trồng trọt gặp nhiều khó khăn do đất đai tại các khu vực này thường xuyên bị tàn phá bởi khí hậu khắc nghiệt.

Biomat sẽ tự phân hủy hết trong vòng 4-5 năm và các chất sau khi phân hủy sẽ trở thành dinh dưỡng của đất, tạo độ màu mỡ để cây sử dụng

Giống lúa mới có thể giúp nông dân định trước thời gian thu hoạch

  • PDF

Giống lúa mới có thể giúp nông dân định trước thời gian thu hoạch 

Một nhóm nhà khoa học người Nhật Bản tại Đại học Tokyo đã phát triển một giống lúa mới trổ bông trong vòng 40-45 ngày sau khi được phun một loại hóa chất thông thường, bán trên thị trường với tên gọi Routine hoặc Oryzemate, giúp phòng ngừa nhiễm bệnh đạo ôn.

Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, giống lúa mới sẽ trổ bông trong một khoảng thời gian nhất định sau khi được phun hóa chất thường được sử dụng để bảo vệ cây lúa khỏi bệnh nấm đã ra đời. Giống lúa mới này ngày nào đó có thể cho phép nông dân quyết định thời gian thu hoạch trừ khi thời tiết, nhiệt độ và các tác động khác ảnh hưởng đến việc gieo trồng.

Nhiệt độ, độ dài ngày và các yếu tố môi trường khác quyết định khi nào cây ra hoa, điều này gây khó khăn cho người nông dân trong việc kiểm soát thời gian thu hoạch. Mặc dù các nhà khoa học đã có thể can thiệp việc ra hoa của các loài thực vật có hoa nhỏ như Arabidopsis thaliana, song đến nay họ vẫn chưa thành công đối với cây lương thực.

Đầu tiên, các nhà khoa học tạo ra một giống lúa không trổ bông bằng cách thể hiện quá mức một gien (số lượng hạt, chiều cao cây và quyết định ngày trổ 7, Ghd7) ngăn chặn các gien ra hoa (gien chứa hooc môn kích thích nở hoa) kích thích ra hoa ở đầu cây trong điều kiện ngày ngắn. Sau đó, các nhà khoa học biến đổi gien hoóc-môn kích thích nở hoa Quyết định ngày trổ 3a (Hd3a) trong giống lúa không trổ bông sẽ được kích hoạt trong phản ứng với các hóa chất nhất định. Khi khảo nghiệm giống lúa này trong phòng thí nghiệm và trong chậu dưới điều kiện tự nhiên ở Tsukuba, thành phố cách Tokyo 70 km về phía bắc, thuộc tỉnh Ibaraki, các nhà nghiên cứu đã quan sát giống lúa mới trổ bông trong vòng 45 ngày sau khi sử dụng chất hóa học. Trong khảo nghiệm kéo dài hơn 2 năm, các nhà khoa học đã quan sát nhiều lần trổ bông sau khi phun thuốc.

Theo các nhà khoa học, sẽ có một số chất hoạt hóa - các vùng di truyền kích hoạt gien - sẽ làm cho Hd3a phản ứng với một số hóa chất nông nghiệp.

Thử thách tiếp theo đối với các nhà nghiên cứu là theo dõi những bông lúa mới trên ruộng và các điều kiện đồng ruộng khác nhau để nông dân một ngày nào đó có thể quyết định thời gian thu hoạch.

 

Trồng mì xen đậu phộng

  • PDF

Trồng mì xen đậu phộng
Kim Sơ -NNVN

Việc trồng mì (sắn) xen đậu phộng (lạc) không chỉ tiết kiệm được đất SX trên cùng diện tích, có thêm nguồn thu, mà còn góp phần cải tạo đất bạc màu.

Diện tích trồng mì ở huyện Bắc Bình (Bình Thuận) ngày càng mở rộng, đến nay đã lên đến hàng ngàn ha, tập trung canh tác chủ yếu ở những vùng đất cát, cát pha. Mặc dù diện tích ngày càng tăng bởi mì được giá, lại thu hoạch vào dịp Tết, nên người dân bất chấp quy hoạch, không chú trọng đầu tư thâm canh nên năng suất ngày càng giảm.

Tỉnh Bình Thuận là một trong những nơi khô hạn nhất của cả nước có lượng mưa hàng năm thấp, do đó ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng, vật nuôi bị giảm sút. Do vậy việc nhân rộng mô hình trồng mì xen lạc mang lại hiệu quả về kinh tế đang được ngành nông nghiệp tỉnh nhân rộng trên vùng đất bị sa mạc hóa

Trước tình hình đó, các nhà khoa đã vào cuộc cải tạo đất nhằm giúp nâng cao năng suất cây mì, hướng tới SX bền vững… Năm 2011, Viện KHKT nông nghiệp duyên hải Nam Trung bộ triển khai đề tài “Ứng dụng các biện pháp kỹ thật tổng hợp để nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển bền vững trong canh tác cây mì trên vùng đất cát ven biển Bình Thuận” tại 2 xã Hồng Thái và Bình Tân.

Kết quả mô hình được nông dân đánh giá cao, không chỉ giúp năng suất tăng, mà còn được lợi nhuận kép trên cùng diện tích. Từ đó UBND huyện Bắc Bình giao nhiệm vụ cho Trạm Khuyến nông huyện tiếp tục xây dựng và thực hiện mô hình trong năm 2012 và những năm tiếp theo. Năm qua, Trạm Khuyến nông thực hiện mô hình trồng mì xen đậu phộng tại 2 xã Sông Bình, Hồng Phong diện tích 1 ha với 4 hộ tham gia.

Theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật Trạm Khuyến nông thì bà con thực hiện phải chuẩn bị trước khâu làm đất; thời gian xuống giống mì trước giống đậu phộng 7 ngày hoặc có thể xuống giống đậu phộng cùng lúc với giống mì nếu đất đủ độ ẩm. Thâm canh chủ yếu giống mì KM 94, giống chủ lực của tỉnh và giống đậu phộng GV10, giống mới của Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm giống cây trồng Hưng Lộc (Đồng Nai).

Về khoảng cách trồng, đối với cây mì 1m x 1m, tương đương 10.000 hom/ha, còn đậu phộng được trồng với khoảng cách 20 cm x 20 cm x 2 hạt (lượng giống 180 kg đậu vỏ/ha). Cứ 3 - 4 hàng lạc thì trồng xen 2 hàng sắn.

Nông dân Nguyễn Viết Bộ, thôn Cầu Vượt, xã Sông Bình tham gia mô hình cho biết, sau 3 tháng gia đình thu hoạch đậu phộng đạt 16,8 tạ/ha, lợi nhuận trên 20 triệu đồng. Tiếp tục chăm sóc cây mì thêm 3 tháng nữa, thu gần 30 tấn tươi/ha, sau khi trừ chi phí có lãi trên 30 triệu. “Như vậy trên cùng một diện tích, nếu trồng mì xen đậu phộng thì lợi ích sẽ được nhân đôi”, ông Bộ nói.

Tương tự, nông dân Nguyễn Hồng Hạnh, thôn Hồng Thịnh, xã Hồng Phong cho biết, khi áp dụng mô hình này ông cũng thu lợi nhuận kép trên cùng diện tích. Ông Hạnh phân tích: Sở dĩ cây mì sinh trưởng phát triển tốt là do đất tơi xốp nhờ bộ rễ đậu làm tăng độ phì cho đất, giữ ẩm, giảm xói mòn, do đó đất được bảo vệ tốt hơn. Còn khi thu hoạch đậu xong, cây mì kéo dài thêm 3 tháng nữa mới thu hoạch thay vì 6 tháng như cách trồng truyền thống, cũng nhờ đó mà năng suất, hàm lượng tinh bột tăng lên.

Bên cạnh đó trong thời kì đợi cây mì thu hoạch cũng không tốn thêm công chăm sóc, đầu tư phân bón, bởi phần thân, lá của cây đậu được giữ lại để tủ gốc mì, giúp tăng độ ẩm và cung cấp dinh dưỡng cho đất.

Theo ông Bá Đình Tâm, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện Bắc Bình: Trong năm 2013 chúng tôi tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình trồng mì xen đậu phộng với diện tích 5 ha tại các địa phương khác nhằm giúp bà con nâng cao thu nhập.

“Tuy nhiên đối những địa điểm mô hình trạm đã triển khai trước đó, thì hầu hết bà con đã nắm bắt được việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp trồng xen cho các vùng SX cây mì chỉ nhờ nước trời; nhờ đó hạn chế thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái và tăng hiệu quả SX”, ông Tâm khẳng định.

Source: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/45/45/108267/Trong-mi-xen-dau-phong.aspx

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Hoán đổi cây trồng – nguồn lương thực nuôi sống thêm 825 triệu người

  • PDF

Hoán đổi cây trồng – nguồn lương thực nuôi sống thêm 825 triệu người 

Theo một nghiên cứu mới, việc vẽ lại bản đồ phân bố cây trồng trên đất nông nghiệp hiện tại có thể giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thực phẩm và nhiên liệu sinh học trong những thập kỷ tới, đồng thời giảm đáng kể áp lực nước ở các khu vực nông nghiệp. Được đăng ngày hôm nay trong tạp chí Nature Geo-science, nghiên cứu này là nỗ lực nhằm giải quyết nhu cầu sản xuất thực phẩm và đồng thời mang tính bền vững nguồn tài nguyên ở quy mô toàn cầu.

Tác giả chính Kyle Davis, nhà nghiên cứu bậc tiến sĩ thuộc Viện Địa cầu Đại học Columbia cho biết: "Có rất nhiều nơi sử dụng nước và sản xuất dinh dưỡng không hiệu quả. Những sự thiếu hiệu quả này có thể được khắc phục bằng cách hoán đổi cây trồng có chất lượng dinh dưỡng lớn hơn với tác động môi trường thấp hơn.

Nhu cầu nông nghiệp được dự báo sẽ tăng đáng kể trong vài thập kỷ tới do tăng dân số, chế độ ăn uống phong phú hơn và do việc sử dụng nhiên liệu sinh học. Trong khi đó, áp lực về nước sẽ xấu đi do biến đổi khí hậu và khi các tầng nước ngầm toàn cầu nhanh chóng cạn kiệt. Trong nổ lực giải quyết những thách thức kép này, các tác giả đã xem xét các mô hình sử dụng cây trồng và bản đồ năng suất cho 14 cây lương thực chủ lực. Họ đặc biệt quan tâm đến việc xác định sự phân bố mùa màng làm cho việc sản xuất phụ thuộc nước trời ít bị khô hạn hơn và giảm lượng nước tiêu thụ trong các hệ thống thủy lợi

Các nhà nghiên cứu đã chọn tập trung vào 14 loại cây trồng chiếm tới 72% tổng số cây trồng được thu hoạch trên thế giới bao gồm đậu phộng, bắp, kê, dầu cọ, cải dầu, gạo, cây lấy rễ, lúa miến (bo bo), đậu nành, củ cải đường, mía, hoa hướng dương, cây có củ và lúa mì. Cây ăn quả và cây rau không được đưa vào vì dữ liệu về nhu cầu nước chưa được đánh giá.

Các bản đồ cây trồng mới mà Davis và các đồng nghiệp của ông đề nghị sẽ sản sinh ra nhiều hơn 10% lượng calo và 19% protein - đủ để nuôi 825 triệu người - trong khi đó còn giảm lượng tiêu thụ nước mưa xuống 14% và nước tưới 12%.

Trên toàn cầu, những cải tiến này có thể đạt được bằng việc tăng sản lượng đậu phộng, cây có rễ, đậu nành, lúa miến và cây lấy củ và giảm sản lượng cây kê, lúa, đường và lúa mì, những cây tiêu thụ nhiều nước hơn nhưng lượng calo và protein lại thấp hơn tính trên mỗi héc-ta. Ngoài ra, sự khác biệt cụ thể giữa các quốc gia và cách thức sử dụng nước phụ thuộc vào sự khác nhau về khí hậu tại địa phương, đặc tính đất và năng suất cây trồng. Chẳng hạn những loại cây phụ thuộc nước trời như lúa miến, đậu nành, cây có củ và lúa mì có thể thay thế cho kê, củ cải đường và hoa hướng dương ở phía tây nước Nga. Các loại cây dùng nước tưới như bắp, kê, cây lấy rễ và cây lấy củ được trồng thay thế cho lúa, lúa miến và lúa mì ở miền bắc Ấn Độ.

Nghiên cứu xác định tái cơ cấu cây trồng sẽ tạo ra sự tiết kiệm nước đáng kể - ít nhất tiết kiệm 20% nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp - cho 42 quốc gia, trong đó nhiều nước đang phải chịu áp lực lớn về nước. Những nước này bao gồm Úc, Ấn Độ, Mexico, Maroc và Nam Phi. Việc tiết kiệm nước cũng đạt được kết quả tốt ở các trung tâm nông nghiệp toàn cầu quan trọng, như Thung lũng trung tâm California, Đồng bằng sông Nile, Đông Nam Úc và lưu vực Indo-Gangetic. Sự khan hiếm nước vẫn tồn tại ở các vùng nông nghiệp quan trọng khác, chẳng hạn như vùng trung tây của Mỹ, dù trồng bất kỳ loại cây nào. Đối với 63 quốc gia khác, chủ yếu dựa vào nhập khẩu lương thực tự cung tự cấp, việc tái cơ cấu cây trồng sẽ tạo ra sự gia tăng lượng calorie hoặc protein cao hơn 20%, làm tăng khả năng tự cung cấp lương thực; các quốc gia đó bao gồm Ethiopia, Iran, Kenya và Tây Ban Nha.

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu đã ủng hộ việc đáp ứng nhu cầu mùa vụ toàn cầu gia tăng thông qua công nghệ hoặc tăng cường sử dụng nước và phân bón. Nhưng các khoản đầu tư công nghệ lớn sẽ vượt xa tầm tay của nông dân ở vùng nông thôn nhỏ và nhiều phương pháp hiệu quả về nước nhằm chống lại áp lực nước - như tăng hiệu quả tưới tiêu và trồng cây có năng suất cao, giảm protein động vật trong khẩu phần ăn và giảm thiểu rác thải từ lương thực - đối mặt với những rào cản đáng kể trong việc thực hiện, bao gồm các vấn đề về kinh tế, y tế, cơ sở hạ tầng và môi trường.

Sự phân bố cây trồng mới sẽ không đòi hỏi đầu tư công nghệ khổng lồ. Nó cũng sẽ không làm mất đi tính đa dạng của cây trồng hoặc chất dinh dưỡng của đất, điều này có thể làm cho nông nghiệp dễ bị hạn hán, sâu bệnh và các nguy cơ khác. Tuy nhiên, Davis nói những phát hiện này thực sự chỉ là một điểm khởi đầu, chứ không phải là một giải pháp cuối cùng. Nghiên cứu này không tính đến các rào cản văn hoá hoặc chính trị tiềm ẩn, nhu cầu và cung ứng thị trường, chế độ ăn uống tiêu dùng hay các mô hình tiêu dùng, điều này cần phải được xem xét trong các nghiên cứu trong tương lai. Các phát hiện "có thể được sử dụng như một trong một số công cụ trong việc tạo ra các hệ thống lương thực bền vững hơn", ông nói.

Davis hiện đang tiến hành một nghiên cứu tiếp theo ở Ấn Độ, nơi lúa gạo và lúa mì được trợ cấp rất nhiều. Ông và các đồng nghiệp đang xem xét tác động hoán đổi các loại ngũ cốc truyền thống có hàm lượng chất dinh dưỡng cao đối với việc sử dụng nước và sản xuất chất dinh dưỡng, làm thế nào các loại ngũ cốc thay thế này cần phải có giá thị trường cao để cạnh tranh và để các mô hình tiêu dùng và chế độ ăn uống tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng.

Theo Davis, "Nếu chúng ta suy nghĩ về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của an ninh lương thực ở một quốc gia cụ thể và làm việc chặt chẽ với các nhà hoạch định chính sách địa phương, chúng ta có thể tìm ra những giải pháp phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của người dân nước đó.

Tăng cường bảo vệ cho lúa mà không phải trả thêm chi phí

  • PDF

Tăng cường bảo vệ cho lúa mà không phải trả thêm chi phí 

Một cơ chế di truyền mới được xác định gần đây trên lúa có thể được sử dụng để duy trì khả năng kháng bệnh đạo ôn mà không làm giảm năng suất hạt.

Bệnh đạo ôn ở lúa là một bệnh nghiêm trọng do nấm gây ra, có thể hủy hoại cây lúa. Tuy nhiên, nhiều gien có tính kháng với mầm bệnh gây tổn hại đến năng suất của hạt gạo.

Trước đây, các nhà nghiên cứu đã xác định được một bộ gien mang tính kháng cao và bền vững đối với nấm. Ở đây, Yiwen Deng đã khám phá các gien này một cách chi tiết hơn và nhận thấy rằng PigmR đặc biệt hiệu quả trong việc mang lại tính kháng hoàn toàn với 50 biến thể gây bệnh đạo ôn ở lúa. Tuy nhiên, nếu PigmR được bộc lộ vào thời điểm tạo hạt, nó sẽ gây trở ngại cho sản xuất hạt và do đó làm giảm năng suất.

Họ nhận thấy rằng gien PigmS có cùng biểu hiện sẽ gây trở ngại cho các thuộc tính kháng của PigmR. Điều thú vị là, trong một dòng lúa, PigmR được phát hiện thấy sẽ bộc lộ hoàn toàn ở cây, trong khi biểu hiện của PigmS chỉ giới hạn đến các mô sinh sản, do đó hạn chế các thiệt hại cho hạt có chứa gien PigmR.

Ức chế vị trí cụ thể này mang lại cho cây trồng khả năng kháng bệnh đạo ôn trong thân và lá cây, mà không ảnh hưởng đến năng suất.

Các nhà nghiên cứu cũng xác định các axit amin đặc biệt có liên quan tới việc ngăn chặn chức năng của PigmR.

Tiến bộ này có thể giúp tăng cường bảo vệ cây lúa mà không làm thay đổi số lượng hạt gạo.

FOODCROPS.VN HỌC MỖI NGÀY

Xuất khẩu sắn và các thị trường tiềm năng năm 2012

  • PDF

Xuất khẩu sắn sang các thị trường 11 tháng đầu năm tăng trưởng mạnh
Theo Vinanet

alt

Ba năm trở lại đây, kim ngạch mặt hàng sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam luôn đạt trên 500 triệu USD, góp một phần không nhỏ vào tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nông sản nói chung. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 11/2012 cả nước xuất khẩu 252.864 tấn sắn và sản phẩm từ sắn, thu về 97,35 triệu USD; đưa tổng cả 11 tháng đầu năm 2012 lên 3,9 triệu tấn sắn và sản phẩm của sắn, trị giá 1,23 tỷ USD, cao hơn mức kỷ lục (960 triệu USD) đạt được trong năm 2011 và đạt mức tăng 58,9% về lượng và tăng 39,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.. Do nguồn cung hạn chế, dự báo xuất khẩu mặt hàng này tháng cuối năm có xu hướng giảm.
 
Hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn đều tăng trưởng mạnh: Trung Quốc tăng 55,4% về lượng và 34,55% về giá trị; Hàn Quốc tăng 216% về lượng và 170% về giá trị; Đài Loan tăng 53,49% về lượng và 40,95% về giá trị; Philippin tăng 134,94% về lượng và 166,27% về giá trị; Malaysia tăng 99% về lượng và tăng 94,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng thị trường Nga có sự sụt giảm mạnh cả về lượng và giá trị với mức giảm tương ứng 73,13% và 78,85%.

Xuất khẩu sắn đạt được kết quả cao do nhiều yếu tố. Diện tích gieo trồng sắn khá lớn (năm 2011 đạt 560.000ha, cao gấp gần 2,4 lần năm 2000). Sản lượng sắn năm 2011 đạt 9,87 triệu tấn, cao gấp gần 5 lần năm 2000, cao gấp đôi tốc độ tăng của diện tích gieo trồng, chứng tỏ do xuất khẩu cao nên cùng với việc mở rộng diện tích là chăm sóc tăng năng suất. 

Giá sắn xuất khẩu năm 2011 đạt 275,9 USD/tấn và 473,6 USD/tấn sản phẩm từ sắn. Đó là mức giá khá cao. Thị trường xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn lớn nhất là Trung Quốc (11 tháng đạt 1,08 tỷ USD, chiếm 87,2% tổng số), tiếp đến là Hàn Quốc 40,67 triệu USD, Đài Loan 32,39 triệu USD, Philippines 19 triệu USD, Malaysia 12,11 triệu USD,…
 
Mặc dù xuất khẩu sắn đạt được những kết quả như trên, nhưng không khỏi phải lo lắng. Diện tích gieo trồng sắn hiện đã được mở rộng rất lớn trong các loại cây ngắn ngày (năm 2011 chiếm 4,9% tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm, chỉ kém lúa, ngô). Trong các tỉnh có diện tích và sản lượng sắn lớn là Tây Ninh, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Bình Phước... là những địa phương có thể phù hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao và bền vững hơn.
 
Trong khi cây sắn đối với vùng đất dốc giữ nước, giữ đất kém, đất chóng bạc màu. Điều quan trọng là thị trường xuất khẩu lại quá tập trung vào Trung Quốc, mà một bài học kinh nghiệm lớn trong xuất khẩu là tránh “bỏ trứng vào một giỏ” vì thường không ổn định, rất dễ bị “trục trặc” hoặc về lượng xuất khẩu, hoặc về giá cả, làm cho người trồng sắn dễ bị thiệt thòi…
 
Vì vậy, không nên mở rộng diện tích gieo trồng sắn; cũng không nên quá tập trung vào một thị trường; cần đẩy mạnh việc chế biến tiêu thụ ở trong nước, để tăng giá trị tăng thêm, tăng thực thu ngoại tệ.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Thuốc trừ sâu thế hệ mới thân thiện với loài ong

  • PDF

Thuốc trừ sâu thế hệ mới thân thiện với loài ong 

Các nhà khoa học vừa tìm ra công thức tạo ra thuốc trừ sâu có chọn lọc, chỉ tiêu diệt các loài sâu gây hại mà không làm ảnh hưởng đến các loài côn trùng có ích như ong.

Ong và những loài thụ phấn khác rất cần cho ¾ mùa vụ trên thế giới, tuy nhiên chúng đang bị suy giảm nghiêm trọng trong những thập kỷ gần đây do sự phá hủy môi trường sống, dịch bệnh và việc dùng thuốc trừ sâu không kiểm soát.

Việc sử dụng thuốc trừ sâu hiện đang là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi. Theo Hiệp hội Nông dân Quốc gia Anh, thuốc trừ sâu là một thành phần quan trọng của nông nghiệp hiện đại. Họ cho rằng, đây là một yếu tố cần thiết để sản xuất ra "thực phẩm lành mạnh, giá cả phải chăng". 

Tuy nhiên, các nhà khoa học mới đây phát hiện dư lượng nhỏ neonicotinoid, một loại thuốc trừ sâu phổ biến, trong 75% mẫu mật ong trên thế giới. Neonicotinoids là thuốc trừ sâu có hiệu quả cao, và được coi là thân thiện với môi trường hơn các loại thuốc trừ sâu cũ vì độc tính thấp đối với con người. Việc mật ong bị phát hiện chứa nhiều thuốc trừ sâu một lần nữa gióng hồi chuông cảnh báo về việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trên phạm vi toàn cầu.

Ông Michael Gove, Bộ trưởng Môi trường Anh, gần đây đã tuyên bố rằng Anh sẽ ủng hộ một lệnh cấm các loại thuốc trừ sâu tổng hợp có thể làm tổn thương ong. Điều này cho thấy sự cấp bách phải tìm ra các biện pháp thay thế cho các loại thuốc trừ sâu đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.

Trong một bài nghiên cứu mới được xuất bản trên tạp chí Kỷ yếu của Học viện Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, một nhóm các nhà khoa học thuộc trường ĐH Michigan đã khảo sát sự đề kháng tự nhiên của ong nghệ và ong mật đối với một số loại thuốc trừ sâu. Mục đích của nghiên cứu là nhằm tạo ra các loại thuốc trừ sâu có chọn lọc. Loại thuốc mới chỉ nhắm vào sâu bệnh và hoàn toàn thân thiện với loài ong cũng như các loài côn trùng thụ phấn khác. 

Những con ong rất nhạy cảm với hầu hết các thuốc trừ sâu nhóm pyrethroid. Tuy nhiên, loài ong lại có khả năng đề kháng tự nhiên đối với một loại thuốc trừ sâu pyrethroid có tên gọi là tau-fluvalinate nhờ một loại amino axit trong cơ thể chúng.

Tau-fluvalinate được sử dụng để kiểm soát dịch hại trong nông nghiệp và được kỳ vọng sẽ trở thành loại thuốc trừ sâu an toàn với loài ong trong tương lai.

Các nhà khoa học phát hiện ra rằng các phân tử có trong tế bào của ong hay còn được gọi là các kênh dẫn muối (sodium channel), có khả năng chống lại tác động của tau-fluvalinate.

Giáo sư Ke Dong, nhà nghiên cứu độc tố côn trùng thuộc Đại học Michigan - thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết: "Đây là lần đầu tiên, chúng tôi chỉ ra những đặc tính độc đáo trong các kênh dẫn muối của ong nghệ. Điều này mở ra khả năng tạo ra các hóa chất mới nhằm vào sâu bệnh mà vẫn an toàn đối với loài ong."

Tiến sĩ Christopher Connolly, nhà nghiên cứu thần kinh học thuộc Đại học Dundee, người không tham gia nghiên cứu, cho rằng: "Đây là một bài báo khá thú vị. Tuy nhiên, điều này không ngụ ý rằng thuốc diệt côn trùng đó an toàn để sử dụng trong môi trường của chúng ta, vì nhiều loài côn trùng có lợi khác có thể bị tổn thương".

Các côn trùng khác cũng cung cấp các hoạt động có giá trị trong môi trường. Ví dụ, các loài ruồi, cũng là những loài thụ phấn quan trọng, và chúng có thể sẽ không được bảo vệ khỏi các chất diệt côn trùng chọn lọc.

Tiến sĩ Andrew Jones, nhà sinh vật học thuộc Đại học Oxford Brookes, người không tham gia nghiên cứu, cho biết: "Theo tôi, nếu neonicotinoid thực sự làm giảm quần thể ong thì các loại thuốc trừ sâu nhắm mục tiêu có chọn lọc vào các loài không phải ong có thể giúp đảo ngược điều này”.

 “Cho dù chúng ta có thích hay không, chúng ta cần các biện pháp để bảo vệ cây trồng, và ở thời điểm này, đó là thuốc trừ sâu. Tôi chắc chắn, trong tương lai sẽ có những bài kiểm tra nghiêm ngặt hơn đối với các loại thuốc trừ sâu thế hệ mới để đảm bảo rằng chúng thân thiện với loài ong”, Tiến sĩ Jones nói.