Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Triển vọng 2 giống “siêu lúa xanh”

  • PDF

Triển vọng 2 giống “siêu lúa xanh”

Báo Phú Yên. Vụ hè thu 2016, Sở NN-PTNT khảo nghiệm 4 giống lúa GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245. Đây là bộ giống “siêu lúa xanh” (Green Super Rice-GSR) được du nhập từ Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), trồng tại huyện Tây Hòa và PhúHòa. Cuối vụ năng suất lúa đạt từ 75-80 tạ/ha, chất lượng gạo tố

Năng suất cao 

Vụ hè thu năm nay, trên cánh đồng Cây Trảy, Hòn Đình Dưới thuộc xã Hòa Mỹ Tây (huyện Tây Hòa) gieo sạ 4 giống “siêu lúa xanh” là GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam ưu 1245, trên diện tích 15ha. Trong quá trình sinh trưởng, lúa phát triển tốt, giai đoạn chắc xanh lúa phơi gié dài cả gang tay người lớn. Bà Phùng Thị Yên, thành viên tổ sản xuất giống của HTX Nông nghiệp Kinh doanh dịch vụ Hòa Mỹ Tây, cho hay: Cả cánh đồng Hòa Mỹ Tây rộng gần 100ha, nhưng khó có đám nào có năng suất cao bằng đám được trồng bởi giống GSR 65. Lúa chín sát cậy (gốc gié lúa), hạt sáng bóng mẩy, năng suất đạt trên 85 tạ/ha. Còn ruộng kề bên, không gieo sạ giống “siêu lúa xanh” thì lúa lép trong cậy, năng suất không quá 60 tạ/ha. 

Đám ruộng rộng 2 sào trồng giống lúa GSR 90 nằm cạnh đường nội đồng Cây Trảy, năng suất cũng gần 85 tạ/ha. Ông Cao Văn An, nông dân ở xã Hòa Mỹ Tây tham gia mô hình, trầm trồ: “Cánh đồng này thời gian qua được trồng nhiều giống lúa khác nhau, nhưng chưa có giống nào đạt năng suất cao như giống này. Lúa GSR 90 chỉ sạ 4kg/sào, đến thời kỳ mạ đẻ nhiều nhánh, khi trổ đóng hạt dày, phơi gié hạt sáng trưng”. 

Ông Nguyễn Trình, Trưởng Trạm Khuyến nông - Khuyến ngư huyện Tây Hòa, nhận định: Vụ hè thu năm nay, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Sâu bệnh hại có chiều hướng gia tăng, gây hại mạnh nhất là bệnh khô vằn, thối thân thối bẹ, rầy nâu… Thế nhưng, với giống “siêu lúa xanh”, cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu với sâu bệnh hại, hạn chế tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cho năng suất cao. 

Các giống GSR 65, GSR 90, GSR 38 và Nam Ưu 1245 cũng được trồng khảo nghiệm tại Trại giống Nông nghiệp Hòa An (huyện Phú Hòa). Theo bà Phạm Thị Thỏa, Trưởng Trại giống Nông nghiệp Hòa An, trong thời gian trồng khảo nghiệm giống lúa thuộc bộ giống “siêu lúa xanh”, cuối vụ chúng tôi nhận thấy giống có năng suất cao nhất là giống GSR 65 đạt 96,3tạ/ha, cao hơn giống đối chứng ML48 là 27,4 tạ/ha (năng suất giống lúa ML48 chỉ đạt 68,8tạ/ha). Tiếp đến là các giống GSR 90, năng suất 88,57 tạ/ha; giống GSR 38 năng suất đạt 88,2 tạ/ha và Nam Ưu 1245 đạt năng suất 83,1 tạ/ha. 

Tuyển chọn 2 giống “siêu lúa xanh” 

Trước đó, từ năm 2015, Sở NN-PTNT tiến hành khảo nghiệm 10 giống lúa “siêu lúa xanh” gồm GSR 90, GSR 84, Nam Ưu 1245, GSR 38, GSR 54, GSR 89, Nam Ưu 1241, GSR 65, GSR 36, GSR 63. Trải qua 3 vụ trồng khảo nghiệm tại 2 điểm là Trại giống Nông nghiệp Hòa An và cánh đồng huyện Tây Hòa được theo dõi theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đến nay, sở tuyển chọn 2 giống ưu tú phù hợp là GSR 65 và GSR 90. TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, chủ nhiệm đề tài tuyển chọn giống lúa gạo năng suất cao, phẩm chất tốt từ nguồn gen lúa siêu xanh, cho hay: Giống GSR 65 và GSR 90 có các đặc tính sinh trưởng, phát triển khỏe, kháng sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn ngày. Năng suất cao, đạt trung bình từ 75-80 tạ/ha, thâm canh có thể đạt trên 85-90 tạ/ha, gạo có chất lượng tốt. Thời gian đến, sở tiếp tục nghiên cứu quy trình canh tác phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống lúa. Đồng thời phối hợp với các địa phương sớm chuyển giao nhân rộng 2 giống lúa mới GSR 65 và GSR 90 đưa vào sản xuất đại trà nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Theo TS Hoàng Kim, giảng viên Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh, người dày công nghiên cứu bộ giống “siêu lúa xanh”, một số giống của bộ giống lúa “siêu lúa xanh” hiện có phẩm chất gạo cao nhất trên thị trường thế giới. Vì vậy trong quá trình khảo nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu nông học, năng suất và phẩm chất hạt gạo đã tuyển chọn ra bộ giống lúa chủ lực tiến tới xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao. Đây là một trong những giải pháp xây dựng cánh đồng mẫu lúa chất lượng, tạo xu hướng sản xuất lúa hàng hóa. Qua đó chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất mới cho nông dân mang lại nguồn thu nhập cao.

Thăm vùng sắn trên đất nước Angkor

  • PDF

CÂY LƯƠNG THỰC. "Tiềm năng sắn ở đất nước Angkor là rất to lớn nhưng chúng ta không chỉ thuần tuý mua bán mà cần hợp tác đầu tư lâu dài và không được ăn vào tiềm năng. Hãy nghĩ đến một sự hợp tác thân thiện, bền vững, khai  mở được tiềm năng to lớn của hai dân tộc Việt Miên để cùng có lợi, cùng phát triển ..."

 

Thăm vùng sắn trên đất nước Angko
Hoàng Kim

Đến đất nước Angkor trong chuyến khảo sát sản xuất thị trường sắn, qua cửa khẩu Hoa Lư, chúng tôi chứng kiến những hàng xe tải lớn chở sắn nối đuôi nhau mút tầm mặt gợi mở bao điều muốn nói về một tiềm năng hợp tác to lớn . Tôi mang theo cuốn sách "Hồi ký Sihanouk: Những lãnh tụ thế giới mà tôi từng biết" (Nguyên tác Sihanouk Reminisces World Leaders I Have Known) và thầm nghĩ nhiều điều về đất nước này...Đất rừng bạt ngàn, phần lớn là đất xám khá bằng phẳng, khó thoát nước. Dân cư thưa thớt. Trẻ em nghèo ít học phổ biến ở vùng sâu vùng xa.

Giống sắn phổ biến là KM94 nhập từ Việt Nam. Những giống sắn mới KM98-5, KM325 (nguồn gốc SC5 x SC5 lai tạo tại Việt Nam) hiện cũng đã được trồng khá rộng rãi. Hộ ông Seng San trồng 4 ha sắn KM98-5 và KM94 làm thuê cho ông Kim Ren ở Snua, đầu tư giống mới, xịt phân bón qua lá, chưa dùng phân chuống và NPK. Sắn KM94 trồng luống từ cuối tháng 10 nay sinh trưởng khá tốt, nếu bón phân đúng cách và sạch cỏ có thể đạt trên 30 tấn củ tươi/ha do đất mới khai phá còn giàu dinh dưỡng. Cây giống sắn KM94 bảo quản tự nhiên gần rẫy từ tháng 11 để trồng lại đầu tháng 5 năm sau. Tiềm năng phát triển sắn thật lớn từ Kam Pong Cham đến Karatia đến Sen Monorom. Giống chủ lực là KM94, KM98-5, KM325 những giống sắn tốt từ Việt Nam. Lòng chúng tôi xúc động tự hào vì cống hiến của các nhà khoa học Việt Nam qua hệ thống doanh nhân của hai nước đã làm giàu cho nhiều người dân và góp phần mang lại thịnh vượng chung cho cộng đồng Việt Miên Lào.

Anh Phạm Anh Tuấn (Tổng Giám đốc Công ty TNHH Nhiên liệu Sinh học Phương Đông, cô Nguyễn Thị Mỵ, Tổng Giám đốc HAMICO đều tâm đắc:"Tiềm năng sắn ở đất nước Angkor là rất to lớn nhưng chúng ta không chỉ thuần tuý mua bán mà cần hợp tác đầu tư lâu dài và không được ăn vào tiềm năng. Hãy nghĩ đến một sự hợp tác thân thiện, bền vững, khai mở được tiềm năng to lớn của hai dân tộc Việt Miên để cùng có lợi, cùng phát triển ..."

Lúa, sắn và nông sản hàng hóa, chúng ta có thể làm gì, dạy và học gì với nông dân ?

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2011/01/tham-vung-san-tren-at-nuoc-angkor.htm

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Nghiên cứu lai tạo ra dòng bông cải xanh mới giảm phụ thuộc vào thời vụ và có sản lượng vượt trội

  • PDF

Nghiên cứu lai tạo ra dòng bông cải xanh mới giảm phụ thuộc vào thời vụ và có sản lượng vượt trội

Các nhà khoa học tại Trung tâm John Innes đang phát triển một dòng bông cải xanh mới phát triển chồi nhanh: từ giai đoạn hạt giống tới thu hoạch chỉ trong 8-10 tuần.

Nó tiềm ẩn khả năng mang lại hai vụ trồng/mùa hoặc nó có thể được trồng quanh năm trong điều kiện được bảo vệ, giúp đảm bảo sự liên tục về nguồn cung, bởi người trồng sẽ không còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết theo mùa.

Phần bông cải xanh mà chúng ta ăn là nụ hoa. Đổi mới trong sản xuất cây trồng này dựa trên nghiên cứu của Giáo sư Dame Caroline Dean và phòng thí nghiệm xuân hóa hạt giống của bà. Xuân hóa hạt giống là sự cần thiết cho một số cây trồng để trải qua thời tiết lạnh trước khi có thể ra hoa. Thời điểm bung hoa là rất quan trọng cho sự thích nghi của cây trồng đối với môi trường và năng suất đạt được của nó. Tiến sĩ Judith Irwin và nhóm nghiên cứu của bà đang cộng tác với Giáo sư Dean, đã tập trung vào áp dụng kiến thức này với loài cây họ cải Brassica.

Nhiều loại cây trồng dựa vào điều kiện thời tiết lạnh trước khi chúng có thể ra hoa và do đó chúng rất dễ bị tổn thương do biến động của nhiệt độ mùa đông. Thời tiết bất lợi gần đây ở Murcia, Tây Ban Nha đã dẫn đến sự thiếu hụt bí xanh, rau diếp và bông cải xanh. Nhóm nghiên cứu tại Trung tâm John Innes đang nghiên cứu để tăng năng suất cây trồng và giảm tổn thương của chúng do những biến động về khí hậu gây ra.

Tiến sĩ Irwin cho biết: Chúng tôi khai thác kiến thức về cách thực vật điều tiết quá trình ra hoa để loại bỏ các yêu cầu về sự phụ thuộc vào nhiệt độ lạnh, đồng thời mang dòng bông cải xanh mới này vào áp dụng để cho thu hoạch nhanh hơn. Điều này có nghĩa là người trồng có thể xoay vòng hai vụ trong một mùa hoặc nếu bông cải xanh được trồng trong điều kiện được bảo vệ, có thể trồng 4-5 vụ/năm.

Dòng này đã được phát triển dưới sự tài trợ chiến lược từ Hội đồng nghiên cứu Sinh học và Công nghệ sinh học (BBSRC). Trung tâm Innes John hướng tới mục tiêu cung cấp nguyên liệu trước khi nhân giống cho các nhà lai tạo giống và người trồng về lịch thời vụ trồng quanh năm của rau họ cải.

Dòng bông cải xanh mới được phát triển tại Trung tâm John Innes là một trong nhiều dòng đã được chọn lọc để giải quyết vấn đề này.

Tiến sĩ Irwin nói: “Đây là một sự phát triển rất thú vị vì nó có khả năng loại bỏ tiếp xúc của chúng ta với biến động thời tiết theo mùa từ sản xuất cây trồng. Điều này có thể có nghĩa là bông cải xanh và các loại rau ăn hoa khác trong tương lai, chẳng hạn như súp lơ - có thể được trồng ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời điểm nào mà vẫn có thể sản xuất và cung cấp liên tục các sản phẩm tươi sống địa phương".

Để dòng thử nghiệm này được thương mại hóa thì bước tiếp theo của nghiên cứu sẽ liên quan đến hương vị, phân tích về dinh dưỡng và thực hiện thử nghiệm trong điều kiện trồng thương mại và được bảo vệ.
 

 

Từ Sắn Việt Nam đến Siêu Lúa Xanh

  • PDF

CÂY LƯƠNG THỰC. Từ Sắn Việt Nam đến Siêu Lúa Xanh (Green Super Rice - GSR) là câu chuyện về Sắn Việt Nam (chọn tạo giống sắn, xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững, bảo tồn và phát triển sắn)  và Siêu Lúa Xanh (chọn tạo giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen Siêu Lúa Xanh, xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác lúa GSR thích hợp bền vững, bảo tồn và phát triển lúa GSR, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam chất lượng cao), nhằm đáp ứng yêu cầu thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu

alt

alt

Sắn Việt Nam thành tựu và bài học đã khái quát tình hình sản xuất, tiêu thụ, thành tựu và bài học sắn Việt Nam qua nửa thế kỷ. Chọn tạo giống sắn; xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác sắn thích hợp bền vững; bảo tồn và phát triển sắn đã là các kinh nghiệm quý. Sắn Việt Nam hiện được ca ngợi  là điển hình của sắn thế giới khi nhiều hộ nông dân tại nhiều vùng rộng lớn ở Tây Ninh đã tăng năng suất sắn trên 400%, từ 8,35 tấn/ ha lên trên 36,0 tấn/ ha. (FAO,  2013b). Năng suất sắn Việt Nam bình quân cả nước hiện đạt trên gấp đôi so với năng suất sắn năm 2000 đạt 8,35 tấn/ha. Điển hình tại Tây Ninh, năm 2011 năng suất sắn đã đạt bình quân 29,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 45,7 nghìn ha với sản lượng là 1,32 triệu tấn, so vớ inăm  2000 năng suất sắn đạt bình quân 12,0 tấn/ ha trên diện tích thu hoạch 8,6 nghìn ha, sản lượng 9,6 nghìn tấn. Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Sắn Việt Nam hiện thành nguồn sinh kế, cơ hội xóa đói giảm nghèo và làm giàu của nhiều hộ nông dân cũng hấp dẫn sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp chế biến kinh doanh. Sắn Việt Nam bên cạnh cơ hội cũng bộc lộ nhiều rủi ro, bất cập, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến, kinh doanh và bảo vệ môi trường. Các nhà máy ethanol Việt Nam đầu tư lớn và lỗ; Nhà máy ethanol hoạt động khó khăn. Trong khi sắn Nigeria sản lượng 52,4 triệu tấn năm 2011 đứng đầu thế giới, năng suất sắn chỉ đạt 14,02 tấn/ ha (thấp hơn năng suất sắn Việt Nam) đã đạt thành tựu chế biến nhiên liệu sinh học đơn giản và hiệu quả bằng ‘bếp cồn sắn’ cho toàn quốc, dành được lượng lớn xăng dầu cho xuất khẩu, đi đôi với giải pháp bảo tồn và phát triển sắn bền vững. Hai bài viết “Bài học thực tiễn từ người Thầy” và “Đêm trắng và bình minh” đã đề cập.

Sắn Việt Nam bài liên quan:
"Năm giống sắn mới tại Phú Yên".
"Sắn Việt Nam: bảo tồn và phát triển, Tây Ninh"
"Cassava in Vietnam: Save and Grow 1DakLak ": https://youtu.be/EVz0lIJv2N4
"Cassava in Vietnam: Save and Grow 2DakLak": https://youtu.be/5l9xPES76fU
"Cassava in Vietnam: Save and Grow 3DakLak": https://youtu.be/XVhXnAxSFnc
"Cassava in Vietnam: Save and Grow   PhuYen", https://youtu.be/XDM6i8vLHcI

alt

Chọn tạo giống lúa siêu xanh (GSR) thích ứng biến đổi khí hậu ở Việt Nam là sự đột phá tiếp nối theo cách mà cây sắn Việt Nam đã đạt thành công cao. Sản xuất lúa ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với ảnh hưởng to lớn của biến đổi khí hậu, nhiễm mặn lan rộng, kéo dài và khô hạn cục bộ. Việc chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha trong điều kiện sản xuất tại Việt Nam, chất lượng gạo tốt, ngon cơm, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, kháng sâu bệnh, chống chịu mặn, hạn, thích nghi cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời là một đòi hỏi thực tiễn cấp bách. Cách đột phá được tập trung thực hiện là chọn tạo giống lúa siêu xanh (Green Super Rice – GSR) thích ứng biến đổi khí hậu tại Việt Nam. 754 giống lúa  siêu xanh (GSR) được nhập nội trực tiếp về Việt Nam từ IRRI - CAAS (Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI và Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc CAAS). Mạng lưới nghiên cứu phát triển lúa siêu xanh Việt Nam gồm: Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUF), Sở Nông nghiệp & PTNT Phú Yên, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (CLRRI), Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU), Trung tâm Giống Cây trồng Sóc Trăng, Viện Di truyền Nông nghiệp (AGI), Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia và Hệ thống Khuyến nông, các doanh nghiệp sản xuất cung ứng giống lúa của các tỉnh. Những mẫu giống GSR này được phối kết, khai thác, tuyển chọn cùng với nguồn vật liệu lúa đặc sản Sóc Trăng, Viện Lúa, Viện Di truyền Nông nghiệp, .... Mục tiêu: chọn tạo giống lúa siêu xanh năng suất cao, hướng tăng trần năng suất đạt 7-10 tấn/ha , chất lượng gạo tốt, thời gian sinh trưởng từ 95-115 ngày, ít sâu bệnh, đáp ứng cho vùng lúa thâm canh, vùng lúa nhiễm mặn (chịu được độ mặn 4-6‰) và vùng lúa khô hạn nhờ nước trời.

Lúa Việt Nam bài liên quan:

1. Báo AGROVIET (Bộ Nông nghiệp và PTNT). Số 4. 2014. Sóc Trăng: Chọn tạo giống lúa chịu mặn thích nghi với biến đổi khí hậu.http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/67/79/7973/Default.aspx

2. Báo Nhân Dân, 2015. Vũ Thế Thường Thích ứng cây trồng trước biến đổi khí hậu .http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_chuyende/item/26547602.html

3. Bộ Nông nghiệp & PTNT 2011. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lúa (QCVN 01-55: 2011/BNNPTNT)

4. Đặng Văn Mạnh, Trần Thị Lệ, Hoàng Long, Hoàng Kim 2015. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu mặn thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu tại Phú Yên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tháng 9/ 2015, (đang in).

5. Hoang Long, Zhi-Kang Li, Tian-Qing Zheng, Hoang Kim, Pham Trung Nghia, Tran Thi Le, Nguyen Trong Tung, Nguyen Thanh Phuoc, Le Huy Ham et al. 2015. Result of Green Super Rice (GSR) Breeding adaptation to climate change in Vietnam. Conference of Young Scientists” hosted  by IAS, HCMC, Vietnam, 18 March. 2015. Institute of Agricultural Sciences for Southern Vietnam (IAS) 121 Nguyen Binh Khiem, district 1. HCMC, Vietnam

6. Hoang Long, Tian-Qing Zheng, Zhi-Kang Li 2014. QTL mapping for leaf rolling and yield component traits in a set of reciprocal introgression lines and RILs in rice (Oryza sativa L). Nghiên cứu bản đồ QTL của tính trạng xoắn lá và tính trạng năng suất của ILs và RILs ở lúa (Oryza sativa L). Luận văn thạc sĩ. 66 trang

7. Hoàng Thị Hường 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Kế Sách, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 102 trang.

8. IRRI, 2013. Strategies for developing Green Super Rice; Contributed by Qifa Zhang, trích dẫn bởi Hoàng Long, Zhikang Li, Tian Qing Zheng, 2015. Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc tính xoắn lúa ảnh hưởng tới năng suất lúa ở các dòng IL đối ứng với RIL của lúa (Oryza sativa L.)

9. IRRI, 2002. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa (SES)

10. Nguyễn Minh Thùy 2012. Khảo sát đặc điểm nông học và năng suất của tập đoàn giống lúa triển vọng tại Long Phú, Sóc Trăng. Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư nông học. Khoa Nông học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 100 trang.

11. Phạm Trung Nghĩa 2010. Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chống chịu mặn và phẩm chất tốt cho đồng bằng Sông Cửu Long và phía Bắc. Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Viện Lúa Đông Bằng Sông Cửu Long. 126 trang.

12. Nguyễn Thị Bắp và ctv. 2015. Kết quả chọn tạo giống lúa chịu mặn tại Sóc Trăng. Tài liệu Tổng kết Đề tài  Lúa chịu mặn Sóc Trăng. Báo Nông nghiệp Việt Nam. http://nongnghiep.vn/chon-giong-lua-chiu-man-post118496.html

Bài và ảnh: Hoàng Long, Hoàng Kim

Video yêu thích

KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Hiện trạng sắn Việt Nam và sự cải thiện giống sắn

  • PDF

FOODCROPS. Năm  2008 sản lượng sắn Việt Nam đạt 9,40 triệu tấn so với sản lượng 1,99 triệu tấn của năm 2000. Đó là kết quả của việc mở rộng diện tích từ 237.600 ha lên 555.700 ha và tăng năng suất từ 8,36 tấn/ha năm 2000 lên 16,91 tấn/ha năm 2008. Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanh nhất châu Á về chọn tạo và nhân giống sắn.Tiến bộ này là do nhiều yếu tố mà yếu tố chính là thành tựu trong chọn tạo và nhân giống sắn lai. Năng suất và sản lượng sắn của nhiều tỉnh đã tăng lên gấp đôi do trồng các giống sắn mới năng suất cao và áp dụng kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững.

Hiện trạng sắn Việt Nam và sự cải thiện giống sắn

Diện tích canh tác giống sắn mới toàn quốc hiện đạt trên 500.000 ha, chủ yếu là KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26, KM98-7. Sắn lát và tinh bột sắn có lợi thế cạnh tranh cao và thị trường sắn là triển vọng. Sự kết hợp giữa phát triển sản xuất và chế biến sắn làm tinh bột, thức ăn gia súc và làm cồn sinh học đã tạo ra nhiều việc làm, tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa một số khu vực nông thôn. Các nghiên cứu chọn tạo và khảo nghiện giống sắn nhập nội từ CIAT thích hợp cho mục tiêu sản xuất cồn sinh học đang được thực hiện trong chương trình sắn Việt Nam. Với 24.073 hạt giống sắn nhập nội từ CIAT, 37.210 hạt giống sắn lai tạo tại Việt Nam, 38 giống sắn tác giả và 31 giống sắn bản địa đã chọn được 98 giống sắn triển vọng. Trong đó có ba giống KM140, KM98-5 và KM98-7 đã được phóng thích ở giai đoạn 2007 - 2009. Những giống sắn mới   KM419, KM414, KM397, KM325, KM318, KM297, KM228,  KM21-12, SC5, HB60 hiện đang được khảo nghiệm tại Dong Nai, Tây Ninh, Ninh Thuận, Yên Bái , ...


Hoàng Kim, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Phương, Hoàng Long, Trần Công Khanh, Nguyễn Trọng Hiển, Hernan Ceballos, Rod lefroy, Keith Fahrney, Reinhardt Howeler và Tin Maung Aye 2010

Source:
http://cropsforbiofuel.ning.com/profiles/blogs/current-situation-of-cassava

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Lớp phủ bảo quản hoa quả lâu hơn

  • PDF

Lớp phủ thần kỳ - xịt lên hoa quả và nó sẽ có hạn sử dụng lâu gấp 5 lần

Từ thời điểm dâu tây hoặc đậu xanh được thu hoạch, chúng sẽ giữ được độ tươi tối đa ba tuần trước khi bắt đầu phân hủy. Phải mất một hoặc hai tuần để chúng được vận chuyển tới các cửa hàng tạp hóa và sau đó khi được bảo quản trong tủ lạnh nhà bạn, bạn chỉ còn một vài ngày để ăn chúng.

Một startup tại Santa Barbara có tên gọi là Apeel Science cho biết họ đã phát minh ra một lớp phủ ăn được có thể kéo dài thời gian tươi mới của 1 loại trái cây hay thực vật lên tới gấp 5 lần bình thường. Điều đó có nghĩa là, nếu bạn phun một lớp này lên một quả dâu tây chín, nó có thể giữ được độ tươi đến hàng tuần sau đó.

Được làm bằng vỏ thực vật còn sót lại và thân cây, chất phủ đóng vai trò như rào cản làm chậm quá trình phân rã. Bạn có thể dùng nó với thực phẩm bất cứ lúc nào trong suốt vòng đời của nó - Apeel thậm chí có thể làm cho mỗi trái trong cùng một buồng chuối chín vào các ngày khác nhau.

Sáu trang trại ở miền Nam California, Kenya, và Nigeria đang sử dụng sản phẩm của Apeel, Giám đốc điều hành James Rogers cho biết.

Cục Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ đã thông qua các sản phẩm đầu tiên của Apeel, đó là Edipeel và Invisipeel. Chúng được công nhận là an toàn, và hoàn toàn có thể ăn được và đưa vào bày bán.

Các sản phẩm của Apeel, có tên là Edipeel và Invisipeel, là những lớp phủ trong suốt mà bạn xịt hoặc nhúng thực phẩm vào.

Chọn giống lúa chịu mặn

  • PDF

Trung tâm Giống cây trồng Sóc Trăng phối hợp Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu & phát triển ĐBSCL (Trường ĐH Cần Thơ)… sản xuất  thử nghiệm một số giống lúa mới trên vùng đất nhiễm mặn, bước đầu đạt kết quả khả quan.

Tỉnh Sóc trăng có địa hình tương đối thấp, bằng phẳng cùng hệ thống sông, rạch, kênh mương thủy lợi và chịu ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều từ đông. Vào mùa khô hàng năm, mặn xâm nhập gây ảnh hưởng đến một số vùng SX, nhất là vùng trồng lúa. Vì thế tỉnh chú trọng công tác tìm giống lúa chịu mặn đáp ứng nhu cầu SX...

Từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2013, Trại Giống cây trồng Long Phú (Trung tâm Giống cây trồng Sóc Trăng) thực hiện đề tài thí nghiệm các giống lúa trong điều kiện thực tế ngoài đồng, trên vùng đất nhiễm mặn tại ấp Sóc Lèo, xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề; ấp Lương Văn Hoàng, xã Ngọc Tố, huyện Mỹ Xuyên và ấp Nguyễn Tăng, Xã Đại Ân 1, huyện Cù Lao Dung.

alt

Viện Lúa ĐBSCL nghiên cứu giống chịu mặn

Mục tiêu nghiên cứu chọn được 1 - 3 giống chịu mặn và cho năng suất cao hơn giống OM576 (Hàm Trâu) từ 10% trở lên để nâng cao hiệu quả SX trên vùng đất mặn, giúp nông dân giảm rủi ro. Quy mô thực hiện 8 bộ giống tổng cộng 113 giống lúa, diện tích mỗi điểm thí nghiệm là 3.500 m2. Riêng điểm Mỹ Xuyên 110 giống.

Các giống mới được hình thành từ các dòng/giống lúa tuyển chọn từ Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu & phát triển ĐBSCL, Trường ĐH Nông lâm, gồm bộ giống A0, A1, bộ chịu mặn, bộ giống phẩm chất; các dòng Green - Super rice; sử dụng lại một số giống cao sản đã trồng phổ biến cho dễ đánh giá và dùng giống đối chứng là OM576.

OM576 là giống lúa có TGST khoảng 105 ngày, cao khoảng 85 - 95 cm, chịu mặn khá, phù hợp cho vùng nhiễm phèn và mặn ở Sóc Trăng, năng suất cao và ổn định, được nông dân sử dụng nhiều năm qua.

Qua kết quả thí nghiệm, nhóm cán bộ nghiên cứu thực hiện đề tài đề nghị chọn các giống OM9581, OM108-200, SH2-2 (OM105) để SX trong vùng nhiễm mặn (≤ 0.3%); 

SX thử trong vùng mặn để đánh giá thêm tính thích nghi của các giống cao sản OM7222GT, OM8931, OM9581-3, OM8017, HHZ5 - Y7 - Y3, HHZ - Y7 - Y1, HHZ - Y7 - Y1, HHZ12 - DT - 11 - DT2, HHZ5 - SAL1 - SAL2 và các giống lúa thơm nhẹ OM9915, OM9921, OM9916, OM9918.

Tiếp tục khảo nghiệm thường xuyên các bộ giống mới tại các vùng trồng lúa bị nhiễm mặn để có cơ sở bổ sung, đổi mới những giống lúa chống chịu mặn tốt trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Theo Trung tâm GCT Sóc Trăng, kết quả điều tra từ trước năm 2009 Sóc Trăng chưa có nhiều công trình nghiên cứu giống lúa chịu mặn. Tuy nhiên, một số giống đang trồng được xem là chịu mặn như Tép hành đột biến, OM723-11, OM576, OM 2717, OM2517, OM 1490, MTL547, IR59656, Khao Dawk Mali, IR42 rằn và lúa thơm ST5, ST10.

Từ năm 2009 đến nay, Trung tâm đã thực hiện khảo nghiệm tuyển chọn giống lúa chịu mặn từ nguồn giống của Viện Lúa ĐBSCL, Viện Nghiên cứu & phát triển ĐBSCL. Kết quả chọn được các giống OM6976, OM6677, OM8232, OM2395,  OM6677, OM5629, OM6162, OM5464, OM8923, OM4900, OM6976-41, OM7364, OM7347, OM3995, OM9577, OM9584, OM5953.

Theo ThS Nguyễn Thị Bắp, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu thí nghiệm giống lúa tại Sóc Trăng, các giống OM 6976, OM 6677, OM6976, OM5629, OM6162, OM5464, OM4900, OM7364, OM9577, OM9584 có khả năng chịu mặn khá và cho năng suất cao hơn OM576 (Hàm Trâu) và là những giống có khả năng thích hợp vùng nhiễm mặn. Tuy nhiên chỉ chịu mặn nhẹ và không ổn định trong điều kiện mặn lên xuống thất thường như hiện nay.

Nghiên cứu khả năng chống chịu mặn của một số giống lúa đang được canh tác phổ biến tại ĐBSCL, Viện Lúa ĐBSCL đã tiến hành thanh lọc 15 giống, gồm 8 giống cổ truyền và 7 giống cao sản ngắn ngày. Kết quả thí nghiệm cho thấy giống OM997 chống chịu mặn trung bình và cho năng suất cao.

Thời gian chọn tạo tương đối dài, từ lai tạo, tuyển chọn đến khi có được một số dòng lúa mới, thuần mất ít nhất là 6 - 7 vụ và cần thêm 2 - 4 vụ nữa để đánh giá về năng suất, khảo nghiệm đặc tính của giống.

Từ năm 2009 - 2012, Viện đã tìm 30 dòng lúa có triển vọng chịu mặn. Đồng thời phối hợp khảo nghiệm, đánh giá ở các trung tâm giống Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu...

HƯNG PHÚ  - Nông nghiệp VN, 04/12/2013

Tương lai mới cho sắn ở châu Á

  • PDF

FOODCROPS. CIAT 2010. Tiến sỹ Reinhardt Howeler chủ biên. Tương lai mới cho sắn ờ châu Á: dùng làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệu có lợi cho người nghèo. Sách mới tiếng Anh. 803 trang


Thông tin Hội thảo Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại  thủ đô Viên Chăn, Lào ngày 20-24 tháng 10 năm 2008. Nơi xuất bản: Văn phòng CIAT Băng Cốc cộng tác với Viện Nghiên cứu Cây trồng , Bộ Nông nghiệp Thái Lan. Năm xuất bản: tháng Tám năm 2010. Sách dày 803 trang, gồm những báo cáo đầy đủ đã được cập nhật và bổ sung tư liệu mới đến hết năm 2009 (báo cáo tóm tắt và báo cáo power point tại hội thảo đã đăng trước đây) Nội dung sách bao gồm: hiện trạng sản xuất sắn ờ châu Á, chọn tạo giống sắn, kỹ thuật canh tác sắn, dự án Nippon Foundation phát triển sắn bền vững ở châu Á, các sáng kiến nghiên cứu phát triển sắn khác ở châu Á và châu Phi, sâu và bệnh sắn, sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong chế biến sắn , đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột, tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, công nghiệp thực phẩm. Mục lục các báo cáo dưới đây. Hai tóm tắt của báo cáo hiện trạng sản xuất sắn  và chọn giống sắn tại Việt Nam kèm theo. Thông tin đầy đủ hơn xin liên hệ: Dr. Reinhardt H. Howeler CIAT Cassava Office for Asia. Department of Agriculture, Chatuchak, Bankok 10900, Thailand   This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2010/10/tuong-lai-moi-cho-san-o-chau.html

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Phân bón hạt nano có thể đóng góp vào cuộc “cách mạng xanh” mới

  • PDF

Phân bón hạt nano có thể đóng góp vào cuộc “cách mạng xanh” mới 

Nông dân thường dùng nguồn đạm urea như là phân bón. Tuy nhiên yếu điểm của nó là tan nhanh trong đất ẩm ướt và tạo thành amoni. Amoni bị rữa trôi, tạo ra vấn đề môi trường nghiêm trọng vì nó dẫn đến phú dưỡng nguồn nước và cuối cùng đi vào khí quyển dưới dạng NO2, chất khí thải nhà kính liên quan nông nghiệp. Sự phân hủy nhanh này cũng hạn chế lượng đạm cho rễ cây hấp thu và đòi hỏi người nông dân bón nhiều phân hơn để tăng sản lượng. Tuy nhiên, những vùng thu nhập thấp nơi dân số tiếp tục tăng và cung cấp lương thực không ổn định, chi phí phân bón có thể gây trở ngại thêm cho bón phân và làm giảm năng suất cây trồng. Nilwala Kottegoda, Veranja Karunaratne, Gehan Amaratunga và những đồng nghiệp muốn tìm cách làm chậm phân hủy urea và làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón.

Để làm điều này, các nhà nghiên cứu phát triển một phương pháp đơn giản và có khả năng thay đổi bằng cách bọc những phân tử urea bằng nano hydroxyapatite (HA). HA là khoáng trong mô người và động vật và được xem là thân thiện môi trường. Trong nước, sự thủy phân của hạt nano HA và đạm trong urea diễn ra chậm và chậm hơn chính nó 12 lần. Những thí nghiệm ngoài đồng bước đầu trên lúa đã cho thấy rằng bọc những hạt nano hydroxyapatite (HA) với những phân tử urea đã làm giảm khoảng một nửa nhu cầu sử dụng phân bón. Những nhà nghiên cứu đánh giá rằng việc phát triển nghiên cứu của họ có thể giúp góp phần tạo ra cuộc cách mạng xanh mới nhằm giúp nuôi dân số thế giới đang tăng liên tục và cũng cải thiện môi trường nông nghiệp một cách bền vững.

FOODCROPS.VN. HỌC MỖI NGÀY