Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Xuất khẩu gạo và vấn đề đặt ra

  • PDF

Xuất khẩu gạo và vấn đề đặt ra

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp nước ta đã có bước tiến vượt bậc. Việt Nam đã trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Tuy vậy, thời gian gần đây, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của nông dân.  

Theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, kể từ cuối thập kỷ 1980 đến nay, ngành lúa gạo của Việt Nam đã phát triển liên tục theo định hướng gia tăng sản lượng. Sự gia tăng sản lượng lúa gần như liên tục trong suốt hơn 2 thập kỷ qua đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn liên tục là một trong 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Cụ thể, từ mức xuất khẩu 1,99 triệu tấn năm 1995, khối lượng gạo xuất khẩu đã tăng lên mức 3,48 triệu tấn năm 2000 và 8,02 triệu tấn vào năm 2012. Kim ngạch xuất khẩu gạo đã tăng từ mức 854,6 triệu USD năm 1996 lên mức 3,678 tỷ USD vào năm 2012.


Tuy vậy, do phải đối mặt với áp lực cạnh tranh cao và sụt giảm nhu cầu của các thị trường truyền thống như Malaysia, Philippines và Indonesia, năm 2013, cả nước chỉ xuất khẩu được gần 6,6 triệu tấn gạo, giảm hơn 1,4 triệu tấn (tức giảm 17,76%) so với năm 2012, kim ngạch đạt gần 2,93 tỷ USD (giảm 20,36%). Bước sang năm 2014, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 10 năm 2014 ước đạt 669 nghìn tấn với giá trị 317 triệu USD đưa khối lượng xuất khẩu gạo 10 tháng năm 2014 ước đạt 5,68 triệu tấn và 2,59 tỷ USD, giảm 2,7% về khối lượng, nhưng lại tăng 1,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Thị trường xuất khẩu lớn nhất năm 2014 là Trung Quốc chiếm 32,48%. Thị trường Philippines cũng có sự tăng trưởng đột biến trong 9 tháng đầu năm với mức tăng gấp 3,19 lần về khối lượng và gấp 3,23 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Với mức tăng trưởng này, Philippines vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 22,06%, tiếp đến là Malaysia, Gana và Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 7,07%; 5,76% và 3,19%... Cả năm 2014, Việt Nam phấn đấu xuất khẩu 7 triệu tấn gạo.
 

Áp lực cạnh tranh gia tăng

Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là sản lượng lúa tăng nhưng không kèm theo sự cải thiện thu nhập của người nông dân. Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đa dạng, và đặc biệt đang tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc. Khi những thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức ép giảm giá lên toàn bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạo trong nước, đặc biệt là người nông dân. Do vậy, đã có sự đồng thuận chung trong giới hoạch định chính sách về vấn đề này. Đó là mong muốn ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển dịch sang sản xuất các loại gạo chất lượng cao hơn; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; và cung ứng gạo chất lượng cao cho tiêu thụ trong nước. Dù là giải pháp nào, để đạt được mục tiêu thì đều phải dựa vào các lực lượng của thị trường, mới có thể giúp cho các hoạt động sản xuất và tiêu thụ của ngành lúa gạo theo định hướng mới được bền vững.

Trong những năm vừa qua, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và Pakistan là những quốc gia xuất khẩu gạo chính, chiếm tới 71,81% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu. Trung Quốc, Nigeria, Iran và Indonesia là những nước nhập khẩu gạo chính, nhưng chỉ chiếm 23,32% tổng lượng gạo nhập khẩu toàn cầu. Điều này cho thấy các nước xuất khẩu gạo có xu hướng tập trung hơn, trong khi các nước nhập khẩu khá phân tán. Mỗi quốc gia xuất khẩu gạo thường có những thị trường xuất khẩu chủ yếu của riêng mình và cạnh tranh trong những thị trường xuất khẩu khác. Gạo Ấn Độ thường được xuất khẩu sang châu Phi và các nước Ả rập, Hồi giáo. Pakistan hướng mạnh đến thị trường Trung Đông, Bắc Âu, Bắc Mỹ và một số nước châu Á khác. Gạo của Mỹ được tiêu thụ chủ yếu tại các nước châu Mỹ Latinh, Nhật Bản, Canada. Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia xuất khẩu nhiều sang châu Á, châu Phi. Thái Lan còn có khả năng thâm nhập được vào các thị trường gạo của các nước phát triển như Nhật, Mỹ, Canada,... Trong khi đó, Việt Nam lại có thể xuất khẩu gạo sang các nước thuộc EU.

Nhìn chung, với các đặc điểm như thiếu chuẩn hoá, cước phí vận chuyển cao, khó bảo quản, và chịu sự bảo hộ nội địa cao, gạo xuất khẩu là mặt hàng có tính cạnh tranh cao, bất chấp việc hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu tập trung vào một số ít quốc gia. Giá gạo xuất khẩu trên thế giới liên tục được điều chỉnh bởi tất cả các tác nhân trong chuỗi giá trị thông qua quá trình tham chiếu tới nguồn cung và nguồn cầu ở các quốc gia khác nhau, tới các mức giá cả của các loại gạo khác nhau, cũng như của các loại ngũ cốc khác và tới các chính sách bảo hộ gạo nội địa liên tục thay đổi của các quốc gia. Vai trò của các chính phủ cũng như của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu gạo trong việc định hình giá gạo có xu hướng ngày càng giảm, nhường chỗ cho vai trò của các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ trong một thị trường cạnh tranh ngày càng năng động.

Hiện nay, có khoảng 50 loại giá quốc tế cho các chủng loại gạo khác nhau. Giá gạo xuất khẩu được tham chiếu nhiều nhất là gạo Thái Lan 5% tấm. Dù rằng, trong ngắn hạn các chủng loại gạo có thể có biến động giá khác nhau, nhưng người ta thấy rằng các mức giá có xu hướng biến động đồng hướng trong dài hạn. Trong tất cả các loại gạo thì gạo thơm có giá cao nhất. Đây là loại gạo phổ biến được xuất khẩu bởi Thái Lan với tên gọi là Thai Hommali và bởi Ấn Độ với tên gọi Basmati. Tiếp theo là gạo trắng hạt dài chất lượng cao (chứa 5% tấm), rồi đến gạo trắng hạt dài chất lượng thấp (chứa 25 % tấm), gạo đồ, và gạo tấm. Gạo thơm của Việt Nam vẫn chưa xây dựng được thương hiệu riêng.

Áp lực cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu gạo ngày càng tăng. Áp lực cạnh tranh này chủ yếu do xu hướng gia tăng xuất khẩu gạo. Trong số các nước xuất khẩu truyền thống, Ấn Độ là nước có sự bứt phá mạnh mẽ nhất trong xuất khẩu gạo, và trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Những năm gần đây, Ấn Độ đã mở rộng được thành công thị phần xuất khẩu gạo sang Nam Phi và có thể cạnh tranh ngang sức với Thái Lan ở thị trường này. Ở châu Á, Campuchia và Myanmar đang có mức tăng trưởng mạnh về xuất khẩu gạo, cạnh tranh trực tiếp với các nước xuất khẩu gạo truyền thống. Xu hướng tự lực về cung cấp lúa gạo tại các nước nhập khẩu gạo cũng là một yếu tố. Xu hướng này cũng được nhận thấy rõ ở châu Phi. Nguồn cung dồi dào là nguyên nhân khiến một số nước ở châu Phi cắt giảm lượng gạo nhập khẩu.

Cấu trúc thị trường chưa bền vững

Thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam là châu Á (chiếm 59%) và châu Phi (chiếm 24%). Trong những năm gần đây, tỉ trọng các hợp đồng chính phủ (G2G) có xu hướng giảm dần. Năm 2007, tỷ trọng hợp đồng G2G chiếm 70% trọng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ này giảm xuống còn 42,7% năm 2009 và đến năm 2012, 2013 chỉ còn chưa đến 20%. Tuy nhiên, có một điểm đáng mừng là tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng tăng. Tuy vậy, cùng một chủng loại gạo xuất khẩu nhưng gạo Thái Lan thường có giá cao nhất và gạo Việt Nam có giá thấp nhất. Chẳng hạn cùng là gạo hạt dài chất lượng cao, nhưng của Thái Lan vào tháng 7/2012 có giá 592 USD/tấn, trong khi của Việt Nam chỉ có 415 USD/tấn. Tương tự, gạo thơm Hommali của Thái Lan có giá 1.025USD/tấn, còn gạo thơm của Việt Nam 5% tấm chỉ có giá 625 USD/tấn.

Điểm đáng chú ý, trên thị trường xuất khẩu gạo hiện nay vẫn còn thiếu vắng các liên kết ngang giữa các công ty (ví dụ như trong việc đàm phán giá lúa gạo xuất khẩu) và liên kết dọc với các công ty cung ứng đầu vào cho sản xuất. Xu hướng xây dựng vùng nguyên liệu hiện được thực hiện rất “gượng ép” do các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn cung sẵn có trên thị trường, sản phẩm xuất khẩu không có sự khác biệt lớn, rủi ro về lợi nhuận cao do thị trường đầu ra không ổn định. Trong những năm vừa qua, ngành lúa gạo có lẽ là một trong những ngành nhận được sự quan tâm nhiều nhất của Chính phủ. Một loạt các chính sách được ban hành tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi của các chủ thể trên thị trường lúa gạo. Nhìn chung, mục tiêu của các chính sách đều hướng đến nâng cao vị thế của người nông dân trong chuỗi giá trị ngành lúa gạo cũng như giúp cho ngành lúa gạo có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các chính sách được thiết kế cũng bộc lộ nhiều bất cập và không đạt được mong muốn như kỳ vọng.

Chẳng hạn như chính sách quy định điều kiện doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Ngày 4/11/2010, Chính  phủ ban hành Nghị định 109/NĐ-CP/2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo. Theo đó, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng đủ các điều kiện và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải đảm bảo ít nhất hai điều kiện cần, đó là: có ít nhất 1 kho chuyên dùng dự trữ tối thiểu 5.000 tấn lúa; sở hữu ít nhất 1 cơ sở xay xát thóc với công suất tối thiểu là 10 tấn thóc/giờ tại các tỉnh, thành phố có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển xuất khẩu thóc, gạo.

Mục tiêu của chính sách này là giảm bớt các đầu mối xuất khẩu nhằm tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán. Hệ quả của chính sách này là tập trung xuất khẩu vào một số doanh nghiệp lớn, loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ vì khó đáp ứng được hai điều kiện trên. Tuy nhiên, chính sách này không đạt được mục tiêu liên kết nhà xuất khẩu với nông dân. Chính sách này vô hình trung tạo ra thêm một tầng lớp nữa giữa nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu. Đó là các doanh nghiệp thu gom cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Việc tập trung xuất khẩu vào một số ít doanh nghiệp khiến các doanh nghiệp lớn này có xu hướng tìm các thị trường xuất khẩu những lô lớn các loại gạo chất lượng thấp với giá rẻ thay vì tìm kiếm xuất khẩu tại các thị trường ngách các loại gạo có chất lượng cao, với giá bán cao hơn. Chính sách này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ có liên kết với nông dân để sản xuất các giống lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ, đặc sản địa phương, có thị trường đầu ra ổn định, lợi nhuận cao và tính cạnh tranh cao, nhưng lại không thể trực tiếp xuất khẩu do không đủ điều kiện về kho chứa, hệ thống xay xát…

Trước xu hướng gia tăng cạnh tranh xuất khẩu gạo trên thế giới, nếu không xuất khẩu được gạo, Việt Nam sẽ bị rơi vào tình trạng dư thừa nguồn cung trong nước. Với cấu trúc thị trường lúa gạo như hiện tại, theo đó giá thu mua xuất khẩu sẽ quyết định giá thu mua lúa của nông dân trong nước, thì giá lúa trong những năm tới sẽ tiếp tục bị sụt giảm. Khi đó áp lực với chính sách mua dự trữ lúa gạo của Chính phủ để giúp đỡ người nông dân sẽ gia tăng, đòi hỏi sự can thiệp ngày càng lớn hơn, dẫn tới những méo mó trên thị trường.

Vấn đề đặt ra

Khuynh hướng sản xuất lúa gạo Việt Nam dường như bị thiên về phía các nhà xuất khẩu. Tư tưởng coi xuất khẩu lớn như một thành tích vẫn đang ngự trị. Trong khi đó, đã đến lúc cần xem xét lại tổng thể vai trò của việc xuất khẩu gạo trong nền ngoại thương Việt Nam cũng như một động lực tăng trưởng. Sản phẩm gạo Việt Nam có giá thành được trợ cấp trong một số khâu đầu vào thiết yếu (thủy lợi, hạ tầng…) nên vấn đề cần đặt ra đối với gạo xuất khẩu là có nên tiếp tục duy trì tình trạng trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài hay không? Nếu cần có chiến lược điều chỉnh giảm trợ cấp cho người tiêu dùng nước ngoài đối với gạo xuất khẩu của Việt Nam thì vấn đề nên được bắt đầu từ đâu? Người nông dân có vai trò và lợi ích/thiệt hại gì trong quá trình này?

Một vấn đề lớn đã và đang được đặt ra ở Việt Nam là khu vực nào trong chuỗi sản xuất lúa gạo sẽ có khả năng làm nòng cốt cho sự phát triển bền vững của toàn chuỗi? Dựa trên cấu trúc hiện thời của thị trường lúa gạo Việt Nam, chúng tôi đề xuất nên lưu ý tiềm năng của khu vực xay xát - chế biến là khu vực có tiềm năng tự nhiên cần được khuyến khích phát triển, từ đó tích tụ mở rộng ra về hai phía (nguyên liệu và thành phẩm), trở thành các doanh nghiệp có vùng nguyên liệu, thiết bị chế biến hiện đại và có thị trường đầu ra ổn định, đảm bảo chất lượng thành phẩm. Có thể coi đây là lựa chọn chiến lược quyết định tương lai vị thế ngành lúa gạo Việt Nam.

Thay đổi cấu trúc quản lý hành chính phù hợp với phương hướng dịch chuyển của cấu trúc thị trường, trong đó doanh nghiệp tư nhân và người nông dân sản xuất quy mô lớn sẽ chiếm ưu thế trong tương lai. Xây dựng và hoàn thiện bộ qui trình chuẩn về chế biến và xay xát gạo Việt Nam (GMP-RM). Các doanh nghiệp chế biến – xay xát gạo được khuyến khích tuân thủ GMP-RM và tự chịu trách nhiệm trong việc phân loại gạo chế biến theo các tiêu chuẩn phân loại gạo trên thế giới. Những doanh nghiệp xay xát tuân thủ GMP-RM ở những mức độ khác nhau sẽ được các ưu đãi về thuế, vốn, v.v…

Nhiều ý kiến cho rằng, cần bãi bỏ thuế VAT với tiêu thụ mặt hàng gạo trong nước để tạo công bằng giữa doanh nghiệp phân phối gạo trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu và tiểu thương. Hiện nay các công ty bán gạo trực tiếp cho người tiêu thụ gạo trong nước phải nộp thuế VAT 5% trong khi bán cho các doanh nghiệp xuất khẩu thì không phải nộp. Điều này tạo ra sự bất lợi cho các doanh nghiệp muốn phát triển thị trường trong nước khi phải cạnh tranh với hệ thống phân phối gạo truyền thống qua mối quan hệ thương lái - tiểu thương. Bãi bỏ thuế VAT sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp gạo tạo dựng được các thương hiệu gạo trên thị trường nội địa, giúp cho người dân Việt Nam có cơ hội được tiêu dùng gạo có chất lượng cao hơn. Nhà nước chỉ khôi phục lại việc thuế VAT với mặt hàng gạo khi việc phân phối gạo trong nước đa phần qua các doanh nghiệp.

Nới lỏng điều kiện trở thành doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Các điều kiện hiện nay không khiến cho gạo của Việt Nam có chất lượng tốt hơn hoặc có giá cao hơn, mà chỉ khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo có thêm quyền lực thị trường để áp đặt các điều kiện bất lợi cho các chủ thể khác và nông dân. Đặc biệt đối với các loại gạo đặc sản (thường có sản lượng không lớn, nhưng có lợi nhuận và tính cạnh tranh cao), nên được tạo điều kiện để xuất khẩu theo những điều kiện ưu tiên riêng (doanh nghiệp xuất khẩu không nhất thiết phải đáp ứng đủ các quy định hiện hành trong Nghị định 109).

Phát triển cơ chế tài chính vi mô và bảo hiểm phù hợp cho người nông dân, đặc biệt nông dân nhỏ. Những chính sách này sẽ giúp các hộ nông dân ít phụ thuộc hơn vào các đơn vị cung ứng đầu vào. Hướng tới việc khuyến khích bảo hiểm và cho vay theo chuỗi hoặc tổ chức đối tác đầu tư trực tiếp giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước và nông dân. Phân biệt giữa lúa gạo thương mại và lúa gạo dự trữ. Định hướng lại các tổng công ty lương thực theo hướng thiên về thực thi chính sách, giảm dần vai trò thương mại trên thị trường, nhường chỗ cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác. Tổ chức lại Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) để đảm bảo Hiệp hội phải có đại diện đầy đủ của doanh nghiệp tư nhân, chính quyền địa phương và nông dân trong thương mại lúa gạo. Các quyết định của VFA cần đủ kịp thời theo biến động của thị trường thế giới để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp và người nông dân./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Lợi ích cây trồng biến đổi gien cao hơn tác hại

  • PDF

Lợi ích cây trồng biến đổi gien cao hơn tác hại

GS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, là một nhà khoa học đã dành ra nhiều năm nghiên cứu lĩnh vực sinh học biến đổi gien (GMO). Ông cho rằng ứng dụng giống biến đổi gien sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn là mối nguy hại cho nền nông nghiệp.

Cục Trồng Trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết đến năm 2015 sẽ đưa vào sản xuất cây trồng GMO, đầu tiên sẽ là giống bắp do có năng suất vượt trội, chống chịu hạn tốt và kháng sâu bệnh.

TBKTSG Online ghi nhận ý kiến ông Bùi Chí Bửu bên lề hội nghị công nghệ sinh học được tổ chức ngày 9-8 ở TPHCM.

GS Bùi Chí Bửu: Xuất khẩu lúa gạo hàng năm mang về hơn 3 tỉ đô la Mỹ cho Việt Nam nhưng đồng thời ngành chăn nuôi đã phải bỏ ra trên 3,7 tỉ đô la Mỹ để nhập khẩu nguyên liệu chế biến thức ăn, trong đó nhập khẩu bắp chiếm một phần rất lớn.

Hiện sản lượng bắp nước ta chỉ mới đảm bảo một phần thức ăn gia súc. Trong khi đó, ở Việt Nam bắp được trồng với diện tích 1,13 triệu hec ta, năng suất trung bình 4,20 tấn/hec ta và sản lượng hàng năm gần 4,7 triệu tấn; phải nhập khẩu mỗi năm trên dưới 1 triệu tấn.

Tuy nhiên, với điều kiện của nước ta, năng suất cây bắp chỉ cần nhích lên 1 tấn/hec ta thì không cần phải nhập nữa!

Bên cạnh những mặt được vẫn tồn tại mối lo ngại GMO là tác hại lên sức khỏe con người, làm thế nào để quản lý được rủi ro này, thưa ông?

- Cây bắp biến đổi gien kháng được con sâu đục thân và trái. Hàng năm chúng ta phải phun thuốc sâu 4-6 lần/vụ, nếu dùng chuyển gien thì hầu như không phải làm điều đó. Giáo sư Paulo Paes de Andrade, Ủy ban an toàn sinh học quốc gia Brazil, quốc gia đứng thứ 2 thế giới về sản phẩm biến đổi gien có đề cập đến những rủi ro, những lo ngại do chúng ta tự đặt ra mà mười mấy năm rồi người ta chưa chứng minh những gì tưởng tượng là có thật cả. Và những điều đó đã làm cản trở sự phát triển của ngành này.

Còn ở Việt Nam, điều bất lợi nhất để đưa giống biến đổi gien vào sản xuất đại trà là dư luận xã hội, có những nhóm này nhóm kia đồng ý hay không đồng ý, làm cho các nhà lãnh đạo, những nhà làm chính sách do dự cho phép phát triển rộng. Sự thật là trên thế giới mười mấy năm rồi người ta vẫn chưa tìm thấy tác hại lên sức khỏe con người, ảnh hưởng đến những con có lợi như ong, bọ rùa, trên cả bông vải, bắp, đậu tương…, như tưởng tượng của chúng ta.

Nói rộng ra, có thể gọi những thay đổi về ứng dụng khoa học kỹ thuật trên nông nghiệp là cách mạng xanh, và nếu chúng ta không đi vào cuộc cách mạng xanh trong thời gian tới thì sẽ rất khó khăn. Việt Nam có diện tích đất lúa cũng ngày một giảm đi, xuống còn 3,8 triệu hec ta trong tương lai. Nếu chúng ta không có biện pháp nào thì biến đổi khí hậu, tình trạng khô hạn, thiếu nước, rồi nhiệt độ nóng lên làm cây không thụ phấn được sẽ tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp.

Cái lợi rõ ràng là nhiều hơn cái hại mà chúng ta vẫn tưởng tượng ra.

Nhưng chính trong giới khoa học vẫn có những ý kiến cần phải thận trọng với giống GMO?

- Hiện nay có một số nhà khoa học vẫn lưỡng lự về việc ứng dụng GMO trong sản xuất nông nghiệp, trong khi chúng ta hàng ngày vẫn sử dụng chúng. 90% nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam là dùng công nghệ GMO.

Trong khoa học có những quan điểm khác nhau, và chỉ những quan điểm trái chiều nhau mới làm cho khoa học phát triển. Nhưng thực tế cho thấy hơn 10 năm qua khi phát triển chăn nuôi công nghiệp, đặc biệt ở 2 tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, số trang trại rất lớn và chúng ta nhập toàn đậu nành và bắp chuyển gien mà đến nay vẫn chưa có vấn đề gì.

Chúng ta có thể hiểu bản thân gien là những axit, sản phẩm của gien là protein, chúng ta ăn là ăn sản phẩm của gien, là protein, mà protein người ta chứng minh không có hại cho động vật máu nóng.

Trong nhiều năm qua mình vẫn tiêu thụ các sản phẩm biến đổi gien?

- Chúng ta ăn gián tiếp qua thịt bò, gà, heo, cá tôm sau khi chúng tiêu thụ thức ăn chăn nuôi có chất GMO như tôi đã nói ở trên.

Brazil có hội đồng an toàn sinh học quốc gia, với  sự tham gia của nhiều bộ ngành có liên quan cùng giám sát lĩnh vực GMO, ở Việt Nam thì sao, thưa ông?

- Việt Nam cũng đang làm như vậy. Năm 2009 Quốc hội bỏ phiếu Luật Đa dạng sinh học, trong đó có đề cập đến sản phẩm biến đổi gien. Cuối năm 2011, ba bộ cùng ngồi lại với nhau để làm hướng dẫn, tôi dự đoán đến tháng 4-2013 bắp chuyển gien mới phát triển mạnh được. Còn từ giờ đến cuối năm chúng tôi còn chờ kết luận cuối cùng của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Có lo ngại nguy cơ lây lan mầm mống chất GMO sang cây lúa là cây lương thực chính của nước ta?

- Rủi ro đó gọi là “dòng chảy của gien”, lan truyền chủ yếu do phấn hoa phát tán. Tuy nhiên, đến giờ phút này người ta chứng minh là ở lúa không có. Hơn nữa cây gì thì sẽ ra cây nấy, bắp thì lai được với bắp, còn lúa hoàn toàn khác, không lai được.

Hiện tượng “dòng chảy của gien” chỉ có trên cây hướng dương nhưng theo tôi về mặt khoa học có thể kiểm soát được hiện tượng này.

Xin cảm ơn ông!

 

Tại hội nghị, GS Paulo Paes de Andrade, Ủy ban an toàn sinh học quốc gia Brazil cho hay, nhờ ứng dụng GMO, bên cạnh trình độ phát triển kỹ thuật nông nghiệp mà nước này đã vượt lên về năng suất, từ một nông dân sản xuất lương thực cho 13 người năm 1904 tăng lên một nông dân sản xuất cho 120 người như ngày nay.

Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này ở Brazil cũng gặp rất nhiều khó khăn, đó là sự phân hóa về tư tưởng ngay trong chính Hội đồng Kỹ thuật An toàn sinh học quốc gia Brazil, tổ chức đứng đầu cho mọi hoạt động liên quan đến kỹ thuật di truyền ở nước này; các vụ kiện chống lại các tổ chức tư nhân và chính phủ do các tổ chức nông dân thực hiện…

 

Khảo nghiệm giống lúa trên vùng đất nhiễm mặn

  • PDF
Khảo nghiệm giống lúa trên vùng đất nhiễm mặn
 
Thời gian qua, cánh đồng ven biển thường bị nhiễm mặn, nhiều diện tích lúa ngã rạp do nước biển xâm thực. Để tạo ra giống lúa chịu mặn thích ứng với biến đổi khí hậu, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành trồng khảo nghiệm 21 giống lúa chịu mặn. Sau 2 vụ đã chọn ra 3 giống có tính chịu mặn cao đưa vào sản xuất vụ đến.
 
CHỌN ĐƯỢC 3 GIỐNG LÚA CHỊU MẶN CAO
 
Liên tiếp trong 2 vụ lúa vừa qua (đông xuân 2013-2014, hè thu 2104), tại cánh đồng các xã An Hòa, An Ninh Tây (huyện Tuy An), Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành trồng khảo nghiệm bộ giống gồm 21 giống lúa. Đây là bộ giống lúa được chọn từ 2 nguồn: H (Huế) của Trường đại học Nông lâm Huế và GSR (siêu lúa xanh) của Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh với giống đối chứng ML49 trồng phổ biến tại địa phương.
 
Diện tích ruộng khảo nghiệm là 2.000m2 (mỗi xã 1.000m2) và được phân ra 2 nhóm kỹ thuật, mỗi nhóm có 3 cán bộ của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh và 1 cán bộ địa phương. Trong suốt vụ trồng khảo nghiệm, nhóm kỹ thuật ghi lại các số liệu điều tra, đặc tính nông học của các giống lúa từng giai đoạn, từ khi lúa bén rễ đến đẻ nhánh rồi trổ đòng. Theo điều tra của nhóm kỹ thuật, độ mặn ở ruộng khảo nghiệm 7 ngày sau sạ lên đến 1,73%o, đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa ở giai đoạn mạ. Thế nhưng, các giống khảo nghiệm đều có thời gian bén rễ 4 đến 5 ngày sau cấy, tạo điều kiện cho lúa đẻ nhánh sớm, tỉ lệ số nhánh hữu hiệu thành bông cao, dẫn đến tăng năng suất. Chị Nguyễn Thị Xuân Tình, đại diện nhóm kỹ thuật ở ruộng thực nghiệm xã An Hòa, cho hay: “Các giống đều đẻ nhánh tối đa 42 ngày sau cấy, chỉ có giống GSR99 tối đa là 49 ngày. Giống đẻ nhánh cao nhất là giống GSR99 với 15,2 nhánh/khóm (bụi), giống đẻ nhánh thấp nhất là giống GSR90 với 6,4 nhánh/khóm, so với giống đối chứng ML49 là 8,3 nhánh/khóm. Tỉ lệ nhánh hữu hiệu của các giống khảo nghiệm đạt từ 63 đến 90,9%. Từ việc nghiên cứu đẻ nhánh của cây lúa để gieo cấy mật độ thích hợp, giảm tối đa tỉ lệ nhánh vô hiệu, giảm tiêu hao phân bón.
 
Thời gian sinh trưởng của cây lúa là một trong những chỉ tiêu để chọn giống cơ cấu vào sản xuất. Qua kết quả theo dõi cho thấy, các giống lúa khảo nghiệm có thời gian sinh trưởng từ 117 đến 137 ngày, so với giống đối chứng ML49 là 119 ngày. Sâu bệnh hại là yếu tố quyết định năng suất, lợi nhuận sau này, trong đó, đáng chú ý là bệnh đạo ôn thường xuất hiện ở vụ đông xuân. Qua theo dõi các giống ở ruộng khảo nghiệm, chỉ có giống GSR66 xuất hiện bệnh đạo ôn nhưng tỉ lệ rất thấp. Bệnh đốm nâu xuất hiện trên các giống nhưng tỉ lệ bệnh cũng rất thấp.
 
Cuối vụ năng suất thực thu các giống lúa khảo nghiệm đạt từ 13,7 đến 74 tạ/ha, trong đó giống GSR66 đạt cao nhất với 74 tạ/ha, cao hơn so với giống đối chứng 8,9 tạ/ha; thấp nhất là giống GSR99 với 13,7 tạ/ha thấp hơn so với giống đối chứng 51,4 tạ/ha. Các giống H2, H7, H5, GSR99, GSR65, GSR39, GSR100 và ĐV2 đều chênh lệch so với giống đối chứng.
 
Từ cơ sở số liệu điều tra theo đặc tính của giống và điều kiện ngoại cảnh tác động trên cùng một điều kiện canh tác, qua 2 vụ trồng khảo nghiệm, nhóm kỹ thuật đã chọn ra 3 giống lúa H11, GSR50, GSR65 có tính chống chịu mặn cao đưa vào sản xuất đại trà trong thời gian đến.
 
SẼ ĐƯA VÀO SẢN XUẤT ĐẠI TRÀ
 
Từ nhiều năm nay, cánh đồng xã An Ninh Tây thường bị nhiễm mặn do nước biển xâm thực nên nhiều diện tích lúa trong giai đoạn đẻ nhánh đang phát triển tươi tốt thì ngã rạp. Ông Võ Quang Hưng, Phó giám đốc HTX Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp An Ninh Tây, cho biết: “Nước biển ngày càng lấn sâu vào đất liền với nồng độ cao hơn, vì vậy phải tạo ra giống lúa chống chịu mặn mới mang lại hiệu quả. Trước đây, nhiều thửa ruộng bị ngập mặn mất trắng, rủi ro về kinh tế cho nông dân rất lớn”.
 
Đối với cánh đồng xã An Hòa, tình hình nhiễm mặn tiềm tàng trong đất, những thửa ruộng mùa nắng khô nước để lại lớp muối trong đất. Theo nghiên cứu của nhóm kỹ thuật, độ mặn ở đây lên đến 10%o, quá sức chịu đựng của cây lúa. Lâu nay, cái khó đối với nông dân canh tác trên cánh đồng này là không có giống chịu mặn để gieo sạ. Ông Cao Văn Tiên, Phó phòng NN-PTNT huyện Tuy An, cho hay: Khu vực ruộng nhiễm mặn, bà con nông dân đặt máy bơm nước ngọt từ các ao vào ruộng để rửa mặn, đồng thời phun thuốc dưỡng nhưng giống lúa trồng ở địa phương lâu nay không chịu nổi độ mặn cao nên phát triển kém, còi cọc. Còn khi trổ, do quá trình phân hóa đòng bị nhiễm mặn nên bông lúa hoại tử. Phòng NN-PTNT huyện đề nghị cơ quan chức năng tiếp tục khảo nghiệm các bộ giống mới tại các vùng trồng lúa bị nhiễm mặn để chọn ra những giống lúa chống chịu mặn tốt.
 
Thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật, toàn tỉnh có khoảng 600ha bị nhiễm mặn, trong đó, huyện Tuy An có diện tích lúa nhiễm mặn nhiều nhất, với 300ha tập trung ở các xã An Hòa (80ha), An Cư (30ha), An Ninh Đông (70ha), An Ninh Tây (30ha), An Hiệp (60ha) và An Mỹ (30ha). Thời điểm ảnh hưởng triều cường nhẹ, năng suất lúa ở vùng này chỉ đạt từ 30 đến 50 tạ/ha, ảnh hưởng nặng chỉ đạt từ 10 đến 20 tạ/ha, có nơi mất trắng. Chi phí sản xuất ở các chân ruộng bị nhiễm mặn tăng cao do triều cường ngập lúc đầu vụ nên phải sạ lại 2 đến 3 lần.
 
Thạc sĩ Đặng Văn Mạnh, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết: Mực nước biển xâm thực đã làm tăng thêm diện tích lúa bị nhiễm mặn, ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và sản lượng nông nghiệp. Vì vậy, việc chọn tạo giống lúa có khả năng chịu mặn để đảm bảo an toàn lương thực, tăng thu nhập cho người nông dân tại vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là cần thiết. Qua theo dõi, khảo sát và đánh giá của các chuyên gia, trong 21 giống trong bộ giống lúa chịu mặn được Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh triển khai khảo nghiệm trong thời gian qua, có 3 giống lúa gồm H11, GSR50, GSR65 chịu được mặn, phát triển tốt và cho năng suất cao, thời gian đến sẽ đưa vào sản xuất đại trà.

 

Gấp rút quy hoạch nguồn nước ở ĐBSCL

  • PDF

Gấp rút quy hoạch nguồn nước ở ĐBSCL 

Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp thiết thực trong điều kiện biến đổi khí hậu để kiểm soát được mặn và bảo đảm nguồn nước sinh hoạt, phục vụ sản xuất cho người dân

Ngày 13-7, Hội thảo “Các giải pháp kiểm soát mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và dân sinh vùng ĐBSCL” trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế ĐBSCL (MDEC) 2016 đã được tổ chức tại tỉnh Hậu Giang.

Thiệt hại nặng nề

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 2014 đến nay, do tác động của El Nino nên mùa khô kéo dài, mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm ở ĐBSCL. Từ đầu năm 2015, dòng chảy thượng nguồn sông Mekong bị thiếu hụt, mực nước xuống thấp nhất trong 90 năm qua và không còn khả năng đẩy mặn, dẫn đến mặn trên sông xuất hiện sớm hơn gần 2 tháng so với cùng kỳ và xâm nhập sâu về phía thượng lưu, nơi xa nhất hơn 90 km.

Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nêu trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất của người dân. Theo đó, tổng diện tích thiệt hại là 126.798 ha. Các tỉnh bị thiệt hại nhiều là Cà Mau 49.343 ha, Kiên Giang 34.093 ha, Bạc Liêu 11.456 ha và Bến Tre 10.755 ha.

TS Nguyễn Trịnh Nhất Hằng (Viện Cây ăn quả Miền Nam) cho biết đợt hạn, mặn vừa qua đã khiến cho nước nhiễm mặn xâm nhập đến hầu hết các vùng trồng cây ăn quả tập trung của các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Tiền Giang, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng... với hơn 9.400 ha bị ảnh hưởng. Ngoài ra, đất bị nhiễm mặn gây trở ngại cho sinh trưởng và phát triển cây trồng, gây xáo trộn và mất cân đối sự hấp thu nước, chất dinh dưỡng của cây trồng. Nước mặn phá hủy cấu trúc đất, đất bị nén chặt, sự phát triển rễ giảm, giảm tính thấm nước và thoát nước, thiếu sự thoáng khí cho vùng rễ.

Theo Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), một số tỉnh như Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu do nắng nóng, mực nước đầm nuôi thấp, độ mặn tăng cao, có nơi lên đến 30‰-50‰, làm cho tôm giảm sức đề kháng, dễ bị sốc và chết. Thống kê sơ bộ tại 8 tỉnh ven biển ĐBSCL, tính đến giữa tháng 5-2016, khoảng 81.413 ha tôm nuôi bị thiệt hại.

Hạn hán, xâm nhập mặn làm cho khoảng 250.000 hộ gia đình (khoảng 1,3 triệu người) ở các khu vực cửa sông, ven biển thiếu nước ngọt sinh hoạt.

Tận dụng khả năng trữ lũ

Đại diện Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết nguồn nước dưới đất vùng ĐBSCL có đặc điểm phức tạp, đặc biệt là sự phân bố mặn - nhạt trong các tầng chứa nước. Đa phần nước dưới đất trong các tầng là mặn, nước nhạt chỉ tồn tại trong các tầng dưới dạng các “thấu kính” được bao quanh bởi nước mặn. Nguồn bổ cập cho nước dưới đất vùng ĐBSCL rất hạn chế, do đó tiềm năng khai thác nước dưới đất được hình thành chủ yếu từ trữ lượng tĩnh (trọng lực, đàn hồi) trong các tầng chứa.

Theo số liệu quan trắc từ năm 1995 đến nay cho thấy tốc độ hạ thấp mực nước trung bình trong các tầng chứa nước vùng ĐBSCL khoảng 0,15-0,4 m/năm. Khu vực có tốc độ hạ thấp mực nước lớn là các khu vực tập trung khai thác nước dưới đất quy mô lớn như các TP Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh...

Cũng theo Cục Quản lý tài nguyên nước, giải quyết các vấn đề thách thức hiện nay ở ĐBSCL cần gấp rút thực hiện một cách đồng bộ thông qua việc tập trung xây dựng và quy hoạch tài nguyên nước trong điều kiện biến đổi khí hậu và tác động do các hoạt động khai thác sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mekong; tập trung điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất, nhất là các tầng chứa nước nằm sâu, để cấp nước sinh hoạt ở các vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn. Đồng thời, xây dựng các công trình khai thác nước ngầm sẵn sàng ứng phó với xâm nhập mặn khi cần thiết; thành lập Ủy ban Lưu vực sông Cửu Long để tăng cường công tác điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống tác hại do nước gây ra trên đồng bằng nhằm giải quyết hài hòa, có hiệu quả, bền vững các vấn đề về tài nguyên nước giữa các bên liên quan, giữa thượng lưu, hạ lưu và giữa khai thác với bảo vệ...

Theo Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam, các giải pháp chính của quy hoạch thủy lợi ĐBSCL, gồm: Kết hợp tuyến đê biển vùng ĐBSCL với đường giao thông ven biển; hạn chế lũ tràn từ biên giới vào vùng ĐBSCL bằng hướng thoát lũ ra biển Tây (vùng Tứ giác Long Xuyên) sang sông Vàm Cỏ và qua sông Tiền (vùng Đồng Tháp Mười); tận dụng khả năng trữ lũ, chậm lũ bằng các hệ thống kênh trục cắt ngang vùng lũ tạo nên, nhất là cho vùng Đồng Tháp Mười trong điều kiện lũ nhỏ và trung bình. Đối với vùng bán đảo Cà Mau, do đây là vùng khó khăn về nguồn nước, nhất là vùng ven biển và trung tâm Quản Lộ - Phụng Hiệp nên giải pháp cấp nước ngọt cơ bản cho vùng này là mở rộng, nạo vét các kênh trục nối từ sông Hậu vào sâu trong nội đồng

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam

  • PDF

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam

Khí hậu nóng, khô làm giảm phẩm chất và năng suất của cây trồng, đôi khi cây trồng không cho trái, đặc biệt là cây lúa ở giai đoạn ra hoa là giai đoạn rất mẫn cảm với điều kiện khô hạn và nóng kéo dài. Hạt lúa thường trổ không thoát cổ bông hoặc trổ nhưng bị lép, làm thất thoát năng suất.

Vì thế, “Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam” nhằm tìm ra vật liệu khởi đầu cho công tác lai tạo giống lúa chống chịu nóng.

Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Nông lâm TP.HCM, Viện Lúa ĐBSCL và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã tiến hành phân tích mức độ đa dạng giữa 50 giống lúa cải tiến từ ngân hàng gien của Bộ môn Di truyền Chọn giống, Viện Lúa ĐBSCL cung cấp.

Nghiên cứu đã xác định được một số giống chịu nóng nổi trội về các đặc tính như thời gian sinh trưởng, cao cây, dài bông, hạt chắc/bông cao. Đây chính là những nguồn vật liệu di truyền rất quí có thể phục vụ cho công tác lai tạo, chọn giống để đáp ứng yêu cầu của sản xuất và phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.

Xét về đặc tính nông học đa số các giống lúa chịu nóng phân bố theo chiều cao cây nằm trong nhóm 100-120 cm (có 45 giống). Nhóm 120-140 cm bao gồm 3 giống. Các nhóm còn lại 140-160 cm, 160- 180 cm, 180-200 cm là các giống phân bố rất ít biến động (từ 0 đến 1 giống). Các nhóm còn lại có rất ít các giống. Điều này chứng tỏ các giống lúa chịu nóng chỉ tập trung ở chiều cao trung bình khá.

Về năng suất (g/bụi), các giống có năng suất biến động rất khác nhau, tuy nhiên năng suất trung bình một bụi khoảng 6,2638 g. Giống có năng suất bụi lớn nhất là giống TLR 395 là 8,97 g. Ngược lại, giống Gayabyeo lại cho năng suất khá thấp, chỉ khoảng 2,1 g.

Khối lượng 1000 hạt có sự biến động tương đối lớn giữa các giống, trung bình có khối lượng 1000 hạt là 26,152 g. Trong đó giống TLR 402 có khối lượng 1000 hạt cao nhất (28,70 g), thấp nhất là R6 (23,4 g).

Về năng suất (g/bụi), các giống có năng suất biến động rất khác nhau, tuy nhiên năng suất trung bình một bụi khoảng 6,2638 g. Giống có năng suất bụi lớn nhất là giống TLR 395 là 8,97 g. Ngược lại, giống Gayabyeo lại cho năng suất khá thấp, chỉ khoảng 2,1 g.

Khối lượng 1000 hạt có sự biến động tương đối lớn giữa các giống, trung bình có khối lượng 1000 hạt là 26,152 g. Trong đó giống TLR 402 có khối lượng 1000 hạt cao nhất (28,70 g), thấp nhất là R6 (23,4 g).

Các giống chống chịu nóng tốt là 6 giống: TLR390, TLR 391, N22, OM10040, OM8108, Du La và OM 4900.

FOODCROPS. CÂY LƯỢNG THỰC

Nông dân trồng lúa vùng bị hạn sẽ mất trên 70% năng suất

  • PDF

Nông dân trồng lúa vùng bị hạn sẽ mất trên 70% năng suất 

Theo Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, hạn hán và xâm nhập mặn là nguyên nhân quan trọng kéo giảm tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2016.

Chuyên gia kinh tế của WB, ông Sebastian Eckardt, chỉ rõ: Tính đến tháng 4/2016, 22 trong số 63 tỉnh, thành của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn. Các địa phương bị ảnh hưởng đã yêu cầu hỗ trợ tài chính từ trung ương; 18 tỉnh công bố tình trạng khẩn cấp.

360.000 ha đất nông nghiệp bị sụt giảm năng suất

Ước tính có gần 2,3 triệu người tại đồng bằng sông Cửu Long, ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên bị gián đoạn nguồn sinh kế và dịch vụ thiết yếu. Hạn hán đe dọa sản xuất nông nghiệp, và nguồn nước ngọt cung cấp cho 400.000 hộ gia đình. Hạn hán cũng đe dọa nghiêm trọng tình hình tiếp cận hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế. Khoảng 150 trường học và 150 cơ sở y tế tại các tỉnh bị thiếu nước dùng và dịch vụ vệ sinh do hạn hán.

Khoảng trên 1,75 triệu người bị đe dọa mất nguồn sinh kế do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn đối với sản xuất nông nghiệp. Khoảng 360 ngàn ha đất nông nghiệp bị sụt giảm năng suất với mức độ khác nhau. 26 ngàn ha đã không thể canh tác được do không có nước.

Bên cạnh đó, thực trạng thiếu nước cùng nguy cơ giảm thu nhập có thể đẩy nhiều gia đình nông dân vào cảnh nghèo trong vài tháng tới. Nhiều hộ gia đình đã bị lâm vào cảnh nợ nần do bị mất mùa và không còn nguồn lực để tiếp tục khôi phục đất canh tác hoặc nuôi trồng thủy sản trong các tháng tới.

Hạn hán, xâm nhập mặn và giảm sút sản xuất nông nghiệp đang đe dọa sinh kế của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo và dễ bị tổn thương. Ba khu vực bị ảnh hưởng lớn nhất của tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn (Tây nguyên, Đồng bằng sông Cửu long và Nam Trung bộ) hiện có trên 1 triệu hộ nghèo và gần 1 triệu hộ cận nghèo (khoảng 8,1 triệu người).

Khoảng 75,7% các hộ hộ này có ít nhất 1 người làm nông nghiệp và thu nhập của họ sẽ bị ảnh hưởng. Một ước tính sơ bộ cho thấy nếu thu nhập từ nông nghiệp giảm 10% thì tỷ lệ nghèo sẽ tăng thêm 2,6 điểm phần trăm ở Tây nguyên và 1,9 điểm phần trăm ở Đồng bằng sông Cửu long và Nam Trung bộ. Nói cách khác, khoảng 760 ngàn người ở 3 khu vực này đang đối mặt với nguy cơ rơi vào diện nghèo.

WB còn ước tính có 2 triệu người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên bị ảnh hưởng trong đợt hạn hán này vì 93% người lao động dân tộc thiểu số hiện làm nông nghiệp và tỷ trọng thu nhập bình quân từ nông nghiệp của người dân tộc thiểu số là rất cao – khoảng 82%.

Mất trên 70% năng suất lúa tại các vùng bị hạn

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, chuyên gia của WB cho rằng, nhiễm mặn là hiện tượng xảy ra theo chu kỳ tại đồng bằng sông Cửu Long, nhưng năm nay hiện tượng này trở nên nghiêm trọng nhất trong vòng 90 năm qua.

Lần đầu tiên ngành nông nghiệp tăng trưởng âm kể từ năm 2005

6 tháng đầu năm 2016, tăng trưởng các khu vực nông, lâm thủy sản giảm điểm. Ngành nông - lâm - thuỷ sản tiếp tục tăng trưởng âm khi giảm tới 0,18%, tương ứng 397.400 tỷ đồng. Nguyên nhân được cho là do sản lượng lúa đông xuân năm nay chỉ đạt 19,4 triệu tấn, giảm mạnh so với cùng kỳ khiến nông nghiệp giảm 0,78%. Thêm vào đó, ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long... gây thiệt hại nặng. Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã ước tính hạn hán, xâm nhập mặn đã gây thiệt hại khoảng 15.000 tỷ đồng cho nền kinh tế Việt Nam. 

Hạn hán và xâm nhập mặn đã bắt đầu sớm hơn 2 tháng so với trước đây, và ăn sâu hơn vào đất liền 50-60 km và đã ảnh hưởng 20-30 km sâu hơn thông thường. Đến cuối tháng 4/2016 có khoảng 40-50% đất canh tác tại đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng. Do vậy, trong giai đoạn 3/2015-3/2016, diện tích canh tác lúa tại đây đã giảm 16,7%.

Tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất của hạn hán và xâm nhập mặn là Cà Mau với diện tích lúa bị ảnh hưởng là 49.000 ha. Vào thời điểm tháng 4/2016 có 11 trong số 13 tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nặng, trong khi đó tình trạng nhiễm mặn vẫn tiếp tục gia tăng. Mức độ tăng mạnh nhất ghi nhận tại các trạm quan trắc tại Bến Tre và Tiền Giang. Trong mùa khô tới, hạn hán và xâm nhập mặn dự kiến sẽ tiến sâu hơn vào đất liền.

Với Tây Nguyên và vùng ven biển Nam Trung Bộ, hạn hán đã ảnh hưởng lên 70% diện tích canh tác. Ước tính có tới 40.000 ha đất lúa tại các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, và Bình Thuận sẽ không có nước tưới và khoảng 31.000 hộ gia đình không có nước sạch.

Theo FAO, dự kiến tình trạng hạn hán sẽ kép dài tới tháng 9/2016, đe dọa 600.000 ha lúa. Các hộ nông dân trồng lúa dự kiến sẽ mất trên 70% năng suất tại các vùng bị hạn. Cục Trồng trọt dự tính sẽ mất khoảng 34.000 tỉ đồng (1,5 tỷ USD) để giải quyết hậu quả hạn hán và xâm nhập mặn.

“Có lẽ con số thiệt hại còn tăng lên nữa. Bộ NNPTNT dự tính xâm nhập mặn khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ đạt mức cao nhất trong vòng 1 thế kỷ. Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đáng kể lên sản lượng nông nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam”- ông Sebastian Eckardt lưu ý.

Bộ NNPTNT dự tính sản lượng lúa sẽ giảm 1,5% xuống còn 44,5 triệu tấn trong năm nay. Nạn hạn hán hiện nay không chỉ tác động tới sản xuất gạo của Việt Nam, mà còn tới cả năng lực xuất khẩu gạo nữa. Xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ giảm 10% xuống mức dưới 6 triệu tấn—mức thấp nhất trong vòng 8 năm. Tương tự, do ảnh hưởng của hạn (và sụt giảm năng suất cây đã trồng lâu năm) xuất khẩu cà phê cũng sẽ giảm 25% năm 2016 xuống còn 1 triệu tấn, mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây./.

 

Mô hình thống kê dự báo năng suất của lúa lai

  • PDF

Mô hình thống kê dự báo năng suất của lúa lai

Dự báo di truyền - một lĩnh vực mới của di truyền định lượng, là một phương pháp tiếp cận thống kê để dự báo giá trị của một đặc điểm quan trọng về kinh tế ở thực vật, chẳng hạn như sản lượng và khả năng kháng bệnh.

 

Phương pháp này được thực hiện nếu các đặc điểm đó là có thể di truyền, bởi nhiều đặc điểm có xu hướng như vậy, và có thể được thực hiện sớm trong vòng đời của cây trồng, giúp giảm chi phí.

Giờ đây, một nhóm nghiên cứu do nhà di truyền học thực vật tại trường Đại học California, Riverside và Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc, đã sử dụng phương pháp này để dự báo hiệu suất của lúa lai (chẳng hạn như năng suất, tốc độ tăng trưởng và khả năng kháng bệnh). Công nghệ mới này có thể cách mạng hóa tiềm năng lai tạo giống trong ngành nông nghiệp.

Nghiên cứu này được đăng tải trực tuyến trên Kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học quốc gia, là một dự án nghiên cứu thí điểm về lúa gạo. Công nghệ này có thể dễ dàng mở rộng áp dụng cho cây trồng khác, chẳng hạn như ngô.

"Lúa và ngô là hai cây trồng chính phụ thuộc vào giống lai". Shizhong Xu, một giáo sư về di truyền học tại Khoa Thực vật học và Khoa học thực vật của trường Đại học California, Riverside, là người cùng dẫn dắt dự án nghiên cứu này cho biết. "Nếu chúng ta có thể xác định nhiều giống lai cho hiệu suất cao ở các cây trồng này và sử dụng các giống lai đó, chúng ta có thể làm tăng đáng kể sản lượng ngũ cốc, đạt được an ninh lương thực toàn cầu".

Dự báo di truyền sử dụng các marker mở rộng bộ gien để dự báo các cá thể riêng biệt hoặc các loài trong tương lai. Các marker là gien hoặc các trình tự ADN với các vị trí đã được biết đến trên một nhiễm sắc thể. Dự báo di truyền khác với dự báo truyền thống ở chỗ nó bỏ qua bước phát hiện marker. Phương pháp này chỉ đơn giản là sử dụng tất cả các marker của toàn bộ hệ gen để dự đoán một đặc điểm.

"Lựa chọn trợ giúp của marker cổ điển chỉ sử dụng các marker có ảnh hưởng lớn đến các đặc điểm", Xu giải thích. "Nó bỏ qua tất cả các marker có ảnh hưởng nhỏ. Nhưng nhiều đặc điểm quan trọng về kinh tế được kiểm soát bởi một số lượng lớn các gien có ảnh hưởng nhỏ. Bởi vì mô hình dự báo gien này nắm bắt tất cả các gien có tác động nhỏ, khả năng dự báo được cải thiện rất nhiều".

Nếu không có dự báo di truyền, các nhà lai tạo sẽ phải phát triển tất cả các dòng lai có thể trong lĩnh vực này để chọn lọc ra dòng lai tốt nhất. Chẳng hạn như, trong 1000 dòng cha mẹ thuần, tổng số dòng lai sẽ là 499.500.

"Không thể phát triển các dòng lai này trên cánh đồng", Xu cho biết. "Tuy nhiên, với công nghệ dự báo gien, chúng ta có thể chỉ phát triển 500 phép lai, sau đó dự báo 499.500 phép lai tiềm năng, và chọn lọc dòng lai tốt nhất dựa trên các giá trị dự báo được của các dòng lai này".

Xu lưu ý rằng, dự báo di truyền đặc biệt hữu ích để dự báo các dòng lai bởi vì giải trình tự ADN của dòng lai được xác định bởi bố mẹ thuần của chúng.

Khi các nhà nghiên cứu kết hợp "tính trội" và "át gien" vào mô hình dự báo của họ, họ phát hiện ra rằng khả năng dự báo đã được cải thiện. Trong di truyền học, tính trội mô tả các hành động phối hợp của hai alen khác nhau (bản sao) của một gien. Chẳng hạn như, nếu một bản sao của một gien có giá trị là 1, một bản có giá trị là 2, hiệu lực kết hợp của hai alen có thể là 4, chỉ ra rằng hai alen không phải là cộng tính. Trong trường hợp này, tính trội đã xảy ra. Át gien liên quan đến bất kỳ loại gien nào của tương tác gien.

"Bằng cách kết hợp tính trội và át gien, chúng tôi đã tính đến tất cả các thông tin có sẵn để dự báo", Xu nói. "Nó dẫn đến một dự báo chính xác hơn về giá trị tính trạng".

Dự báo gien có thể được sử dụng để dự đoán các bệnh di truyền của con người. Ví dụ, nhiều bệnh ung thư có tính di truyền và dự báo gien có thể được thực hiện để dự báo nguy cơ mắc bệnh cho một người.

Xu đã tham gia vào nghiên cứu của Qifa Zhang và học trò của ông là Dan Zhu tại trường Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc.

Tiếp theo, nhóm nghiên cứu do Xu và Zhang dẫn dắt sẽ thiết kế một thử nghiệm thực địa để thực hiện dự báo dòng lai của lúa gạo.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC 

Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano

  • PDF

Phương pháp bền vững để phát triển cây lương thực nhờ các hạt nano 

Các nhà khoa học hiện đang làm việc cần mẫn để chuẩn bị cho sự gia tăng dân số toàn cầu theo dự báo kéo theo nhu cầu về thực phẩm gia tăng trong những thập kỷ tới.

Một nhóm các kỹ sư tại trường Đại học Washington ở St. Louis đã phát hiện ra một phương pháp bền vững để thúc đẩy tăng trưởng của một loại đậu giàu prôtêin bằng cách cải thiện cách thức nó hấp thụ chất dinh dưỡng thiết yếu. Ramesh Raliya - một nhà khoa học nghiên cứu, và Pratim Biswas – Phòng Năng lượng, Môi trường & Công nghệ Hóa học, Khoa Kỹ thuật & Khoa học Ứng dụng, đã phát hiện ra một phương pháp giảm thiểu sử dụng phân bón làm từ phốt pho đá mà vẫn cho thấy những cải thiện trong sự tăng trưởng của cây lương thực bằng cách sử dụng các hạt nano oxit kẽm. Nghiên cứu được công bố ngày 07 tháng 4 năm 2016 trong tạp chí Agricultural and Food Chemistry. Raliya cho biết đây là nghiên cứu đầu tiên chỉ ra phương pháp thu thập phốt pho tự nhiên trong đất bằng cách sử dụng các hạt nano oxit kẽm suốt vòng đời của cây trồng, từ hạt giống đến khi thu hoạch.
 
Cây lương thực cần phốt pho để phát triển, và người nông dân đang sử dụng ngày càng nhiều phân bón thành phần phốt pho vì chúng giúp phát triển các loại cây trồng để nuôi sống dân số thế giới ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, cây chỉ có thể sử dụng khoảng 42% phốt pho được bón vào đất, do đó, phần còn lại sẽ chảy vào các dòng nước, tại đó nó nuôi dưỡng tảo gây ô nhiễm nguồn nước của chúng ta. Ngoài ra, gần 82% phốt pho trên thế giới được sử dụng dưới dạng phân bón, nhưng nó là một nguồn cung hạn chế, Raliya nói. "Nếu người nông dân sử dụng cùng một lượng phốt pho như họ đang sử dụng hiện nay thì nguồn cung của thế giới sẽ bị cạn kiệt trong khoảng 80 năm", Raliya nói. "Hiện đang là thời điểm để thế giới tìm hiểu phương pháp sử dụng phốt pho một cách bền vững hơn". Raliya và các cộng tác viên của mình, bao gồm: Jagadish Chandra Tarafdar tại Viện Nghiên cứu khu vực khô cằn ở Jodhpur, Ấn Độ, đã tạo ra các hạt nano oxit kẽm từ một loại nấm xung quanh gốc của cây trồng, giúp cây trồng huy động và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong đất. Kẽm cũng là một chất dinh dưỡng cần thiết cho cây, vì nó tương tác với ba enzyme thu thập các dạng phức tạp của phốt pho trong đất thành một dạng mà thực vật có thể hấp thụ được. "Do biến đổi khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa hàng ngày đã thay đổi", Raliya nói. "Khi chúng thay đổi, hệ vi sinh trong đất cũng thay đổi theo, và một khi hệ vi sinh bị suy yếu, phốt pho trong đất không thể thu thập được, vì vậy người nông dân phải bón phân nhiều hơn. Mục tiêu của chúng tôi là tăng hoạt động của các enzym gấp vài lần, để chúng tôi có thể thu thập được phốt pho tự nhiên gấp nhiều lần". Khi Raliya và nhóm nghiên cứu áp dụng các hạt nano kẽm vào những chiếc lá của cây đậu xanh, nó đã làm tăng sự hấp thu của phốt pho gần 11% và hoạt động của ba enzyme lên 84 – 108%. Điều đó khiến cho nhu cầu bổ sung thêm phốt pho trên đất giảm đi, Raliya nói. "Khi các hoạt động của enzyme tăng lên, bạn không cần phải sử dụng phốt pho bên ngoài, bởi vì nó đã có trong đất, nhưng nó không ở dạng sẵn có cho cây hấp thụ", ông nói. "Khi chúng tôi sử dụng các hạt nano, nó chuyển các dạng phức tạp của phốt pho sang một dạng sẵn sàng". Đậu xanh là một cây họ đậu được trồng chủ yếu ở Trung Quốc, Đông Nam Á và Ấn Độ, nơi 60% dân số là người ăn chay và sống dựa vào các nguồn prôtêin thực vật.
 
Cây đậu xanh thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau và chi phí trồng trọt phù hợp với người nông dân. Raliya cho biết 45% việc sử dụng phốt pho trên toàn thế giới cho nông nghiệp diễn ra tại Ấn Độ và Trung Quốc. Phần lớn nguồn cung phốt pho ở các nước đang phát triển được nhập khẩu từ Hoa Kỳ và Morocco từ các mỏ phosphate đá. "Chúng tôi hy vọng rằng phương pháp sử dụng các hạt nano oxit kẽm này có thể được triển khai ở các nước đang phát triển, nơi người dân đang sử dụng rất nhiều phốt pho", Raliya nói. "Các nước này phụ thuộc vào nhập khẩu phốt pho từ Hoa Kỳ, nhưng trong tương lai, Hoa Kỳ có thể sẽ phải hỗ trợ cung cấp thực phẩm. Nếu cây trồng này có thể phát triển một cách bền vững hơn, nó sẽ rất hữu ích cho tất cả mọi người".

 

Những dòng/giống lúa ĐTM chịu phèn triển vọng cho vùng Đồng Tháp Mười

  • PDF

Những dòng/giống lúa ĐTM chịu phèn triển vọng cho vùng Đồng Tháp Mười 

Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước và kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu phèn, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt cho vùng Đồng Tháp Mười” từ năm 2012 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu và PTNN Đồng Tháp Mười đã lai tạo, chọn lọc và có được nhiều dòng lúa ĐTM mới phục vụ cho nghiên cứu giống. Đặc biệc, có khoảng 90 dòng thuần ĐTM tốt, triển vọng làm nguồn vật liệu cho các bước nghiên cúu thí nghiệm so sánh hậu kỳ, khảo nghiệm sinh thái.

Đã có 05 giống ĐTM mới được đưa vào khảo nghiệm VCU, DUS, đó là: ĐTM 17 -1, ĐTM 1-122, ĐTM 13-8, ĐTM 4-128, ĐTM 4-23, các giống này có đặc tính cơ bản như ngắn ngày (90–95 ngày), thấp cây, chịu phèn, dạng hình đẹp, gạo thon, dài, trong, mềm cơm, năng suất cao hơn so với giống đối chứng IR 50404 hiện đang trồng phổ biến trong vùng. Đây là những giống lúa triển vọng hứa hẹn đem lại những vụ mùa bội thu cho bà con nông dân vùng Đồng Tháp Mười và được Trung tâm đưa vào kế hoạch xin công nhận giống sản xuất thử và giống quốc gia trong thời gian tới.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC