Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lương Thực

Nghiên cứu về bệnh đạo ôn trên cây lúa chỉ ra cách thức nấm bệnh xâm nhập cây trồng

  • PDF

FOODCROPS. Nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae giết chết và làm giảm sản lượng cây lúa với ước tính làm mất sản lượng gạo đủ để nuôi 60 triệu người mỗi năm. Gạo và lúa mì là hai loại lương thực quan trọng nhất trên toàn thế giới, việc nắm rõ các bệnh này là vô cùng quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.

Nghiên cứu về bệnh đạo ôn trên cây lúa chỉ ra cách thức nấm bệnh xâm nhập cây trồng

Như một kẻ thù tàng hình, bệnh đạo ôn xâm nhập các thửa ruộng lúa trên thế giới, giết chết các cây lúa và cắt giảm sản lượng của một trong những nguồn lương thực quan trọng nhất toàn cầu. Giờ đây, một nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học đã làm sáng tỏ về cách loại nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae xâm nhập các mô thực vật. Phát hiện này là một bước tiến trong việc kiểm soát dịch bệnh ước tính làm mất đi sản lượng gạo đủ để nuôi 60 triệu người mỗi năm.

Nhóm nghiên cứu từ phòng thí nghiệm Halpin tại Đại học Exeter hợp tác với Đại học bang Kansas và Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ sinh học Iwate ở Nhật Bản phát hiện ra rằng, nấm gây bệnh đạo ôn đã phát triển hai hệ thống bài tiết riêng biệt tạo điều kiện cho nấm xâm nhập vào cây lúa. Các kết quả của nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Communications.

Giáo sư sinh học Nick Talbot tại Đại học Exeter cho biết: “Phát hiện này cho thấy có hai cách loại nấm gây bệnh đạo ôn có thể tiết ra các protein xâm nhập vào cây trồng. Đây là một bước tiến lớn trong nghiên cứu về bệnh cây trồng và nghiên cứu này có thể giúp các nhà khoa học đưa ra những chiến lược mới kiểm soát dịch bệnh trên cây trồng đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực. Đây là một dự án hợp tác quốc tế được thực hiện trong hai năm qua”.

Barbara Valent, giáo sư chuyên nghiên cứu về các dịch bệnh thực vật tại Đại học bang Kansas cho biết: “Căn cứ vào kết quả từ công trình nghiên cứu, chúng ta có thể ngăn chặn loại nấm gây bệnh mà không làm hại các loại nấm có lợi khác”.

Các nhà nghiên cứu cho biết, để gây ra các bệnh thực vật, vi sinh vật gây bệnh tiết ra protein vào mô của cây trồng. Các protein này ức chế miễn dịch của thực vật và hỗ trợ sự phát triển của mầm bệnh. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu hệ thống bài tiết khác nhau ở nấm có tác dụng hỗ trợ cuộc xâm nhập của chúng vào cây chủ.

Yasin Dagdas và Yogesh Gupta, hai trong số các tác giả của nghiên cứu, là các nhà khoa học có uy tín tại Đại học Exeter. Bệnh đạo ôn là một mối đe dọa đối với an ninh lương thực toàn cầu và đe dọa sản lượng lúa mì tại Brazil. Bệnh có xu hướng lan rộng trên khắp Nam Mỹ. Gạo và lúa mì là hai loại lương thực quan trọng nhất trên toàn thế giới, việc nắm rõ các bệnh này là vô cùng quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, nấm Magnaporthe oryzae gây bệnh đạo ôn đã phát triển một hệ thống bài tiết tác động vào bên trong tế bào thực vật. Việc xác định cách thức của quá trình này sẽ nâng cao hiểu biết của con người về cách vi sinh vật gây bệnh phát triển và đưa ra các giải pháp quan trọng trong việc kiểm soát bệnh đạo ôn.

FOOD CROPSDẠY VÀ HỌC 

Bảo vệ hạt giống đúng cách có thể cứu sống được cây trồng trên thế giới

  • PDF

Bảo vệ hạt giống đúng cách có thể cứu sống được cây trồng trên thế giới 

Sâu bệnh ngoại lai, phạm vi bị thu hẹp và biến đổi khí hậu hiện đang đe dọa một số loài thực vật quý hiếm và có tầm quan trọng về sinh thái nhất trên toàn thế giới, do đó, các nhà bảo vệ môi trường đã thiết lập một bộ sưu tập hạt giống để lưu giữ lại tại các ngân hàng hạt giống hoặc tại các vườn thực vật với hy vọng giữ được đa dạng di truyền.

Trong nhiều thập kỷ, những bộ sưu tập hạt giống này được hướng dẫn bởi các mô hình đơn giản, cung cấp một cách tiếp cận phù hợp cho lượng hạt thu thập, chẳng hạn như đề xuất lưu giữ 50 mẫu hạt giống không phân biệt kiểu thụ phấn, môi trường sinh trưởng và quy mô quần thể.

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây đã phát hiện ra rằng, chuyển các bộ sưu tập hạt giống sang các loài và điều kiện cụ thể một cách cẩn thận hơn là rất quan trọng để bảo tồn đa dạng thực vật. Một khi hạt giống được lưu lại, chúng có thể được đưa vào trồng tại các địa điểm thích hợp nếu điều kiện thuận lợi.

Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu từ Viện Toán học và Sinh học Tổng hợp Quốc gia và trường Đại học Tennessee đã sử dụng một phương pháp tiếp cận mới gọi là lập kế hoạch dựa trên mô phỏng để thực hiện một số đề xuất lấy mẫu mới, xác nhận rằng một phương pháp tiếp cận thống nhất để gieo lấy mẫu là không hiệu quả.

Đầu tiên, người thu thập mẫu phải chọn các quần thể thực vật của mình từ một khu vực rộng lớn thay vì ở một khu vực giới hạn. Việc lấy mẫu rộng có thể lấy được nhiều gien quý hiếm hơn, lên đến gần 200% so với lấy mẫu trong một khu vực bị hạn chế. Ngoài ra, trong hầu hết các tình huống, việc thu thập từ khoảng 25 cây mẹ/loài với 50 cây có vẻ sẽ lấy được phần lớn các biến dị di truyền. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, đối với nhiều loài, việc thu thập trên 8-10 hạt giống/cây dẫn đến tình trạng chồng chéo cao trong sự đa dạng di truyền và do đó sẽ là một nỗ lực quá mức.

Những quan tâm đang ngày càng gia tăng về nông nghiệp và an ninh lương thực cũng như nhận thức đang tăng lên về tốc độ biến mất nhanh chóng của đa dạng sinh học đã khiến các ngân hàng hạt giống gia tăng bộ sưu tập của mình. Tương tự, các vườn thực vật đã từng một lần tập trung vào giới thiệu các cây trồng hiện cũng đang có sự tăng cường về nhiệm vụ bảo tồn, Sean Hoban - tác giả chính của nghiên cứu và là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại NIMBioS cho biết.

"Cách tiếp cận của chúng tôi có thể được sử dụng để nâng cao chất lượng cho các hướng dẫn thu thập hạt giống, có thể đưa đến các bộ sưu tập hiệu quả hơn, cho phép chúng tôi bảo tồn đa dạng của các loài thực vật trên thế giới. Bộ sưu tập này có thể mang lại lợi ích cho các dự án phục hồi hệ sinh thái trong tương lai cũng như cải thiện các nỗ lực trong nông nghiệp và lâm nghiệp”, Hoban cho biết.

Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Biological Conservation

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Tranh cãi toàn cầu quanh Gạo vàng

  • PDF

Tranh cãi toàn cầu quanh gạo vàng
XH - Tiasang, theo IRRI và NPR

Tranh cãi về “Gạo vàng” (Golden Rice), loại gạo được biến đổi gene để chứa beta-carotene là tiền tố của vitamin A, bắt đầu từ một cuộc thảo luận vào năm 1984, khi ngành công nghệ sinh học còn trong giai đoạn trứng nước, chưa hề có ngũ cốc biến đổi gene. Các nhà khoa học chỉ mới cố tìm kiếm cách phát hiện các gene và di chuyển gene giữa các sinh thể khác nhau.
 
Một số người làm việc tại Quỹ Rockefeller nghĩ rằng những kỹ thuật này may ra có thể giúp cho nông dân ở các nước nghèo một vụ thu hoạch lớn hơn. Vì vậy, họ tổ chức một cuộc họp tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines để thảo luận về ý tưởng này.

Gary Toenniessen, người phụ trách chương trình công nghệ sinh học của Quỹ Rockefeller vào thời điểm đó, kể lại, rất nhiều người tham gia cuộc họp đều rất hoài nghi về công nghệ sinh học. Họ là những nhà chọn giống, bậc thầy về cải tạo cây lúa theo cách truyền thống.

“Một tối nọ, sau phiên họp chính thức, một nhóm các nhà nhân giống tụ tập nhau tại nhà khách IRRI, nhâm nhi một vài cốc bia,” Toenniessen kể. Sau khi nghe chán những lời chê bai, hoài nghi, Toenniessen bèn lên tiếng rằng giả như công nghệ này tiến triển được, và nếu người ta có thể cấy bất kỳ gene nào người ta muốn vào gạo, thì “Các ông sẽ thích cấy gene gì vào gạo?” Người thì nói gene chống bệnh, kẻ thì đề nghị gene chịu hạn. Họ hỏi đến ý kiến của nhà lai tạo Peter Jennings, một nhân vật huyền thoại trong nhóm tạo giống mới. Ông từng tạo ra giống lúa IR8, có lẽ là giống lúa nổi tiếng nhất trong lịch sử trồng lúa, tạo ra cuộc cách mạng xanh trong trồng lúa nước châu Á trong những năm 1960. Jennings đề xuất: “Gạo ruột vàng”. Toenniessen nhớ lại: “Ý kiến đó làm tất cả mọi người ngạc nhiên. Vì vậy, tôi hỏi ngay tại sao?”.

Jennings giải thích rằng ruột gạo màu vàng là dấu hiệu sự hiện diện của beta-carotene – tiền tố của vitamin A. Jennings cho biết, ông đã mất nhiều năm để tìm kiếm giống gạo này nhưng thất bại. Loại gạo trắng thông thường không có chất dinh dưỡng quan trọng đó, và đó là một vấn đề lớn.

“Khi trẻ em cai sữa, họ thường thay sữa bằng cháo gạo. Và nếu thiếu beta-carotene hoặc vitamin A trong thời gian cai sữa, thì trẻ sẽ bị ảnh hưởng suốt đời.” Toenniessen kể lại và thừa nhận đã bị thuyết phục. Quỹ Rockefeller bắt đầu một chương trình nhằm mục đích tạo ra, thông qua công nghệ, những gì Jennings đã không thể tìm thấy trong tự nhiên. Một mạng lưới toàn cầu của các nhà khoa học tại nhiều viện nghiên cứu phi lợi nhuận cũng khởi sự với đề tài này.

Bước đột phá thực sự đầu tiên là vào năm 1999. Các nhà khoa học ở Thụy Sĩ đã chèn được hai gene để lúa tạo ra được beta-carotene. Một vài năm sau, các nhà nghiên cứu khác đã tạo ra một phiên bản mới còn tốt hơn nữa.

Chỉ cần ăn một bát cháo Gạo vàng này là đủ 60% nhu cầu hằng ngày của trẻ em về vitamin A.

Toenniessen, nay là giám đốc quản lý Quỹ Rockefeller nói: “Đó là một sản phẩm tuyệt vời! Và hơn nữa, nó rất đẹp. Nó trông vàng óng giống như nghệ tây.“ Tuy nhiên không phải ai cũng đồng tình như vậy. Chẳng hạn, chỉ một vài tháng trước đây đã xảy ra một sự kiện ầm ĩ. Nguyên do, một số nhà nghiên cứu do Mỹ tài trợ đã công bố kết quả của một nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy cơ thể của con người dễ dàng hấp thụ beta-carotene trong cơm Gạo vàng. Kết quả này thu được từ những thí nghiệm của họ trên trẻ em Trung Quốc. Thông tin này tưởng rằng sẽ được đón nhận một cách nồng nhiệt. Thế nhưng, các nhóm môi trường Greenpeace (Hòa bình Xanh) ngay lập tức lên án, đây là một vụ bê bối.

“Mọi người đều tức giận, thực sự tức giận về những thử nghiệm này. Họ đã sử dụng trẻ em Trung Quốc như những con lợn sữa!“, ông Wang Jing, một nhà vận động cho tổ chức Hòa bình Xanh của Trung Quốc tuyên bố. Ngay lập tức Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng. Họ trừng phạt ba nhà khoa học Trung Quốc là đồng tác giả của nghiên cứu, đuổi việc ngay lập tức ba người này.

Trong một thông báo, nhà chức trách Trung Quốc nói rằng các nhà nghiên cứu đã không làm đầy đủ thủ tục để được cấp phép trước khi thực hiện thử nghiệm nghiên cứu. Hơn nữa, các nhà khoa học chỉ nói với các em và cha mẹ của các em, rằng đây là một loại gạo đặc biệt có hàm lượng beta-carotene cao, nhưng họ không nói rằng gạo này đã được biến đổi gene.

Ông Wang lên án: “Họ đã che giấu sự thật rằng Gạo vàng là một loại ngũ cốc biến đổi gene”.

Một số người cho rằng đây chỉ là vấn đề của các ý kiến khác nhau về sản phẩm biến đổi gene trên thế giới mà thôi. Nhưng sự thật, lý do mà Gạo vàng trở thành nguyên do tranh cãi ầm ĩ nhất thế giới về ngũ cốc biến đổi gene thời gian gần đây lại nằm ở chỗ khác. Đó là chuyện hạt Gạo vàng sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho ai.

Bà Neth Dano đang làm việc cho Tập đoàn ETC ở Philippines, đại diện cho nhóm chủ trang trại nhỏ, cho rằng mục đích chính của ngũ cốc biến đổi gene là để kiếm lời chứ không phải để trợ giúp con người.

“Một nhóm công ty đã gặt hái được hàng tỷ USD lợi nhuận nhờ bán hạt giống biến đổi gene và thuốc bảo vệ thực vật độc quyền ở các nước đang phát triển… Tôi không có ý nói tạo ra Gạo vàng chỉ để tuyên truyền trong công chúng. Phải thừa nhận là Gạo vàng nhằm mục đích và thực sự hỗ trợ được cho những người bị suy dinh dưỡng – nhưng đó không phải là một cách hỗ trợ tốt nhất. Nó tốn kém và ít hiệu quả hơn so với các chương trình dinh dưỡng truyền thống. Gạo này vì vậy hiện nay chỉ có tác dụng chủ yếu là để đánh bóng hình ảnh của công nghệ sinh học mà thôi,” bà Neth Dano khẳng định.

Bà Dano lo lắng cũng có lý của nó, vì gạo là loại ngũ cốc có sản lượng lớn nhất trên thế giới, và hiển nhiên tác động và lợi nhuận mang lại là khổng lồ nếu ai khống chế được hạt giống.

Nói cho cùng thì có hai động cơ thúc đẩy cho nỗ lực tạo ra Gạo vàng: một là để Hỗ trợ nhân loại và hai là để tạo động lực phát triển công nghệ sinh học. Nhìn vào tiểu sử của người đàn ông hiện đang lãnh đạo dự án tạo ra Gạo vàng chúng ta sẽ thấy rõ sự kết hợp cả hai động lực. Đó là TS Gerard Barry, người gốc Ireland, đã dành hơn 20 năm tại St. Louis làm việc cho Monsanto, công ty đi tiên phong trong các cây trồng biến đổi gene. Ông là tác giả số một của những bằng sáng chế có giá trị nhất của Monsanto. Ông đã tìm ra gene cây trồng chống chịu với thuốc diệt cỏ. Gene này đã được cấy vào ngô, đậu tương và bông và đang được gieo trồng trên hàng trăm triệu hecta. Trên đường tìm tòi, Barry cũng để ý đến cây lúa.

Mười năm trước, Barry đã rời bỏ Công ty Monsanto và chuyển đến IRRI. Công việc của ông bây giờ là chăm sóc việc đưa Gạo vàng từ phòng thí nghiệm ra cánh đồng đại trà. Nhưng trước khi nông dân có thể chạm tay vào Gạo vàng, các chính phủ ở mỗi quốc gia cần phải chuẩn thuận rằng nó an toàn. Cuối năm nay, mạng lưới quốc tế các nhà nghiên cứu Gạo vàng sẽ đệ đơn xin chấp thuận của Chính phủ Philippines, sau đó đến lượt Bangladesh.

Tuy nhiên, đó chỉ mới là bước đầu tiên. Họ sẽ phải tung ra một chiến dịch tiếp thị cho Gạo vàng, và chiến dịch tiếp thị này cần phải đến được những người nghèo nhất trong những ngôi làng xa xôi nhất.

“Gạo vàng tốt cho tất cả mọi người, nhưng có một số người [người nghèo] thì cần nó hơn,” Barry nói. “Công việc của chúng tôi là phải bảo đảm rằng những người đã tiếp xúc với Gạo vàng hiểu được giá trị của Gạo vàng, và yêu cầu phải có Gạo vàng”.

Cuộc tranh cãi chung quanh Gạo vàng sẽ còn rất gay gắt, vì cho đến nay những giống chuyển gene trồng đại trà chủ yếu chỉ dành cho chăn nuôi và cho công nghiệp. Bây giờ mới động đến lúa gạo, thức ăn chủ lực của con người. Chưa biết kết quả sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ xem!

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ giảm tốc độ gia tăng sản lượng cây trồng trong 20 năm tới

  • PDF

Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ giảm tốc độ gia tăng sản lượng cây trồng trong 20 năm tới 

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khả năng biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng đến nguồn cung lương thực. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này đã bỏ qua tác động kết hợp giữa nhiệt độ tăng và ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm ô-zôn, tác nhân phá hoại cây trồng.

Một nghiên cứu mới với sự tham gia của các nhà nghiên cứu tại MIT cho thấy rằng, các tác động qua lại này có thể mang ý nghĩa lớn, gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách tính toán tác động của cả sự nóng lên toàn cầu và ô nhiễm không khí trong đánh giá an ninh lương thực.

Nghiên cứu quan sát chi tiết sản lượng của bốn loại cây lương thực hàng đầu thế giới là gạo, lúa mỳ, ngô và đậu tương, chiếm hơn một nửa lượng ca-lo con người tiêu thụ trên toàn thế giới. Nghiên cứu dự đoán tác động sẽ thay đổi đáng kể từ khu vực này đến khu vực khác, và một số cây trồng bị ảnh hưởng nặng nề bởi một hoặc nhiều yếu tố khác. Ví dụ, lúa mỳ rất nhạy cảm khi tiếp xúc với ô-zôn, trong khi ngô bị ảnh hưởng xấu bởi nhiệt độ tăng.

Nghiên cứu được thực hiện bởi Colette Heald, Phó giáo sư kỹ thuật dân dụng và môi trường (CEE) tại MIT, Tiến sĩ Amos Tai của CEE và Maria van Martin tại trường Đại học bang Colorado. Công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí Nature Climate Change tuần này.

Heald giải thích rằng, mặc dù biết rằng cả nhiệt độ tăng và ô nhiễm ô-zôn có thể phá hủy cây trồng và làm giảm năng suất, song chưa có nhà nghiên cứu nào kết hợp hai yếu tố lại với nhau. Và trong khi vấn đề gia tăng nhiệt độ được thảo luận rộng rãi, thì tác động của chất lượng không khí đối với cây trồng ít được nhắc đến. Nghiên cứu dự đoán rằng tác động sẽ biến đổi theo khu vực. Ở Mỹ, các quy định chặt chẽ hơn về chất lượng nước sẽ dẫn đến sụt giảm mạnh tình trạng ô nhiễm ô-zôn, giảm nhẹ tác động đối với cây trồng. Tuy nhiên, ở các khu vực khác, kết quả sẽ phụ thuộc vào các chính sách chất lượng không khí.

Nhìn chung, nếu đặt tất cả các yếu tố ngang bằng nhau, khí hậu nóng lên có thể làm giảm năng suất cây trồng trên thế giới khoảng 10% vào năm 2050. Song, ảnh hưởng của ô nhiễm ô-zôn có phần phức tạp hơn, một số cây trồng bị ảnh hưởng mạnh hơn so với các cây khác, điều này cho thấy các biện pháp kiểm soát ô nhiễm có thể đóng vai trò lớn trong việc xác định kết quả. Ô nhiễm ô-zôn cũng có thể được xác định một cách khéo léo, bởi sự phá hủy của nó có thể tương tự các chứng bệnh ở cây khác, làm xuất hiện đốm vàng trên lá và bạc màu.

Sự suy giảm năng suất triển vọng cũng đáng lo ngại. Thế giới được dự đoán cần nhiều hơn 50% sản lượng lương thực vào năm 2050, do tăng trưởng dân số và xu hướng thay đổi chế độ ăn uống ở các nước đang phát triển. Do đó, bất kỳ sự suy giảm năng suất nào đều ảnh hưởng đến nhu cầu tăng sản lượng bằng cách lựa chọn cây trồng và các phương pháp canh tác cải tiến, cũng như mở rộng đất trồng trọt.

Mặc dù nhiệt độ và ô-zôn có thể phá hủy cây trồng một cách độc lập, các yếu tố này cũng tương tác với nhau. Ví dụ, nhiệt độ ấm lên làm tăng sản lượng ô-zôn từ các phản ứng dưới ánh nắng mặt trời của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và các ô-xít ni-tơ. Nhờ các phản ứng này, nhóm nghiên cứu đã phát hiện 46% sự phá hủy ở cây đậu tương trước đây được cho là do nhiệt độ ấm lên thực chất là do ô-zôn tăng lên.

Trong một số kịch bản, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, các biện pháp kiểm soát chất lượng có thể tạo ra một vết lõm hơn trong dự đoán sản lượng giảm do biến đổi khí hậu. Ví dụ, mặc dù sản lượng lương thực toàn cầu dự đoán giảm 15% trong một kịch bản, giảm khí thải nhiều hơn dự đoán trong một kịch bản thay thế giảm tới 9%.

Ô nhiễm không khí thậm chí còn là yếu tố quyết định gây ra tình trạng suy dinh dưỡng trong thế giới đang phát triển, các nhà nghiên cứu nhận thấy: trong kịch bản chất lượng không khí bi quan hơn, tỉ lệ suy dinh dưỡng có thể tăng từ 18 - 27% vào năm 2050, tăng gần 50%; trong kịch bản lạc quan hơn, tỉ lệ này có thể vẫn tăng, song mức độ tăng sẽ giảm đi một nửa.

Heald cho biết, sản xuất nông nghiệp rất nhạy cảm với ô nhiễm ô-zôn. Nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc cân nhắc về hàm ý của các quy định chất lượng nước. Ô-zôn là thứ mà chúng ta hiểu căn nguyên của nó và các bước cần đưa ra để cải thiện chất lượng nước.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Tháo gỡ nghịch lý trong nông nghiệp

  • PDF
Tháo gỡ nghịch lý trong nông nghiệp
Theo Tia sáng

alt

Cho rằng các khâu mắt xích trong nền sản xuất nông nghiệp đều "có vấn đề", từ chính sách, người nông dân, doanh nghiệp đến thị trường xuất khẩu, GS Võ Tòng Xuân bàn giải pháp tái cấu trúc lại.

Cầm cố gạo

Giáo sư Võ Tòng Xuân nói:

Tôi xin kể lại câu chuyện này. Cách đây khoảng 15 năm, có một công ty kinh doanh gạo của Mỹ hợp tác với một công ty kinh doanh lương thực cấp Trung ương làm gạo xuất khẩu. Họ đặt mấy điểm thu mua ở mấy vùng nhiều lúa, mua trực tiếp của nông dân. Nông dân mang lúa tươi đến, có giấy chứng nhận là lúa IR 64 họ mua giá cao hơn các doanh nghiệp nhà nước ta mua. Mua gạo xong họ đem về sấy. Họ xuất được giá 350 USD/tấn trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ xuất được 180 USD/tấn.

Nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp nước ngoài đang "giết" chết doanh nghiệp Việt Nam ngay trên sân nhà. Ông chủ tịch tỉnh lúc bấy giờ hỏi ý kiến tôi, tôi nói: "Phải thưởng huân chương cho họ vì họ mua cho nông dân giá cao!". Ông chủ tịch có vẻ băn khoăn vì nhiều doanh nghiệp đề nghị không cho mua trực tiếp, phải mua qua doanh nghiệp Việt Nam. Một lúc sau vị chủ tịch hỏi, có thể để doanh nghiệp mình bán giá cao được không. Tôi trả lời thẳng: "Còn lâu doanh nghiệp Việt Nam mới bán được giá như họ bởi họ có thương hiệu, tên tuổi, làm chặt chẽ chứ không như ta làm".

Cho đến nay đã 15 năm rồi nhưng chưa có doanh nghiệp xuất khẩu gạo nào của ta ý thức được tầm quan trọng của gạo xuất khẩu là phải rặt, tức chỉ một loại giống!

Giống nào cũng vậy, nếu được làm tốt, bảo quản tốt, xay ra hạt nguyên sẽ có giá cao!

Để đạt được chất lượng gạo như giáo sư vừa nói, ta cần phải thay đổi như thế nào?

Theo tôi, dứt khoát không thể sử dụng thương lái như bấy lâu nay làm trung gian mua lúa của nông dân cung ứng cho doanh nghiệp. Nguyên nhân là thương lái không thể bảo quản lúa đúng tiêu chuẩn từ đồng ruộng về tới kho của công ty.

Ở Thái Lan hoàn toàn không có tầng lớp thương lái như ở ta. Ở các tỉnh trồng lúa, Bộ Thương mại Thái có mạng lưới kho rất lớn, phân bổ đều. Các kho này được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật để đảm bảo giữ chất lượng lúa để vào. Nông dân trước khi vào vụ sản xuất, phải khai báo giống với nhà nước và được chấp nhận mới làm. Đến kỳ  thu hoạch, nông dân đem lúa nhập vào kho kèm theo chứng nhận giống. Quản lý kho đại diện cho nhà nước sẽ xuất cho ngân phiếu trị giá tương đương số lượng lúa gửi vào. Vậy là nông dân có tiền xài. Nếu sau này giá lúa lên, sẽ được hưởng thêm. Phần lớn giá sẽ lên vì thời điểm thu hoạch tập trung, cung lớn nên giá sẽ giảm.

Nhà nước sẽ bán lúa trong kho cho các công ty xuất khẩu gạo nếu họ mua giá cao thông qua đấu thầu.

Chính sách này gọi là "cầm cố gạo" (Mortgage) rất thuận lợi cho nông dân.

Nhiều công ty xuất khẩu gạo của Thái rất 'khôn', họ tổ chức vùng nguyên liệu và có kho. Nhưng nông dân vẫn khoái "gửi" vào kho của nhà nước hơn.

Chuyên môn hóa theo chuỗi giá trị

Ở ta, quan hệ doanh nghiệp xuất khẩu gạo và nông dân giống như 2 người đắp chung tấm chăn hẹp. Năm nào giá thị trường tốt, nông dân còn được "đắp" một chút; năm nào khó khăn, nông dân chẳng còn gì để "đắp". Theo giáo sư, phải tổ chức lại như thế nào để không còn "kẻ đắp chăn", kẻ kia phải "chịu lạnh lùng" mãi thế này, mặc dù Chính phủ đã có Quyết định "liên kết 4 nhà" 5 năm nay rồi?

Quyết định 80 của Chính phủ về liên kết 4 nhà chưa xử lý được căn cơ nên chưa được 2 bên nông dân và doanh nghiệp tôn trọng. Khi giá lúa cao, ông nông dân bán mất cho ai trả giá cao. Còn khi giá thấp, ông doanh nghiệp bỏ mặc nông dân, tìm chỗ mua rẻ hơn. Chẳng có gì là "liên" là "kết" cả.

Cần phải để doanh nghiệp và nông dân vào cùng chuỗi giá trị. Doanh nghiệp căn cứ vào thị trường và loại gạo, phải tổ chức cho nông dân suất xuất. Trong quá trình nông dân sản xuất, doanh nghiệp cung ứng phân, thuốc trừ sâu. Các nhà khoa học tham gia huấn luyện, đào tạo nông dân theo quy trình GAP. Quy trình GAP sẽ giúp cho nông dân dùng ít thuốc, phân bón nhưng cho năng suất cao hơn.

Sản phẩm thu hoạch, doanh nghiệp chịu trách nhiệm đưa xà lan, ghe tàu vận chuyển về kho để sấy theo đúng phương pháp. Nhờ vậy, tỷ lệ gạo nguyên sẽ cao hơn nhiều. Thông thường tỷ lệ gạo nguyên cao hơn 1% thì tiền bán cao hơn 5%!


Lâu nay tỷ lệ lúa xay ra gạo chỉ 50%. Nhưng qua trình như trên tỷ lệ gạo xay ra đạt tới 66%, mức chênh lệch rất lớn.


Như vậy, mối liên kết này rất chặt chẽ, cả hai cùng có lợi, chứ không còn bên này ép bên kia. Nhờ tiết giảm được chi phí rất nhiều, tăng hiệu quả khâu chế biến nên hiệu quả cuối cùng cao hơn nhiều lắm.


Xin được ngắt lời giáo sư, mô hình "chuỗi liên kết" giáo sư vừa nói là mới nghiên cứu được, đang ở cấp độ lý thuyết hay đã...

Đã thực hiện ở nhiều nơi rồi chớ! Những con số tôi nêu ra ở trên là con số căn cứ vào kết quả mới áp dụng xong ở vài nơi rồi. Ở đây tôi chỉ nói vắn tắt thôi chứ đi sâu vào còn nhiều nội dung lắm. Nhưng, tôi xin khẳng định lại, phải để vào "chuỗi giá trị" như vậy thì thực sự mới có liên kết chặt chẽ và công bằng được.

Về vấn đề an ninh lương thực, theo giáo sư nước ta có cần phải giữ 3,8 triệu ha trồng lúa như hiện nay để rồi hàng năm phải vất vả bán 7 - 8 triệu tấn gạo mà nông dân chẳng được lợi gì như năm nay?

Về mặt an ninh lương thực thì hoàn toàn yên tâm, chẳng có vấn đề gì. Chỉ sợ mấy ông doanh nghiệp đầu cơ như hồi năm 2008 gây sốt gần cả tháng thôi. Hàng năm ta sản xuất ra dư thừa xuất khẩu cả 7 - 8 triệu tấn mà cứ "la làng" là "an ninh lương thực" là không thuyết phục đâu!

Vậy sao không rút bớt diện tích để trồng cây gì khác có hiểu quả hơn trồng lúa? Giáo sư có nghĩ đến kịch bản như vậy không?

Tôi cũng suy nghĩ và tính toán rồi. Theo tôi, ở miền Bắc sản xuất lúa gạo chi phí cao, chất lượng không bằng miền Nam, nên chăng rút bớt diện tích trồng lúa ở miền Bắc chuyển qua trồng khoai tây! Sản lượng gạo thiếu thì điều chuyển từ miền Nam ra.

Ta đang có giống khoai tây rất tốt, ăn ngon. Khoai tây ở Việt Nam ta khác với bên Âu Mỹ. Bên xứ họ vụ khoai tây kết thúc vào khoảng tháng 9 tháng 10 trước khi mùa đông băng tuyết đến. Họ phải trữ khoai tây trong tủ lạnh để dùng 4 - 5 tháng. Miền Bắc nước ta trồng được vụ đông, thu hoạch xong ta bán cho rất nhiều nước đang bị băng tuyết che phủ. Khoai tây của ta tươi, chất lượng cao, ăn ngon.

Vấn đề là Nhà nước phải giao cho cơ quan có trách nhiệm khảo sát, xác định thị trường, tìm được khách hàng rồi về tổ chức cho bà con nông dân sản xuất khoai tây. Tôi nghĩ, làm được vậy thì người trồng khoai tây cũng có lợi tức cao mà người trồng lúa, người nông dân cũng có lợi tức cao!


Xin cảm ơn Giáo sư!

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Thêm bằng chứng về tình trạng tăng nhiệt toàn cầu

  • PDF

Thêm bằng chứng về tình trạng tăng nhiệt toàn cầu 

Cơ quan Khí tượng Nhật Bản, NASA, Đài Thiên văn Mauna của Mỹ đã nêu thêm bằng chứng khoa học về tình trạng tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu. Theo Cơ quan Khí tượng Nhật Bản, nhiệt độ trung bình toàn cầu trong tháng 4, tháng 5 và tháng 6/2014 là cao nhất kể từ khi dữ liệu chính thức được ghi lại vào năm 1891.

Dữ liệu của cơ quan này cho biết nhiệt độ quý II/2014 ấm hơn mức trung bình của toàn bộ thế kỷ 20 khoảng 0,68 độ C.

Trong khi đó, Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) sử dụng một phương pháp khác để tính toán nhiệt độ trung bình và cũng cho kết quả gần như vậy.

Còn Đài Thiên văn Mauna Loa thuộc Cục Khí quyển và Đại dương Mỹ cho biết mức carbon dioxide (CO2) trung bình hàng tháng trong bầu khí quyển của trái đất đã đạt tới 400 phần triệu trong quý II/2014, là mức cao nhất trong 800.000 năm qua.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Viện lúa quốc tế IRRI và giải pháp giống lúa mới

  • PDF

FOODCROPS. Đi tìm giải pháp hiệu quả cho thời gian, đó là những gì mà các chuyên gia và nhà nghiên cứu ở viện lúa quốc tế IRRI đang làm khi mà thách thức từ điều kiện thời tiết đang dần trở nên khắc nghiệt hơn. Gene Sub1 sẽ giúp cây lúa ngưng tăng trưởng để có thể cầm cự đến 19 ngày trong điều kiện ngập hay với gen Saltol thì khả năng chống mặn thời kỳ đầu tăng trưởng của cây lúa sẽ được cải thiện và tất cả điều đó cũng chỉ là một trong những giải pháp. Việc các giống lúa có khả năng kép hay giải pháp giống lúa “3 trong 1” đang trở thành một trong những mục tiêu theo đuổi của họ hiện nay. 

alt 

Đi tìm giống lúa “3 chống”

Một giống lúa có khả năng thích ứng với mọi điều kiện khí hậu khắc nghiệt như hạn hán, ngập lụt, nhiễm mặn... là thách thức đang được các nhà nghiên cứu ở Viện Lúa quốc tế (IRRI) tại Philippines tập trung nghiên cứu.

Dưới mái nhà kính có độ ẩm được kiểm soát chặt chẽ, Glenn Gregorio - chuyên gia nghiên cứu của IRRI - đang cúi gập người trên một giá đỡ có nhiều ô như tổ ong. Ở mỗi ô trong số 86 ô tổ ong ngập trong nước mặn này là hai hạt lúa đã nảy mầm. Ngọn những thân non mạnh khỏe thì có màu xanh, còn ngọn những thân non khác lại có màu vàng úa.

Lúc này nhóm nghiên cứu của ông đang thử nghiệm nhiều giống lúa chống mặn, như giống lúa FL 478 đang cho ngọn màu xanh, chịu mặn, có thể được chọn để gieo trồng đại trà ở Philippines. “Ở đây, thời tiết và độ ẩm là lý tưởng cho cây lúa. Không hề có bệnh hay sâu rầy” - nhà nghiên cứu này cho biết. Ông đã làm việc tại IRRI từ 1/4 thế kỷ qua để tìm kiếm những giống lúa chống mặn. “Nếu cây lúa chết thì đó chính là do bị nhiễm mặn”.

Nhiễm mặn, khô hạn, ngập úng, thời tiết khắc nghiệt... Đúng là đang có nhiều vấn đề mà các nhà nghiên cứu ở IRRI phải đối phó do sự thay đổi khí hậu gây ra cho cây lúa. Việc tìm ra những giống lúa có khả năng thích nghi với môi trường thời tiết đang biến đổi đã trở thành một trong những trọng tâm nghiên cứu của IRRI kể từ khi được thành lập vào năm 1960 tại Los Banos, cách Manila khoảng 63km về phía đông nam.

Viện nghiên cứu lúa này, nơi có đến cả trăm nhà nghiên cứu thuộc đủ mọi quốc tịch khác nhau đang làm việc, là một trong số 15 trung tâm nghiên cứu dưới sự phối hợp của nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế.

61 triệu ha gieo trồng bị đe dọa ở châu Á

Lúa gạo là thực phẩm cơ bản cho hơn 3 tỉ người ở châu Á. “Vậy mà chỉ riêng ở Nam Á và Đông Á đã có đến 23 triệu ha đất trồng lúa bị hạn hán, 22 triệu ha bị ngập lụt và 16 triệu ha đất bị nhiễm mặn đe dọa” - ông Abdelbagi Ismail, người phụ trách chương trình nghiên cứu của IRRI về giống lúa có khả năng chịu ngập do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ, cảnh báo. “Cần phải nhanh chóng có câu trả lời trước tình hình biến đổi khí hậu hiện nay” - nhà nghiên cứu người Sudan này bức xúc.

Khi bị ngập hoàn toàn dưới nước, cây lúa sẽ tự tăng tốc tăng trưởng bằng cách kéo dài thân và lá để tìm cách tiếp xúc với khí trời, bởi nếu không thể thì lúa sẽ chết sau khoảng 15 ngày. Trừ phi nó được cấy loại gen Sub1, một loại gen được phát hiện vào năm 1996 ở một số giống lúa cũ. “Trong trường hợp bị ngập úng, gene Sub1 sẽ giúp cây lúa ngưng tăng trưởng để có thể cầm cự đến 19 ngày - ông Abdelbagi giải thích và chỉ vào những hình ảnh một mảnh đất trồng lúa bị ngập lụt tàn phá nặng nề ở Ấn Độ bên cạnh một mảnh đất khác xanh tốt được trồng giống lúa chống ngập - Ngay khi nước lũ rút, tác động của gene này cũng kết thúc và cây lúa tăng trưởng trở lại”.

Nhờ những kỹ thuật phân tích lai tạo và chọn gene bằng phương pháp sinh học, chỉ trong vài năm qua IRRI đã có thể đưa ra nhiều giống lúa chống ngập được cấy gene Sub 1. Giống lúa Swarma Sub 1 được phân phối khắp Ấn Độ từ năm 2009 và đã có hơn 3 triệu nông dân nước này chọn gieo trồng, hơn 1 triệu ở Bangladesh. Giống lúa này dù là trong môi trường bị ngập úng vẫn cho năng suất thu hoạch 1-3 tấn/ha.

Phát triển giống lúa “3 trong 1”

Dù không là hiện tượng dễ nhìn thấy như ngập lụt, song ngập mặn do việc khai thác quá mức các tầng nước ngầm hay do mực nước biển dâng cao cũng đang gây ra những thiệt hại khủng khiếp không kém đối với lúa. Lần này, các nhà nghiên cứu ở IRRI đang tìm cách cấy một loại gen chống mặn, có tên là Saltol, vào giống lúa địa phương của Ấn Độ.

Các loại giống chống mặn được phát triển ở IRRI hiện còn trong giai đoạn thử nghiệm, và gene Saltol mới chỉ có khả năng bảo vệ cây trồng ở thời kỳ đầu tăng trưởng, nhưng ông Glenn Gregorio rất hi vọng khi “những thử nghiệm được thực hiện ở Hàn Quốc đang cho thấy việc trồng các giống lúa này thậm chí còn cho phép khử mặn, ít ra là một phần, đất trồng”.

Các nhóm nghiên cứu của IRRI cũng đưa ra nhiều giống lúa chống hạn. “Thế nhưng, các giống lúa này hiện còn cho năng suất khá thấp - nhà nghiên cứu Ấn Độ B.P. Mallikarjuna Swarny nhìn nhận - Mục tiêu của chúng tôi là tìm cách kích hoạt loại gene chống hạn này trong các giống lúa hiện đã được cấy gen để cải thiện hơn về mặt năng suất”. Các nhà nghiên cứu đang tạo ra những điều kiện khô hạn khắc nghiệt trên một số mảnh đất trong số 252ha của IRRI.

Trong khi đó, nhà nghiên cứu Glenn Gregorio đang lập nên những “phòng tra tấn” như cách ông mô tả là nhận chìm cây lúa 10 ngày trong nước mặn. “Đây là giống lúa được gọi là lúa sóng thần” - nhà nghiên cứu Philippines này hóm hỉnh. Ông cũng là cha đẻ khái niệm “lúa tạp chủng” có khả năng chống hạn và mặn. Các nhà nghiên cứu như ông đang mong muốn phát triển các giống lúa có khả năng chống lại cùng lúc nhiều điều kiện khắc nghiệt về thời tiết. “Ở Bangladesh chẳng hạn, nông dân có thể phải đối mặt với nạn hạn hán, ngập lụt và nhiễm mặn xảy ra trong cùng một vụ mùa - nhà nghiên cứu Glenn Gregorio nói - Họ đòi chúng tôi phải có câu trả lời thích hợp”.

Các giống lúa có khả năng kép - vừa chịu mặn vừa chịu ngập hoặc vừa chịu hạn vừa chịu ngập tốt - đã ra đời trong năm 2012 trong phòng thí nghiệm của IRRI. “Với những công cụ mà chúng tôi hiện có, chúng ta vẫn có thể mơ về một giống lúa “3 trong 1”, dù rằng một số người còn hoài nghi và nghĩ rằng giống lúa lý tưởng ấy không thể tồn tại” - ông Glenn Gregorio khẳng định.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Cảm biến nông nghiệp: cải thiện cây trồng, nuôi sống thế giới

  • PDF

 Cảm biến nông nghiệp: cải thiện cây trồng, nuôi sống thế giới

Việc thu hoạch sẽ phải mở rộng để nuôi sống dân số thế giới ngày càng tăng trong những thập kỷ tiếp theo. Để đạt được mục tiêu mà không tăng diện tích canh tác thì cần phải có các loại cây trồng năng suất cao và nhiều nhà nghiên cứu đang sử dụng các bộ cảm biến để chọn cây trồng tối ưu theo loại đất và thời tiết.

Trong lai tạo và chọn giống cây trồng theo phương pháp kiểu hình, các nhà nghiên cứu ngày càng dựa vào cảm biến. Ví dụ, các nhà khoa học đã thiết lập một phòng thí nghiệm ngoài trời thực nghiệm tại trường Đại học Klein Altendorf, thành phố Bonn - Đức.

Dựa vào cảm biến laser, máy quét đồng ruộng sẽ lưu giữ hình ảnh ba chiều (3D) của cánh đồng giúp xác định những điều kiện để cây trồng tăng trưởng tốt. Nhờ hình ảnh ba chiều thu thập được, các nhà nghiên cứu tự động tính được mức độ tăng trưởng của cây trồng; sinh khối có thể ước tính từ chiều cao của cây trồng và được kiểm tra chéo với kết quả đo bằng tay ngẫu nhiên trên đồng ruộng.

Nhà nông học Stefan Pätzold, đại học Bonn sử dụng cảm biến tia gamma để “nhìn vào” đất nhờ phóng xạ tự nhiên của các đồng vị như kali 40. Theo Pätzold, chúng ta có thể biết rất nhiều về sự phân bố của các nguyên tố trong đất nhờ quang phổ kế gamma. Các dữ liệu này sau đó được sử dụng trong việc phân tích đất thông thường để thu thập thông tin về hàm lượng sét hoặc cát trong đất.

Kiến thức này đặc biệt quan trọng đối với những nhà sản xuất rượu vang. Tobias Hegemann, cộng sự với Stefan Pätzold cho rằng các loại nho khác nhau cần những chất khác nhau từ đất; thậm chí môi trường đất có thể thay đổi hương vị của vang.

Một trong những nỗi lo lớn nhất đối với nhà nông là ký sinh trùng. Giun tóc, tuyến trùng thường tấn công rễ củ cải đường. Nhưng mới đây, nhà nông học Birgit Fricke của Bonn có thể tìm thấy ký sinh trùng nhờ bộ cảm biến quang phổ để đo sóng ánh sáng nên không cần phải nhổ củ cải đường lên như nhà nông thường làm. Đây là cách các nhà nghiên cứu có thể phát hiện và loại trừ ký sinh trùng từ sớm, mà không làm tổn hại đến củ cải đường - một quy trình không xâm lấn.

Cảm biến quang phổ cũng có thể được sử dụng để tìm hiểu về sự phát triển của cây trồng tu theo các hàm lượng khác nhau của các chất dinh dưỡng trong đất.

Franz Ferdinand-Gröblinghoff, trường Cao đẳng kỹ thuật South-Westphalia đã phát triển một chiếc xe cảm biến chứa hai bộ cảm biến khác nhau. Ông và các đồng nghiệp đưa các dữ liệu từ những cảm biến này vào phần mềm cho phép khai thác thông tin nhanh chóng.

Bằng cách sử dụng các cảm biến, các nhà nghiên cứu có thể vẽ một bức tranh chi tiết: giống cây trồng, đất, phân bón, thông tin về cách điều trị tốt nhất và nhiều thông tin khác, tập trung trong một cơ sở dữ liệu. Các nhà nghiên cứu tin rằng sau khoảng hai giờ làm việc mệt nhọc, người nông dân có nhiều khả năng sẽ mắc một số lỗi kỹ thuật nhưng nếu dùng các cảm biến nông nghiệp thì mọi chuyện sẽ chạy trơn tru cả ngày và cung cấp kết quả khách quan.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Tình hình sản lượng lúa cả năm 2012

  • PDF

Sản lượng lúa cả năm 2012 ước đạt 43,7 triệu tấn
Thành Trung - TTXV

alt

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích lúa cả năm nay ước đạt khoảng 7,76 triệu ha, tăng 108.000ha so với năm 2011; năng suất bình quân ước đạt 56,5 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha; sản lượng ước đạt 43,7 triệu tấn thóc, tăng 1,45 triệu tấn so với năm 2011.

Trong đó, lúa đông xuân đạt 3.121ha (tăng 26.000ha); năng suất đạt 65 tạ/ha (tăng 1,1 tạ/ha); sản lượng đạt khoảng 20,276 triệu tấn (tăng 495000 tấn). Lúa hè thu đạt 2.174ha, năng suất đạt 54,2 tạ/ha, sản lượng 11.784 tấn. Diện tích lúa thu đông đạt 730.000ha, năng suất đạt 48 tạ/ha, sản lượng 3.504 tấn. Lúa mùa đạt 1.735ha, năng suất 47,3 tạ/ha, sản lượng ước đạt khoảng 8,2 triệu tấn.

Theo đánh giá của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nhiều tỉnh, thành phố cũng đã ban hành chính sách hỗ trợ, gắn xây dựng mô hình Cánh đồng mẫu lớn với dồn điền, đổi thửa, thiết kế lại đồng ruộng và xây dựng nông thôn mới thu được kết quả tốt, góp phần nâng cao sản lượng lương thực chung của cả nước.

Tính đến thời điểm này, các tỉnh miền Bắc đã cơ bản thu hoạch xong lúa mùa với tổng diện tích thu hoạch đạt 1,14 triệu ha, bằng 96,8% diện tích gieo cấy. Hiện chỉ còn một số diện tích lúa mùa muộn tập trung ở các tỉnh miền núi như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lai Châu.

Hiện các tỉnh miền Bắc đang đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ đông dù trong điều kiện thời tiết không thuận. Vụ đông năm nay, nhiều địa phương đã ban hành các chính sách thích hợp hỗ trợ nông dân về giống, phân bón cũng như tiêu thụ sản phẩm, nhằm tăng đáng kể diện tích ngô, khoai tây, đậu tương, rau xanh chất lượng cao. Mặc dù gặp mưa bão vào giữa thời vụ gieo trồng nhưng diện tích một số loại cây vẫn tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước, nhất là rau, ngô và khoai lang.

 Theo báo cáo từ các địa phương, đến nay diện tích cây vụ đông đạt 357.000ha, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số cây chủ lực như ngô đạt 125.000ha; khoai lang đạt 43.500ha; rau, đậu các loại đạt 130.000ha. Chỉ có khoai tây mới đạt hơn 3.000ha, bằng 31,2% so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên do nguồn giống đã được chuẩn bị từ trước và lịch thời vụ vẫn còn nên diện tích sẽ tiếp tục tăng đáng kể trong thời gian tới.

Các tỉnh miền Nam hiện cũng đã thu hoạch được hơn 337.000ha lúa mùa, chiếm 43,5% diện tích xuống giống. Nhìn chung tốc độ thu hoạch của các vùng đều khá hơn so với cùng kỳ năm trước do thời tiết tương đối thuận lợi.

Các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản kết thúc thu hoạch vụ lúa thu đông, với diện tích đạt gần 650.000ha, năng suất bình quân đạt khoảng 50 tạ/ha, giá lúa tiêu thụ trong những tháng cuối năm cũng tương đối thuận lợi cho nông dân.

Năm nay, nhiều địa phương tại vùng đồng bằng sông Cửu Long triển khai thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai xuống giống vụ lúa đông xuân 2012-2013. Đến nay, tổng diện tích xuống giống toàn vùng đã đạt hơn 408.000ha, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điển hình là các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC