Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Báo cáo mới của Liên Hiệp Quốc: Mức độ khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới

  • PDF

Báo cáo mới của Liên Hiệp Quốc: Mức độ khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới

Liên Hiệp Quốc cho biết hôm thứ ba, nồng độ khí CO2 đang tăng cao, kéo theo việc các khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới trong năm 2013, trong khi các đại dương, nơi hấp thụ khí thải này, lại có tính axit cao hơn bao giờ hết.

Theo Michel Jarraud, người đứng đầu của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho biết trong một báo cáo vào thứ ba "Chúng ta không còn nghi ngờ gì về việc khí hậu của chúng ta đang thay đổi và thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn do các hoạt động của con người, như là đốt nhiên liệu hóa thạch".

"Chúng ta phải đảo ngược xu hướng này bằng cách cắt giảm phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác trên diện rộng", Jarraud cho biết trong một tuyên bố.

"Chúng ta đang sắp hết thời gian," ông cảnh báo.

Báo cáo cho biết, nồng độ tất cả khí carbon dioxide (CO2), mêtan và oxit nitơ đều phá kỷ lục mới trong năm 2013.

Nồng độ khí CO2 trên toàn cầu là thủ phạm chính gây ra sự ấm lên toàn cầu, tăng đến 396 phần triệu vào năm ngoái, tức là 142% so với mức độ thời tiền công nghiệp -  được xác định trước năm 1750.

Chỉ tính riêng từ năm 2012 đến 2013 đã tăng 2,9 phần triệu - mức tăng hàng năm lớn nhất trong vòng 30 năm, theo các bản tin về khí nhà kính -- Greenhouse Gas Bulletin.

Bản báo cáo cũng cho thấy, cái gọi là cưỡng bức bức xạ, hoặc hiệu ứng khí hậu ấm lên là do khí nhà kính gây ra như CO2 tăng 34 phần trăm từ năm 1990 đến 2013.

Một phần tư lượng khí thải được các đại dương hấp thụ, trong khi một phần tư lượng khí thải khác được hút vào sinh quyển, giúp hạn chế tỷ lệ các khí khiến cho khí quyển nóng

Nhưng các khí CO2 vẫn còn ở lại trong khí quyển hàng trăm năm và trong các đại dương thậm chí lâu hơn.

WMO cảnh báo, “Các chất khí được giữ lại trong các đại dương này cũng có ảnh hưởng rất lớn, bởi vì càng nhiều khí CO2 ở trong nước sẽ làm tăng nồng độ axit trong nước, làm thay đổi hệ sinh thái đại dương.

WMO cho biết, Mỗi ngày, các đại dương của thế giới hấp thụ khoảng bốn kg khí CO2 khiến cho mức axit hóa đại dương hiện nay tăng cao "chưa từng có trong vòng ít nhất 300 triệu năm qua".

Và mọi thứ đang trở nên tệ hơn, Jarraud nói.

Ông cho biết "Lượng khí thải CO2 trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai sẽ có một tác động lâu dài lên hiện tượng nóng lên toàn cầu và quá trình axit hóa đại dương" và cho biết thêm rằng "các định luật vật lý là không thể thay đổi được".

Tương lai của kỹ thuật di truyền trên cây trồng

  • PDF

Tương lai của kỹ thuật di truyền trên cây trồng

Quang hợp là quá trình quan trọng cho sự phát triển của thực vật. Các nhà khoa học mong muốn thúc đẩy quá trình quang hợp để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng bằng cách biến đổi enzyme Rubisco. Hiện nay, các nhà nghiên cứu tại Viện Hóa sinh Max Planck đã thành công trong việc sản xuất enzyme chức năng Rubisco trong một loại vi khuẩn. Điều này cho phép biến đổi di truyền enzyme này. Nghiên cứu này có thể một ngày nào đó có thể đem lại năng suất cây trồng tốt hơn và các giống cây trồng với khả năng sử dụng nước một cách hiệu quả hơn hoặc có khả năng chống chịu được nhiệt độ cao tốt hơn. Các kết quả này đã được đăng trên tạp chí Science.

Dân số thế giới dự kiến sẽ vượt mức 9 tỷ người vào năm 2050. Với nhu cầu tiêu thụ lượng thực ngày càng cao thì việc cải thiện năng suất cây lương thực là rất cần thiết. Để đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu, các nhà khoa học muốn tăng hiệu quả của quá trình quang hợp và qua đó tăng năng suất cây trồng.

Tăng cường quá trình quang hợp

Quá trình quang hợp là quá trình sinh học cơ bản cần thiết cho sự phát triển của thực vật và hỗ trợ sự sống trên trái đất. Thực vật sử dụng năng lượng của ánh sáng mặt trời để chuyển hóa CO2 và nước sang đường và ôxy (O2). Enzyme quan trọng trong quá trình này là Rubisco. Rubisco xúc tác bước đầu tiên trong việc sản xuất carbohydrate ở thực vật và cố định CO2 từ khí quyển. Khi làm như vậy, thực vật sử dụng CO2 để tạo ra sinh khối và tạo năng lượng cần thiết cho sự phát triển. Tuy nhiên, Rubisco là một enzyme không hiệu quả khi nó hấp thụ CO2 chậm. Các phản ứng cạnh tranh với O2 làm giảm hiệu quả xúc tác của Rubisco. Vì những lý do này, Rubisco thường hạn chế tốc độ quang hợp và sự phát triển của cây trồng, chính vì thế Rubisco trở thành mục tiêu của các kỹ thuật di truyền.

Biến đổi di truyền của enzyme thực vật Rubisco làm cho quá trình quang hợp sẽ được tăng cường bởi sự biểu hiện chức năng của enzyme này được sản xuất ở một vật chủ khác. Tuy nhiên, cho đến nay, các nhà khoa học đã thất bại trong việc tạo ra một loại enzym thực vật Rubisco có hoạt tính trong vật chủ vi khuẩn - một mục tiêu đã được tìm kiếm trong nhiều thập kỷ qua. Nhóm nghiên cứu do Manajit Hayer-Hartl lãnh đạo nhóm nghiên cứu "Chaperon hỗ trợ quá trình gấp cuộn Protein" đã xác định được các yêu cầu để biểu hiện và lắp ráp enzyme Rubisco ở vi khuẩn. Phát hiện của họ được dự kiến sẽ tăng tốc rất nhiều nỗ lực để cải thiện quá trình quang hợp thông qua kỹ thuật di truyền biến đổi enzyme Rubisco.

Dây chuyền lắp ráp Rubisco

Enzyme Rubisco bao gồm 8 tiểu đơn vị lớn và 8 tiểu đơn vị nhỏ. Sự gấp cuộn Protein của tiểu đơn vị lớn được hỗ trợ bởi chaperon cụ thể và các lồng gấp đại phân tử, trong đó các protein mới được tổng hợp có thể giả định cấu hình chức năng thích hợp của chúng. Sau khi gấp, nhiều protein khác (chaperones) hỗ trợ lắp ráp hợp lý các tiểu đơn vị trong phức hợp enzyme lớn.

Các nhà nghiên cứu đã tạo ra enzyme thực vật Rubisco ở vật chủ vi khuẩn bằng cách biểu hiện đồng thời chaperones thực vật và Rubisco thực vật trong cùng một tế bào. Điều này không chỉ giúp các nhà khoa học hiểu được cơ chế lắp rắp phức tạp của Rubisco, mà còn để thay đổi gen Rubisco nhằm cải thiện tính chất của Rubisco. Một khi chúng tôi thu được một biến thể Rubisco với một đặc điểm mong muốn, chúng có thể chèn gen biến đổi trở lại vào các tế bào thực vật. Đây là một bước quan trọng để cải thiện quá trình quang hợp thông qua kỹ thuật di truyền biến đổi Rubisco. "Hệ thống biểu hiện vi khuẩn giống như một dây chuyền lắp ráp ô tô. Trước đây, mỗi phiên bản được tối ưu hóa của Rubisco phải được thể hiện một cách tỉ mỉ trong cây chuyển gen, mất một hoặc nhiều năm để tạo ra - như chế tạo một chiếc xe hơi bằng tay - giờ đây chúng ta có thể làm cho hàng trăm hoặc hàng ngàn biến thể Rubisco trong vài ngày hoặc vài tuần, giống như chế tạo ô tô trong dây chuyền lắp ráp tự động ", Hayer-Hartl giải thích.

Các biến thể Rubisco cao cấp

Kỹ thuật di truyền tạo điều kiện cho các nỗ lực để tạo ra các biến thể Rubisco với các tính chất chức năng cải tiến. Điều này có thể không chỉ dẫn đến sự gia tăng năng suất cây trồng, mà còn là tạo ra giống cây trồng với hiệu quả sử dụng nước tăng lên hoặc tính chống chịu nhiệt độ cao. Những đặc tính ưu việt  này có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện khí hậu nóng lên toàn cầu và sự khan hiếm nước ngày càng tăng.

Hạn hán đẩy giá thực phẩm tăng mạnh ở Đông Phi

  • PDF

Hạn hán đẩy giá thực phẩm tăng mạnh ở Đông Phi 

Hạn hán xảy ra trên toàn bộ khu vực Đông Phi gây tổn thất cho vụ thu hoạch và đẩy giá các loại ngũ cốc cùng các loại thực phẩm thiết yếu khác tăng cao bất thường. Điều này trở thành gánh nặng của các hộ gia đình và rủi ro đặc biệt đối với các nhà chăn nuôi trong khu vực.

Theo Bản tin Kiểm soát và Phân tích giá cả (FPMA) của Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO), giá ngô, lúa miến và các loại ngũ cốc khác hiện đang ở sát kỷ lục hoặc kỷ lục ở các quốc gia Ethiopia, Kenya, Somali, Nam Sudan, Uganda và Cộng hòa Tanzania.

Lượng mưa không đủ ở hầu hết khu vực đã ảnh hưởng đến đàn gia súc và người chăn nuôi. Tình trạng sức khỏe gia súc kém do thiếu đồng cỏ và thiếu nước, cộng với việc phải giết mổ gia súc chết “bất đắc dĩ” khiến người chăn nuôi thu nhập kém hơn nữa khi phải bỏ tiền ra mua thực phẩm cơ bản.

Xu hướng này ở Đông Phi, nơi mà giá ngũ cốc đã tăng gấp đôi ở một số chợ thị trấn, trái ngược với xu hướng ổn định của Chỉ số giá thực phẩm của FAO, đo lường sự thay đổi hàng tháng về giá quốc tế của giỏ hàng thực phẩm.

Sự chênh lệch này là do hạn hán đang tác động tiêu cực đến khu vực Đông Phi, nơi mà dự trữ lương thực đã cạn kiệt do El Nino trong năm ngoái. Lượng mưa ít và không ổn định trong vài tháng gần đây đang ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp. Ước tính, sản lượng thu hoạch ngô và lúa miến của Somali giảm 75% so với mức bình thường, đồng nghĩa với khoảng 6,2 triệu người dân nước này hiện đang phải đối mặt với bất ổn lương thực, với phần lớn dân số bị ảnh hưởng sống ở các vùng nông thôn.

Bản tin FPMA theo dõi xu hướng giá thực phẩm đối với các loại ngũ cốc có hạt và trên thị trường địa phương, tập trung chủ yếu vào giá các mặt hàng thực phẩm tăng mạnh hoặc tăng bất thường.

Tại Mogadishu, giá ngô đã tăng 23% trong tháng 1/2017 và thậm chí còn tăng cao hơn ở vùng trồng ngô chính Lower Shabelle. Nhìn chung, tại các khu chợ chính ở miền trung và miền nam Somali, giá ngũ cốc thô trong tháng 1/2017 đã tăng gấp đôi so với một năm trước. Với dự trữ tại các hộ gia đình cạn kiệt dưới mức bình thường trong suốt các tháng giáp hạt và dự báo thời tiết không mấy sáng sủa về mùa mưa sắp tới, giá cả có thể sẽ tiếp tục leo thang.

Giá ngô tại Arusha, Cộng hòa Tanzania đã tăng gần gấp đôi kể từ đầu năm 2016, trong khi tăng hơn 25% trong 12 tháng ở thành phố lớn nhất Tanzania là Dar Es Salaam.

Tại Nam Sudan, giá thực phẩm hiện cao hơn 2 – 4 lần so với mức giá một năm trước, do bất ổn ngày càng tăng và sự phá giá đồng nội tệ.

Tại Kenya, nơi vùng đất thấp phía đông và ven biển cũng như một số khu vực phía tây Thung lũng Rift đều không nhận đủ lượng mưa, giá ngô hiện tăng hơn 30%, chưa kể đến mức tăng đã được hạn chế phần nào bởi ngô nhập khẩu từ Uganda.

Không chỉ có ngũ cốc tăng giá. Các loại đậu hiện nay cũng tăng giá 40% ở Kenya so với một năm trước, trong khi ở Uganda – nơi mà giá ngô hiện tăng tới 75% so với một năm trước , giá các loại đậu và bột sắn đều tăng 25% so với một năm trước ở thành phố thủ đô Kampala.

Nông nghiệp công nghệ cao góp phần hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

  • PDF

Nông nghiệp công nghệ cao góp phần hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 

Ngày 2-12, tại TP Đà Lạt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phục vụ hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn”.

Hơn 200 đại biểu đại diện bộ, ngành trung ương; các tỉnh, thành phố có nền nông nghiệp phát triển trong cả nước; cùng các doanh nghiệp, nhà nông ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tham dự hội thảo.

Nông nghiệp có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy, việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là hướng đi tất yếu. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thuộc chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, đạt mức tăng trưởng hàng năm hơn 3,5%, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.

Thời gian qua, các đề tài, dự án thuộc chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đều tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, nhằm mang lại giá trị gia tăng cao. Đặc biệt là sản xuất rau, quả ứng dụng công nghệ tự động, bán tự động phục vụ xuất khẩu; công nghệ tưới tiết kiệm kết hợp cung cấp dinh dưỡng cho cây; công nghệ sản xuất rau, hoa trong nhà kính chủ động thời tiết, với hệ thống kiểm soát độ ẩm, ánh sáng tự động…

Hiện, cả nước có hai khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Hậu Giang và Phú Yên; ba địa phương là: Thái Nguyên, Thanh Hóa và Lâm Đồng thuộc quy hoạch tổng thể đã xây dựng đề án thành lập khu nông nghiệp công nghệ cao; 25 doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đã có hàng nghìn tỷ đồng đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao từ trung ương đến địa phương và các doanh nghiệp, nhà nông trong cả nước.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh cho rằng: “Thời gian qua, các địa phương, doanh nghiệp rất chủ động, sáng tạo, tìm tòi các biện pháp thúc đẩy phát triển công nghệ cao. Đến nay đã khẳng định được ưu thế của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cả về khía cạnh phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và xã hội hóa sâu rộng. Đây là những tín hiệu tốt, tạo diện mạo mới cho nền nông nghiệp Việt Nam, xu thế tất yếu trong phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại trong thời gian tới”.

Riêng tại Lâm Đồng, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá là tỉnh đi đầu cả nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Hiện, Lâm Đồng có hơn 49 nghìn ha sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Trong đó, hơn 21 nghìn ha rau, hoa, cây đặc sản ứng dụng tưới phun tự động; 50 ha hoa, dâu tây áp dụng công nghệ cảm biến, tự động đồng bộ; 6,5 ha rau thủy canh và 41 ha canh tác trên giá thể; hơn 2.200 ha chè ứng dụng hệ thống đồng bộ hệ thống tưới, bón phân tự động; 18.781 ha cà phê ứng dụng công nghệ cao được chứng nhận 4C, UTZ, Rainforest…

Theo đánh giá mới đây của địa phương, năng suất bình quân nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng đến 50% so với sản xuất thông thường, đạt từ 200 đến 300 triệu đồng/ha/năm. Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh có 11 nghìn ha đạt hơn 500 triệu đồng/ha/năm; trong đó, 700 ha đạt từ một đến ba tỷ đồng và 10 ha cho doanh thu hơn ba tỷ đồng trên một ha mỗi năm. Hiện, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đạt 30% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Lâm Đồng. “Đến nay, có thể khẳng định nông nghiệp công nghệ cao đã tạo bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp tại Lâm Đồng, tỷ trọng xuất khẩu chiếm tỷ lệ 80%. Lâm Đồng có tám doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm 30% trên cả nước. Nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn Lâm Đồng”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S, cho biết.

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao cả nước nói chung và tại Lâm Đồng vẫn tồn tại một số hạn chế như: tổ chức sản xuất chưa đồng bộ, giá trị sản xuất chưa cao; khoa học công nghệ chưa phát huy vai trò động lực, là đòn bẩy trong sản xuất, sự gắn kết giữa khoa học công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều bất cập. Công tác chuyển giao khoa học - kỹ thuật chưa theo kịp yêu cầu thực tế; sản xuất nông nghiệp còn bị tác động điều kiện ngoại cảnh.

Sự hỗ trợ của nhà nước trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế. Nhà nông và doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao còn thiếu vốn đầu tư. Việc xây dựng khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao toàn quốc và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chưa đáp ứng kế hoạch đề ra…

Theo Giám đốc Công ty TNHH Đà Lạt G.A.P Lê Văn Cường: “Có thể khẳng định, nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng và một số tỉnh, thành phố trong nước phát triển rất tốt, nhưng sự hỗ trợ của nhà nước mới ở mặt tinh thần, còn vật chất chưa có, kể cả hỗ trợ về lãi suất vay ngân hàng, nhập khẩu thiết bị, giống mới… Những chính sách từ trung ương về đến địa phương là quãng đường khá dài”.

Thời gian qua, việc liên kết “bốn nhà” trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp công nghệ cao còn là câu chuyện dài, sự “đánh đồng” giữa nông sản công nghệ cao và nông sản sản xuất kiểu truyền thống trên thị trường, khiến nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp gặp khó khăn. “Hiện, việc xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn nhiều hạn chế. Sản phẩm rau VietGAP đang được thị trường tiêu thụ ngang bằng rau truyền thống, gây khó khăn cho đơn vị sản xuất”, Giám đốc HTX Tiến Huy (Đức Trọng, Lâm Đồng), ông Võ Tiến Huy, bộc bạch.

Nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước, thời gian tới, ngành nông nghiệp đặt ra các giải pháp như: tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; chính sách hợp tác công - tư, liên kết tổ chức khoa học - công nghệ với doanh nghiệp; xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa nhà nông với doanh nghiệp; tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao; nâng cao năng lực các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp; tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh phát triển thị trường… Với mục tiêu, phát triển nền nông nghiệp đồng bộ, hiện đại, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và sự phát triển kinh tế đất nước.

Chiến tranh lương thực năm 2050

  • PDF

Chiến tranh lương thực sẽ hoành hành vào năm 2050

Trong vòng vài ba thập kỷ nữa, thiếu hụt lương thực trầm trọng có thể dẫn đến xung đột quy mô toàn cầu, nhà khoa học thực vật hàng đầu của cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) cảnh báo. Có thể sẽ không đủ đất, nước và năng lượng để duy trì cuộc sống của 9 tỉ người dự kiến sẽ cùng chia sẻ hành tinh vào năm 2050.

“Vấn đề thực phẩm đang sẽ gây bất ổn chính trị vào năm 2050 như vấn đề năng lượng ngày nay”, Fred Davies nhà tư vấn khoa học cao cấp của Cục an ninh lương thực của USAID cho biết trong một thông cáo báo chí.

Công nghệ sinh học, cải thiện nhân giống và các tiến bộ trong kỹ thuật canh tác có thể không theo kịp dân số loài người ngày một gia tăng, theo Davies. Thậm chí nếu sản xuất trang trại có thể tăng lên nhờ công nghệ thì các các cải tiến đó có lẽ không tiếp cận xuống đến những nông dân sản xuất quy mô nhỏ, đối tượng cần sự giúp đỡ nhất để ngăn chặn nạn đói.

Lịch sử gần đây chỉ ra rằng thậm chí tăng sản xuất rất lớn cũng không giải quyết được nạn đói. Giữa thế kỷ trước, cuộc “Cách mạng xanh” đã làm tăng đáng kể sản lượng cây trồng. Nhiều giống lúa mì và ngũ cốc khác cho nhưng vụ mùa bộ thu nhưng vẫn đòi hỏi phải mua cây giống, phân bón và nhiều tư liệu sản xuất đắt đỏ khác.

Về lý thuyết thì thực phẩm đã đầy rẫy cho tất cả mọi người sau các tiến bộ nông nghiệp và nạn đói thực sự đã giảm ở nhiều khu vực. Tuy nhiên, đói kém vẫn còn tiếp tục vì bất bình đẳng về kinh tế và thiếu khả năng tiếp cận với các nguồn cung thực phẩm. Ngoài ra, các hộ nông dân nhỏ không có khả năng chi trả cho các công nghệ mới hay cạnh tranh được với các trang trại lớn vốn thừa khả năng đầu tư và phân bón và giống năng suất cao.

Giờ đây, sau chưa tới một thế kỷ, dân số loài người đã gia tăng chóng vánh nhờ được thúc đẩy bởi những vụ mùa bộ thu của công nghệ Cách mạng xanh. Một lần nữa, hệ thống lương thực toàn cầu đã đạt đến giới hạn sản xuất tối đa nhưng lần này có lẽ công nghệ sẽ không giải quyết được thách thức, Davies cảnh báo.

Một cách để xử lý một phần vấn đề có thể là chuyển dịch sản xuất nông nghiệp sang cây vườn có lợi nhuận như ớt cay thay vì sản xuất hàng hóa lớn như bắp, Davies gợi ý.

“Tập trung mạnh hơn là điều cần thiết trong sản xuất cây vườn giá trị cao. Chúng sẽ tạo ra công ăn việc làm và cơ hội kinh tế cho các cộng đồng nông thôn và thực hiện canh tác chuyên sâu có lợi nhuận cao hơn”, ông nói.

Trong nhiều nền văn hóa, các nhà xã hội học đã quan sát thấy sự giàu có gia tăng tương quan với tỉ lệ sinh giảm, một hệ thống được gọi là nghịch lý kinh tế nhân khẩu học. Mặc dù một quốc gia giàu có hơn như Nhật Bản có thể ủng hộ sinh nhiều con nhưng công dân lại có xu hướng sinh ít con hơn.

Bằng cách đưa con người thoát khỏi cái nghèo, chiến tranh lương thực của tương lai sẽ được ngăn chặn miễn sao những người giàu hơn trong tương lai không đòi hỏi cùng khối lượng thực phẩm tiêu tốn tài nguyên như thịt bò mà hiện nhóm dân số giàu đang đòi hỏi hiện nay.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Những trái chuối sẽ cứu mạng hàng trăm ngàn trẻ em trên thế giới

  • PDF

Những trái chuối sẽ cứu mạng hàng trăm ngàn trẻ em trên thế giới

Tại sao khoa học lại mất công tạo ra loại quả bình dị nhất thế gian là chuối? Đơn giản là vì hàng triệu người sẽ được cứu sống.

Mới đây, các chuyên gia tại ĐH Công nghệ Queensland (Úc) đã tạo ra một giống chuối mới, mang tên "golden banana" - hay chuối vàng. Theo giáo sư James Dale - chủ nhiệm nghiên cứu, các chuyên gia đã vất vả lắm mới tạo ra được nó và đây là một phát minh rất quan trọng.

Nhưng tại sao phải vất vả để tạo ra chuối - một thứ quả quá sức bình dị như vậy? Nguyên nhân của chuyện này bắt nguồn từ Uganda, một quốc gia... có quá nhiều chuối. Ở đây, chuối là nguồn lương thực chủ yếu, và họ gần như ăn mọi món ăn làm từ chuối.

Về cơ bản, chuối có chứa nhiều đường và nhiều dưỡng chất, nhưng hàm lượng các chất vi lượng lại khá thấp, đặc biệt là sắt và pro-vitamin A. Nếu như chỉ ăn chuối, việc thiếu hụt vitamin A là điều không thể tránh khỏi.

Hàng năm, có khoảng 650.000 - 700.000 trẻ em trên thế giới tử vong vì thiếu pro-vitamin A, cùng vài trăm ngàn trẻ bị mù vĩnh viễn. Ngoài ra, các trường hợp nhẹ hơn cũng để lại tác động không nhỏ, như chậm lớn, gây vô sinh, khô da...

Tuy nhiên, loại chuối mới sẽ giải quyết tất cả. Bằng cách sử dụng công nghệ biến đổi gene, thành quả sau 12 năm nghiên cứu của ĐH Queensland là một loại chuối có hàm lượng pro-vitamin A rất cao.

"Chúng tôi sử dụng một loại gene từ chuối của Papua New Guinea - loại chuối có hàm lượng pro-vitamin A rất cao nhưng buồng nhỏ - sau đó đưa vào chuối Cavendish tại Uganda". - giáo sư Dale cho biết. "Sau nhiều năm, chúng tôi đã phát triển thành công một loại chuối cho hàm lượng pro-vitamin A cực cao, có màu vàng cam khi chín, thay vì vàng óng như bình thường".

Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm hàng trăm chuỗi gene khác nhau trước khi tạo ra phiên bản "chuối vàng" cuối cùng tại Uganda. Theo kế hoạch, họ hy vọng rằng nông dân tại Uganda sẽ thay thế hoàn toàn chuối địa phương bằng loại chuối mới này trong năm 2021.

"Nghiên cứu này là một cột mốc quan trọng, khi chúng tôi có sứ mệnh mang các nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng hơn đến cho cộng đồng châu Phi" - giáo sư chia sẻ.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Plant Biotechnology.

 

Biến đổi khí hậu gây tổn thương nông nghiệp

  • PDF

Biến đổi khí hậu gây tổn thương nông nghiệp

Năm 2016, chúng ta phải đối phó nhiều loại hình cực đoan của thời tiết, biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn và cực đoan hơn so với kịch bản đã công bố năm 2012. Ngay từ những ngày tháng đầu của năm 2016, trận rét đậm rét hại lịch sử nhiều chục năm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 14 tỉnh miền núi phía Bắc.

Năm 2016, chúng ta phải đối phó nhiều loại hình cực đoan của thời tiết, biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn và cực đoan hơn so với kịch bản đã công bố năm 2012.

Ngay từ những ngày tháng đầu của năm 2016, trận rét đậm rét hại lịch sử nhiều chục năm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 14 tỉnh miền núi phía Bắc.

Cơ quan khí tượng nhận định, đây là đợt rét đậm rét hại mạnh nhất 40 năm qua với hàng loạt kỷ lục được ghi nhận. Ngày 24/1, trạm khí tượng Sa Pa (Lào Cai) ghi nhận nhiệt độ -4oC; Mẫu Sơn (Lạng Sơn) cũng -4oC. Tại Hà Nội, lần đầu tiên đỉnh núi Ba Vì tuyết rơi kéo dài, ở trạm Hà Đông chỉ 5,4oC.

Nhiều vùng cao ở Thanh Hóa, Nghệ An được cho là hiếm gặp thì nay tuyết bao phủ trắng xóa như huyện Bá Thước, Mường Lát; Tương Dương, Quế Phong. Đợt rét đã ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp, thống kê thiệt hại 52.000 trâu bò chết, 150.000ha lúa đã cấy bị chết, thiệt hại ước tính 400 tỷ đồng.

Biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của El Nino khiến năm 2016 xâm nhập mặn chưa từng có ở khu vực ĐBSCL và hạn hán kỷ lục tại khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

Theo tổng kết của Tổng cục Thủy lợi, tại những khu vực này, lượng mưa đã giảm 20 – 30% so với trung bình nhiều năm. Lượng nước trữ trong hệ thống thủy lợi và các vùng thấp trũng đều bị thiếu hụt do năm trước lũ không về.

Dòng chảy Mê Kông về Việt Nam giảm 50%, khiến mực nước xuống thấp nhất trong 90 năm qua. Nước biển lấn sâu vào đất liền, có nơi tới 70 – 90km, sâu hơn trung bình nhiều năm 15 – 20km.

Tình trạng xâm nhập mặn ĐBSCL được đánh giá là đặc biệt nghiêm trọng trong 100 năm qua. Nó xuất hiện sớm hơn gần 2 tháng so với cùng kỳ, với phạm vi vào sâu đất liền 90km – chưa từng xuất hiện trong lịch sử quan trắc. Đã có 11/13 tỉnh thành phố bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Và thiệt hại nặng nề nhất của thực trạng này vẫn là ngành nông nghiệp.

Theo thống kê, diện tích bị ảnh hưởng là 2.056.192ha (chiếm 52,7% so với diện tích tự nhiên của vùng), cao hơn khoảng 23% (tương đương 883.000ha) so với năm 2015. Tổng diện tích lúa thiệt hại các vụ cuối năm 2015 và năm 2016 là 405.000ha, hoa màu 8.100ha, cây ăn quả 28.500ha, 82.000ha diện tích nuôi tôm… Lúc cao nhất có 390.000 hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt. Tổng cộng thiệt hại qui tiền do ảnh hưởng hạn hán, xâm nhập mặn ở khu vực ĐBSCL là 7.900 tỷ đồng.

Hiện tượng El Nino dài nhất trong lịch sử cũng khiến Nam Trung bộ và Tây Nguyên phải đối mặt với tình trạng khô hạn nghiêm trọng nhất trong vòng 10 năm qua. So với trung bình nhiều năm, lượng mưa thiếu hụt khoảng 30 – 50%, có nơi 80%. Tổng cộng có 2.900ha đất canh tác lúa phải dừng sản xuất, 157.000ha cây trồng bị hạn hán, số hộ thiếu nước sinh hoạt lúc cao nhất là 115.000 hộ.

Biến đổi khí hậu khiến lũ lụt tiếp tục hoành hành ở miền Trung kèm theo những diễn biến lạ thường hơn. Ông Hoàng Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương phải thốt lên rằng “lần đầu tiên chúng tôi phải dùng từ đặc biệt lớn với đợt lũ này và nó đang lặp lại lịch sử của năm 2013”. Theo nhiều chuyên gia, lượng mưa năm 2016 ở miền Trung phổ biến cao hơn so với trung bình nhiều năm 20 – 40%, cá biệt có nơi cao hơn 40 – 90% như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi…

Đợt mưa lũ trong tháng 10 và 11/2016 cũng gây ra những hậu quả nặng nề cho đồng bào các tỉnh miền Trung, thống kê thiệt hại ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị… thiệt hại hơn 2.000 tỷ đồng. Những ngày cuối năm, 8 tỉnh khu vực Nam Trung bộ tiếp tục chìm trong lũ nhiều ngày, thiệt hại chưa có con số thống kê chính xác nhưng chắc chắn là hết sức nặng nề.

Theo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, từ đầu năm 2016 đến nay, thiên tai khiến 235 người chết và mất tích, thiệt hại hơn 37.600 tỷ đồng.

Nói về tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành, trong các cuộc hội thảo với nhiều chuyên gia quốc tế, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường khẳng định: Năm 2016 là một năm điển hình chúng ta phải đối phó với các dạng hình cực đoan, dị hình của thời tiết – một mức điển hình của tác động biến đổi khí hậu đối với Việt Nam từ trước đến nay. Những vấn đề này đang đặt ra thách thức lớn đối với Việt Nam.

Cũng trong năm 2016, lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam đã phải kêu gọi các tổ chức quốc tế hỗ trợ, huy động nguồn lực để thực hiện Kế hoạch ứng phó khẩn cấp đối với các địa phương bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Tổng nguồn lực huy động cho ứng phó khẩn cấp đến nay đáp ứng 54,4% của nhu cầu hỗ trợ 48,5 triệu USD như trong kế hoạch đưa ra hồi tháng 4/2016.

Và trong kế hoạch phục hồi từ nay cho đến năm 2020, theo tính toán của 18 tỉnh bị ảnh hưởng và tổng hợp của Bộ NN-PTNT, cần tới hơn một tỷ USD (khoảng 23 nghìn tỷ đồng) để ứng phó BĐKH hiệu quả.

 

 

 

Lợi thế của cây điều trong khô hạn

  • PDF

Lợi thế của cây điều trong khô hạn 

Đợt khô hạn lịch sử vừa qua tác động lớn đến sản xuất nhiều loại cây trồng. Lần đầu tiên sản xuất nông nghiệp tăng trưởng âm, chủ yếu là trồng trọt, 6 tháng đầu năm giảm trên 6%, 1,3 triệu tấn lúa so bị thiệt hại, khoảng 100.000ha cà phê bị ảnh hưởng đến năng suất... Nhưng cây điều lại tỏ ra thích nghi và phù hợp tốt với bối cảnh biến đổi khí hậu.

Ứng xử chưa phù hợp

Các nhà nhập khẩu cho biết, chưa thấy nhân điều ở nước nào có hương vị thơm và ngon như của Việt Nam nên khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn. Đây là lợi thế lớn so với hai đối thủ của ngành là điều Ấn Độ và Brazil trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bước qua năm thứ 10 liên tục, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dẫn đầu thế giới về nhân điều và chiếm trên 50% tổng giá trị thương mại nhân điều toàn cầu (khoảng 5 tỷ USD). 4 năm liên tiếp đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, 2 năm qua trên 2 tỷ USD. Nhân điều Việt Nam có mặt hơn 50 nước và không phụ thuộc chính bất cứ thị trường nào; trong đó, Mỹ (30% thị phần), EU (25%), Trung Quốc (20%).

Diện tích trồng điều từ 5.000ha năm 1982, đến năm 2007 đạt 444.000ha do sản phẩm thu hoạch bao nhiêu đều được các doanh nghiệp mua hết để chế biến. Nhưng do cả Nhà nước và người dân chưa có cách ứng xử phù hợp, khi ngay từ đầu chỉ xem điều là cây trồng xóa đói giảm nghèo, người trồng điều không có điều kiện hoặc không chú ý chăm sóc, chỉ xem là cây lâm nghiệp phủ xanh đất trồng đồi trọc nên năng suất rất thấp, dù có giai đoạn nhờ thâm canh năng suất có lúc lên 1,1 tấn/ha, nhưng sau đó giảm còn khoảng 0,8 tấn/ha. Trong khi công suất chế biến của nhà máy tăng dần, nguyên liệu trong nước sụt giảm. Năm 2000, các doanh nghiệp nhập khẩu 25.000 tấn điều thô về chế biến, 10 năm sau là 350.000 tấn và đến 2015 con số này là 867.000 tấn. Điều thô nhập khẩu để chế biến đã gấp hơn hai lần so với nguồn nguyên liệu trong nước. Việt Nam trở thành nước nhập khẩu điều thô thứ 2 thế giới, số lượng nhập gần bằng nước nhập khẩu lớn nhất là Ấn Độ và gấp hơn 10 lần nước nhập khẩu thứ 3 là Brazil.

Có thể nói đây là nghịch lý của ngành điều. Ngành hàng có thể nói gần như là duy nhất không chỉ dẫn đầu về chế biến và xuất khẩu nhân điều trên thế giới mà còn là nước đi đầu và xuất khẩu thiết bị chế biến hạt điều (mặc dù vẫn còn gây tranh cải về việc này). Sự lệ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu khiến ngành điều dễ trở thành ‘‘con tin” của những nước xuất khẩu điều thô ở châu Phi. Thời gian qua, do tranh mua điều thô của Việt Nam, nhiều doanh nghiệp châu Phi, nhất là Bờ Biền Ngà, nước xuất khẩu điều thô lớn nhất thế giới đã “bẻ kèo” khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi không giao hàng và đòi thêm giá hoặc phải đặt cọc trước thay vì chỉ mở L/C khi ký hợp đồng như thông lệ quốc tế.

Quỹ phát triển điều bền vững

Mới đây, tại đại hội Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) nhiệm kỳ 2016-2020, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh nhấn mạnh, trong khi nhiều loại cây trồng bị thiệt hại nặng nề đợt khô hạn lịch sử vừa qua thì cây điều lại cho thấy khả năng và lợi thế khi biến đổi khí hậu ngày càng tỏ ra cực đoan. Vẫn giữ vững năng suất và lần đầu sau nhiều năm diện tích cây điều không còn bị chặt phá hàng loạt để chuyển qua cây trồng khác mà gần như được giữ nguyên. Ba năm qua, cùng với sự vào cuộc của Bộ NN-PTNT, hiệp hội và nông dân trong việc thâm canh, cải tạo giống đã giúp năng suất điều tăng thêm 3 tạ/ha/vụ lên 1,3 tấn/ha/vụ; thu nhập từ cây điều đã được nâng lên. Ông Lê Quốc Doanh cho rằng, chưa cần tăng diện tích nhưng sản lượng điều đã tăng lên. Đây là dấu hiệu tích cực, cần tạo điều kiện để người trồng điều tiếp tục thâm canh, tuyển chọn cây giống tốt để đưa năng suất điều bình quân lên 2 tấn/ha và hơn nữa.

Theo ông Nguyễn Minh Họa, Phó Chủ tịch Vinacas, dư địa cho vùng trồng điều còn nhiều trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Nếu có sự đầu tư và chính sách đúng, diện tích và năng suất điều sẽ còn được cải thiện. Bà Nguyễn Thị Kim Nga, Chủ tịch Hiệp hội Điều tỉnh Bình Phước, Trưởng ban Nông nghiệp và nông dân trồng điều Vinacas cho rằng, khi các nước hạn chế xuất thô (cách mà hơn 20 năm trước Việt Nam đã làm) ngành chế biến điều Việt Nam sẽ gặp khó. Vì vậy phải chủ động nguồn nguyên liệu trong nước mới đảm bảo phát triển điều bền vững. Điều này là trong tầm tay một khi quyết tâm làm. Với 300.000ha điều hiện nay, nếu tăng 2 tấn/ha đã có khoảng 600.000 tấn. Thực tế hiện có nhiều mô hình 3 đến hơn 4 tấn/ha sẽ là mục tiêu từng bước nâng dần lên, qua đó có thể gần như chủ động nguồn nguyên liệu. Nhưng bà Nga cho rằng, vấn đề hiện nay là đất đai chưa được ổn định. Việc cấp giấy quyền sử dụng đất gặp khó khăn. Nếu diện tích lớn phải thuê nên gặp khó khi cải tạo vườn do không yên tâm. Ngay trong chuỗi giá trị, cần làm mạnh hơn việc liên kết doanh nghiệp với nông dân. Khi doanh nghiệp cùng nông dân bắt tay, hỗ trợ một phần vốn và nhận hỗ trợ một phần từ Nhà nước.

Vinacas đề xuất thành lập quỹ phát triển điều bền vững nhằm mục đích giúp ổn định sản xuất điều, đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp - nông dân trồng điều. Nguồn thu của quỹ gồm hỗ trợ của Nhà nước, phần thu trên đầu tấn xuất khẩu của tất cả doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (1-2 USD/tấn nhân điều xuất khẩu), nguồn tài trợ và nguồn thu khác. Khoảng 50%-70% kinh phí của quỹ dùng để hỗ trợ cho chương trình thâm canh cải tạo vườn điều và nghiên cứu giống, hỗ trợ nông dân trồng điều, 30% - 50% còn lại chi cho việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ, chế tạo thiết bị chế biến điều, nâng cao chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường trong nước.

 

Trợ cấp nông nghiệp của châu Á cao nhất thế giới

  • PDF

Trợ cấp nông nghiệp của châu Á cao nhất thế giới 

Theo dữ liệu năm 2012, trợ cấp nông nghiệp ở 21 nước sản xuất lương thực hàng đầu thế giới ước tính lên tới 486 tỷ USD.

21 nước này bao gồm các thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cùng với 7 quốc gia khác là Brazil, Trung Quốc, Indonesia, Kazakhstan, Nga, Nam Phi, Ukraine và hiện đang đảm bảo gần 80% tổng giá trị nông nghiệp toàn cầu.`

Thực tế, trợ cấp nông nghiệp không được phân bổ công bằng giữa các quốc gia trên thế giới. Châu Á là khu vực trợ cấp cho nông nghiệp nhiều hơn tỷ lệ cộng gộp của tất cả các châu lục còn lại, trong đó đứng đầu là Trung Quốc với mức trợ cấp cao chưa từng có 165 tỷ USD, kế đến là Nhật Bản 65 tỷ USD, Indonesia 28 tỷ USD và Hàn Quốc 20 tỷ USD.

Châu Âu cũng góp một phần đáng kể vào hoạt động trợ cấp cho nông nghiệp, chủ yếu lấy từ nguồn Chính sách Nông nghiệp Chung (CAP) của Liên minh Châu Âu (EU). Với hơn 50 tỷ USD năm 2011, trợ cấp CAP chiếm xấp xỉ 44% tổng ngân sách của EU. Con số trên không bao gồm các khoản trợ giá của EU nhằm giúp bình ổn giá nông sản nội địa, tạo động lực cho nông dân tăng gia sản xuất. Như vậy, tính cả các khoản trợ giá, số tiền mà EU sử dụng cho hoạt động trợ cấp nông nghiệp đã lên tới 106 tỷ USD.

Xếp thứ ba về mức độ trợ cấp trong nông nghiệp là Bắc Mỹ với gần 45 tỷ USD, trong đó Mỹ đứng đầu danh sách với hơn 30 tỷ USD trợ cấp, Canada và Mexico lần lượt là 7,5 tỷ USD và 7 tỷ USD.

Trong số 486 tỷ USD trợ cấp nông nghiệp toàn cầu năm 2012, riêng các quốc gia OECD đã chiếm 258,6 tỷ USD. Trên thực tế, tỷ lệ trợ cấp cho nông nghiệp của các nước này luôn ở mức cao và không ngừng gia tăng kể từ đầu thế kỷ XXI, tăng nhanh nhất vào giai đoạn 2001 – 2004 từ 216 tỷ USD lên hơn 280 tỷ USD.

Trái ngược với tốc độ phát triển cũng như tỷ lệ trợ cấp nông nghiệp của các nước công nghiệp, theo thông tin từ Hội thảo Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển, các quốc gia kém phát triển nhất đang có xu hướng chuyển từ vị thế các nước xuất siêu sang các nước nhập siêu nông sản.

Thống kê giai đoạn 2002 – 2008 cho biết, tổng giá trị nhập khẩu lương thực của các nước kém phát triển nhất trong giai đoạn trên đã tăng nhanh chóng từ 9 tỷ USD lên tới 24 tỷ USD. Đây có thể coi là một kết quả không mong đợi của tình trạng mất cân bằng trong phân bổ trợ cấp nông nghiệp.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module