Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Lợi thế của cây điều trong khô hạn

  • PDF

Lợi thế của cây điều trong khô hạn 

Đợt khô hạn lịch sử vừa qua tác động lớn đến sản xuất nhiều loại cây trồng. Lần đầu tiên sản xuất nông nghiệp tăng trưởng âm, chủ yếu là trồng trọt, 6 tháng đầu năm giảm trên 6%, 1,3 triệu tấn lúa so bị thiệt hại, khoảng 100.000ha cà phê bị ảnh hưởng đến năng suất... Nhưng cây điều lại tỏ ra thích nghi và phù hợp tốt với bối cảnh biến đổi khí hậu.

Ứng xử chưa phù hợp

Các nhà nhập khẩu cho biết, chưa thấy nhân điều ở nước nào có hương vị thơm và ngon như của Việt Nam nên khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn. Đây là lợi thế lớn so với hai đối thủ của ngành là điều Ấn Độ và Brazil trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bước qua năm thứ 10 liên tục, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dẫn đầu thế giới về nhân điều và chiếm trên 50% tổng giá trị thương mại nhân điều toàn cầu (khoảng 5 tỷ USD). 4 năm liên tiếp đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, 2 năm qua trên 2 tỷ USD. Nhân điều Việt Nam có mặt hơn 50 nước và không phụ thuộc chính bất cứ thị trường nào; trong đó, Mỹ (30% thị phần), EU (25%), Trung Quốc (20%).

Diện tích trồng điều từ 5.000ha năm 1982, đến năm 2007 đạt 444.000ha do sản phẩm thu hoạch bao nhiêu đều được các doanh nghiệp mua hết để chế biến. Nhưng do cả Nhà nước và người dân chưa có cách ứng xử phù hợp, khi ngay từ đầu chỉ xem điều là cây trồng xóa đói giảm nghèo, người trồng điều không có điều kiện hoặc không chú ý chăm sóc, chỉ xem là cây lâm nghiệp phủ xanh đất trồng đồi trọc nên năng suất rất thấp, dù có giai đoạn nhờ thâm canh năng suất có lúc lên 1,1 tấn/ha, nhưng sau đó giảm còn khoảng 0,8 tấn/ha. Trong khi công suất chế biến của nhà máy tăng dần, nguyên liệu trong nước sụt giảm. Năm 2000, các doanh nghiệp nhập khẩu 25.000 tấn điều thô về chế biến, 10 năm sau là 350.000 tấn và đến 2015 con số này là 867.000 tấn. Điều thô nhập khẩu để chế biến đã gấp hơn hai lần so với nguồn nguyên liệu trong nước. Việt Nam trở thành nước nhập khẩu điều thô thứ 2 thế giới, số lượng nhập gần bằng nước nhập khẩu lớn nhất là Ấn Độ và gấp hơn 10 lần nước nhập khẩu thứ 3 là Brazil.

Có thể nói đây là nghịch lý của ngành điều. Ngành hàng có thể nói gần như là duy nhất không chỉ dẫn đầu về chế biến và xuất khẩu nhân điều trên thế giới mà còn là nước đi đầu và xuất khẩu thiết bị chế biến hạt điều (mặc dù vẫn còn gây tranh cải về việc này). Sự lệ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu khiến ngành điều dễ trở thành ‘‘con tin” của những nước xuất khẩu điều thô ở châu Phi. Thời gian qua, do tranh mua điều thô của Việt Nam, nhiều doanh nghiệp châu Phi, nhất là Bờ Biền Ngà, nước xuất khẩu điều thô lớn nhất thế giới đã “bẻ kèo” khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi không giao hàng và đòi thêm giá hoặc phải đặt cọc trước thay vì chỉ mở L/C khi ký hợp đồng như thông lệ quốc tế.

Quỹ phát triển điều bền vững

Mới đây, tại đại hội Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) nhiệm kỳ 2016-2020, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh nhấn mạnh, trong khi nhiều loại cây trồng bị thiệt hại nặng nề đợt khô hạn lịch sử vừa qua thì cây điều lại cho thấy khả năng và lợi thế khi biến đổi khí hậu ngày càng tỏ ra cực đoan. Vẫn giữ vững năng suất và lần đầu sau nhiều năm diện tích cây điều không còn bị chặt phá hàng loạt để chuyển qua cây trồng khác mà gần như được giữ nguyên. Ba năm qua, cùng với sự vào cuộc của Bộ NN-PTNT, hiệp hội và nông dân trong việc thâm canh, cải tạo giống đã giúp năng suất điều tăng thêm 3 tạ/ha/vụ lên 1,3 tấn/ha/vụ; thu nhập từ cây điều đã được nâng lên. Ông Lê Quốc Doanh cho rằng, chưa cần tăng diện tích nhưng sản lượng điều đã tăng lên. Đây là dấu hiệu tích cực, cần tạo điều kiện để người trồng điều tiếp tục thâm canh, tuyển chọn cây giống tốt để đưa năng suất điều bình quân lên 2 tấn/ha và hơn nữa.

Theo ông Nguyễn Minh Họa, Phó Chủ tịch Vinacas, dư địa cho vùng trồng điều còn nhiều trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp. Nếu có sự đầu tư và chính sách đúng, diện tích và năng suất điều sẽ còn được cải thiện. Bà Nguyễn Thị Kim Nga, Chủ tịch Hiệp hội Điều tỉnh Bình Phước, Trưởng ban Nông nghiệp và nông dân trồng điều Vinacas cho rằng, khi các nước hạn chế xuất thô (cách mà hơn 20 năm trước Việt Nam đã làm) ngành chế biến điều Việt Nam sẽ gặp khó. Vì vậy phải chủ động nguồn nguyên liệu trong nước mới đảm bảo phát triển điều bền vững. Điều này là trong tầm tay một khi quyết tâm làm. Với 300.000ha điều hiện nay, nếu tăng 2 tấn/ha đã có khoảng 600.000 tấn. Thực tế hiện có nhiều mô hình 3 đến hơn 4 tấn/ha sẽ là mục tiêu từng bước nâng dần lên, qua đó có thể gần như chủ động nguồn nguyên liệu. Nhưng bà Nga cho rằng, vấn đề hiện nay là đất đai chưa được ổn định. Việc cấp giấy quyền sử dụng đất gặp khó khăn. Nếu diện tích lớn phải thuê nên gặp khó khi cải tạo vườn do không yên tâm. Ngay trong chuỗi giá trị, cần làm mạnh hơn việc liên kết doanh nghiệp với nông dân. Khi doanh nghiệp cùng nông dân bắt tay, hỗ trợ một phần vốn và nhận hỗ trợ một phần từ Nhà nước.

Vinacas đề xuất thành lập quỹ phát triển điều bền vững nhằm mục đích giúp ổn định sản xuất điều, đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp - nông dân trồng điều. Nguồn thu của quỹ gồm hỗ trợ của Nhà nước, phần thu trên đầu tấn xuất khẩu của tất cả doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (1-2 USD/tấn nhân điều xuất khẩu), nguồn tài trợ và nguồn thu khác. Khoảng 50%-70% kinh phí của quỹ dùng để hỗ trợ cho chương trình thâm canh cải tạo vườn điều và nghiên cứu giống, hỗ trợ nông dân trồng điều, 30% - 50% còn lại chi cho việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ, chế tạo thiết bị chế biến điều, nâng cao chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế biến, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường trong nước.

 

Chiến tranh lương thực năm 2050

  • PDF

Chiến tranh lương thực sẽ hoành hành vào năm 2050

Trong vòng vài ba thập kỷ nữa, thiếu hụt lương thực trầm trọng có thể dẫn đến xung đột quy mô toàn cầu, nhà khoa học thực vật hàng đầu của cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) cảnh báo. Có thể sẽ không đủ đất, nước và năng lượng để duy trì cuộc sống của 9 tỉ người dự kiến sẽ cùng chia sẻ hành tinh vào năm 2050.

“Vấn đề thực phẩm đang sẽ gây bất ổn chính trị vào năm 2050 như vấn đề năng lượng ngày nay”, Fred Davies nhà tư vấn khoa học cao cấp của Cục an ninh lương thực của USAID cho biết trong một thông cáo báo chí.

Công nghệ sinh học, cải thiện nhân giống và các tiến bộ trong kỹ thuật canh tác có thể không theo kịp dân số loài người ngày một gia tăng, theo Davies. Thậm chí nếu sản xuất trang trại có thể tăng lên nhờ công nghệ thì các các cải tiến đó có lẽ không tiếp cận xuống đến những nông dân sản xuất quy mô nhỏ, đối tượng cần sự giúp đỡ nhất để ngăn chặn nạn đói.

Lịch sử gần đây chỉ ra rằng thậm chí tăng sản xuất rất lớn cũng không giải quyết được nạn đói. Giữa thế kỷ trước, cuộc “Cách mạng xanh” đã làm tăng đáng kể sản lượng cây trồng. Nhiều giống lúa mì và ngũ cốc khác cho nhưng vụ mùa bộ thu nhưng vẫn đòi hỏi phải mua cây giống, phân bón và nhiều tư liệu sản xuất đắt đỏ khác.

Về lý thuyết thì thực phẩm đã đầy rẫy cho tất cả mọi người sau các tiến bộ nông nghiệp và nạn đói thực sự đã giảm ở nhiều khu vực. Tuy nhiên, đói kém vẫn còn tiếp tục vì bất bình đẳng về kinh tế và thiếu khả năng tiếp cận với các nguồn cung thực phẩm. Ngoài ra, các hộ nông dân nhỏ không có khả năng chi trả cho các công nghệ mới hay cạnh tranh được với các trang trại lớn vốn thừa khả năng đầu tư và phân bón và giống năng suất cao.

Giờ đây, sau chưa tới một thế kỷ, dân số loài người đã gia tăng chóng vánh nhờ được thúc đẩy bởi những vụ mùa bộ thu của công nghệ Cách mạng xanh. Một lần nữa, hệ thống lương thực toàn cầu đã đạt đến giới hạn sản xuất tối đa nhưng lần này có lẽ công nghệ sẽ không giải quyết được thách thức, Davies cảnh báo.

Một cách để xử lý một phần vấn đề có thể là chuyển dịch sản xuất nông nghiệp sang cây vườn có lợi nhuận như ớt cay thay vì sản xuất hàng hóa lớn như bắp, Davies gợi ý.

“Tập trung mạnh hơn là điều cần thiết trong sản xuất cây vườn giá trị cao. Chúng sẽ tạo ra công ăn việc làm và cơ hội kinh tế cho các cộng đồng nông thôn và thực hiện canh tác chuyên sâu có lợi nhuận cao hơn”, ông nói.

Trong nhiều nền văn hóa, các nhà xã hội học đã quan sát thấy sự giàu có gia tăng tương quan với tỉ lệ sinh giảm, một hệ thống được gọi là nghịch lý kinh tế nhân khẩu học. Mặc dù một quốc gia giàu có hơn như Nhật Bản có thể ủng hộ sinh nhiều con nhưng công dân lại có xu hướng sinh ít con hơn.

Bằng cách đưa con người thoát khỏi cái nghèo, chiến tranh lương thực của tương lai sẽ được ngăn chặn miễn sao những người giàu hơn trong tương lai không đòi hỏi cùng khối lượng thực phẩm tiêu tốn tài nguyên như thịt bò mà hiện nhóm dân số giàu đang đòi hỏi hiện nay.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Nghiên cứu cho thấy một hoóc-môn làm tăng sự tích tụ sucrôza trong mía

  • PDF

Nghiên cứu cho thấy một hoóc-môn làm tăng sự tích tụ sucrôza trong mía 

Các hoá chất đẩy nhanh quá trình chín, được biết đến như các chất điều chỉnh tăng trưởng, được sử dụng rộng rãi trong ngành mía Brazil để sớm tăng hàm lượng sucrôza và hạn chế sự phát triển của cây trồng để kéo dài thời gian thu hoạch và nghiền mía, do đó làm tăng sản lượng và lợi nhuận cho người trồng mía.

 

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Học viện Sinh học thuộc Đại học Campinas (IB-UNICAMP) tại bang São Paulo, cùng với các đồng nghiệp thuộc Viện Nông học (IAC) và Viện Hóa học của Đại học São Paulo (IQ-USP), đã phát hiện ra các chất này, tương tự như các hoóc-môn thực vật, hoạt động ở mức độ phân tử trong mía như thế nào để tăng lượng sucrôza trong cây mía.

Marcelo Menossi, giáo sư tại IB, cho biết: “Chúng tôi đã xác định được các gien được kích hoạt bởi một trong những chất hoá học được sử dụng rộng rãi nhất và có thể là mục tiêu cho kỹ thuật di truyền trong tương lai để phát triển một giống mía có hàm lượng sucrôza cao hơn”.

Các nhà nghiên cứu phân tích các hiệu ứng cấp độ phân tử của việc đưa ethephon vào các giống mía trồng trong nhà kính.

Ethephon là hợp chất phóng thích etylen và là chất điều chỉnh tăng trưởng đầu tiên được sử dụng để quản lý cây trồng và chất lượng sau thu hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp, làm vườn và lâm nghiệp. Đối với cây mía, nó vẫn là một trong những chất được sử dụng rộng rãi nhất để kích thích quá trình chín ở mía, tăng sản lượng đường, ức chế sự ra hoa, và kéo dài mùa thu hoạch và nghiền mía.

Tác động của ethephon lên mía là do ethylene, một hoóc-môn thực vật được biết đến vì sự tham gia của nó trong quá trình làm chín quả. Ethephon thải ethylene khi nó xâm nhập vào cây sau khi phun.

Theo Menossi, Ethylene được coi là chìa khóa để hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi từ sự phát triển của cây trồng sang giai đoạn cây mía có thể thu hoạch.

Ông nói: “Mặc dù ethylene đã được biết là đóng góp vào sự tích tụ sucrôza, nhưng rõ ràng là sự tổng hợp và hoạt động của hoóc-môn này ảnh hưởng đến quá trình chín của cây mía”.

Để nghiên cứu hoạt động của ethylene trong mía, trước khi mía bắt đầu chín, các nhà nghiên cứu đã phun một loại mía đã được phát triển bởi IAC với ethephon và aminoethoxyvinylglycine (AVG), một chất điều hòa tăng trưởng được biết đến để ức chế sự sinh tổng hợp etylen.

Năm ngày sau khi phun thuốc với một trong hai hợp chất và một lần nữa sau 32 ngày (tức là vào thời điểm thu hoạch), họ đã đo hàm lượng sucrôza e trong các mẫu mô lá và cọng mía.

Phân tích cho thấy rằng ethephon, chất làm chín hóa học, kích thích sự tích tụ sucrôza trong các tế bào chưa trưởng thành. Các cây trồng được xử lý với ethephon có nồng độ sucrôza cao hơn ở đoạn thân giữa và ngọn mía trong thời gian thu hoạch. Trái lại, hàm lượng sucrôza giảm 42% ở cây được xử lý với AVG.

Menossi cho biết: “Những phát hiện này khẳng định tầm quan trọng của sự hiện diện và hoạt động của ethylene để làm mía chín”.

Để đánh giá hoạt động của ethylene ở cấp độ phân tử, các nhà nghiên cứu đã xác định những gien nào đã được biểu hiện khác biệt để đáp ứng sự giải phóng etylen trong quá trình chín. Việc phân tích ho phép các nhà nghiên cứu xác định khi nào và ở đâu mỗi gien được bật hoặc tắt trong các tế bào và các mô của cơ thể bằng cách phân tích toàn bộ các trình tự RNA.

Các phân tích của họ về các enzim chính tham gia vào quá trình chuyển hóa sucrôza, kết hợp với cấu hình hoóc-môn của các cây mía được phun ethephon và AVG, cho phép họ xác định gien mục tiêu ethylene và hoạt động của ethylene trong các vị trí tích luỹ sucrôza. Ngoài ra, họ đề xuất một mô hình phân tử cho sự tương tác của ethylene với các hoocmon khác.

Ethylene kích hoạt một số lượng đáng kể các gien vận chuyển hoóc-môn chỉ trong cọng mía. Theo Menossi, các con đường hoóc-môn quan trọng là những enzim liên quan đến ethylene và axit abscisic, một yếu tố khác trong sự trưởng thành của cây mía, cũng như gibberellin và auxin, các hoóc-môn ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mía, sự ra hoa và sự phát triển của chồi cây.

Ông nói: “Nếu bạn biết những gien nào điều chỉnh để cây tăng sự tích tụ sucrôza, bạn có thể cải tiến về mặt di truyền cho cây mía mía và phát triển các giống biểu hiện nhiều gien hơn mà không cần phải sử dụng ethylene. Ngoài ra, có thể xác định được các giống mía thể hiện những gien này một cách cao nhất và để tạo thuận lợi cho quá trình mía chín vì có những giống không đáp ứng tốt với việc sử dụng hoóc-môn”

 

 

Tháp Tự Do giấc mơ Mỹ

  • PDF

alt

Tháp Tự Do ở New York 13 năm sau vụ khủng bố 11/9 được mọc lên từ đống tro tàn, là tòa nhà cao nhất tại Mỹ khi hoàn thành. Tháp Tự Do cùng với Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York và những di sản lịch sử văn hóa đặc sắc tại thủ đô Washington, D.C. không chỉ là biểu tượng quốc gia mà còn là thông điệp cuộc sống giấc mơ Mỹ.

alt
Sự kiện 11 tháng 9 và hình ảnh tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Mỹ bị không tặc tấn công là ấn tượng ám ảnh hàng tỷ người trên khắp hành tinh, là lời cảnh báo những hiểm họa toàn cầu trong thế giới ngày nay. Chiến tranh và hòa bình, xung đột và tranh chấp, di cư và tị nạn, khủng hoảng năng lượng và an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống là các vấn nạn nhức nhối của cuộc sống.

Giấc mơ Mỹ có từ thuở lập quốc, từ George Washington vị tổng thống đầu tiên của nước Mỹ (1789– 1797). Người với tư cách là tổng tư lệnh Lục quân Lục địa đã lãnh đạo người Mỹ chiến thắng Vương quốc Anh trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, và đã trông coi việc viết ra Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787. Người có một viễn tưởng về một quốc gia hùng mạnh và vĩ đại, xây dựng trên những nền tảng của nền cộng hòa, sử dụng sức mạnh của liên bang. Người được giới sử học lựa chọn là một trong hai hoặc ba vị tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ.

Giấc mơ Mỹ đến từ Thomas Jefferson vị tổng thống thứ 3 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại.  Người đã thông qua Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ trong đại hội các đại biểu của 13 bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ngày 4 tháng 7 năm 1776. Bản Tuyên ngôn này đã truyền cảm hứng cho nhiều bài phát biểu nổi tiếng khác như của Martin Luther King Jr.Abraham Lincoln. Bản Tuyên ngôn cũng ảnh hưởng đến tuyên ngôn độc lập của Việt NamZimbabwe.

alt

Giấc mơ Mỹ có trong những di sản lịch sử văn hóa đặc sắc tại thủ đô Washington, D.C. Đại học Georgetown; trên phải: Tòa Quốc Hội Hoa Kỳ; giữa: Tượng đài Washington; dưới trái: Đài tưởng niệm nội chiến người Mỹ gốc châu Phi; dưới phải: Đền Quốc gia.

Giấc mơ Mỹ thể hiện trong nổ lực tái thiết Tháp Tự Do. Tổng thống Mỹ kêu gọi gia tăng nỗ lực chống cực đoan và khủng bố. Tổng thống Obama khẳng định nước Mỹ không phải đang ở trong một cuộc chiến với thế giới Hồi giáo mà chỉ là trong cuộc chiến với những kẻ lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hành động cực đoan và khủng bố.

alt
“Tòa Tháp Đôi” (hình) bài thơ của David Lehman, tôi chép lại dưới đây, rút trong bài viết “Thơ ca Hoa Kỳ tưởng niệm 9.11” do anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada gửi cho anh Ngô Minh, chủ nhân blog Quà Tặng Xứ Mưa.

TOÀ THÁP ĐÔI

David Lehman
Tôi chưa bao giờ thích Trung tâm Thương Mãi
Nó càng vươn cao tôi càng chê bai cười cợt
Cũng như nhiều người Nữu Ước
Tòa tháp đôi quả là thứ kiến trúc cồng kềnh
Thiếu mỹ thuật, thiếu phong cách thanh tao
Của Empire cao ngất, cũng không bằng
Tòa nhà Chrysler, được mọi người yêu mến,
Với đỉnh nhọn mỹ miều, duyên dáng
Trung tâm Thương Mãi đúng là sai lầm
Điển hình cho kiến trúc kiểu Mỹ
Nó đứng chễm chệ như thế hai mươi lăm năm trời
Cho đến một ngày, vào buổi chiều thứ Sáu, tháng Hai
Bom nổ, tòa tháp đôi kia, đổ nát
Trở thành biểu tượng của chúng ta, của đất nước, như bức
Tượng Nữ thần Tự do. Tất cả thái độ của tôi
Bắt đầu thay đổi. Tôi yêu cách nó hiện ra
Trong tầm mắt, khi bạn lái xe qua đường số Sáu
Từ bất cứ ngã rẽ nào, cái cách đỉnh cao
Của tháp đôi biến mất, trong bầu trời trắng xóa
Về phương Đông, khi bạn bắt đầu qua sông Hudson
Chạy vào thành phố, băng ngang cầu George Washington

Tháp Tự Do giấc mơ Mỹ làm chúng ta liên tưởng đến những ước mơ cuộc sống…

Hoàng Kim

Bài liên quan
Tôi có một giấc mơ

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Đòi hỏi công tác giống chuyển biến mạnh, thích ứng với hội nhập

  • PDF

 Đòi hỏi công tác giống chuyển biến mạnh, thích ứng với hội nhập

“Công tác về giống có vẻ lủng củng ngay từ đầu”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát nhận xét đầy ẩn ý trong lời mở đầu Hội nghị Giống cây trồng, vật nuôi tổ chức ngày 5/12, tại Hà Nội.

Quả thực, theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, 15 năm trước Bộ đã đề xuất khởi động chương trình giống, trong đó tập trung cao độ việc cải thiện công tác giống với mục tiêu chọn tạo nhiều giống tốt hơn, năng lực sản xuất cung ứng kịp thời các loại giống thương phẩm có chất lượng. Mặc dù, đã có chuyển biến, năng suất cây trồng vật nuôi tăng, một số giống có năng suất đạt tầm thế giới, tuy nhiên, ngành giống vẫn còn nhiều vấn đề đang đặt ra.

“Quốc hội, nhân dân yêu cầu nhanh chóng có những giống với những đặc tính cao hơn về năng suất, chất lượng đặc biệt thích ứng với hoàn cảnh mới. Nâng cao năng lực tổ chức sản xuất cung cấp kịp thời cho nhu cầu trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài”, Bộ trưởng nói.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế về nông nghiệp, Việt Nam đang đàm phàn nhiều Hiệp định về thương mại tự do với EU, Nga, Belarus…, và từ năm 2015 nền nông nghiệp sẽ mở cửa hội nhập  ngày càng sâu rộng, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, nền nông nghiệp cần chuyển biến mạnh mẽ, đáp ứng những yêu cầu mới, các sản phẩm nông nghiệp phải bám sát yêu cầu cả về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

 

“Để tái cơ cấu ngành, công tác giống không chỉ tăng cường mà phải điều chỉnh năng lực chọn tạo cả về cách tiếp cận và cơ cấu các loại giống sẽ cung cấp. Ví dụ, lúa thay vì giống có năng suất cao ngắn ngày thì cần hơn tới yếu tố chất lượng, thông qua đánh giá của thị trường có giá cao hơn, bền vững hơn với quy mô lớn, xây dựng hình ảnh một nước Việt Nam sản xuất thương hiệu lúa tốt bền vững”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tương tự với các ngành chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp cần có các cây, con giống tốt, năng suất, chất lượng tiếp cận với trình độ quốc tế.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Cao Đức Phát yêu cầu các đơn vị tập trung làm rõ 3 vấn đề: Định hướng phát triển giống với các loại cây con chủ lực. Định hướng đổi mới cơ chế chính sách, đặc biệt khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu chọn tạo giống. Trong 15 năm qua dù đã quan tâm nhưng phần lớn vẫn ưu tiên cho các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước. Cuối cùng phải tìm được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giống.

Theo ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình, cần sớm xây dựng Luật về Giống cây trồng và đổi mới thủ tục công nhận và phát triển giống mới; hệ thống hóa văn bản pháp luật, đồng thời xây dựng Chiến lược phát triển ngành giống nông nghiệp Việt Nam, trong đó xác định vai trò vị trí của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này từ quản lý, nghiên cứu, chuyển giao, thương mại và công nghiệp hóa ngành giống, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và sở hữu trí tuệ.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Việt – Úc - đơn vị dẫn đầu trong cung cấp tôm giống chất lượng cho thị trường Việt Nam, cho biết: Tôm là một trong những ngành mũi nhọn trong lĩnh vực thủy sản với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 ước đạt 3,8 tỷ USD, trong đó tôm thẻ chân trắng đóng góp tới hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, ngành thủy sản vẫn chưa có thêm giống mới nào, đây cũng là động lực lớn cho các doanh nghiệp thủy sản cạnh tranh phát triển.

“Công nghệ lai tạo tôm thẻ chân trắng hiện đại của Tập đoàn có thể cạnh tranh với thế giới, nhưng giống tôm bố, mẹ vẫn phải nhập khẩu. Tập đoàn đã có Chương trình phát triển giống tôm bố mẹ, nếu được thông qua trong năm 2015 thì Việt Nam là một trong số ít nước có thể cung cấp tôm bố mẹ. Điều này là rất quan trọng”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Ông Đặng Quốc Tuấn cũng mong muốn, ở Việt Nam cần có từ 8 - 10 Tập đoàn hàng đầu để nâng tầm thương hiệu tôm Việt Nam.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển sản xuất giống cây trồng nông, lâm nghiệp , giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan cùng các địa phương triển khai nhiều hoạt động và đạt được một số kết quả thiết thực.

Công tác quy hoạch hệ thống cơ sở nghiên cứu, sản xuất của Chương trình giống đạt được mức tăng khá cao: Tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi (giống bò thịt và dê tăng từ 45% năm 2011 lên 58% năm 2014); giống tôm sạch bệnh có chất lượng cao sản xuất trong nước tăng từ 51,8% năm 2011 lên 65% năm 2014 (so với mục tiêu năm 2020 là 75%); trong lâm nghiệp 72% giống cung cấp cho trồng rừng được công nhận (mục tiêu năm 2020 là 80%).

Tuy nhiên, theo đánh giá chung, công tác giống cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế như: hệ thống sản xuất giống chưa đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất hàng hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu. Giống liến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt từ 30 – 40%, ở đồng bằng sông Hồng khoảng 60%. Số lượng giống cây trồng vật nuôi được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. Các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày. Nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu chọn tạo và sản xuất giống chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành. Nguồn vốn đầu tư phát triển cho khoa học công nghệ khoảng 50 – 60 tỷ đồng/năm, chỉ đáp ứng được khoảng 30- 35% nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu của các Viện. Chương trình giống được bố trí khoảng 500 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển/năm cho tất cả các dự án Trung ương và địa phương, mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu…/.

Trợ cấp nông nghiệp của châu Á cao nhất thế giới

  • PDF

Trợ cấp nông nghiệp của châu Á cao nhất thế giới 

Theo dữ liệu năm 2012, trợ cấp nông nghiệp ở 21 nước sản xuất lương thực hàng đầu thế giới ước tính lên tới 486 tỷ USD.

21 nước này bao gồm các thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cùng với 7 quốc gia khác là Brazil, Trung Quốc, Indonesia, Kazakhstan, Nga, Nam Phi, Ukraine và hiện đang đảm bảo gần 80% tổng giá trị nông nghiệp toàn cầu.`

Thực tế, trợ cấp nông nghiệp không được phân bổ công bằng giữa các quốc gia trên thế giới. Châu Á là khu vực trợ cấp cho nông nghiệp nhiều hơn tỷ lệ cộng gộp của tất cả các châu lục còn lại, trong đó đứng đầu là Trung Quốc với mức trợ cấp cao chưa từng có 165 tỷ USD, kế đến là Nhật Bản 65 tỷ USD, Indonesia 28 tỷ USD và Hàn Quốc 20 tỷ USD.

Châu Âu cũng góp một phần đáng kể vào hoạt động trợ cấp cho nông nghiệp, chủ yếu lấy từ nguồn Chính sách Nông nghiệp Chung (CAP) của Liên minh Châu Âu (EU). Với hơn 50 tỷ USD năm 2011, trợ cấp CAP chiếm xấp xỉ 44% tổng ngân sách của EU. Con số trên không bao gồm các khoản trợ giá của EU nhằm giúp bình ổn giá nông sản nội địa, tạo động lực cho nông dân tăng gia sản xuất. Như vậy, tính cả các khoản trợ giá, số tiền mà EU sử dụng cho hoạt động trợ cấp nông nghiệp đã lên tới 106 tỷ USD.

Xếp thứ ba về mức độ trợ cấp trong nông nghiệp là Bắc Mỹ với gần 45 tỷ USD, trong đó Mỹ đứng đầu danh sách với hơn 30 tỷ USD trợ cấp, Canada và Mexico lần lượt là 7,5 tỷ USD và 7 tỷ USD.

Trong số 486 tỷ USD trợ cấp nông nghiệp toàn cầu năm 2012, riêng các quốc gia OECD đã chiếm 258,6 tỷ USD. Trên thực tế, tỷ lệ trợ cấp cho nông nghiệp của các nước này luôn ở mức cao và không ngừng gia tăng kể từ đầu thế kỷ XXI, tăng nhanh nhất vào giai đoạn 2001 – 2004 từ 216 tỷ USD lên hơn 280 tỷ USD.

Trái ngược với tốc độ phát triển cũng như tỷ lệ trợ cấp nông nghiệp của các nước công nghiệp, theo thông tin từ Hội thảo Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển, các quốc gia kém phát triển nhất đang có xu hướng chuyển từ vị thế các nước xuất siêu sang các nước nhập siêu nông sản.

Thống kê giai đoạn 2002 – 2008 cho biết, tổng giá trị nhập khẩu lương thực của các nước kém phát triển nhất trong giai đoạn trên đã tăng nhanh chóng từ 9 tỷ USD lên tới 24 tỷ USD. Đây có thể coi là một kết quả không mong đợi của tình trạng mất cân bằng trong phân bổ trợ cấp nông nghiệp.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor

  • PDF

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor 

Cà phê chè (C. arabica L.) là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê do có chất lượng nước uống cao hơn hẳn cà phê vối. Hai giống cà phê chè mới TN1,, TN2 là con lai thế hệ F1 (TN1 con lai giữa KH3-1 x Catimor; TN2 con lai giữa Catimor x KH4) do Viện KHKT Nông lâm nghiệp tạo ra có năng suất cao, kháng được bệnh gỉ sắt, kích thước hạt lớn và có chất lượng nước uống cao; những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống mới vào năm 2012, đây là 2 giống cần được phổ biến ra sản xuất. Tuy nhiên chi phí sản xuất hạt giống lai rất cao và khó sản xuất được với khối lượng lớn. Để cung cấp giống với số lượng lớn ra sản xuất cần tiếp tục chọn lọc phả hệ đến thế hệ F5 hay F6 để có được dòng thuần, nhưng cách này tốn khá nhiều thời gian và công sức, tiền của. Vì vậy để nhân nhanh với khối lượng lớn và chi phí thấp, các giống này cần được nhân bằng con đường vô tính. Tuy nhiên sử dụng các phương pháp nhân giống vô tính thông thường (như ghép, giâm cành) đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của người dân về tái canh (do diện tích cà phê già cỗi ngày càng tăng). Vì vậy ứng dụng công nghệ mới nhân các giống mới sẽ đảm bảo cho quá trình cung cấp giống được tốt hơn, các giống đảm bảo yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc, không bị phân ly trong quá trình sản xuất và đặc biệt là đủ số lượng yêu cầu của thị trường trong những năm tiếp theo.

Công nghệ Bioreactor là một công nghệ nhân giống in vitro mới đang được ứng dụng trên nhiều loại cây trồng nhằm tăng nhanh sự phát triển của phôi, tạo thành cây, tăng tỷ lệ phát triển đồng đều, tăng tỷ lệ phát triển rễ cọc đảm bảo cho cây phát triển tốt. Tại các nước Pháp, Thái Lan, Inđônêxia việc ứng dụng các công nghệ này đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại Inđônêxia hằng năm đã cung cấp cho thị trường hàng triệu cây nuôi cấy mô từ các giống được nghiên cứu ra. Trong khi ở Việt Nam việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ này mới ở giai đoạn đầu và hầu như chưa có nhiều nghiên cứu để sản xuất cây giống cà phê.

Phương pháp sử dụng bioreactor trong quá trình nuôi cấy sẽ khắc phục các nhược điểm của phương pháp nuôi cấy mô thông thường và đảm bảo cho việc cung cấp đủ các giống có đặc tính tốt, có bộ rễ đảm bảo và đạt tiêu chuẩn cây trồng, có thể làm giảm thời gian sản xuất cây cà phê 3-4 tháng. Ngoài ra các cây con cà phê có thể chuyển giao trực tiếp cho người nông dân ở xa nên việc vận chuyển cây dễ dàng và đảm bảo tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu ứng dụng này cũng là một tiền đề để tiếp tục nghiên cứu nhân nhanh các giống sẽ được công nhận trong thời gian tới và là phương thức nhanh nhất để đưa những giống này ra thị trường, đến được tay người nông dân có nhu cầu. Với ước tính hằng năm tái canh 1-3% diện tích cà phê chè (khoảng 1000-3000 ha) thì khối lượng cây giống cà phê chè cần phải sản xuất là 5-15 triệu cây giống/năm. Đây là một lượng giống rất lớn mà chỉ có phương pháp nuôi cấy mô từ phôi soma có sử dụng bioreactor mới đáp ứng được.

Bên cạnh đó khi mở rộng diện tích cà phê chè, việc thay thế các giống cà phê chè cũ cũng được đặt ra để nâng cao giá trị trên vườn cây tại các vùng trồng thích hợp đối với cà phê chè tại Tây Nguyên như: Daklak, Lâm Đồng, Kontum, Gia Lai nên nhu cầu về giống chất lượng cao khá lớn. Việc sử dụng các phương pháp thông thường nhân giống đã không đáp ứng được yêu cầu 3 nên việc sử dụng công nghệ nhân in vitro có sử dụng bioreactor là một hướng đi có tính khả thi cao.

Với những lý do trên, Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thường cùng thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor” với mục tiêu xây dựng được quy trình công nghệ và hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor phục vụ tái canh cà phê ở Tây Nguyên.

Qua thời gian nghiên cứu đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây cà phê Arabica bằng công nghệ Bioreactor: Mẫu lá vị trí thứ 2 của cây 24 tháng tuổi, khử trùng Calcium Hypochlorite 10%, sau 15 ngày tỷ lệ mẫu sạch đạt 90,74%. Mẫu lá trên môi trường MS, có vitamin B5, bổ sung 2,4D 1 mg/l và Kin 2 mg/l, cấy chuyển 3 lần trong 4 tháng tạo mô sẹo cao >46%. Mô sẹo cấy lên môi trường 1/2MS, vitamin B5, bổ sung 2ip 0,5 mg/l, khối lượng mô sẹo 250mg/100ml môi trường, vận tốc máy lắc 100 vòng/phút sau 2,5 tháng mô sẹo tăng lên >6 lần. Mô sẹo cấy lên MS1/2 lỏng, thể tích môi trường 400 ml, pH 5,8 và cứ 15 ngày thay mới môi trường một lần, sau 2,5 tháng số phôi đạt cao >1500 phôi/1g mô sẹo. Phôi cấy lên môi trường MS1/2, đường 10 g/l, thời gian sục khí 1 phút sau mỗi chu kỳ 6 giờ, thể tích môi trường trong bình RITA 300ml, pH 5,8. Sau 2,5 tháng tỷ lệ cây lá mầm đạt >88%. Tạo cây hoàn chỉnh thích hợp trong bình tam giác, sau 2,5 tháng giúp cây phát sinh cặp lá thật 81,6%, tỷ lệ ra rễ đồng đều (90,3%) và cây không bị thủy tinh thể.

Nghiên cứu qui trình trồng cây cà phê nuôi cấy mô ngoài đồng ruộng: Chiều cao từ 2 cm có 2-3 cặp lá thật, cấy vào khay xốp có kích thước lỗ khay 3,5 cm x10cm (tương đương 84 lỗ/khay 50 x 30 x 10 cm) gồm giá thể 1 đất: 1 Xơ dừa: 1 trấu hun, che sáng 80 %, tưới nước 2 lít/m2 2 ngày /lần, phun liều lượng khoáng MS là 40 ml/1000 ml. Sau 4 tháng huấn luyện tỷ lệ cây sống >85%, chiều cao >4cm, số cặp lá > 3 cặp, chiều dài rễ 4cm. Cây có 3 cặp lá, cao 4,5 cm, cấy vào bầu đất có thành phần là 7 đất: 2 trấu hun: 1 phân chuồng, che sáng 60 %, tưới 2,5 lít/m2/lần cứ 2 ngày/lần, phun phân 18 bón lá NUCAFE với nồng độ 0,2 % chu kỳ phun 2 tuần phun một lần. Sau 3 tháng tỷ lệ cây sống >81%, chiều cao đạt >18 cm, số cặp lá >8 cặp, chiều dài rễ cọc >18 cm, đường kính thân 0,23 cm. Bước đầu đánh giá được Công thức 3 (N 100kg; P2O5 210kg; K2O 90kg) cây sinh trưởng tốt, thí nghiệm cây che bóng và mật độ chưa thấy sự khác biệt giữa các công thức. Giữa cây thực sinh và cây in-vitro chưa có sự khác biệt về hình dạng và sinh trưởng.

Quy trình trồng và chăm sóc cây ngoài đồng ruộng: Kế thừa quy trình kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch cà phê chè, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2002; Thay thế mục tiêu chuẩn cây giống (phát triển từ hạt) bằng cây giống nuôi cấy mô; Sửa đổi khoảng cách mật độ trồng cà phê, cây che bóng tạm thời và liều lượng phân bón khoáng cho năm trồng mới: Độ dốc dưới 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,5 m (3.333 cây/ha) Độ dốc trên 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,25 m (4.000 cây/ha). Cây che bóng: Gieo hạt vào đầu mùa mưa giữa hai hàng cà phê; khoảng 3 - 4 hàng cà phê gieo một hàng muồng. Liều lượng phân bón thay liều lượng và thời điểm bón phân cho vùng Tây Nguyên.

Kết quả của đề tài sẽ là một bước đệm quan trọng trong nghiên cứu nhân nuôi cấy mô tế bào trên các giống cà phê nói riêng và các loại cây thân gỗ nói chung. Sự thành công của đề tài sẽ mở ra hướng mới cho nghiên cứu về công nghệ bioreactor trên các loại cây trồng khác, mở ra một hướng mới về sản xuất các loại giống bằng công nghệ tế bào. Kết quả nghiên cứu mới nhất về nuôi cấy mô cà phê chè tại Việt Nam sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu mới, mở ra nhiều triển vọng về hợp tác quốc tế và tổ chức các hội thảo quốc gia và quốc tế. Đây cũng là một thành tựu chứng tỏ trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam về cà phê là đứng hàng đầu của thế giới, đặc biệt là về giống cà phê.

Thông thường cần 5-10 năm để đưa 1 giống cà phê được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, thâm chí có thể lên tới 12-15 năm bởi việc sản xuất giống bằng các phương pháp thông thường với hệ số nhân thấp nên tạo ra số lượng cây lớn rất khó khăn. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng để tạo ra hướng sản xuất để đưa nhanh các giống cà phê đã được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ nghiên cứu tới ứng dụng vào thực tiễn. Các giống mới đưa vào sản xuất nhanh chóng sẽ là cơ hội nâng cao sản lượng cà phê chè chất lượng cao, từ đó nâng cao giá trị xuất khẩu và thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế và xã hội của các tỉnh Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu được triển khai sẽ chấm dứt tình trạng sản xuất giống không có nguồn gốc, không đúng giống, chất lượng thấp và giá thành cao. Đồng thời tăng cường được công tác giám sát về sản xuất giống của cơ quan quản lý giống, từ đó đảm bảo cho người nông dân mua được giống đúng nguồn gốc, đúng chất lượng, xóa bỏ được hiện tượng giống giả, giống kém chất lượng. Mặt khác, người nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số khi sử dụng giống này để trồng mới hoặc tái canh thì sẽ làm tăng năng suất vườn cây, giảm chi phí giá thành trên đầu sản phẩm, từ đó tăng lợi nhuận cho người nông dân, làm ổn định đời sống vật chất cho người trồng cà phê (trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số), làm ổn định đời sống xã hội trong vùng làm ổn định về năng suất, chất lượng của sản phẩm cà phê nhân Việt Nam, từng bước xây dựng được thương hiệu mạnh cho cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

 

Lương tri tỉnh thức

  • PDF

Luongtritinhthuc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Hiện nay, thế giới đang bùng nổ di cư và tị nạn tại châu Âu theo điểm tin của TIME ngày 10 tháng 9 năm 2015. Điều này tiếp sau những hiểm họa toàn cầu: An ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống.

Theo  những tuần gần đây, hỗn loạn tại các cửa khẩu, nhà ga, điều kiện bẩn thỉu trong các trại tị nạn tạm thời và một bức ảnh đau lòng của một đứa trẻ chết đuối Syria đã đưa cuộc khủng hoảng người di cư tị nạn đến châu Âu vào tầm ngắm toàn cầu. Theo UNHCR, hơn 380.000 người di cư và người tị nạn đã đổ bộ lên bờ biển phía nam của châu Âu trong năm nay, tăng 216.000 lượt người trong cả năm 2014. Họ đang chạy trốn khỏi cuộc đàn áp, nghèo đói và xung đột mà cơn giận dữ vượt ra ngoài biên giới của châu lục, nhưng không phải tất cả mọi sự quản lý đều đạt được an toàn. Chỉ riêng năm nay, 2.850 người đã bị chết đuối ở Địa Trung Hải. Dẫu vậy, điều đó vẫn không thể ngăn được làn sóng người di cư đang ồ ạt làm hồ sơ xin tị nạn vào châu Âu.

Vì sao châu Âu phải đối mặt với một trong những thách thức khó khăn này trong nhiều thập kỷ. 5 câu hỏi lớn về khủng hoảng di cư và tị nạn của châu Âu theo  là:

1. Sự khác nhau giữa người tị nạn và di cư là gì? 2. Những người di cư và tị nạn từ đâu đến? 3. Vì sao châu Âu là điểm đến của cuộc khủng hoảng di cư và tị nạn? 4. Các nước châu Âu đối phó với cuộc khủng hoảng này như thế nào? 5. Mỹ có thể làm gì?

Tôi chỉ tóm lược vấn đề, lược dịch, trích dẫn để cùng bạn suy ngẫm. Ngạn ngữ phương Đông có câu: “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách” (Ba mươi sáu kế, chạy là hơn cả). Hơn một nửa trong số tất cả những người tị nạn trên toàn thế giới trong năm 2014 là dân của ba nước Syria, Afghanistan và Somalia đã chạy trốn khỏi sự xung đột. Những cuộc khủng hoảng và leo thang khác tại Cộng hòa Dân chủ Congo, Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, Ukraine và Iraq đang làm mạnh mẽ thêm vào làn sóng di cư và dân tị nạn.

Syria đứng đầu trong số người di cư và dân tị nạn. Kể từ khi cuộc nội chiến Syria bắt đầu từ năm 2011, có hơn 4 triệu người Syria đã tìm nơi trú ẩn tại các nước láng giềng và khoảng 7,6 triệu người khác đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ nhưng vẫn sống quanh quẩn bên trong nước Syria. Sự gia tăng các cuộc tấn công của lực lượng Tổng thống Assad Basher và sự phát triển của ISIS đang thúc đẩy chiến tranh leo thang, và người dân đang cố thoát ra khỏi cuộc chiến này, vì rõ ràng sự xung đột không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn.

Điều tương tự cũng xẩy ra đối với các cuộc xung đột hiện đại (ngoài Syria) đã góp phần thêm vào hơn một nửa số người tị nạn thế giới đã lưu vong trong năm năm qua.

Các nước Lebanon, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ là những nơi che chở chính cho khoảng 3,6 triệu người tị nạn Syria, hiện tại đang bị ngợp bởi tràn ngập; Viện trợ nhân đạo quốc tế rơi rất xa dưới mức nhu cầu. Châu Âu đang thành điểm đến cho làn sóng người tị nạn.

Luongtritinhthuc2
Người di cư biến Budapest thành điểm nghẽn của cuộc khủng hoảng người tị nạn (hình).  Một châu Âu đang bị gãy bởi chen lấn, xô ngã. Mỗi nước và cộng đồng Liên minh châu Âu đang phải đối mặt, tìm cách xử lý thỏa đáng với cuộc khủng hoảng di cư leo thang.

Mỹ đã tái định cư cho 1,554 người tị nạn Syria trong số hơn 4 triệu người đã bỏ chạy kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh dân sự trong năm 2011. Các tổ chức quốc tế đã cố gắng thuyết phục chính phủ liên bang Mỹ để tiếp nhận nhiều hơn, nhưng Nhà Trắng vẫn chưa đưa ra một cam kết chính thức để làm như vậy. Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ nói với TIME rằng Hoa Kỳ có thể nhận tổng số 1.500 – 1.800 người tị nạn Syria trong tháng Mười và hy vọng sẽ tăng số này nhiều hơn trong năm tài chính tới.

Ngoại trưởng John Kerry nói ngày 9 tháng 9 năm 2015 là Mỹ sẽ phải cam kết tăng số lượng người tị nạn lên khoảng ​​70.000 đến 75.000 người, một phần trong số này là từ Syria, nhưng ông đã không đưa ra bất kỳ chi tiết cụ thể nào. Người tiền nhiệm của ông Kerry, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ là bà Hillary Clinton, đã kêu gọi “một nỗ lực toàn cầu phối hợp” để giảm bớt cuộc khủng hoảng.

Lương tri thức tỉnh trước những hiểm họa toàn cầu: Chiến tranh và hòa bình, xung đột và tranh chấp, di cư và tị nạn, cần nỗ lực toàn cầu phối hợp để giải quyết, với an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống.

Nhà nhân đạo và nông học Norman Bourlaug có nói: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.”

Hòa bình xanh, cách mạng xanh mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

Nguồn trích dẫn: (TIME) The 5 Big Questions About Europe’s Migrant Crisis
(hình ảnh từ bài viết trên của TIME)

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Cây trồng biến đổi gen: Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

  • PDF

Cây trồng biến đổi gen: Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Cây trồng biến đổi gen (GMC) hay sinh vật biến đổi gen (GMO) đã và đang gây nhiều tranh cãi trên thế giới và cả ở Việt Nam về hiệu quả cũng như hiểm họa mà nó mang lại. Bài học ở Châu Âu và Trung Quốc khẳng định rằng thắng lợi chỉ thuộc về những người nắm giữ công nghệ. Cần phải thận trọng và cảnh giác với những phương thức kinh doanh kiểu mới của những “ông Trùm” thế giới sử dụng các con bài “sinh tặc” hiện nay.

Theo thống kê, đến năm 2010, sau 15 năm kể từ khi giống cây trồng biến đổi gen (BĐG) đầu tiên được đưa vào sản xuất đã có 29 quốc gia trồng cây BĐG với diện tích canh tác ước tính vào khoảng 148,0 triệu ha gieo trồng mỗi năm đối với hàng chục loại cây trồng khác nhau như ngô, lúa, đậu tương, bông, cải dầu... 
Trong đó, 3 cây trồng BĐG có diện tích lớn nhất là đậu tương 73,3 triệu ha, ngô 46,8 triệu ha, bông vải 21 triệu ha. So với tổng diện tích canh tác các cây trồng toàn cầu ước tính lên đến trên 4,8 tỷ ha thì diện tích này quả là còn rất nhỏ bé, nhưng con số 148 triệu ha lại không hề nhỏ đối với một vài quốc gia và vài công ty xuyên quốc gia - những người nắm công nghệ.

Tranh cãi kéo dài nhưng chưa ngã ngũ

Đã có những tranh cãi gay gắt giữa một bên là các công ty sở hữu công nghệ và các sản phẩm BĐG và bên kia là các nhà khoa học lo ngại về khả năng rủi ro, không an toàn của các sản phẩm BĐG đối với sức khỏe con người và môi trường canh tác và sinh hoạt. Sự tranh cãi này diễn  ra ở nhiều nơi, nhiều lúc, cả ở châu Âu lẫn châu Á, cả ở nước phát triển và các nước đang phát triển.

Cứ mỗi khi các nhà khoa học hay các nhà thực hành sản xuất khám phá ra những rủi ro liên quan đến các sản phẩm BĐG, hoặc chứng minh lợi ích của các sinh vật BĐG không lớn như những gì mà người ta quảng cáo thì ngay lập tức các ông chủ sở hữu công nghệ và bản quyền các sản phẩm BĐG lại đưa ra các bằng chứng phản bác lại, đẩy các cuộc tranh cãi kéo dài hàng thập kỷ nay không chấm dứt.

Trên thực tế, ngoài những lo ngại sản phẩm BĐG có thể tác động xấu đến sức khỏe con người, còn có rất nhiều lo ngại khác, cụ thể là: 
1) khả năng tác động xấu đến môi trường canh tác, mất an toàn cho người sử dụng; 
2) Khả năng để mất quyền kiểm soát lương thực vào tay nước ngoài;
3) Nguy cơ độc quyền kinh doanh đầu vào sản xuất đối với sản phẩm BĐG (giống, phân bón và hóa chất đi kèm) có thể làm giảm hiệu quả sản xuất và tăng gánh nặng hỗ trợ của các chính phủ; và 
4) Nguy cơ xảy ra các tranh chấp thương mại, dựa vào đó các hàng rào kỹ thuật, phi thuế quan sẽ được thiết lập nhằm hạn chế hay tẩy chay sản phẩm của các đối thủ vốn có lợi thế cạnh tranh hơn.

Nghiên cứu của giáo sư Gilles-Eric Seralini về ngô BĐG NK603 trên chuột

Ứng xử của các bên liên quan

Đầu thập niên 1980, Pháp kiên quyết phản đối cây trồng BĐG nhưng đến thập niên 2000 khi Pháp đã làm chủ được công nghệ BĐG thì hàng chục giống ngô BĐG đã được trồng khá phổ biến ở đây nhưng hầu hết đều là các giống do Pháp sản xuất, chỉ duy nhất giống MON89034 của tập đoàn Monsanto được cấp phép ở đây.

Trung Quốc cũng là nước đã dành rất nhiều tiền để nghiên cứu về GMO. Vào cuối thập niên 1990 những tranh cãi về khả năng mất an toàn của sinh vật BĐG cũng rất gay gắt, tuy nhiên đến đầu những năm 2000 thì điều này đã dịu xuống. 
Trước đây, khi chưa làm chủ được công nghệ BĐG thì chính phủ Trung Quốc đã tìm mọi cách để hạn chế nhập khẩu, kể cả thời kỳ trong nước thiếu hụt, giá đậu tương lên cao ảnh hưởng đến người tiêu dùng nhưng Trung Quốc vẫn hạn chế nhập khẩu, chấp nhận hỗ trợ tiêu dùng nhưng đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu sản xuất sản phẩm BĐG trong nước.
Đến nay, Trung Quốc đang dần xuất khẩu công nghệ BĐG và các sản phẩm BĐG của họ. Các công ty giống trong nước của Trung Quốc hiện nay cũng đang cung cấp phần lớn giống cho nhu cầu của nông dân. Xin lưu ý, khi thị trường trong nước thiếu hụt, thì Trung Quốc vẫn nhập khẩu các sản phẩm BĐG nhất là đậu tương, nhưng không phải là nhập giống đậu tương BĐG vào để trồng ở trong nước.

Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Theo PGS Nguyễn Thị Trâm, Việt Nam cần thận trọng chọn cách tiếp cận một cách thông minh về cây BĐG. Trong khi Việt Nam là nước nghèo, mọi trang thiết bị, vật liệu, hóa chất, phương pháp nghiên cứu phải nhập khẩu 100%, mà thường khi đi nhập hay bị mua phải công nghệ lạc hậu thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ tiếp thu công nghệ cần được đào tạo đồng bộ, toàn diện về lý thuyết, thực hành và triển khai. 
Vì vậy, trước mắt chúng ta phải chọn cách đi chậm (tuần tự) và thận trọng, không nên đi tắt đón đầu để tránh sự lệ thuộc triền miên vào các công ty nước ngoài về giống BĐG mà nông dân ta là những người phải đi mua giống để trồng hoặc Nhà nước phải bỏ tiền mua gen cho các Viện nghiên cứu trong nước tạo giống chuyển gen để bán cho nông dân.
Trước mắt, chúng ta hoàn toàn có khả năng tập trung nội lực nghiên cứu phát triển các cây lương thực, thực phẩm có lợi thế, đồng thời tập trung đầu tư để nâng cao giá trị xuất khẩu của lúa gạo, cà phê, rau, hoa, quả, thủy sản... bù cho việc nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi và bông cho công nghiệp dệt. 
Đầu tư nghiên cứu tạo giống hoặc nhập sản phẩm cây trồng BĐG dùng làm nhiên liệu, nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, xăng sinh học nhưng phải đảm bảo các quy định về an toàn sinh học, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật. Vì tầm quan trọng của lương thực thực phẩm cho con người, nên các chính sách liên quan tới cây trồng BĐG sẽ phải dựa trên những cuộc tranh luận cởi mở và trung thực có sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội.
Theo thiển nghĩ của người viết bài này, cơ sở vật chất và khả năng nghiên cứu về cây BĐG của Việt Nam còn rất hạn chế, trong khi trong nước cũng chẳng thiếu giống tốt và phù hợp với điều kiện địa phương nhưng lại để cho các công ty xuyên quốc gia đem giống của họ vào cạnh tranh với mình. 
Họ là những ông lớn có tiềm lực kinh tế sẵn sàng bóp chết các công ty nhỏ xíu trong nước. Sẽ là sai lầm khi thực hiện trồng ngô BĐG trong nước để thay thế nhu cầu nhập ngô BĐG làm thức ăn chăn nuôi. Sản xuất ra ngô BĐG thay thế nhu cầu nhập khẩu là câu chuyện khác hoàn toàn với nhập khẩu ngô BĐG nguyên liệu để bù đắp sự thiếu hụt.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp & PTNT thường nhắc đi, nhắc lại điệp khúc: ”Phải nâng cao giá trị cho sản phẩm, phải sản xuất ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao” thế nhưng ai có thể khẳng định ngô BĐG là cây trồng mang lại giá trị gia tăng cao hơn ngô thường của Việt Nam? 
Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam không hiểu vì lý do gì cứ viện cớ thiếu ngô làm thức ăn chăn nuôi để biện luận cho việc phải đưa ngô BĐG vào sản xuất đại trà. Ngô BĐG không làm cho năng suất và sản lượng tăng lên, do vậy sẽ không giải quyết được vấn đề thiếu hụt ngô nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, chưa kể giả sử nếu cứ cho trồng ngô BĐG tại Việt Nam thì cũng chẳng thể nào cạnh tranh nổi với ngô BĐG của Mỹ, Achentina, v.v... là những nước có điều kiện đất đai, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật hơn hẳn Việt Nam.

Tại sao Việt Nam không đơn giản áp dụng chính sách thuế để xử lý tình huống thiếu hụt nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như những nước khác vẫn làm?. Ví dụ, khi nào trong nước thiếu thì giảm thuế nhập khẩu, còn khi trong nước đến vụ thu hoạch thì tăng thuế xuất thuế nhập khẩu lên để bảo hộ người sản xuất trong nước. Hiện tại, Việt Nam cũng đã sản xuất được tới gần 5 triệu tấn ngô, với sản lượng như vậy mà đến thời vụ thu hoạch, nông dân bán còn khó, nếu trồng ngô BĐG thì cạnh tranh sao nổi với ngô BĐG nhập khẩu có giá rất cạnh tranh.

Có ý kiến đặt cho rằng các công ty đa quốc gia tìm mọi cách để vào Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thức ăn chăn nuôi, giá thức ăn gia súc của họ chưa bao giờ ngừng tăng. Họ luôn viện cớ giá đầu vào tăng để tăng giá thức ăn chăn nuôi, đến mức không thể tăng hơn được nữa vì người nông dân kiệt quệ vì lỗ vốn thì họ lại xin được miễn VAT nhưng thử xem miễn VAT rồi thì giá thức ăn chăn nuôi có giảm được không? Đừng có mơ mà vỡ mộng.

Thay cho lời kết

Những bài học ở Châu Âu và Trung Quốc khẳng định rằng thắng lợi chỉ thuộc về những người nắm giữ công nghệ. Cần phải thận trọng và cảnh giác với những phương thức kinh doanh kiểu mới của những “ông Trùm” thế giới sử dụng các con bài “sinh tặc” hiện nay.

 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module