Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình

  • PDF

 Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình

Một nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy nếu Chính phủ Nhật bãi bỏ chính sách hạn chế sản lượng gạo, giá gạo của Nhật sẽ giảm từ 13.000 Yen/60kg xuống còn 8000 Yen/60kg, tức là còn thấp hơn giá gạo sản xuất của Trung Quốc. Khi đó Nhật Bản sẽ không còn phải dựa vào thuế nhập khẩu để bảo vệ sức cạnh tranh của gạo nội địa, và thậm chí gạo Nhật Bản có thể còn được xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong những năm gần đây, gạo Nhật Bản đã được xuất khẩu sang Đài Loan và Hồng Kông. Gạo Nhật được nhiều nước ưa chuộng do ưu thế về chất lượng. Vì vậy, nếu chính sách hạn chế sản lượng được bãi bỏ khiến chi phí và giá thành sản xuất giảm xuống, người Nhật tin rằng ngành lúa gạo sẽ trở thành một ngành xuất khẩu có ưu thế của mình

Sau nhiều thập kỷ duy trì chính sách bảo hộ số đông những người nông dân canh tác trên quy mô nhỏ, ngành nông nghiệp Nhật Bản đã tự hạn chế việc triển khai các tiến bộ KH&CN và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của mình, nhưng những sức ép do xu hướng phát triển xã hội và khả năng gia nhập TPP đang buộc họ phải đối diện với lựa chọn khó khăn: cải cách hoặc suy thoái.

Cánh đồng lúa của Mutsuo Banba nằm ở quận Ishikawa, một khu vực ven biển phía Tây Bắc của Nhật Bản. Là một nông dân làm việc toàn thời gian và từng được chính phủ khen thưởng về tài quản lý sản xuất nông nghiệp, mỗi ngày ông đều đến chăm sóc cánh đồng của mình trong dịp mùa vụ. Nhưng nhiều nông dân Nhật Bản khác là những người làm bán thời gian và không chuyên tâm được như Banba. “Họ ở trong nhà có máy lạnh, trong khi lúa ngoài đồng bị khô nẻ, nứt cả hạt ra ngoài”, Banba phàn nàn. Điều này khiến ông bất bình, khi những người của hiệp hội địa phương đến thu hoạch, thóc lúa của mọi nhà được trộn lẫn và không thể phân biệt ai tốt ai xấu.

Tầm ảnh hưởng chính trị của những nông dân bán thời gian

Những người nông dân làm bán thời gian ở Nhật Bản thường không có động lực để toàn tâm cho đồng ruộng vì đa số đã có các công việc khác và chỉ ra đồng khi có thời gian rảnh. Thu nhập hằng năm của họ thường trên mức trung lưu của Nhật Bản và không phụ thuộc nhiều vào doanh thu sản xuất nông nghiệp, vì vậy họ không cần phải đầu tư nhiều cho công việc này, và hầu hết đều thỏa mãn với việc vĩnh viễn canh tác trên quy mô nhỏ. Chính sách bảo hộ của Chính phủ Nhật cho phép nông dân Nhật có thể không làm gì mà vẫn được trợ cấp – năm 2012, trợ cấp của Chính phủ Nhật cho nông dân chiếm tới 56% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp quốc gia này, chỉ thấp hơn so với Na Uy và Thụy Sỹ, theo số liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

Tuy nhiên, do không dành nhiều thời gian cho việc trồng trọt, nông dân làm bán thời gian trên quy mô nhỏ ở Nhật Bản có xu hướng dùng nhiều hóa chất trừ sâu và diệt cỏ hơn nông dân làm toàn thời gian trên diện tích canh tác lớn. Theo một thống kê từ năm 2000, trong số những nông dân canh tác dưới 1 hecta, chỉ có 20% có phương thức canh tác thân thiện với môi trường, trong khi với những nông dân làm tối thiểu 10 hecta thì tỉ lệ này là trên 50%.

Với số lượng chiếm một tỉ lệ áp đảo so với số nông dân làm toàn thời gian – trong tổng số 1,5 triệu nông dân Nhật chỉ có 420 nghìn người làm toàn thời gian – mặc dù không có nhiều cống hiến về năng suất trồng trọt nhưng đội ngũ nông dân bán thời gian ở Nhật Bản có ảnh hưởng chính trị đáng kể, thông qua một mạng lưới hiệp hội toàn quốc mang tên hội Nông nghiệp Nhật Bản (JA). Hiệp hội này có mối quan hệ mật thiết với Đảng Dân chủ Tự do và Bộ Nông nghiệp, với số thành viên lên tới 10 triệu người (tương đương khoảng 8% dân số Nhật), và nhân viên hiệp hội trên toàn quốc lên tới 240 nghìn người – JA thậm chí còn có một ngân hàng riêng, với tổng giá trị tài khoản tiền gửi lên tới 532 tỷ USD, ngang ngửa với một ngân hàng quốc tế lớn trên thế giới là Barclays – có thể coi là tổ chức vận động chính sách hùng mạnh nhất ở Nhật Bản.

JA và Đảng Dân chủ Tự do luôn cực lực phản đối việc Nhật Bản đàm phán để tham gia vào hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Bộ Nông nghiệp cũng đồng tình với họ với nhận định rằng TPP sẽ khiến Nhật Bản mất đi 9 phần 10 thị phần và sản lượng gạo, kéo theo mất đi 3,4 triệu công ăn việc làm. Với sự hậu thuẫn này, hiện nay, hội JA đang có chiến dịch vận động duy trì mức thuế rất cao đánh vào hàng nông nghiệp nhập khẩu: thuế gạo nhập khẩu lên tới 777,7%, thuế bơ nhập khẩu là 360%, thuế đường nhập khẩu là 328%.
 

Nghịch lý Nhật Bản: có năng lực công nghệ nhưng tự trói tay mình

Thay vì phải cố thủ dựa vào hàng rào thuế quan cao vượt bậc, người Nhật hoàn toàn có đủ năng lực để có thể triển khai công nghệ cao vào nông nghiệp, làm giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh nông sản. Ví dụ nông dân Nhật có thể áp dụng kỹ thuật quản lý canh tác bằng cách chia ô ruộng, dùng công nghệ định vị toàn cầu (GPS) để đo chính xác diện tích từng ô, rồi dùng công nghệ cảm biến để liên tục theo dõi, đánh giá chất lượng đất, đồng thời phân tích hàm lượng nitơ dựa trên cảm biến màu sắc của lá cây trồng, từ đó tính đoán ra lượng phân bón phù hợp cho từng ô ruộng, hoặc các thiết bị tự động có thể giúp theo dõi thời tiết, cho dữ liệu giúp dự đoán đợt bùng phát sâu bệnh để nông dân phun thuốc trừ sâu một cách hiệu quả và tiết kiệm.

Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn luôn bảo thủ với chính sách kiểm soát sản lượng để bảo vệ những người nông dân làm nông nghiệp ở quy mô nhỏ, khiến việc áp dụng công nghệ cao trở nên vô cùng đắt đỏ và không khả thi. Thậm chí một số loại công nghệ phố biến ở nước khác nhưng ở Nhật Bản lại bị hạn chế triệt để – ngay từ những năm 1970, việc nghiên cứu triển khai những giống lúa năng suất cao vẫn luôn là điều cấm kỵ đối với các nhà khoa học ở tầm trung ương cũng như địa phương. Hậu quả là hiện nay sản lượng gạo trên cùng một đơn vị diện tích ở Nhật Bản dưới mức 40% sản lượng gạo ở California, theo đó chi phí sản xuất cũng cao hơn trên 28%.

Nguy cơ suy thoái ngành nông nghiệp do chính sách bảo thủ

Do chính sách tự trói buộc mình nên nếu phải cạnh tranh với hình thức canh tác trên quy mô lớn kiểu Mỹ - ví dụ gieo hạt bằng máy bay – thì chắc chắn mô hình canh tác quy mô nhỏ của Nhật Bản sẽ sụp đổ, theo nhận định của ông Kozo Watanabe, một người đại diện của JA. Đây là lí do khiến vấn đề thuế nhập khẩu gạo là đề tài gây tranh cãi nhất ở Nhật Bản khi bàn về TPP, và JA không ngừng vận động để Chính phủ Nhật duy trì mức thuế nhập khẩu cao để ngăn chặn gạo nhập khẩu từ Mỹ và các nước khác, cho phép nông dân Nhật tiếp tục trồng lúa với quy mô nhỏ.

Những người vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như Watanabe thường lập luận rằng lúa gạo là “sản phẩm linh thiêng” của người Nhật, và hoạt động canh tác lúa gạo mang tính cộng đồng và trên quy mô nhỏ được coi là hệ quả tự nhiên của lịch sử đất nước (với đặc thù địa lý quốc gia nhiều đồi núi), đến nay đã trở thành một bản sắc văn hóa của dân tộc.

Thực tế thì số lượng hộ nông dân nhỏ ở Nhật tăng mạnh sau năm 1945, khi một cuộc cải cách ruộng đất quan trọng ở Nhật Bản đã phân phối lại đất nông nghiệp từ tay các lãnh chúa lớn vào tay nông dân. Tới giai đoạn sau này, người ta từng hi vọng các hộ nông dân nhỏ sẽ chuyển đổi cơ cấu ngành nghề sang các ngành công nghiệp khác, đồng thời sẽ bán đất hoặc cho các hộ nông dân khác thuê để làm nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, theo lời Masatoshi Wakabayashi, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp thời Chính phủ của Thủ tướng Abe nhiệm kỳ năm 2007. Tuy nhiên, trong thực tế giá đất đai ở Nhật Bản tăng vọt khiến nông dân có xu hướng giữ lại đất với hi vọng sau này có thể bán lại cho các dự án khu công nghiệp, đô thị, v.v. Luật đất đai nghiêm ngặt ở Nhật Bản cũng khiến việc mua bán đất diễn ra không dễ dàng.

Hậu quả là ngày nay khi các vùng nông nghiệp ngày càng thưa dân cư, có tới một phần mười đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Thế hệ trẻ đa số không muốn theo nghề nông khiến tuổi thọ trung bình của nông dân ngày càng cao: thống kê năm 2010 cho thấy tuổi thọ trung bình của nông dân là 70. Trước tình hình này, một quan chức Bộ Nông nghiệp Nhật Bản thừa nhận rằng nông nghiệp Nhật Bản đang phải đối diện với một lựa chọn không tránh khỏi: cải cách hoặc suy thoái.

Trong một báo cáo hồi tháng 5 năm ngoái, hai nhà kinh tế Randall Jones và Shingo Kimura của tổ chức OECD cũng đã viết: “Nếu không tiến hành cải cách một cách căn bản, nông nghiệp [Nhật Bản] sẽ tiếp tục suy thoái, mắc kẹt trong cái bẫy năng suất thấp, thu nhập thấp, và phụ thuộc vào chính sách trợ cấp và bảo hộ thương mại của Chính phủ”.

Gia nhập TPP: chất xúc tác để cải cách

Gia nhập TPP và giảm thuế là giải pháp duy nhất cho nông nghiệp Nhật Bản, Banba nói. “Những người nông dân giỏi của Nhật Bản không e sợ TPP”, ông khẳng định. Việc gia tăng cạnh tranh sẽ buộc những hộ nông dân nhỏ không chuyên tâm làm nông nghiệp bán lại đất, và những người làm nông nghiệp toàn thời gian như ông có thể gom được nhiều đất trồng trọt hơn. Hi vọng này của Banba không phải là vô căn cứ, một nông dân láng giềng của ông, nay đã 74 tuổi, cho biết sẽ để Banba thuê lại đất của mình ngay khi Nhật Bản ký vào hiệp định TPP, theo đó cho phép nhập khẩu gạo giá rẻ của Mỹ.

Nếu Nhật Bản gia nhập TPP, nhiều khả năng họ sẽ nỗ lực tìm cách đề nghị được trì hoãn vài năm trước khi xóa bỏ chính sách bảo hộ nông dân, đặc biệt đối với những sản phẩm được coi trọng như lúa gạo. Tuy nhiên, từ trước đó Nhật Bản đã phải triển khai những chính sách cải cách nông nghiệp quyết liệt, theo nhận định của Masayoshi Honma, giáo sư kinh tế Đại học Tokyo. Trước hết, Nhật Bản cần ban hành các chính sách giúp tập trung đất đai vào tay những người nông dân có năng lực. Những người mới bước chân vào nghề nông, bao gồm cả các doanh nghiệp, phải được quyền mua đất, thay vì chỉ được thuê lại.

Việc đàm phán tham gia TPP và tiến hành cải cách nông nghiệp sẽ phải được Chính phủ của Thủ tướng Abe triển khai đồng thời, vì nếu tham gia TPP và cho phép hàng nông sản nhập khẩu ồ ạt tràn vào thị trường trong khi người nông dân chưa kịp nâng cao năng lực cạnh tranh thì đó sẽ là thảm họa cho ngành nông nghiệp Nhật.

Trong khi đó, ở phía ngược lại, những nhà vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như hội JA sẽ tiếp tục tìm mọi cách để ngăn cản Nhật Bản cải cách nông nghiệp cũng như gia nhập TPP. Quyền lực và lợi ích của JA phụ thuộc vào số lượng thành viên của nó, vì vậy JA chắc chắn không muốn thay đổi hiện trạng cơ cấu đất nông nghiệp của Nhật Bản. Tuy nhiên, dù làm cách nào thì JA vẫn không thể thay đổi được thực tế là các thành viên của mình đang ngày càng già đi, và ảnh hưởng chính trị của nó cũng theo đó giảm dần.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

  • PDF

 ​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

Cacbon đioxit (CO2) và các khí nhà kính khác trong khí quyển có thể giảm theo hai cách - bằng cách cắt giảm khí thải, hoặc bằng cách loại bỏ nó ra khỏi khí quyển, ví dụ như thông qua cây cối, đại dương và đất.
 

Hiệp định Paris lịch sử đặt ra mục tiêu hạn chế tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong tương lai ở mức dưới 2 ° C và theo đuổi các nỗ lực để thậm chí còn hạn chế mức tăng trung bình đến 1,5°C so với các giai đoạn tiền công nghiệp. Tuy nhiên, thời gian và chi tiết của những nỗ lực này lại tùy thuộc vào từng quốc gia quyết định.

Trong một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí Nature Communications, các nhà nghiên cứu đến từ Viện Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế (IIASA) đã sử dụng một mô hình toàn cầu về hệ thống cacbon để tính toán lượng cacbon thải ra và hấp thu thông qua các hoạt động tự nhiên và của con người.

Theo nghiên cứu, tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 25% lượng cung cấp năng lượng toàn cầu vào năm 2100, so với mức 95% hiện nay. Đồng thời phải giảm thiểu sử dụng đất, chẳng hạn như phá rừng. Điều này sẽ dẫn đến lượng phát thải tích lũy giảm 42% vào cuối thế kỷ so với tình huống kinh doanh bình thường.

“Nghiên cứu này đưa ra một tính toán rộng lớn về lượng cacbon điôxit trong khí quyển của chúng ta, nó đến từ đâu và nó đi đến đâu. Chúng tôi không chỉ xem xét khí thải đến từ nhiên liệu hóa thạch, mà còn từ nông nghiệp, sử dụng đất, sản xuất lương thực, năng lượng sinh học và hấp thu cacbon từ các hệ sinh thái tự nhiên", Brian Walsh, chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Thế giới, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

So sánh bốn kịch bản khác nhau về phát triển năng lượng trong tương lai, với một loạt kiểu kết hợp năng lượng tái tạo và năng lượng hóa thạch. Trong một kịch bản "tái tạo" cao, trong đó gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học tăng khoảng 5% mỗi năm, thì lượng khí thải rò rỉ có thể lên đến đỉnh điểm vào năm 2022. Tuy nhiên, nếu không có các công nghệ khí thải âm tính đáng kể, thì con đường đó vẫn sẽ dẫn đến tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên 2,5 độ C, không đạt được mục tiêu của Hiệp định Paris.

Theo Walsh, viễn cảnh năng lượng tái tạo cao là tham vọng, nhưng không phải là không thể - sản xuất năng lượng tái tạo toàn cầu đã tăng 2,6% trong giai đoạn 2013 và 2014, theo IEA. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy việc tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (với tốc độ tăng trưởng năng lượng tái tạo từ 2% đến 3%/năm), sẽ làm lượng khí thải cacbon đạt đỉnh ngay vào cuối thế kỷ này, gây ra nhiệt độ toàn cầu tăng lên 3,5°C vào năm 2100.

Nghiên cứu bổ sung cho một số lượng lớn các nghiên cứu của IIASA về chính sách giảm nhẹ khí hậu và cơ hội đạt được các mục tiêu.

Một mô hình mới

Nghiên cứu này là một trong những kết quả được công bố đầu tiên từ mô hình FeliX mới được phát triển. Đây là mô hình về hệ thống xã hội, kinh tế, môi trường trên trái đất và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Có thể tại mô hình miễn phí tại http://www.felixmodel.com/.

Giám đốc chương trình Dịch vụ và Quản lý Hệ sinh thái IIASA nhận xét: "So với các mô hình đánh giá khí hậu và các mô hình đánh giá tổng hợp khác, mô hình FeliX ít tốn kém hơn, nhưng nó cung cấp một cái nhìn tổng thể về toàn bộ chu kỳ cacbon, là điều quan trọng để chúng ta có thể hiểu biết về sự thay đổi khí hậu và năng lượng trong tương lai".

 

Tình hình biển Đông có gì mới ?

  • PDF

alt

Tình hình biển Đông có gì mới ? được tiếp nối trên trang Tình yêu cuộc sống với các bài mới đáng chú  ý : 7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì? (Hải Đăng, VHNA 30 3 2015)  Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển  Đông (VOA 2 4 2015); Sóng ngầm địa chính trị khu vực và sự lựa chọn của Việt Nam (Lê Hồng Hiệp. Nghiên cứu Quốc tế 28. 12. 2014); Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam (RFI, 2.3. 2015);  xem tiếp...



Nhà nông bao giờ đủ giống?

  • PDF

(Thời báo Kinh Doanh) - Không ai có thể phủ nhận về điều kiện phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, song có một thực tế đáng buồn là ngành nông nghiệp của chúng ta vẫn chỉ mạnh về lượng. Một trong những nguyên nhân là do sự yếu kém ngay từ con giống. 

Cách đây không lâu, Gs.Ts. Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho biết Việt Nam đang phải chi tới 500 triệu USD mỗi năm để nhập khẩu giống, trong đó 80% hạt giống lúa lai trong nước phải mua của nước ngoài. Ông cũng cảnh báo, Việt Nam còn phải lệ thuộc vào hạt giống nhập khẩu trong một thời gian dài nữa.

Lệ thuộc giống ngoại 

Tại Hội nghị tổng kết giống cây trồng vật nuôi vừa được Bộ NN&PTNT tổ chức mới đây, một lần nữa bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT “hâm nóng” vấn đề này khi đưa ra nhận định: Hệ thống sản xuất giống trong nước tuy nhiều nhưng năng lực hạn chế, về cơ bản còn chưa đáp ứng yêu cầu cho sản xuất hàng hóa trong nước, chưa nói tới mục tiêu “hướng mạnh” ra xuất khẩu như mục tiêu ngành đề ra. “Nhìn chung, các giống vật nuôi chính ở nước ta hiện nay chủ yếu có nguồn gốc nhập khẩu: giống gà trên 90%, giống lợn khoảng 74%, 21% số bò thịt được nhân ra từ phương pháp thụ tinh nhân tạo có nguồn gốc nhập khẩu từ Úc”, bà Hồng cho biết...

Thậm chí, trong chăn nuôi, người dân sử dụng giống thương phẩm làm đàn bố mẹ khá phổ biến: 70 - 75% với lợn, gần 60% với gà, 15,7% với thủy cầm. Trong thủy sản, các cơ sở nhân giống cá rô phi chỉ đáp ứng trên 70%; con giống nhuyễn thể đáp ứng được 50% nhu cầu thả nuôi. Đặc biệt, tại ĐBSCL - một trong những vựa lúa lớn nhất nước nhưng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần chỉ đạt 40% và ở Đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 60%, phần còn lại là do nhân dân tự sản xuất.

Ông Phạm Đồng Quảng, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định mặc dù Việt Nam tiếp cận các giống lúa lai từ những năm 1990 và đã cố gắng đầu tư nghiên cứu lúa lai nhưng chúng ta vẫn đi sau Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác. Hơn nữa, sản xuất giống lúa lai gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào thời tiết nên các DN ngại đầu tư. Chính vì thế, bên cạnh nghiên cứu và sản xuất trong nước thì Việt Nam vẫn phải nhập khẩu giống lúa lai để đáp ứng nhu cầu.

Trong khi đó, ông Hàng Phi Quang, Tổng giám đốc công ty CP Giống cây trồng miền Nam, thừa nhận sản phẩm của công ty lai tạo chưa tạo được đột phá trong nhóm sản phẩm bắp vàng, hạt giống rau thiếu nguồn gen tốt và phù hợp; trong khi thị phần của hai nhóm sản phẩm này đang do các công ty nước ngoài chi phối. “Cùng với đó, chi phí đầu tư cho nghiên cứu rất lớn, và ẩn chứa nhiều rủi ro, đối với một công ty cổ phần, mức độ đầu tư nghiên cứu luôn bị giới hạn vì phải cân đối với lợi nhuận của các nhà đầu tư và thu nhập của người lao động”, ông Quang cho biết.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Việt - Úc, chia sẻ dù Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu tôm, song chúng ta lại không thể tự chủ về nguồn tôm và chất lượng. Bằng chứng từ năm 2008 đến nay là 6 năm nhưng ngành thủy sản nói chung cũng như tôm nói riêng chưa có giống mới nào được tạo ra. Thêm vào đó, các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày, còn cây dài ngày chưa được quan tâm đúng mức, một số đối tượng còn bỏ trống. Số lượng giống được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. 

Doanh nghiệp kêu khó 

Theo các DN, hoạt động nghiên cứu của các DN giống cây trồng vật nuôi đang khó trăm bề do không tạo ra được các dòng ưu tú, không tiếp cận kịp thời các công nghệ chọn tạo giống tiên tiến để lai tạo ra được các giống lai tốt phù hợp với nhu cầu thị trường, cạnh tranh được với các giống lai nhập nội… dẫn đến lai tạo giống của Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước trong khu vực.

Khi được hỏi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận chính sách về nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống chưa phát huy hết năng lực của toàn xã hội, đặc biệt là các DN và cá nhân, một số chính sách đã được ban hành nhưng triển khai thiếu đồng bộ. Quá trình chuyển giao giống mới vào sản xuất còn thiếu sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu với các đơn vị sản xuất giống, nhất là DN. Trên thực tế, DN là cầu nối tiếp nhận giống mới từ các viện nghiên cứu để sản xuất giống thương phẩm cung cấp cho sản xuất đại trà nhưng thời gian vừa qua liên kết này còn thiếu chặt chẽ.

Những bất cập ấy được ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Công ty giống cây trồng Thái Bình (TSC), cụ thể hóa bằng nhận định “Các DN sản xuất và cung ứng giống nước ngoài đang ào ạt vào Việt Nam. Họ có vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý và nguồn nhân lực tốt. Đặc biệt là khả năng tiếp thị của họ hơn hẳn các DN trong nước. Khi Việt Nam chưa có hệ thống chính sách đầy đủ để bảo hộ ngành giống trong nước, thì các DN nội thua trên sân nhà là chuyện dễ hiểu”.

Vì vậy, ông Báo cho rằng Bộ NN&PTNT cần quy định nếu giống thương phẩm đưa vào Việt Nam sau 3 năm mà không tổ chức sản xuất tại Việt Nam thì phải cấm nhập khẩu và lưu hành. Đồng thời, để ngành giống thật sự là động lực phát triển nền nông nghiệp thì Nhà nước cũng phải giúp các DN và các tác giả bảo vệ bản quyền giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa.

Có thể thấy nông nghiệp Việt Nam đã đến lúc cần phải thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt là khối nghiên cứu từ các DN. Mà theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, để thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành thì công tác giống không chỉ cần được tăng cường mà còn phải được điều chỉnh. Ngành trồng lúa thay vì tập trung chọn tạo giống có năng suất cao ngắn ngày thì tập trung vào những giống lúa có chất lượng thể hiện qua sự đánh giá của thị trường. “Chỉ những giống lúa có đặc tính tốt, ổn định, được trồng với quy mô lớn thì mới tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng hình ảnh của một nước sản xuất lúa gạo chất lượng tốt, các DN mới có điều kiện xây dựng những thương hiệu bền vững”, Bộ trưởng nói.

---------------------------------------- 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát 

Chúng tôi đang cố gắng để giảm tới mức tối thiểu việc nhập giống thương phẩm và yêu cầu các DN nhập khẩu giống thương phẩm sau 3 năm phải tổ chức sản xuất trong nước. Quy định này nhằm thúc đẩy các DN tổ chức sản xuất trong nước chủ động cung cấp giống kịp thời cho nông dân và bám sát yêu cầu trong nước. 

Ts. Trần Công Xuân, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam

Yếu kém nhất của chăn nuôi Việt Nam, theo tôi, chính là hệ thống giống, kể cả giống Trung ương lẫn địa phương, cứ mạnh ai nấy làm, cuối cùng chẳng giống nào ra giống nào. Việt Nam có nhiều giống nội quý, chất lượng cao nhưng năng suất thấp, các giống thuần hầu như không còn mà đã bị lai tạp, mức độ thuần khiết thấp. Để nâng cao năng suất, chất lượng con thương phẩm, Việt Nam buộc phải nhập giống gia cầm nước ngoài và nhập rất nhiều. Đáng tiếc là Việt Nam không đầu tư cho giống thuần, chỉ nhập con giống ông bà, bố mẹ, sau đó sản sinh ra thương phẩm là hết và lại phải nhập lại. 

Gs. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam 

Cần thẳng thắn thừa nhận, chúng ta đang thiếu những cán bộ chọn tạo giống xuất sắc và cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp này còn rất hạn chế. Trong suốt một thời gian dài, chúng ta chưa có cơ chế để đảm bảo cho cán bộ nghiên cứu giống có thể “sống khỏe” với công việc mình đang làm nên khó thu hút nhân tài vào lĩnh vực này. Thành ra, ngoài việc cố gắng tạo ra những giống cây như cam không hạt, vải thiều chín sớm…, các nhà chọn tạo giống còn phải chạy đôn chạy đáo làm thêm việc này việc nọ để kiếm sống.

 

Hệ thống mới lạ sử dụng vi khuẩn để xử lý và chiết xuất năng lượng từ nước thải

  • PDF

Hệ thống mới lạ sử dụng vi khuẩn để xử lý và chiết xuất năng lượng từ nước thải 

Mỗi ngày, các nhà máy bia và rượu vang thải ra hàng ngàn gallon nước thải, nước thải này được đổ xuống cống rãnh hoặc được chở đến các cơ sở xử lý nước thải với chi phí đắt đỏ.​

Nay, công ty Cambrian Innovation sẽ thương mại hóa 1 hệ thống xử lý mới lạ có tên là EcoVolt, hệ thống này sử dụng các vi khuẩn được sạc điện để xử lý và tạo ra năng lượng từ nước thải. Công ty này sẽ biến đổi hệ thống của họ để tạo ra giá trị từ nước thải trong lĩnh vực nông nghiệp và quân sự, và để biến đổi CO2 thành nhiên liệu cho các ứng dụng trên Trái Đất và trong không gian.

Cơ sở hạ tầng công nghiệp ngày nay điều khiển các nguồn cơ bản theo hướng tuyến tính, làm tăng chi phí của việc xử lý chất thải và gây hại cho môi trường. Nhưng 1 phương pháp tuần hoàn hơn – tại đây chất thải được sử dụng làm nguồn năng lượng – có thể đem lại lợi nhuận cao hơn và loại bỏ được sự căng thẳng giữa môi trường và kinh tế, tổng giám đốc điều hành Matt Silver của hãng này cho biết.

Silver cho biết: “Việc xử lý nước thải tiêu tốn hơn 3% lượng điện ở Mỹ, tuy nhiên các chất hữu cơ trong nước thải này có năng lượng mà có thể được chiết xuất và sử dụng cục bộ”.

Hệ thống EcoVolt có tính môđun và tự động, bao gồm 1 cống lấy nước, đây là nơi chứa nhiều máy tính để tự động hóa và điều khiển, và chứa khoảng 20.000 gallon đơn vị xử lý. Ở những đơn vị xử lý này, các vi khuẩn có tên là exoelectrogen sẽ thực hiện 1 quy trình lạ thường, được gọi là electromethanogenesis – quy trình này lần đầu tiên được sử dụng trong việc xử lý nước thải.

Exoelectrogen được phủ lên cực dương. Chúng ăn các chất ô nhiễm hữu cơ còn sót lại của nước thải rồi phát điện trong quá trình này. Điện này đi qua 1 mạch điện rồi vào cực âm được phủ bằng những vi khuẩn làm hao mòn lượng điện này – cùng với CO2 – để tạo ra khí sinh học ở tốc độ đến 100 foot khối/phút. Quy trình này làm thay đổi sự tiêu hóa kỵ khí xảy ra tự nhiên ở nước thải bởi vì nó làm ổn định việc xử lý, cải thiện chất liệu khí sinh học và cho phép mức tự động hóa cao hơn.

Khí sinh học đi vào 1 hệ thống đồng phát nhiệt-điện được kết nối để chuyển đổi năng lượng. Dựa vào một vài yếu tố, điều này tạo ra từ 30-400 kWh điện ở bất kỳ nơi đâu. Nước thải được xử lý sau khi ra khỏi lò phản ứng sẽ bị loại bỏ từ 80-90% chất ô nhiễm, vì thế nó có thể được sử dụng để tưới, rửa thiết bị cùng nhiều việc khác.

Hệ thống này có thể xử lý từ 10.000 đến 1 triệu gallon nước thải mỗi ngày.

Từ tháng 1 vừa qua, 2 nhà máy bia Bear Republic và Lagunitas đã mua hệ thống EcoVolt. Với tốc độ hiện tại, Cambrian ước tính hệ thống này sẽ phát đủ điện để đáp ứng từ 25-50% nhu cầu của 2 nhà máy bia này và cho phép tái sử dụng khoảng 25% nước thải của họ. Hệ thống này còn giúp giảm bớt 10 chuyến xe tải chở nước thải mỗi ngày cho Lagunitas.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai

  • PDF

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai 

Năng suất ngũ cốc của ngành nông nghiệp là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu. Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) ước tính rằng để đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số thế giới vào năm 2030, ngành nông nghiệp sẽ phải sản xuất thêm một tỷ tấn ngũ cốc mỗi năm, tương đương với sự gia tăng 50% so với sản xuất 2,2 tỷ tấn trong năm 2011.

Với các công cụ sinh học phân tử sẵn có hiện nay, việc nhân giống cây trồng sẽ có thể đạt được sản lượng ngũ cốc đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực dân số thế giới tới năm 2040. Mặc dù nhiều sản phẩm nông nghiệp được trồng, nhưng cây trồng ngũ cốc vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên thế giới. Ngũ cốc được sử dụng không chỉ cho người tiêu dùng trực tiếp mà còn để phát triển chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học. Từ năm 1960 đến năm 2010, sản lượng ngũ cốc năm tăng 270% từ 800 triệu lên đến 2,2 tỷ tấn mặc dù diện tích canh tác chỉ tăng 8%. Trong năm thập kỷ qua, năng suất hạt trung bình trên thế giới tăng từ 1,3 lên 3,2 tấn/ha. Những tiến bộ công nghệ từ Cuộc cách mạng Xanh trong thập niên 1960 đã được tăng năng suất hơn gấp đôi và bổ sung hơn một tỷ tấn các loại hạt cung cấp lương thực cho thế giới. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng năng suất ngũ cốc từ những tiến bộ đã thúc đẩy Cuộc Cách mạng Xanh đang giảm dần. Điều này chỉ ra rằng để năng suất tăng lên đến năm 2040 sẽ đòi hỏi một số tiến bộ công nghệ mới để đảm bảo sự gia tăng 50% cần thiết trong sản xuất cây lương thực.

Tốc độ tăng trưởng hàng năm liên quan đến áp dụng các tiến bộ công nghệ trong cuộc Cách mạng Xanh ở các khu vực cho thấy, tiểu vùng Sahara châu Phi có tốc độ tăng trưởng thấp hơn vì những tiến bộ trong cuộc Cách mạng Xanh đã không thích nghi với đất, khí hậu và điều kiện địa mạo khác nhau của vùng đó. Hơn nữa, các điều kiện kinh tế trong khu vực không ủng hộ việc đầu tư vào các công nghệ mới. Phần còn lại của thế giới bao gồm hầu hết các nước phát triển, và sự khác biệt về năng suất, chỉ ra tiềm năng tăng trưởng ở các vùng khác.

Các nhà di truyền học hiện nay đã nghiên cứu phát triển được các hạt giống chuyên biệt bằng cách lập bản đồ ADN của cây có thể cải thiện việc kiểm soát các loại cây trồng bằng cách tăng năng suất cùng với việc sử dụng các đầu vào ít hơn. Khi các công cụ công nghệ sinh học phát triển đến năm 2040, chi phí thực hiện các dự án nghiên cứu chuyển gen có thể sẽ giảm đáng kể và năng suất cây trồng chuyển gen sẽ lan rộng từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.

Vài năm trước, chi phí xác định một gen trong một cây là 2 USD, thì bây giờ chỉ còn 0,15 USD và những phát triển hiện nay đang diễn ra có thể làm cho chi phí này giảm xuống chỉ còn 30 USD cho một triệu gen. Vào năm 2040, việc xác định gen có thể trở thành thói quen và không còn là rào cản lớn phát triển cây trồng.

Kỹ thuật tạo giống phân tử ở thực vật có khả năng sẽ đẩy nhanh việc thương mại hóa cây trồng mới có năng suất hạt cao hơn và đặc tính nông học tốt hơn. Chi phí lập trình tự và lập bản đồ gen được giảm dần đến điểm mà các công nghệ này sẽ có khả năng trở nên phổ biến vào năm 2040. Ngô chịu hạn, mới đây đã nhận được giấy phép của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Ủy ban châu Âu, là một ví dụ về ứng dụng các công nghệ chọn lọc nhờ phân tử chỉ dấu (marker), đẩy nhanh quá trình nhân giống cây trồng.

Công nghệ chuyển gen thực vật đã có những bước tiến đáng kể với một số kỹ thuật đột phá trong thuốc trừ sâu và kháng thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, ứng dụng của nó đã bị chậm lại vì các mối lo ngại của công chúng và quy định về tác hại tiềm tàng của công nghệ. Nó dường như sẽ không được phát triển đầy đủ và triển khai vào năm 2040.

Các tiến bộ trong nghiên cứu bộ gen thực vật đòi hỏi nông dân phải gia tăng chi phí sản xuất. Chi phí của hạt giống biến đổi gen có thể cao hơn so với hạt giống thông thường 5-7 lần. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của Mỹ, việc canh tác các loại cây trồng biến đổi gen kháng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu vẫn có lãi. Trong năm 2011, 88% cây ngô và 94% cây đậu tương ở Mỹ là biến đổi gen.

Nhờ hiệu quả trong việc phát triển, các loại cây trồng biến đổi gen tiếp tục tăng đến năm 2040, những lợi thế kinh tế của việc sử dụng các loại cây trồng này cũng sẽ tăng lên.

 

VN cập nhật báo cáo cho Công ước khung về biến đổi khí hậu

  • PDF

VN cập nhật báo cáo cho Công ước khung về biến đổi khí hậu

Ngày 23/1, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường giới thiệu Báo cáo cập nhật của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (BUR1). Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Văn Tuệ cho biết, trong quá trình tham gia Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 13 tại Bali, Indonesia vào năm 2007 đến Hội nghị lần thứ 19 tại Ba Lan vào năm 2013, các nước đang phát triển được khuyến khích xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển Carbon thấp và tự nguyện thông báo cho Ban thư ký Công ước khí hậu các đề xuất về các Hành động giảm nhẹ khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (gọi tắt là NAMA). Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện các hoạt động nghiên cứu, phát triển các NAMA tại Việt Nam.

Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (BUR1) có 4 chương, gồm: Bối cảnh quốc gia; Kiểm kê quốc gia khí nhà kính; Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Nhu cầu tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực và trợ giúp nhận được cho các hoạt động biến đổi khí hậu.

Theo BUR1, tổng lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương bao gồm lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và 266 triệu tấn CO2 tương đương không bao gồm LULUCF. Phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 53,03% tổng lượng phát thải không tính LULUCF, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp chiếm 33,20%. Phát thải từ các lĩnh vực công nghiệp hóa và chất thải tương ứng là 7,97% và 5,78%.

BUR1 còn có các phương án giảm nhẹ khí nhà kính trong từng lĩnh vực như: Năng lượng; nông nghiệp; LULUCF. Cùng với đó là những nhu cầu tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực và trợ giúp nhận được cho các hoạt động biến đổi khí hậu.

Trước đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng công bố Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với Biến đổi khí hậu.

Theo ước tính, trung bình mỗi năm Việt Nam phải chịu từ 6 đến 7 cơn bão. Từ năm 1990 đến 2010 đã xảy ra 74 trận lũ trên các hệ thống sông. Hạn hán nghiêm trọng, xâm nhập mặn, sạt lở đất, và nhiều thiên tai khác cũng đã và đang gây trở ngại cho sự phát triển của các vùng miền trên cả nước.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, các thiên tai mang tính cực đoan đã xảy ra nhiều hơn, gây thiệt hại nhiều hơn về người và ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế đất nước.

Thông tin về cực đoan khí hậu trong tương lai, đại diện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho biết, theo kịch bản nồng độ khí nhà kính cao, số ngày nắng nóng dự tính đến giữa thế kỷ 21 tăng phổ biến từ 20-30 ngày; đến cuối thế kỷ, số đợt nóng (3 ngày liên tiếp) dự tính sẽ gia tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, đặc biệt là khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên với mức tăng có thể lên tới 6-10 đợt.

Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan cũng nhận định, tình hình hạn hán có khả năng xuất hiện nhiều và kéo dài hơn trong thế kỷ 21 ở hầu hết các vùng khí hậu trên cả nước.

Cùng với sự gia tăng của nhiệt độ và các hiện tượng cực đoan, số lượng bão hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam có thể giảm về tần suất nhưng tăng về cường độ và số lượng bão mạnh. Số ngày rét đậm, rét hại cũng có xu thế giảm, tuy nhiên số lượng các đợt rét lại biến đổi phức tạp và biến động mạnh từ năm này qua năm khác

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Trồng dâu tây kiểu Bỉ

  • PDF

Trồng dâu tây kiểu Bỉ 

Thêm một phương pháp trồng dâu tây mới theo phong cách châu Âu, đó là trồng dâu tây trong nhà kính hở. Đây chính là kết quả mà những chuyên gia nông nghiệp Vương quốc Bỉ chuyển giao cho người trồng dâu Đà Lạt theo cam kết hỗ trợ của tỉnh Đông Flander - Vương quốc Bỉ với Lâm Đồng.
 
Thăm vườn dâu tây của Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa Đà Lạt, nhiều nông dân rất ngạc nhiên trước những luống dâu được trồng “nửa kín nửa hở”, cho trái rất sai và đẹp. Ông Trần Huy Đường, chủ trang trại tại Măng Ling, phường 7 cho hay, theo quan niệm của bà con, dâu New Zealand chỉ trồng được trong nhà kính kín hoàn toàn. Còn ở đây, dâu được trồng trong những dàn mà lưới chỉ che vừa luống dâu. Và thực sự, trái dâu rất nhiều so với các vườn dâu nhà kính khác. Để giải thích nguyên nhân, anh Cao Đình Dũng, cán bộ kỹ thuật trực tiếp thực hiện kỹ thuật trồng dâu trong nhà kính hở chia sẻ, đây là phương pháp canh tác của Bỉ nói riêng và châu Âu nói chung, nơi điều kiện khí hậu có nét tương đồng với Đà Lạt. Với phương pháp canh tác trong nhà kính này, có thể mở ra nhiều triển vọng cho người trồng dâu.

Trồng dâu trong nhà kính hở không khó, giá thể, hệ thống tưới nhỏ giọt… tương tự như trồng dâu trong nhà kính kín. Chỉ khác duy nhất là thay vì nhà kính lớn bao phủ toàn bộ diện tích đất, mỗi luống dâu được che phủ bởi một mái che bằng kính rộng chừng 0,5-0,6m, cao khoảng 1,65m. Trong khoảng không gian ấy, cây dâu phát triển bình thường và theo thực nghiệm đối chứng với nhiều cách trồng khác như trồng ngoài trời, trồng trong nhà kính kín, cây dâu phát triển tốt hơn. Anh Cao Đình Dũng cho biết: “Cây dâu ưa sáng, ưa mát, chỉ bị ảnh hưởng bởi mưa lớn. Vì vậy, trồng trong nhà kính hở thoáng khí hơn, cây nhận được nhiều ánh sáng giúp quang hợp tốt hơn mà vẫn đảm bảo không bị mưa làm hư hại. Qua khảo nghiệm, chúng tôi nhận thấy  cây dâu kết hoa, ra quả sớm hơn so với nhà kính kín và năng suất tăng hơn”. Đặc biệt, côn trùng gây hại chủ yếu ở dâu tây là bọ trĩ đỏ, khi trồng trong nhà kính kín thì có nhiều nhưng với nhà kính hở thì giảm đáng kể. Nguyên nhân có lẽ là do bọ trĩ ưa nóng, nhà kính hở nhiệt độ thấp hơn nên mật độ bọ trĩ đỏ giảm. Các chuyên gia Bỉ cũng đánh giá mô hình trồng dâu trong nhà kính hở tại Đà Lạt là thành công. Họ cũng khuyến cáo, trồng cây theo phương pháp nhà kính hở ít ảnh hưởng tới môi trường hơn so với trồng cây trong nhà kính kín, đây cũng là vấn đề nông nghiệp Lâm Đồng cần quan tâm trong quá trình xây dựng một nền nông nghiệp xanh, bền vững và thân thiện với môi trường.

Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa đang tích cực chuyển giao kỹ thuật trồng dâu tây trong nhà kính hở cho nông dân và đã tư vấn cho nhiều nông hộ khu vực Thái Phiên, phường 12, Đà Lạt xây dựng nhà kính hở. Nhiều nông dân chia sẻ, ngoài việc thu dâu trái, làm nhà kính kiểu này sẽ rất thu hút khách du lịch do đẹp, dễ hái trái và chụp hình hấp dẫn. Vừa kết hợp cung cấp dâu, vừa kết hợp làm du lịch sinh thái là một hướng làm ăn hiệu quả. Với nông dân, việc làm nhà kính kín tốn chi phí lớn hơn, diện tích đất lớn hơn và đòi hỏi phải bằng phẳng. Còn với nhà kính hở, bà con có thể tận dụng được cả những nơi đất thiếu bằng phẳng, đất đồi dốc để dựng nhà kính hở. Đặc biệt, nhiều khu du lịch đã rất ưa thích mô hình trồng dâu nhà kính hở, vì có thể trồng một diện tích không lớn phục vụ du khách. Tuy chỉ là bước đi đầu tiên nhưng với kỹ thuật trồng dâu tây theo công nghệ này, người nông dân Đà Lạt có thêm một lựa chọn, làm phong phú cho nền nông nghiệp địa phương, đồng thời sẽ mang tới cho du khách sự thích thú với loại trái đặc sản phố núi.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Các biện pháp mới của Nhật Bản để chống lại sự nóng lên toàn cầu

  • PDF

Các biện pháp mới của Nhật Bản để chống lại sự nóng lên toàn cầu 

Chính phủ Nhật Bản vừa đưa ra các biện pháp để hạn chế tác động của hoạt động nông nghiệp và con người đối với biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia và địa phương. Quyết định này được thực hiện sau khi những kết luận vào tháng 9/2013 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho rằng các hoạt động của con người có ảnh hưởng đến sự nóng lên toàn cầu và các biện pháp hiện tại trên thế giới là chưa đủ.

Khí hậu toàn cầu nóng lên ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo của Nhật Bản. Thật vậy, trong những năm gần đây, nhiệt độ mùa hè trung bình vượt quá mức bình thường theo mùa và đã tác động đến sinh trưởng của lúa. Do đó, chất lượng gạo đã giảm dần. Để khắc phục điều này, một giống mới được phát triển nhờ lai hai giống lúa Nhật Bản. Thành công này là một trong những phương cách hỗ trợ tốt nhất trong hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.

Viện Quốc gia về Khoa học nông nghiệp - môi trường Nhật Bản dự đoán sẽ có sự sụt giảm chất lượng của gạo Nhật Bản vào cuối thế kỷ này do sự nóng lên toàn cầu và là một thách thức đáng kể cho phát triển trong các vùng sản xuất ở Kyushu và Chugoku. Nguy cơ lũ lụt cũng được xem xét nghiêm túc khi biến đổi khí hậu đe dọa các con đập. Do vậy một số biện pháp gia cố các con đập đã được đưa ra, như đập Tsuruda thêm vào các cửa xả qua đó cải thiện kiểm soát đập trong trường hợp lũ lụt.

Chính phủ nói rằng nguy cơ lũ lụt tăng lên từ 80 đến 340% vào cuối thế kỷ này do nhiệt độ tăng. 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module