Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Nghiên cứu về hoóc-môn thực vật trong các tế bào giúp phát triển mầm cây

  • PDF

Nghiên cứu về hoóc-môn thực vật trong các tế bào giúp phát triển mầm cây 

Các nhà nghiên cứu thuộc trường cao đẳng Dartmouth đã xác định được một hoóc-môn thực vật tác động đến các gien nhằm điều hòa sự tăng trưởng và phát triển của thực vật. Phát hiện này có thể cho phép các nhà khoa học thiết lập các tế bào phát triển các cơ quan cho các cây ngũ cốc như lúa và ngô, và cuối cùng có thể dẫn đến các giải pháp cho các vấn đề của ngành nông nghiệp.

Nghiên cứu mô tả cách thức cytokinin (hoóc-môn điều hòa sự phân bào và sự tăng trưởng của tế bào) hoạt hóa nhân tố phiên mã ARR10 để kiểm soát biểu hiện gien trong cây Arabidopsis - một thành viên của họ mù tạt thường được sử dụng như là một mô hình trong sinh học thực vật.

Cytokinin là một hoóc-môn điều chỉnh nhiều quá trình trong thực vật, bao gồm sự phân chia tế bào, tăng trưởng của chồi và rễ, năng suất hạt và quá trình làm xanh thực vật.

Eric Schaller, Giáo sư Khoa học Sinh học tại Đại học Dartmouth, cho biết: “Câu hỏi luôn luôn là cytokinin điều chỉnh quá nhiều quá trình khác nhau trong một cây trồng như thế nào. Bây giờ chúng ta biết các gien là những mục tiêu chính của cytokinin, và chúng ta có thể cung cấp hộp công cụ để điều khiển phản ứng hoóc-môn thực vật”.

Theo báo cáo, các kết quả từ phân tích làm sáng tỏ vai trò sinh lý của ARR loại B trong việc điều chỉnh đáp ứng cytokinin, cơ chế kích hoạt ARR loại B, và cơ sở của cytokinin điều chỉnh các khía cạnh đa dạng của sự tăng trưởng và phát triển cũng như phản ứng với các yếu tố sinh học”.

Nghiên cứu được thực hiện với sự cộng tác của Đại học North Carolina Charlotte và Đại học North Carolina tại Chapel Hill. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng hiểu biết mới về cách cytokinin hoạt động để phát triển mầm trong nuôi cấy mô theo các điều kiện mà các cơ quan của cây trồng thường không hình thành.

Để làm cho mô thực vật phát triển mầm chồi trong ống nghiệm, nhóm nghiên cứu đã tăng độ nhạy cytokinin trong cây Arabidopsis. Điều này dẫn đến việc kích hoạt gien mục tiêu WUSCHEL, đây là một điều cơ bản trong việc phát triển chồi. Kết quả khẳng định sự hiểu biết về cách thiết lập các tế bào gốc dẫn đến sự phát triển của các cơ quan khác nhau.

Schaller nói: “Những gì chúng tôi đã làm là kích hoạt cây trồng để tạo ra một trung tâm tế bào gốc nhằm giúp chồi cây phát triển. Bằng cách tìm ra những mục tiêu trực tiếp bị ảnh hưởng bởi cytokinin, chúng ta có thể điều chỉnh những giải pháp trọng tâm của chúng ta trong tương lai”.

Theo Schaller, nghiên cứu này sẽ tạo ra một tiền đề giúp nâng cao năng suất của các nông sản quan trọng như lúa và ngô.

 

Tháp Tự Do giấc mơ Mỹ

  • PDF

alt

Tháp Tự Do ở New York 13 năm sau vụ khủng bố 11/9 được mọc lên từ đống tro tàn, là tòa nhà cao nhất tại Mỹ khi hoàn thành. Tháp Tự Do cùng với Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York và những di sản lịch sử văn hóa đặc sắc tại thủ đô Washington, D.C. không chỉ là biểu tượng quốc gia mà còn là thông điệp cuộc sống giấc mơ Mỹ.

alt
Sự kiện 11 tháng 9 và hình ảnh tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Mỹ bị không tặc tấn công là ấn tượng ám ảnh hàng tỷ người trên khắp hành tinh, là lời cảnh báo những hiểm họa toàn cầu trong thế giới ngày nay. Chiến tranh và hòa bình, xung đột và tranh chấp, di cư và tị nạn, khủng hoảng năng lượng và an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống là các vấn nạn nhức nhối của cuộc sống.

Giấc mơ Mỹ có từ thuở lập quốc, từ George Washington vị tổng thống đầu tiên của nước Mỹ (1789– 1797). Người với tư cách là tổng tư lệnh Lục quân Lục địa đã lãnh đạo người Mỹ chiến thắng Vương quốc Anh trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, và đã trông coi việc viết ra Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787. Người có một viễn tưởng về một quốc gia hùng mạnh và vĩ đại, xây dựng trên những nền tảng của nền cộng hòa, sử dụng sức mạnh của liên bang. Người được giới sử học lựa chọn là một trong hai hoặc ba vị tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ.

Giấc mơ Mỹ đến từ Thomas Jefferson vị tổng thống thứ 3 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, là một trong những người theo chủ nghĩa tự do nhiệt thành lớn nhất thời cận đại.  Người đã thông qua Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ trong đại hội các đại biểu của 13 bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ngày 4 tháng 7 năm 1776. Bản Tuyên ngôn này đã truyền cảm hứng cho nhiều bài phát biểu nổi tiếng khác như của Martin Luther King Jr.Abraham Lincoln. Bản Tuyên ngôn cũng ảnh hưởng đến tuyên ngôn độc lập của Việt NamZimbabwe.

alt

Giấc mơ Mỹ có trong những di sản lịch sử văn hóa đặc sắc tại thủ đô Washington, D.C. Đại học Georgetown; trên phải: Tòa Quốc Hội Hoa Kỳ; giữa: Tượng đài Washington; dưới trái: Đài tưởng niệm nội chiến người Mỹ gốc châu Phi; dưới phải: Đền Quốc gia.

Giấc mơ Mỹ thể hiện trong nổ lực tái thiết Tháp Tự Do. Tổng thống Mỹ kêu gọi gia tăng nỗ lực chống cực đoan và khủng bố. Tổng thống Obama khẳng định nước Mỹ không phải đang ở trong một cuộc chiến với thế giới Hồi giáo mà chỉ là trong cuộc chiến với những kẻ lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hành động cực đoan và khủng bố.

alt
“Tòa Tháp Đôi” (hình) bài thơ của David Lehman, tôi chép lại dưới đây, rút trong bài viết “Thơ ca Hoa Kỳ tưởng niệm 9.11” do anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada gửi cho anh Ngô Minh, chủ nhân blog Quà Tặng Xứ Mưa.

TOÀ THÁP ĐÔI

David Lehman
Tôi chưa bao giờ thích Trung tâm Thương Mãi
Nó càng vươn cao tôi càng chê bai cười cợt
Cũng như nhiều người Nữu Ước
Tòa tháp đôi quả là thứ kiến trúc cồng kềnh
Thiếu mỹ thuật, thiếu phong cách thanh tao
Của Empire cao ngất, cũng không bằng
Tòa nhà Chrysler, được mọi người yêu mến,
Với đỉnh nhọn mỹ miều, duyên dáng
Trung tâm Thương Mãi đúng là sai lầm
Điển hình cho kiến trúc kiểu Mỹ
Nó đứng chễm chệ như thế hai mươi lăm năm trời
Cho đến một ngày, vào buổi chiều thứ Sáu, tháng Hai
Bom nổ, tòa tháp đôi kia, đổ nát
Trở thành biểu tượng của chúng ta, của đất nước, như bức
Tượng Nữ thần Tự do. Tất cả thái độ của tôi
Bắt đầu thay đổi. Tôi yêu cách nó hiện ra
Trong tầm mắt, khi bạn lái xe qua đường số Sáu
Từ bất cứ ngã rẽ nào, cái cách đỉnh cao
Của tháp đôi biến mất, trong bầu trời trắng xóa
Về phương Đông, khi bạn bắt đầu qua sông Hudson
Chạy vào thành phố, băng ngang cầu George Washington

Tháp Tự Do giấc mơ Mỹ làm chúng ta liên tưởng đến những ước mơ cuộc sống…

Hoàng Kim

Bài liên quan
Tôi có một giấc mơ

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Đòi hỏi công tác giống chuyển biến mạnh, thích ứng với hội nhập

  • PDF

 Đòi hỏi công tác giống chuyển biến mạnh, thích ứng với hội nhập

“Công tác về giống có vẻ lủng củng ngay từ đầu”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát nhận xét đầy ẩn ý trong lời mở đầu Hội nghị Giống cây trồng, vật nuôi tổ chức ngày 5/12, tại Hà Nội.

Quả thực, theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, 15 năm trước Bộ đã đề xuất khởi động chương trình giống, trong đó tập trung cao độ việc cải thiện công tác giống với mục tiêu chọn tạo nhiều giống tốt hơn, năng lực sản xuất cung ứng kịp thời các loại giống thương phẩm có chất lượng. Mặc dù, đã có chuyển biến, năng suất cây trồng vật nuôi tăng, một số giống có năng suất đạt tầm thế giới, tuy nhiên, ngành giống vẫn còn nhiều vấn đề đang đặt ra.

“Quốc hội, nhân dân yêu cầu nhanh chóng có những giống với những đặc tính cao hơn về năng suất, chất lượng đặc biệt thích ứng với hoàn cảnh mới. Nâng cao năng lực tổ chức sản xuất cung cấp kịp thời cho nhu cầu trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài”, Bộ trưởng nói.

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế về nông nghiệp, Việt Nam đang đàm phàn nhiều Hiệp định về thương mại tự do với EU, Nga, Belarus…, và từ năm 2015 nền nông nghiệp sẽ mở cửa hội nhập  ngày càng sâu rộng, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vì vậy, nền nông nghiệp cần chuyển biến mạnh mẽ, đáp ứng những yêu cầu mới, các sản phẩm nông nghiệp phải bám sát yêu cầu cả về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

 

“Để tái cơ cấu ngành, công tác giống không chỉ tăng cường mà phải điều chỉnh năng lực chọn tạo cả về cách tiếp cận và cơ cấu các loại giống sẽ cung cấp. Ví dụ, lúa thay vì giống có năng suất cao ngắn ngày thì cần hơn tới yếu tố chất lượng, thông qua đánh giá của thị trường có giá cao hơn, bền vững hơn với quy mô lớn, xây dựng hình ảnh một nước Việt Nam sản xuất thương hiệu lúa tốt bền vững”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tương tự với các ngành chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp cần có các cây, con giống tốt, năng suất, chất lượng tiếp cận với trình độ quốc tế.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Cao Đức Phát yêu cầu các đơn vị tập trung làm rõ 3 vấn đề: Định hướng phát triển giống với các loại cây con chủ lực. Định hướng đổi mới cơ chế chính sách, đặc biệt khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu chọn tạo giống. Trong 15 năm qua dù đã quan tâm nhưng phần lớn vẫn ưu tiên cho các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước. Cuối cùng phải tìm được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giống.

Theo ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình, cần sớm xây dựng Luật về Giống cây trồng và đổi mới thủ tục công nhận và phát triển giống mới; hệ thống hóa văn bản pháp luật, đồng thời xây dựng Chiến lược phát triển ngành giống nông nghiệp Việt Nam, trong đó xác định vai trò vị trí của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này từ quản lý, nghiên cứu, chuyển giao, thương mại và công nghiệp hóa ngành giống, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và sở hữu trí tuệ.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Việt – Úc - đơn vị dẫn đầu trong cung cấp tôm giống chất lượng cho thị trường Việt Nam, cho biết: Tôm là một trong những ngành mũi nhọn trong lĩnh vực thủy sản với kim ngạch xuất khẩu năm 2014 ước đạt 3,8 tỷ USD, trong đó tôm thẻ chân trắng đóng góp tới hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, ngành thủy sản vẫn chưa có thêm giống mới nào, đây cũng là động lực lớn cho các doanh nghiệp thủy sản cạnh tranh phát triển.

“Công nghệ lai tạo tôm thẻ chân trắng hiện đại của Tập đoàn có thể cạnh tranh với thế giới, nhưng giống tôm bố, mẹ vẫn phải nhập khẩu. Tập đoàn đã có Chương trình phát triển giống tôm bố mẹ, nếu được thông qua trong năm 2015 thì Việt Nam là một trong số ít nước có thể cung cấp tôm bố mẹ. Điều này là rất quan trọng”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Ông Đặng Quốc Tuấn cũng mong muốn, ở Việt Nam cần có từ 8 - 10 Tập đoàn hàng đầu để nâng tầm thương hiệu tôm Việt Nam.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển sản xuất giống cây trồng nông, lâm nghiệp , giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan cùng các địa phương triển khai nhiều hoạt động và đạt được một số kết quả thiết thực.

Công tác quy hoạch hệ thống cơ sở nghiên cứu, sản xuất của Chương trình giống đạt được mức tăng khá cao: Tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi (giống bò thịt và dê tăng từ 45% năm 2011 lên 58% năm 2014); giống tôm sạch bệnh có chất lượng cao sản xuất trong nước tăng từ 51,8% năm 2011 lên 65% năm 2014 (so với mục tiêu năm 2020 là 75%); trong lâm nghiệp 72% giống cung cấp cho trồng rừng được công nhận (mục tiêu năm 2020 là 80%).

Tuy nhiên, theo đánh giá chung, công tác giống cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế như: hệ thống sản xuất giống chưa đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất hàng hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu. Giống liến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt từ 30 – 40%, ở đồng bằng sông Hồng khoảng 60%. Số lượng giống cây trồng vật nuôi được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. Các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày. Nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu chọn tạo và sản xuất giống chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành. Nguồn vốn đầu tư phát triển cho khoa học công nghệ khoảng 50 – 60 tỷ đồng/năm, chỉ đáp ứng được khoảng 30- 35% nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu của các Viện. Chương trình giống được bố trí khoảng 500 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển/năm cho tất cả các dự án Trung ương và địa phương, mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu…/.

Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình

  • PDF

 Nông nghiệp Nhật: Người khổng lồ tự trói mình

Một nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy nếu Chính phủ Nhật bãi bỏ chính sách hạn chế sản lượng gạo, giá gạo của Nhật sẽ giảm từ 13.000 Yen/60kg xuống còn 8000 Yen/60kg, tức là còn thấp hơn giá gạo sản xuất của Trung Quốc. Khi đó Nhật Bản sẽ không còn phải dựa vào thuế nhập khẩu để bảo vệ sức cạnh tranh của gạo nội địa, và thậm chí gạo Nhật Bản có thể còn được xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong những năm gần đây, gạo Nhật Bản đã được xuất khẩu sang Đài Loan và Hồng Kông. Gạo Nhật được nhiều nước ưa chuộng do ưu thế về chất lượng. Vì vậy, nếu chính sách hạn chế sản lượng được bãi bỏ khiến chi phí và giá thành sản xuất giảm xuống, người Nhật tin rằng ngành lúa gạo sẽ trở thành một ngành xuất khẩu có ưu thế của mình

Sau nhiều thập kỷ duy trì chính sách bảo hộ số đông những người nông dân canh tác trên quy mô nhỏ, ngành nông nghiệp Nhật Bản đã tự hạn chế việc triển khai các tiến bộ KH&CN và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của mình, nhưng những sức ép do xu hướng phát triển xã hội và khả năng gia nhập TPP đang buộc họ phải đối diện với lựa chọn khó khăn: cải cách hoặc suy thoái.

Cánh đồng lúa của Mutsuo Banba nằm ở quận Ishikawa, một khu vực ven biển phía Tây Bắc của Nhật Bản. Là một nông dân làm việc toàn thời gian và từng được chính phủ khen thưởng về tài quản lý sản xuất nông nghiệp, mỗi ngày ông đều đến chăm sóc cánh đồng của mình trong dịp mùa vụ. Nhưng nhiều nông dân Nhật Bản khác là những người làm bán thời gian và không chuyên tâm được như Banba. “Họ ở trong nhà có máy lạnh, trong khi lúa ngoài đồng bị khô nẻ, nứt cả hạt ra ngoài”, Banba phàn nàn. Điều này khiến ông bất bình, khi những người của hiệp hội địa phương đến thu hoạch, thóc lúa của mọi nhà được trộn lẫn và không thể phân biệt ai tốt ai xấu.

Tầm ảnh hưởng chính trị của những nông dân bán thời gian

Những người nông dân làm bán thời gian ở Nhật Bản thường không có động lực để toàn tâm cho đồng ruộng vì đa số đã có các công việc khác và chỉ ra đồng khi có thời gian rảnh. Thu nhập hằng năm của họ thường trên mức trung lưu của Nhật Bản và không phụ thuộc nhiều vào doanh thu sản xuất nông nghiệp, vì vậy họ không cần phải đầu tư nhiều cho công việc này, và hầu hết đều thỏa mãn với việc vĩnh viễn canh tác trên quy mô nhỏ. Chính sách bảo hộ của Chính phủ Nhật cho phép nông dân Nhật có thể không làm gì mà vẫn được trợ cấp – năm 2012, trợ cấp của Chính phủ Nhật cho nông dân chiếm tới 56% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp quốc gia này, chỉ thấp hơn so với Na Uy và Thụy Sỹ, theo số liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

Tuy nhiên, do không dành nhiều thời gian cho việc trồng trọt, nông dân làm bán thời gian trên quy mô nhỏ ở Nhật Bản có xu hướng dùng nhiều hóa chất trừ sâu và diệt cỏ hơn nông dân làm toàn thời gian trên diện tích canh tác lớn. Theo một thống kê từ năm 2000, trong số những nông dân canh tác dưới 1 hecta, chỉ có 20% có phương thức canh tác thân thiện với môi trường, trong khi với những nông dân làm tối thiểu 10 hecta thì tỉ lệ này là trên 50%.

Với số lượng chiếm một tỉ lệ áp đảo so với số nông dân làm toàn thời gian – trong tổng số 1,5 triệu nông dân Nhật chỉ có 420 nghìn người làm toàn thời gian – mặc dù không có nhiều cống hiến về năng suất trồng trọt nhưng đội ngũ nông dân bán thời gian ở Nhật Bản có ảnh hưởng chính trị đáng kể, thông qua một mạng lưới hiệp hội toàn quốc mang tên hội Nông nghiệp Nhật Bản (JA). Hiệp hội này có mối quan hệ mật thiết với Đảng Dân chủ Tự do và Bộ Nông nghiệp, với số thành viên lên tới 10 triệu người (tương đương khoảng 8% dân số Nhật), và nhân viên hiệp hội trên toàn quốc lên tới 240 nghìn người – JA thậm chí còn có một ngân hàng riêng, với tổng giá trị tài khoản tiền gửi lên tới 532 tỷ USD, ngang ngửa với một ngân hàng quốc tế lớn trên thế giới là Barclays – có thể coi là tổ chức vận động chính sách hùng mạnh nhất ở Nhật Bản.

JA và Đảng Dân chủ Tự do luôn cực lực phản đối việc Nhật Bản đàm phán để tham gia vào hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Bộ Nông nghiệp cũng đồng tình với họ với nhận định rằng TPP sẽ khiến Nhật Bản mất đi 9 phần 10 thị phần và sản lượng gạo, kéo theo mất đi 3,4 triệu công ăn việc làm. Với sự hậu thuẫn này, hiện nay, hội JA đang có chiến dịch vận động duy trì mức thuế rất cao đánh vào hàng nông nghiệp nhập khẩu: thuế gạo nhập khẩu lên tới 777,7%, thuế bơ nhập khẩu là 360%, thuế đường nhập khẩu là 328%.
 

Nghịch lý Nhật Bản: có năng lực công nghệ nhưng tự trói tay mình

Thay vì phải cố thủ dựa vào hàng rào thuế quan cao vượt bậc, người Nhật hoàn toàn có đủ năng lực để có thể triển khai công nghệ cao vào nông nghiệp, làm giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh nông sản. Ví dụ nông dân Nhật có thể áp dụng kỹ thuật quản lý canh tác bằng cách chia ô ruộng, dùng công nghệ định vị toàn cầu (GPS) để đo chính xác diện tích từng ô, rồi dùng công nghệ cảm biến để liên tục theo dõi, đánh giá chất lượng đất, đồng thời phân tích hàm lượng nitơ dựa trên cảm biến màu sắc của lá cây trồng, từ đó tính đoán ra lượng phân bón phù hợp cho từng ô ruộng, hoặc các thiết bị tự động có thể giúp theo dõi thời tiết, cho dữ liệu giúp dự đoán đợt bùng phát sâu bệnh để nông dân phun thuốc trừ sâu một cách hiệu quả và tiết kiệm.

Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn luôn bảo thủ với chính sách kiểm soát sản lượng để bảo vệ những người nông dân làm nông nghiệp ở quy mô nhỏ, khiến việc áp dụng công nghệ cao trở nên vô cùng đắt đỏ và không khả thi. Thậm chí một số loại công nghệ phố biến ở nước khác nhưng ở Nhật Bản lại bị hạn chế triệt để – ngay từ những năm 1970, việc nghiên cứu triển khai những giống lúa năng suất cao vẫn luôn là điều cấm kỵ đối với các nhà khoa học ở tầm trung ương cũng như địa phương. Hậu quả là hiện nay sản lượng gạo trên cùng một đơn vị diện tích ở Nhật Bản dưới mức 40% sản lượng gạo ở California, theo đó chi phí sản xuất cũng cao hơn trên 28%.

Nguy cơ suy thoái ngành nông nghiệp do chính sách bảo thủ

Do chính sách tự trói buộc mình nên nếu phải cạnh tranh với hình thức canh tác trên quy mô lớn kiểu Mỹ - ví dụ gieo hạt bằng máy bay – thì chắc chắn mô hình canh tác quy mô nhỏ của Nhật Bản sẽ sụp đổ, theo nhận định của ông Kozo Watanabe, một người đại diện của JA. Đây là lí do khiến vấn đề thuế nhập khẩu gạo là đề tài gây tranh cãi nhất ở Nhật Bản khi bàn về TPP, và JA không ngừng vận động để Chính phủ Nhật duy trì mức thuế nhập khẩu cao để ngăn chặn gạo nhập khẩu từ Mỹ và các nước khác, cho phép nông dân Nhật tiếp tục trồng lúa với quy mô nhỏ.

Những người vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như Watanabe thường lập luận rằng lúa gạo là “sản phẩm linh thiêng” của người Nhật, và hoạt động canh tác lúa gạo mang tính cộng đồng và trên quy mô nhỏ được coi là hệ quả tự nhiên của lịch sử đất nước (với đặc thù địa lý quốc gia nhiều đồi núi), đến nay đã trở thành một bản sắc văn hóa của dân tộc.

Thực tế thì số lượng hộ nông dân nhỏ ở Nhật tăng mạnh sau năm 1945, khi một cuộc cải cách ruộng đất quan trọng ở Nhật Bản đã phân phối lại đất nông nghiệp từ tay các lãnh chúa lớn vào tay nông dân. Tới giai đoạn sau này, người ta từng hi vọng các hộ nông dân nhỏ sẽ chuyển đổi cơ cấu ngành nghề sang các ngành công nghiệp khác, đồng thời sẽ bán đất hoặc cho các hộ nông dân khác thuê để làm nông nghiệp với quy mô sản xuất lớn hơn, theo lời Masatoshi Wakabayashi, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp thời Chính phủ của Thủ tướng Abe nhiệm kỳ năm 2007. Tuy nhiên, trong thực tế giá đất đai ở Nhật Bản tăng vọt khiến nông dân có xu hướng giữ lại đất với hi vọng sau này có thể bán lại cho các dự án khu công nghiệp, đô thị, v.v. Luật đất đai nghiêm ngặt ở Nhật Bản cũng khiến việc mua bán đất diễn ra không dễ dàng.

Hậu quả là ngày nay khi các vùng nông nghiệp ngày càng thưa dân cư, có tới một phần mười đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Thế hệ trẻ đa số không muốn theo nghề nông khiến tuổi thọ trung bình của nông dân ngày càng cao: thống kê năm 2010 cho thấy tuổi thọ trung bình của nông dân là 70. Trước tình hình này, một quan chức Bộ Nông nghiệp Nhật Bản thừa nhận rằng nông nghiệp Nhật Bản đang phải đối diện với một lựa chọn không tránh khỏi: cải cách hoặc suy thoái.

Trong một báo cáo hồi tháng 5 năm ngoái, hai nhà kinh tế Randall Jones và Shingo Kimura của tổ chức OECD cũng đã viết: “Nếu không tiến hành cải cách một cách căn bản, nông nghiệp [Nhật Bản] sẽ tiếp tục suy thoái, mắc kẹt trong cái bẫy năng suất thấp, thu nhập thấp, và phụ thuộc vào chính sách trợ cấp và bảo hộ thương mại của Chính phủ”.

Gia nhập TPP: chất xúc tác để cải cách

Gia nhập TPP và giảm thuế là giải pháp duy nhất cho nông nghiệp Nhật Bản, Banba nói. “Những người nông dân giỏi của Nhật Bản không e sợ TPP”, ông khẳng định. Việc gia tăng cạnh tranh sẽ buộc những hộ nông dân nhỏ không chuyên tâm làm nông nghiệp bán lại đất, và những người làm nông nghiệp toàn thời gian như ông có thể gom được nhiều đất trồng trọt hơn. Hi vọng này của Banba không phải là vô căn cứ, một nông dân láng giềng của ông, nay đã 74 tuổi, cho biết sẽ để Banba thuê lại đất của mình ngay khi Nhật Bản ký vào hiệp định TPP, theo đó cho phép nhập khẩu gạo giá rẻ của Mỹ.

Nếu Nhật Bản gia nhập TPP, nhiều khả năng họ sẽ nỗ lực tìm cách đề nghị được trì hoãn vài năm trước khi xóa bỏ chính sách bảo hộ nông dân, đặc biệt đối với những sản phẩm được coi trọng như lúa gạo. Tuy nhiên, từ trước đó Nhật Bản đã phải triển khai những chính sách cải cách nông nghiệp quyết liệt, theo nhận định của Masayoshi Honma, giáo sư kinh tế Đại học Tokyo. Trước hết, Nhật Bản cần ban hành các chính sách giúp tập trung đất đai vào tay những người nông dân có năng lực. Những người mới bước chân vào nghề nông, bao gồm cả các doanh nghiệp, phải được quyền mua đất, thay vì chỉ được thuê lại.

Việc đàm phán tham gia TPP và tiến hành cải cách nông nghiệp sẽ phải được Chính phủ của Thủ tướng Abe triển khai đồng thời, vì nếu tham gia TPP và cho phép hàng nông sản nhập khẩu ồ ạt tràn vào thị trường trong khi người nông dân chưa kịp nâng cao năng lực cạnh tranh thì đó sẽ là thảm họa cho ngành nông nghiệp Nhật.

Trong khi đó, ở phía ngược lại, những nhà vận động cho chính sách bảo hộ nông nghiệp như hội JA sẽ tiếp tục tìm mọi cách để ngăn cản Nhật Bản cải cách nông nghiệp cũng như gia nhập TPP. Quyền lực và lợi ích của JA phụ thuộc vào số lượng thành viên của nó, vì vậy JA chắc chắn không muốn thay đổi hiện trạng cơ cấu đất nông nghiệp của Nhật Bản. Tuy nhiên, dù làm cách nào thì JA vẫn không thể thay đổi được thực tế là các thành viên của mình đang ngày càng già đi, và ảnh hưởng chính trị của nó cũng theo đó giảm dần.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Protein anti-CRISPR hạn chế việc chỉnh sửa gene không chuyên biệt của CRISPR-Cas9

  • PDF

Protein anti-CRISPR hạn chế việc chỉnh sửa gene không chuyên biệt của CRISPR-Cas9 

Kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR (clustered regularly interspaced short palindromic repeats)-Cas9 dựa trên một cơ chế do vi khuẩn phát triển để tự bảo vệ chúng khỏi thực khuẩn thể (bacteriophage).
 
Nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng các thực khuẩn thể đối phó với vi khuẩn bằng cách tạo ra các protein ức chế được biết đến là các anti-CRISPR. Các protein này có thể được dùng để cải thiện kỹ thuật CRISPR-Cas9 như một công cụ của liệu phép gene, nhằm làm giảm hiện tượng chỉnh sửa gene không phải gene mục tiêu, từ đó hạn chế những tác dụng phụ do hiện tượng này gây ra.
 
Trong một nghiên cứu trên tạp chí Science Advances, các nhà nghiên cứu từ Đại học California ở Berkeley và San Francisco chỉ ra rằng các protein anti-CRISPR được khám phá gần đây có thể làm giảm đến bốn lần các tác động phụ của việc chỉnh gene không trúng đích và hoạt động như một công tắc khẩn để bất hoạt CRISPR-Cas9 sau khi nó hoàn thành việc chỉnh sửa gene.
 
Nghiên cứu cho thấy một protein anti-CRISPR là AcrllA4 có khả năng làm giảm bốn lần tác động lên gene không phải gene mục tiêu trong quá trình phân tử CRISPR-Cas9 chỉnh sửa gene. Protein này sử dụng một RNA hướng dẫn để tìm, cắt và thay thế gene hemoglobin đột biến gây nên bệnh hồng cầu hình liềm. Nó thực hiện việc này mà không làm giảm hiệu quả chỉnh sửa gene mục tiêu.
 
Jiyung Jenny Shin, là một trong ba tác giả đầu của nghiên cứu, đang công tác tại phòng thí nghiệm của Jacob Corn tại Innovative Genomics Institute (IGI), Đại học California ở Berkeley cho biết: "Các đột biến không mong muốn là hệ quả của việc chỉnh sửa gene không phải gene mục tiêu, nhưng công bố của chúng tôi cũng như những công bố khác, chỉ ra rằng tác động của việc chỉnh sửa gene không phải gene mục tiêu có thể được kiểm soát và không nghiêm trọng như nhiều người nghĩ".
 
Trong thí nghiệm của Shin về nuôi cấy tế bào người, nhóm nghiên cứu tìm ra sau khi tế bào được xử lí với CRISPR-Cas9 vài giờ, việc sử dụng protein anti-CRISPR là cách hiệu quả nhất để làm giảm việc chỉnh sửa các gene không phải gene mục tiêu. Protein anti-CRISPR bắt chước DNA, gắn trên Cas9 và bất hoạt khả năng cắt DNA của enzyme này.
 
Shin cho biết: "6 giờ sau khi xử lý CRISPR, việc xử lý với anti-CRISPR vẫn có thể làm giảm tác động của enzyme Cas9 lên gene không phải gene mục tiêu gấp hai lần so với tác động của enzyme này lên gene mục tiêu. Nghiên cứu này cho thấy, về mặt ứng dụng trong điều trị, bệnh nhân có thể được điều trị với CRISPR trước, sau đó sử dụng anti-CRISPR để làm giảm việc tác động trên gene không phải gene mục tiêu".


Nhà nghiên cứu Joseph Bondy-Demony từ Đại học California ở San Francisco là người đã khám phá ra AcrllA4. Ông dự đoán rằng những protein anti-CRISPR sẽ trở thành một phần cơ bản trong liệu pháp gene CRISPR, cùng với CRISPR-Cas9 làm ngưng việc chỉnh sửa gene sau thời gian xử lí tế bào, nhằm ngăn chặn việc cắt “nhầm” các gene không phải gene mục tiêu.
 
Bondy-Denomy, đồng tác giả của bài báo, cho biết: "Protein ức chế Cas9 này có thể được mã hóa trên cùng đoạn DNA với Cas9 một cách chính xác sao cho Cas9 sẽ bị bất hoạt ngay sau khi hoàn thành việc chỉnh sửa gene, thay vì để Cas9 còn trong tế bào và gây nguy cơ chỉnh sửa các gene không phải gene mục tiêu”.

Sự tương tác với anti-CRISPR

Nhóm nghiên cứu bao gồm các nhà nghiên cứu từ phòng thí nghiệm của Jennifer Doudna, một trong những nhà sáng chế kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR-Cas9, đã giải thích được cách protein anti-CRISPR gắn vào phức hợp CRISPR-Cas9. Bằng cách sử dụng kính hiển vi điện tử lạnh (cryo-electron microscopy), họ đã tìm ra là anti­CRISPR bắt chước DNA, làm cho CRISPR­Cas9 nhầm lẫn và gắn chặt với nó không bị rời ra.
 
Protein anti CRISPR bắt vào một vị trí trên protein Cas9, là nơi rất quan trọng trong hoạt động chức năng của Cas9. Cas9 không thể vận hành việc cắt DNA khi anti-CRISPR gắn vào điểm này.
 
Năm ngoái, Bondy-Denomy đã công bố việc tìm ra bốn protein anti-CRISPR được virus sử dụng để bất hoạt protein Cas9 trong vi khuẩn Listeria monocytogenes. Hai trong số protein ức chế Cas9 này đang được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến, có nguồn gốc từ vi khuẩn Streptococcus pyogenes và được gọi là SpyCas9.

Một nhóm nghiên cứu khác đã phát hiện ra ba loại protein anti-CRISPR ức chế một loại protein Cas9 khác đầy hứa hẹn từ vi khuẩn Neisseria meningitidis.
 
Nghiên cứu gần đây tìm hiểu tác động của một trong số các protein từ Listeria là protein AcrllA4, lên SpyCas9 gắn với một RNA hướng dẫn đến nơi có mạch DNA bổ sung để gắn và cắt.
 
Nghiên cứu tại Đại học California ở Berkeley và những nơi khác cho thấy CRISPR-Cas9 liên tục gây nhiễu hệ thống sửa sai DNA trong tế bào bằng cách: enzyme này cắt tại vị trí mục tiêu, sau khi tế bào sửa sai DNA, CRISPR-Cas9 lại cắt lần nữa. Chu trình gây lỗi này được lặp lại cho đến khi một đột biến được hình thành trên DNA ngăn chặn enzyme gắn vào, và khi đó phân tử CRISPR-Cas9 sẽ di chuyển để tìm một vị trí gắn khác.
 
Một nghiên cứu gần đây của phòng thí nghiệm Corn và Doudna cho thấy việc thêm một anti-CRISPR sau khi Cas9 đã chỉnh sửa thành công một gene mục tiêu sẽ ngăn chặn tổn thương không mong muốn tới phần khác của bộ gene.
 
"Khả năng bất hoạt việc chỉnh sửa gene của Cas9 cũng quan trọng như khả năng hoạt hóa nó”, theo Corn, Giám đốc khoa học lĩnh vực y sinh học tại IGI và Phó giáo sư lĩnh vực sinh học phân tử và tế bào tại Đại học California ở Berkeley. "Hãy tưởng tượng bạn có một chiếc máy cạo râu không có công tắc tắt. Tương tự với các ứng dụng trong điều trị, việc kiểm soát chính xác quá trình chỉnh sửa gene xảy ra khi nào và ở đâu là tối cần thiết. Protein anti-CRISPR mang đến cơ hội để bất hoạt hoàn toàn Cas9 cũng như điều chỉnh hoạt động của nó”.
 
Bondy-Denomy cho rằng: "Dữ liệu của Jenny gợi mở về một khung thời gian lý tưởng để Cas9 hoạt động và bị bất hoạt ngay khi khoảng thời gian đó kết thúc. Chúng ta có thể sử dụng protein anti-CRISPR như một công cụ để xác định khung thời gian đó, chính là, với một loại tế bào và một trình tự RNA hướng dẫn bất kỳ, chúng ta muốn Cas9 ở dạng hoạt hóa trong tế bào đó bao lâu".

 

Lương tri tỉnh thức

  • PDF

Luongtritinhthuc

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Hiện nay, thế giới đang bùng nổ di cư và tị nạn tại châu Âu theo điểm tin của TIME ngày 10 tháng 9 năm 2015. Điều này tiếp sau những hiểm họa toàn cầu: An ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống.

Theo  những tuần gần đây, hỗn loạn tại các cửa khẩu, nhà ga, điều kiện bẩn thỉu trong các trại tị nạn tạm thời và một bức ảnh đau lòng của một đứa trẻ chết đuối Syria đã đưa cuộc khủng hoảng người di cư tị nạn đến châu Âu vào tầm ngắm toàn cầu. Theo UNHCR, hơn 380.000 người di cư và người tị nạn đã đổ bộ lên bờ biển phía nam của châu Âu trong năm nay, tăng 216.000 lượt người trong cả năm 2014. Họ đang chạy trốn khỏi cuộc đàn áp, nghèo đói và xung đột mà cơn giận dữ vượt ra ngoài biên giới của châu lục, nhưng không phải tất cả mọi sự quản lý đều đạt được an toàn. Chỉ riêng năm nay, 2.850 người đã bị chết đuối ở Địa Trung Hải. Dẫu vậy, điều đó vẫn không thể ngăn được làn sóng người di cư đang ồ ạt làm hồ sơ xin tị nạn vào châu Âu.

Vì sao châu Âu phải đối mặt với một trong những thách thức khó khăn này trong nhiều thập kỷ. 5 câu hỏi lớn về khủng hoảng di cư và tị nạn của châu Âu theo  là:

1. Sự khác nhau giữa người tị nạn và di cư là gì? 2. Những người di cư và tị nạn từ đâu đến? 3. Vì sao châu Âu là điểm đến của cuộc khủng hoảng di cư và tị nạn? 4. Các nước châu Âu đối phó với cuộc khủng hoảng này như thế nào? 5. Mỹ có thể làm gì?

Tôi chỉ tóm lược vấn đề, lược dịch, trích dẫn để cùng bạn suy ngẫm. Ngạn ngữ phương Đông có câu: “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách” (Ba mươi sáu kế, chạy là hơn cả). Hơn một nửa trong số tất cả những người tị nạn trên toàn thế giới trong năm 2014 là dân của ba nước Syria, Afghanistan và Somalia đã chạy trốn khỏi sự xung đột. Những cuộc khủng hoảng và leo thang khác tại Cộng hòa Dân chủ Congo, Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, Ukraine và Iraq đang làm mạnh mẽ thêm vào làn sóng di cư và dân tị nạn.

Syria đứng đầu trong số người di cư và dân tị nạn. Kể từ khi cuộc nội chiến Syria bắt đầu từ năm 2011, có hơn 4 triệu người Syria đã tìm nơi trú ẩn tại các nước láng giềng và khoảng 7,6 triệu người khác đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ nhưng vẫn sống quanh quẩn bên trong nước Syria. Sự gia tăng các cuộc tấn công của lực lượng Tổng thống Assad Basher và sự phát triển của ISIS đang thúc đẩy chiến tranh leo thang, và người dân đang cố thoát ra khỏi cuộc chiến này, vì rõ ràng sự xung đột không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn.

Điều tương tự cũng xẩy ra đối với các cuộc xung đột hiện đại (ngoài Syria) đã góp phần thêm vào hơn một nửa số người tị nạn thế giới đã lưu vong trong năm năm qua.

Các nước Lebanon, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ là những nơi che chở chính cho khoảng 3,6 triệu người tị nạn Syria, hiện tại đang bị ngợp bởi tràn ngập; Viện trợ nhân đạo quốc tế rơi rất xa dưới mức nhu cầu. Châu Âu đang thành điểm đến cho làn sóng người tị nạn.

Luongtritinhthuc2
Người di cư biến Budapest thành điểm nghẽn của cuộc khủng hoảng người tị nạn (hình).  Một châu Âu đang bị gãy bởi chen lấn, xô ngã. Mỗi nước và cộng đồng Liên minh châu Âu đang phải đối mặt, tìm cách xử lý thỏa đáng với cuộc khủng hoảng di cư leo thang.

Mỹ đã tái định cư cho 1,554 người tị nạn Syria trong số hơn 4 triệu người đã bỏ chạy kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh dân sự trong năm 2011. Các tổ chức quốc tế đã cố gắng thuyết phục chính phủ liên bang Mỹ để tiếp nhận nhiều hơn, nhưng Nhà Trắng vẫn chưa đưa ra một cam kết chính thức để làm như vậy. Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ nói với TIME rằng Hoa Kỳ có thể nhận tổng số 1.500 – 1.800 người tị nạn Syria trong tháng Mười và hy vọng sẽ tăng số này nhiều hơn trong năm tài chính tới.

Ngoại trưởng John Kerry nói ngày 9 tháng 9 năm 2015 là Mỹ sẽ phải cam kết tăng số lượng người tị nạn lên khoảng ​​70.000 đến 75.000 người, một phần trong số này là từ Syria, nhưng ông đã không đưa ra bất kỳ chi tiết cụ thể nào. Người tiền nhiệm của ông Kerry, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ là bà Hillary Clinton, đã kêu gọi “một nỗ lực toàn cầu phối hợp” để giảm bớt cuộc khủng hoảng.

Lương tri thức tỉnh trước những hiểm họa toàn cầu: Chiến tranh và hòa bình, xung đột và tranh chấp, di cư và tị nạn, cần nỗ lực toàn cầu phối hợp để giải quyết, với an ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái môi trường sống.

Nhà nhân đạo và nông học Norman Bourlaug có nói: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.”

Hòa bình xanh, cách mạng xanh mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

Nguồn trích dẫn: (TIME) The 5 Big Questions About Europe’s Migrant Crisis
(hình ảnh từ bài viết trên của TIME)

Hoàng Kim

Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  CNM365 Tình yêu cuộc sống Cây Lương thực  Dạy và Học  Kim on LinkedIn KimYouTube Kim on Facebook

 

Cây trồng biến đổi gen: Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

  • PDF

Cây trồng biến đổi gen: Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Cây trồng biến đổi gen (GMC) hay sinh vật biến đổi gen (GMO) đã và đang gây nhiều tranh cãi trên thế giới và cả ở Việt Nam về hiệu quả cũng như hiểm họa mà nó mang lại. Bài học ở Châu Âu và Trung Quốc khẳng định rằng thắng lợi chỉ thuộc về những người nắm giữ công nghệ. Cần phải thận trọng và cảnh giác với những phương thức kinh doanh kiểu mới của những “ông Trùm” thế giới sử dụng các con bài “sinh tặc” hiện nay.

Theo thống kê, đến năm 2010, sau 15 năm kể từ khi giống cây trồng biến đổi gen (BĐG) đầu tiên được đưa vào sản xuất đã có 29 quốc gia trồng cây BĐG với diện tích canh tác ước tính vào khoảng 148,0 triệu ha gieo trồng mỗi năm đối với hàng chục loại cây trồng khác nhau như ngô, lúa, đậu tương, bông, cải dầu... 
Trong đó, 3 cây trồng BĐG có diện tích lớn nhất là đậu tương 73,3 triệu ha, ngô 46,8 triệu ha, bông vải 21 triệu ha. So với tổng diện tích canh tác các cây trồng toàn cầu ước tính lên đến trên 4,8 tỷ ha thì diện tích này quả là còn rất nhỏ bé, nhưng con số 148 triệu ha lại không hề nhỏ đối với một vài quốc gia và vài công ty xuyên quốc gia - những người nắm công nghệ.

Tranh cãi kéo dài nhưng chưa ngã ngũ

Đã có những tranh cãi gay gắt giữa một bên là các công ty sở hữu công nghệ và các sản phẩm BĐG và bên kia là các nhà khoa học lo ngại về khả năng rủi ro, không an toàn của các sản phẩm BĐG đối với sức khỏe con người và môi trường canh tác và sinh hoạt. Sự tranh cãi này diễn  ra ở nhiều nơi, nhiều lúc, cả ở châu Âu lẫn châu Á, cả ở nước phát triển và các nước đang phát triển.

Cứ mỗi khi các nhà khoa học hay các nhà thực hành sản xuất khám phá ra những rủi ro liên quan đến các sản phẩm BĐG, hoặc chứng minh lợi ích của các sinh vật BĐG không lớn như những gì mà người ta quảng cáo thì ngay lập tức các ông chủ sở hữu công nghệ và bản quyền các sản phẩm BĐG lại đưa ra các bằng chứng phản bác lại, đẩy các cuộc tranh cãi kéo dài hàng thập kỷ nay không chấm dứt.

Trên thực tế, ngoài những lo ngại sản phẩm BĐG có thể tác động xấu đến sức khỏe con người, còn có rất nhiều lo ngại khác, cụ thể là: 
1) khả năng tác động xấu đến môi trường canh tác, mất an toàn cho người sử dụng; 
2) Khả năng để mất quyền kiểm soát lương thực vào tay nước ngoài;
3) Nguy cơ độc quyền kinh doanh đầu vào sản xuất đối với sản phẩm BĐG (giống, phân bón và hóa chất đi kèm) có thể làm giảm hiệu quả sản xuất và tăng gánh nặng hỗ trợ của các chính phủ; và 
4) Nguy cơ xảy ra các tranh chấp thương mại, dựa vào đó các hàng rào kỹ thuật, phi thuế quan sẽ được thiết lập nhằm hạn chế hay tẩy chay sản phẩm của các đối thủ vốn có lợi thế cạnh tranh hơn.

Nghiên cứu của giáo sư Gilles-Eric Seralini về ngô BĐG NK603 trên chuột

Ứng xử của các bên liên quan

Đầu thập niên 1980, Pháp kiên quyết phản đối cây trồng BĐG nhưng đến thập niên 2000 khi Pháp đã làm chủ được công nghệ BĐG thì hàng chục giống ngô BĐG đã được trồng khá phổ biến ở đây nhưng hầu hết đều là các giống do Pháp sản xuất, chỉ duy nhất giống MON89034 của tập đoàn Monsanto được cấp phép ở đây.

Trung Quốc cũng là nước đã dành rất nhiều tiền để nghiên cứu về GMO. Vào cuối thập niên 1990 những tranh cãi về khả năng mất an toàn của sinh vật BĐG cũng rất gay gắt, tuy nhiên đến đầu những năm 2000 thì điều này đã dịu xuống. 
Trước đây, khi chưa làm chủ được công nghệ BĐG thì chính phủ Trung Quốc đã tìm mọi cách để hạn chế nhập khẩu, kể cả thời kỳ trong nước thiếu hụt, giá đậu tương lên cao ảnh hưởng đến người tiêu dùng nhưng Trung Quốc vẫn hạn chế nhập khẩu, chấp nhận hỗ trợ tiêu dùng nhưng đồng thời đẩy mạnh việc nghiên cứu sản xuất sản phẩm BĐG trong nước.
Đến nay, Trung Quốc đang dần xuất khẩu công nghệ BĐG và các sản phẩm BĐG của họ. Các công ty giống trong nước của Trung Quốc hiện nay cũng đang cung cấp phần lớn giống cho nhu cầu của nông dân. Xin lưu ý, khi thị trường trong nước thiếu hụt, thì Trung Quốc vẫn nhập khẩu các sản phẩm BĐG nhất là đậu tương, nhưng không phải là nhập giống đậu tương BĐG vào để trồng ở trong nước.

Cách tiếp cận nào cho Việt Nam?

Theo PGS Nguyễn Thị Trâm, Việt Nam cần thận trọng chọn cách tiếp cận một cách thông minh về cây BĐG. Trong khi Việt Nam là nước nghèo, mọi trang thiết bị, vật liệu, hóa chất, phương pháp nghiên cứu phải nhập khẩu 100%, mà thường khi đi nhập hay bị mua phải công nghệ lạc hậu thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ tiếp thu công nghệ cần được đào tạo đồng bộ, toàn diện về lý thuyết, thực hành và triển khai. 
Vì vậy, trước mắt chúng ta phải chọn cách đi chậm (tuần tự) và thận trọng, không nên đi tắt đón đầu để tránh sự lệ thuộc triền miên vào các công ty nước ngoài về giống BĐG mà nông dân ta là những người phải đi mua giống để trồng hoặc Nhà nước phải bỏ tiền mua gen cho các Viện nghiên cứu trong nước tạo giống chuyển gen để bán cho nông dân.
Trước mắt, chúng ta hoàn toàn có khả năng tập trung nội lực nghiên cứu phát triển các cây lương thực, thực phẩm có lợi thế, đồng thời tập trung đầu tư để nâng cao giá trị xuất khẩu của lúa gạo, cà phê, rau, hoa, quả, thủy sản... bù cho việc nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi và bông cho công nghiệp dệt. 
Đầu tư nghiên cứu tạo giống hoặc nhập sản phẩm cây trồng BĐG dùng làm nhiên liệu, nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, xăng sinh học nhưng phải đảm bảo các quy định về an toàn sinh học, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật. Vì tầm quan trọng của lương thực thực phẩm cho con người, nên các chính sách liên quan tới cây trồng BĐG sẽ phải dựa trên những cuộc tranh luận cởi mở và trung thực có sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội.
Theo thiển nghĩ của người viết bài này, cơ sở vật chất và khả năng nghiên cứu về cây BĐG của Việt Nam còn rất hạn chế, trong khi trong nước cũng chẳng thiếu giống tốt và phù hợp với điều kiện địa phương nhưng lại để cho các công ty xuyên quốc gia đem giống của họ vào cạnh tranh với mình. 
Họ là những ông lớn có tiềm lực kinh tế sẵn sàng bóp chết các công ty nhỏ xíu trong nước. Sẽ là sai lầm khi thực hiện trồng ngô BĐG trong nước để thay thế nhu cầu nhập ngô BĐG làm thức ăn chăn nuôi. Sản xuất ra ngô BĐG thay thế nhu cầu nhập khẩu là câu chuyện khác hoàn toàn với nhập khẩu ngô BĐG nguyên liệu để bù đắp sự thiếu hụt.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp & PTNT thường nhắc đi, nhắc lại điệp khúc: ”Phải nâng cao giá trị cho sản phẩm, phải sản xuất ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao” thế nhưng ai có thể khẳng định ngô BĐG là cây trồng mang lại giá trị gia tăng cao hơn ngô thường của Việt Nam? 
Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam không hiểu vì lý do gì cứ viện cớ thiếu ngô làm thức ăn chăn nuôi để biện luận cho việc phải đưa ngô BĐG vào sản xuất đại trà. Ngô BĐG không làm cho năng suất và sản lượng tăng lên, do vậy sẽ không giải quyết được vấn đề thiếu hụt ngô nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, chưa kể giả sử nếu cứ cho trồng ngô BĐG tại Việt Nam thì cũng chẳng thể nào cạnh tranh nổi với ngô BĐG của Mỹ, Achentina, v.v... là những nước có điều kiện đất đai, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật hơn hẳn Việt Nam.

Tại sao Việt Nam không đơn giản áp dụng chính sách thuế để xử lý tình huống thiếu hụt nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như những nước khác vẫn làm?. Ví dụ, khi nào trong nước thiếu thì giảm thuế nhập khẩu, còn khi trong nước đến vụ thu hoạch thì tăng thuế xuất thuế nhập khẩu lên để bảo hộ người sản xuất trong nước. Hiện tại, Việt Nam cũng đã sản xuất được tới gần 5 triệu tấn ngô, với sản lượng như vậy mà đến thời vụ thu hoạch, nông dân bán còn khó, nếu trồng ngô BĐG thì cạnh tranh sao nổi với ngô BĐG nhập khẩu có giá rất cạnh tranh.

Có ý kiến đặt cho rằng các công ty đa quốc gia tìm mọi cách để vào Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thức ăn chăn nuôi, giá thức ăn gia súc của họ chưa bao giờ ngừng tăng. Họ luôn viện cớ giá đầu vào tăng để tăng giá thức ăn chăn nuôi, đến mức không thể tăng hơn được nữa vì người nông dân kiệt quệ vì lỗ vốn thì họ lại xin được miễn VAT nhưng thử xem miễn VAT rồi thì giá thức ăn chăn nuôi có giảm được không? Đừng có mơ mà vỡ mộng.

Thay cho lời kết

Những bài học ở Châu Âu và Trung Quốc khẳng định rằng thắng lợi chỉ thuộc về những người nắm giữ công nghệ. Cần phải thận trọng và cảnh giác với những phương thức kinh doanh kiểu mới của những “ông Trùm” thế giới sử dụng các con bài “sinh tặc” hiện nay.

 

Hệ thống mới lạ sử dụng vi khuẩn để xử lý và chiết xuất năng lượng từ nước thải

  • PDF

Hệ thống mới lạ sử dụng vi khuẩn để xử lý và chiết xuất năng lượng từ nước thải 

Mỗi ngày, các nhà máy bia và rượu vang thải ra hàng ngàn gallon nước thải, nước thải này được đổ xuống cống rãnh hoặc được chở đến các cơ sở xử lý nước thải với chi phí đắt đỏ.​

Nay, công ty Cambrian Innovation sẽ thương mại hóa 1 hệ thống xử lý mới lạ có tên là EcoVolt, hệ thống này sử dụng các vi khuẩn được sạc điện để xử lý và tạo ra năng lượng từ nước thải. Công ty này sẽ biến đổi hệ thống của họ để tạo ra giá trị từ nước thải trong lĩnh vực nông nghiệp và quân sự, và để biến đổi CO2 thành nhiên liệu cho các ứng dụng trên Trái Đất và trong không gian.

Cơ sở hạ tầng công nghiệp ngày nay điều khiển các nguồn cơ bản theo hướng tuyến tính, làm tăng chi phí của việc xử lý chất thải và gây hại cho môi trường. Nhưng 1 phương pháp tuần hoàn hơn – tại đây chất thải được sử dụng làm nguồn năng lượng – có thể đem lại lợi nhuận cao hơn và loại bỏ được sự căng thẳng giữa môi trường và kinh tế, tổng giám đốc điều hành Matt Silver của hãng này cho biết.

Silver cho biết: “Việc xử lý nước thải tiêu tốn hơn 3% lượng điện ở Mỹ, tuy nhiên các chất hữu cơ trong nước thải này có năng lượng mà có thể được chiết xuất và sử dụng cục bộ”.

Hệ thống EcoVolt có tính môđun và tự động, bao gồm 1 cống lấy nước, đây là nơi chứa nhiều máy tính để tự động hóa và điều khiển, và chứa khoảng 20.000 gallon đơn vị xử lý. Ở những đơn vị xử lý này, các vi khuẩn có tên là exoelectrogen sẽ thực hiện 1 quy trình lạ thường, được gọi là electromethanogenesis – quy trình này lần đầu tiên được sử dụng trong việc xử lý nước thải.

Exoelectrogen được phủ lên cực dương. Chúng ăn các chất ô nhiễm hữu cơ còn sót lại của nước thải rồi phát điện trong quá trình này. Điện này đi qua 1 mạch điện rồi vào cực âm được phủ bằng những vi khuẩn làm hao mòn lượng điện này – cùng với CO2 – để tạo ra khí sinh học ở tốc độ đến 100 foot khối/phút. Quy trình này làm thay đổi sự tiêu hóa kỵ khí xảy ra tự nhiên ở nước thải bởi vì nó làm ổn định việc xử lý, cải thiện chất liệu khí sinh học và cho phép mức tự động hóa cao hơn.

Khí sinh học đi vào 1 hệ thống đồng phát nhiệt-điện được kết nối để chuyển đổi năng lượng. Dựa vào một vài yếu tố, điều này tạo ra từ 30-400 kWh điện ở bất kỳ nơi đâu. Nước thải được xử lý sau khi ra khỏi lò phản ứng sẽ bị loại bỏ từ 80-90% chất ô nhiễm, vì thế nó có thể được sử dụng để tưới, rửa thiết bị cùng nhiều việc khác.

Hệ thống này có thể xử lý từ 10.000 đến 1 triệu gallon nước thải mỗi ngày.

Từ tháng 1 vừa qua, 2 nhà máy bia Bear Republic và Lagunitas đã mua hệ thống EcoVolt. Với tốc độ hiện tại, Cambrian ước tính hệ thống này sẽ phát đủ điện để đáp ứng từ 25-50% nhu cầu của 2 nhà máy bia này và cho phép tái sử dụng khoảng 25% nước thải của họ. Hệ thống này còn giúp giảm bớt 10 chuyến xe tải chở nước thải mỗi ngày cho Lagunitas.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Dùng trí tuệ nhân tạo trong nhà kính kỹ thuật số

  • PDF

Dùng trí tuệ nhân tạo trong nhà kính kỹ thuật số 

Các nhà khoa học ở Viện công nghệ Massachusetts (Mỹ) đã phát triển một thuật toán dựa trên trí tuệ nhân tạo để phân tích nhiệt độ, độ ẩm và các thông số khí hậu khác trong nhà kính phục vụ cho việc xác định các điều kiện tốt nhất cho việc trồng rau quả với sản lượng thu hoạch tốt nhất.

Hiện nay, trồng rau quả trong môi trường tự nhiên ngày càng trở nên khó khăn hơn do biến đổi khí hậu, hạn hán thường xuyên. Bên cạnh đó, việc canh tác còn phải dùng đến thuốc trừ sâu để bảo vệ thực vật khỏi sâu bệnh tật và vi khuẩn. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà kính kỹ thuật số hoặc cái gọi là “máy tính thực phẩm” có thể là phương pháp thành công nhất để tạo ra thực phẩm.

Ngoài việc khắc phục yếu tố khí hậu giúp làm giảm thiểu thời gian và nguồn lực để cung cấp, thì thay vì mang quả bơ từ Mexico sang Trung Quốc, người ta còn có thể tái tạo khí hậu Mexico ở ngay Bắc Kinh và thậm chí làm cho chế độ khí hậu đó tốt hơn trên cơ sở phân tích dữ liệu.

Các nghiên cứu về việc tạo ra một “máy tính thực phẩm” được khởi động vào năm 2015 tại Media Lab của Viện công nghệ Massachusetts. Thí nghiệm đầu tiên là phải thay đổi thời gian và cường độ của bức xạ tia cực tím. Hiện nay, theo Fast Company, trong một chu kỳ tăng trưởng của từng loại cây, nhà kính kỹ thuật số có thể theo dõi khoảng ba triệu thông số.

Các thuật toán huấn luyện máy sẽ tiến hành phân tích dữ liệu để tìm ra sự kết hợp tốt nhất các yếu tố khí hậu cho việc canh tác các loại cây trồng nhất định. Kết quả này có thể gọi là "công thức khí hậu", và bất cứ ai muốn trồng rau tại nhà cũng có thể khai thác các công thức đó.

Các “máy tính thực phẩm” được trang bị các bộ cảm biến, thiết bị điều khiển tự động và thị giác có khả năng nghiên cứu và sau đó tái tạo các điều kiện sinh trưởng tối ưu cho cây trồng - từ cường độ và quang phổ của ánh sáng đến nồng độ các loại muối và khoáng chất trong nước phục vụ tưới tiêu.

Các nhà khoa học cũng phát triển một phiên bản thương mại nhà kính số Greenhouse với container chứa hàng và khả năng tạo ra những điều kiện khí hậu khác nhau cho các loại cây trồng trên các bộ giá kệ khác nhau.

Việc sử dụng các hệ trí tuệ nhân tạo cho phép giám sát nhiều yếu tố sinh trưởng và canh tác cây trồng, trong đó có hương vị và sức đề kháng với bệnh tật cũng như tạo ra công thức khí hậu hoàn hảo đối với từng loại cây trồng.

Tất cả dữ liệu, bao gồm cả hướng dẫn về cách để tạo ra một “máy tính thực phẩm” đều sẽ được công bố rộng rãi để những người có kiến thức kỹ thuật tối thiểu cũng có thể áp dụng.

 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module