Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Tình hình biển Đông có gì mới ?

  • PDF

alt

Tình hình biển Đông có gì mới ? được tiếp nối trên trang Tình yêu cuộc sống với các bài mới đáng chú  ý : 7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì? (Hải Đăng, VHNA 30 3 2015)  Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển  Đông (VOA 2 4 2015); Sóng ngầm địa chính trị khu vực và sự lựa chọn của Việt Nam (Lê Hồng Hiệp. Nghiên cứu Quốc tế 28. 12. 2014); Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam (RFI, 2.3. 2015);  xem tiếp...



Nhà nông bao giờ đủ giống?

  • PDF

(Thời báo Kinh Doanh) - Không ai có thể phủ nhận về điều kiện phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, song có một thực tế đáng buồn là ngành nông nghiệp của chúng ta vẫn chỉ mạnh về lượng. Một trong những nguyên nhân là do sự yếu kém ngay từ con giống. 

Cách đây không lâu, Gs.Ts. Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam cho biết Việt Nam đang phải chi tới 500 triệu USD mỗi năm để nhập khẩu giống, trong đó 80% hạt giống lúa lai trong nước phải mua của nước ngoài. Ông cũng cảnh báo, Việt Nam còn phải lệ thuộc vào hạt giống nhập khẩu trong một thời gian dài nữa.

Lệ thuộc giống ngoại 

Tại Hội nghị tổng kết giống cây trồng vật nuôi vừa được Bộ NN&PTNT tổ chức mới đây, một lần nữa bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT “hâm nóng” vấn đề này khi đưa ra nhận định: Hệ thống sản xuất giống trong nước tuy nhiều nhưng năng lực hạn chế, về cơ bản còn chưa đáp ứng yêu cầu cho sản xuất hàng hóa trong nước, chưa nói tới mục tiêu “hướng mạnh” ra xuất khẩu như mục tiêu ngành đề ra. “Nhìn chung, các giống vật nuôi chính ở nước ta hiện nay chủ yếu có nguồn gốc nhập khẩu: giống gà trên 90%, giống lợn khoảng 74%, 21% số bò thịt được nhân ra từ phương pháp thụ tinh nhân tạo có nguồn gốc nhập khẩu từ Úc”, bà Hồng cho biết...

Thậm chí, trong chăn nuôi, người dân sử dụng giống thương phẩm làm đàn bố mẹ khá phổ biến: 70 - 75% với lợn, gần 60% với gà, 15,7% với thủy cầm. Trong thủy sản, các cơ sở nhân giống cá rô phi chỉ đáp ứng trên 70%; con giống nhuyễn thể đáp ứng được 50% nhu cầu thả nuôi. Đặc biệt, tại ĐBSCL - một trong những vựa lúa lớn nhất nước nhưng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa thuần chỉ đạt 40% và ở Đồng bằng sông Hồng đạt khoảng 60%, phần còn lại là do nhân dân tự sản xuất.

Ông Phạm Đồng Quảng, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định mặc dù Việt Nam tiếp cận các giống lúa lai từ những năm 1990 và đã cố gắng đầu tư nghiên cứu lúa lai nhưng chúng ta vẫn đi sau Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác. Hơn nữa, sản xuất giống lúa lai gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào thời tiết nên các DN ngại đầu tư. Chính vì thế, bên cạnh nghiên cứu và sản xuất trong nước thì Việt Nam vẫn phải nhập khẩu giống lúa lai để đáp ứng nhu cầu.

Trong khi đó, ông Hàng Phi Quang, Tổng giám đốc công ty CP Giống cây trồng miền Nam, thừa nhận sản phẩm của công ty lai tạo chưa tạo được đột phá trong nhóm sản phẩm bắp vàng, hạt giống rau thiếu nguồn gen tốt và phù hợp; trong khi thị phần của hai nhóm sản phẩm này đang do các công ty nước ngoài chi phối. “Cùng với đó, chi phí đầu tư cho nghiên cứu rất lớn, và ẩn chứa nhiều rủi ro, đối với một công ty cổ phần, mức độ đầu tư nghiên cứu luôn bị giới hạn vì phải cân đối với lợi nhuận của các nhà đầu tư và thu nhập của người lao động”, ông Quang cho biết.

Ông Đặng Quốc Tuấn, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Việt - Úc, chia sẻ dù Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu tôm, song chúng ta lại không thể tự chủ về nguồn tôm và chất lượng. Bằng chứng từ năm 2008 đến nay là 6 năm nhưng ngành thủy sản nói chung cũng như tôm nói riêng chưa có giống mới nào được tạo ra. Thêm vào đó, các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống chủ yếu tập trung vào các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày, còn cây dài ngày chưa được quan tâm đúng mức, một số đối tượng còn bỏ trống. Số lượng giống được công nhận nhiều nhưng giống chất lượng và giá trị thương mại cao chưa nhiều. 

Doanh nghiệp kêu khó 

Theo các DN, hoạt động nghiên cứu của các DN giống cây trồng vật nuôi đang khó trăm bề do không tạo ra được các dòng ưu tú, không tiếp cận kịp thời các công nghệ chọn tạo giống tiên tiến để lai tạo ra được các giống lai tốt phù hợp với nhu cầu thị trường, cạnh tranh được với các giống lai nhập nội… dẫn đến lai tạo giống của Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước trong khu vực.

Khi được hỏi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ NN&PTNT cũng thừa nhận chính sách về nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống chưa phát huy hết năng lực của toàn xã hội, đặc biệt là các DN và cá nhân, một số chính sách đã được ban hành nhưng triển khai thiếu đồng bộ. Quá trình chuyển giao giống mới vào sản xuất còn thiếu sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu với các đơn vị sản xuất giống, nhất là DN. Trên thực tế, DN là cầu nối tiếp nhận giống mới từ các viện nghiên cứu để sản xuất giống thương phẩm cung cấp cho sản xuất đại trà nhưng thời gian vừa qua liên kết này còn thiếu chặt chẽ.

Những bất cập ấy được ông Trần Mạnh Báo, Tổng giám đốc Công ty giống cây trồng Thái Bình (TSC), cụ thể hóa bằng nhận định “Các DN sản xuất và cung ứng giống nước ngoài đang ào ạt vào Việt Nam. Họ có vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý và nguồn nhân lực tốt. Đặc biệt là khả năng tiếp thị của họ hơn hẳn các DN trong nước. Khi Việt Nam chưa có hệ thống chính sách đầy đủ để bảo hộ ngành giống trong nước, thì các DN nội thua trên sân nhà là chuyện dễ hiểu”.

Vì vậy, ông Báo cho rằng Bộ NN&PTNT cần quy định nếu giống thương phẩm đưa vào Việt Nam sau 3 năm mà không tổ chức sản xuất tại Việt Nam thì phải cấm nhập khẩu và lưu hành. Đồng thời, để ngành giống thật sự là động lực phát triển nền nông nghiệp thì Nhà nước cũng phải giúp các DN và các tác giả bảo vệ bản quyền giống cây trồng, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa.

Có thể thấy nông nghiệp Việt Nam đã đến lúc cần phải thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt là khối nghiên cứu từ các DN. Mà theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, để thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành thì công tác giống không chỉ cần được tăng cường mà còn phải được điều chỉnh. Ngành trồng lúa thay vì tập trung chọn tạo giống có năng suất cao ngắn ngày thì tập trung vào những giống lúa có chất lượng thể hiện qua sự đánh giá của thị trường. “Chỉ những giống lúa có đặc tính tốt, ổn định, được trồng với quy mô lớn thì mới tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng hình ảnh của một nước sản xuất lúa gạo chất lượng tốt, các DN mới có điều kiện xây dựng những thương hiệu bền vững”, Bộ trưởng nói.

---------------------------------------- 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát 

Chúng tôi đang cố gắng để giảm tới mức tối thiểu việc nhập giống thương phẩm và yêu cầu các DN nhập khẩu giống thương phẩm sau 3 năm phải tổ chức sản xuất trong nước. Quy định này nhằm thúc đẩy các DN tổ chức sản xuất trong nước chủ động cung cấp giống kịp thời cho nông dân và bám sát yêu cầu trong nước. 

Ts. Trần Công Xuân, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam

Yếu kém nhất của chăn nuôi Việt Nam, theo tôi, chính là hệ thống giống, kể cả giống Trung ương lẫn địa phương, cứ mạnh ai nấy làm, cuối cùng chẳng giống nào ra giống nào. Việt Nam có nhiều giống nội quý, chất lượng cao nhưng năng suất thấp, các giống thuần hầu như không còn mà đã bị lai tạp, mức độ thuần khiết thấp. Để nâng cao năng suất, chất lượng con thương phẩm, Việt Nam buộc phải nhập giống gia cầm nước ngoài và nhập rất nhiều. Đáng tiếc là Việt Nam không đầu tư cho giống thuần, chỉ nhập con giống ông bà, bố mẹ, sau đó sản sinh ra thương phẩm là hết và lại phải nhập lại. 

Gs. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam 

Cần thẳng thắn thừa nhận, chúng ta đang thiếu những cán bộ chọn tạo giống xuất sắc và cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp này còn rất hạn chế. Trong suốt một thời gian dài, chúng ta chưa có cơ chế để đảm bảo cho cán bộ nghiên cứu giống có thể “sống khỏe” với công việc mình đang làm nên khó thu hút nhân tài vào lĩnh vực này. Thành ra, ngoài việc cố gắng tạo ra những giống cây như cam không hạt, vải thiều chín sớm…, các nhà chọn tạo giống còn phải chạy đôn chạy đáo làm thêm việc này việc nọ để kiếm sống.

 

Các biện pháp mới của Nhật Bản để chống lại sự nóng lên toàn cầu

  • PDF

Các biện pháp mới của Nhật Bản để chống lại sự nóng lên toàn cầu 

Chính phủ Nhật Bản vừa đưa ra các biện pháp để hạn chế tác động của hoạt động nông nghiệp và con người đối với biến đổi khí hậu ở cấp quốc gia và địa phương. Quyết định này được thực hiện sau khi những kết luận vào tháng 9/2013 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho rằng các hoạt động của con người có ảnh hưởng đến sự nóng lên toàn cầu và các biện pháp hiện tại trên thế giới là chưa đủ.

Khí hậu toàn cầu nóng lên ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo của Nhật Bản. Thật vậy, trong những năm gần đây, nhiệt độ mùa hè trung bình vượt quá mức bình thường theo mùa và đã tác động đến sinh trưởng của lúa. Do đó, chất lượng gạo đã giảm dần. Để khắc phục điều này, một giống mới được phát triển nhờ lai hai giống lúa Nhật Bản. Thành công này là một trong những phương cách hỗ trợ tốt nhất trong hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.

Viện Quốc gia về Khoa học nông nghiệp - môi trường Nhật Bản dự đoán sẽ có sự sụt giảm chất lượng của gạo Nhật Bản vào cuối thế kỷ này do sự nóng lên toàn cầu và là một thách thức đáng kể cho phát triển trong các vùng sản xuất ở Kyushu và Chugoku. Nguy cơ lũ lụt cũng được xem xét nghiêm túc khi biến đổi khí hậu đe dọa các con đập. Do vậy một số biện pháp gia cố các con đập đã được đưa ra, như đập Tsuruda thêm vào các cửa xả qua đó cải thiện kiểm soát đập trong trường hợp lũ lụt.

Chính phủ nói rằng nguy cơ lũ lụt tăng lên từ 80 đến 340% vào cuối thế kỷ này do nhiệt độ tăng. 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Di truyền cây ớt

  • PDF

Di truyền cây ớt 

Capsicum annuum là một loài ớt đã thuần hóa thuộc chi Capsicum, họ Cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ miền Nam Bắc Mỹ và miền bắc Nam Mỹ. Ba loài C. annuum, C. frutescensC. chinense đều tiến hóa từ một tổ tiên chung duy nhất ở một nơi nào đó trong khu vực phía tây bắc Brazil – Colombia. Số nhiễm sắc thể của bộ genome cây ớt là: 12 cặp.

Trong chi Capsicum, có ít nhất 31 species được biết, năm trong số loài này được thuần hóa thông qua những sự kiện rất khác biệt nhau tại những trung tâm khởi thủy về đa dạng sinh học khác nhau: C. annuum, C. baccatum, C. chinense, C. frutescensC. pubescens. Loài ớt được thuần hóa Capsicum spp., trong đó loài C. annuum được trồng với diện tích lớn nhất trên tế giới với hai kiểu hình ớt ngọt và ớt cay, được người ta thực hiện nhiều chương trình lai chọn tạo giống mạnh nhất. Capsicum annuum đã được thuần hóa trên cao nguyên Mexico và là tổ tiên của các giống ớt cay Mexico, hầu hết giống ớt cay châu Phi và châu Á, cùng với nhiều giống ớt ngọt trồng ở châu Âu, vùng ôn đới (Livingstone và ctv. 1999).

Người ta sử dụng GBS (genotyping by sequencing) với bộ chỉ thị “genome-wide SNPs”, thực hiện trên tập đoàn giống ớt với 370 mu ging (accessions), để đánh giá đa dạng di truyền của một “subset” với 222 giống ớt đang canh tác (C. annum) bao gồm giống bản địa, giống canh tác chủ lực, giống lai, dòng cải tiến, dòng hoang dại và dòng ớt kiểng (ornamental) được sưu tập từ nhiều vùng của thế giới (Taranto và ctv. 2016). Kỹ thuật “SNP discovery by GBS” được áp dụng trong nghiên cứu này. Ly trích mẫu DNA theo phương pháp DNeasy® Plant Mini Kit (QIAGEN, Germany). Phân cắt hạn chế mẫu DNA bằng “6-base-cutter HindIII”. GBS được thực hiện tại “Institute of Genomic Diversity” (Cornell University, Ithaca, NY, USA) theo phương pháp Elshire. Khuếch đại PCR được tiến hành để tạo nên một thư viện GBS, mà kết quả này được minh họa bởi kỹ thuật “Illumina HiSeq 2500 run” (Illumina Inc., USA). Trình tự DNA với hàng triệu “reads” được xử lý theo “multiple FASTQ files”. Tất cả chỉ thị (tag) của trình tự duy nhất của mỗi một “sequence file” được thu thập và xử lý để tạo ra “master tag file”. Những “master tags” này được sắp xếp và so sánh chuỗi trình tự theo cách thức tham chiếu cơ sở dữ liệu của bộ genome CM334 trên mạng http://peppergenome.snu.ac.kr với công cụ Burrows-Wheeler Aligner (BWA) (version 0.7.8-r455).

Phân tích GBS theo phần mềm TASSEL (version 3.0.166) để xử lý số liệu SNPs. Cở sở dữ liệu SNP được xử lý theo TASSEL-GBS sẽ cho ra dữ liệu mới trong đánh giá kiểu gen “HapMap” có tính chất còn nguyên sơ. Sau đó, người ta tiến hành tiếp sau đó hai bước có tính chất thanh lọc (filtering)  những chỉ thị SNPs. Lần “filtering” đầu tiên nhằm tìm ra tần suất alen tối thiểu (mnMAF = 0.01), mức che phủ tối thiểu để phân loại [minimum taxa coverage] (mnTCov = 0.1) và vị trí được che phủ tối thiểu [minimum site coverage] (mnSCov = 0.8). Các mẫu giống ớt có số dữ liệu bị mất với mức độ khá lớn sẽ được thanh lọc trên cơ sở tham chiếu “minimum minor allele count” (mnMAC = 10). Các chỉ thị SNPs vượt cao hơn giá trị  “minimum minor allele count” (mnMAC) hoặc có tần suất lớn (mnMAF), được giữa lại để phân tích tiếp.

Lần “filtering” thứ hai nhằm chọn ra các chỉ thị SNP có chất lượng cao thông qua phần mềm TASSEL-GBS cho ra những thông số sau đây: “minimum count 150”, “minimum frequency 0.01” và “Maximum Frequency 1.0”.

Người ta thu thập số liệu “read depth” và “coverage” thông qua việc sử dụng “custom R scripts” và “BEDTools”. Muốn xác định vùng trung tâm trên 12 nhiễm sắc thể của Capsicum, người ta sử dụng bản đồ di truyền của giống ớt COSII. Mỗi một nhiễm sắc thể, người ta chọn những chỉ thị phân tử kế cận với “peri-centromeric region” và xác định vị trí chính xác của chúng từ cơ sở thông tin của phần mềm “Sol Genomics Network”.

Tất cả chuỗi trình tự DNA có trong “NCBI Short Read Archive” (SRA; http://www.ncbi.nlm.nih.gov/sra/) với mã số mẫu giống ớt là SRP070992.

Kết quả cho thấy: phân tích GBS ghi nhận có 7.568.894 “master tags” (chỉ thị phân tử chính), trong đó, có 43.4% trình tự mang tính chất “unique” (độc nhất hiện hữu) được so sánh với bộ genome tham chiếu CM334. Người ta thấy có tất cả 108.591 chỉ thị SNP được xác định, trong đó, 105.184 chỉ thị SNP được tìm thấy trong các mẫu giống của C. annuum. Muốn khai thác có hiệu quả kết quả đa dạng di truyền này trong cây C. annuum và muốn chọn lọc một bộ “minimal core” đặc trưng cho tất cả biến dị di truyền đạt giá trị “minimum redundancy”, người ta phải tạo ra một “subset” của 222 mẫu giống ớt C. annuum, chúng được phân tích thông qua 32.950 chỉ thị SNP chất lượng cao. Theo kết quả xếp nhóm di truyền, người ta có thể chia tập đoàn giống ớt ra thành ba clusters di truyền. Cluster I tập hợp các giống đang canh tác chủ lực và giống ớt bản địa của vùng Nam và Bắc Italy, và vùng Đông Âu. Clusters II và III thể hiện các mẫu giống ớt có nguồn gốc địa lý khác. Xem xét kết quả phân tích biến thiên di truyền có tính chất “genome-wide” trong những mẫu giống ớt thử nghiệm này, bao gồm cluster I, với một chu kỳ thứ cấp theo phân nhóm của Bayesian (K = 3) và Hierarchical (K = 2); chúng đã được thực hiện để hoàn tất sự phân nhóm di truyền. Kết quả cho thấy rằng: các mẫu giống ớt đã được xếp nhóm di truyền không chỉ dựa theo xuất xứ địa lý mà con dựa trên đặc điểm có liên quan đến quả ớt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Livingstone Kevin D., Vincent K. Lackney, James R. Blauth, Rik van Wijk and Molly Kyle Jahn. 1999. Genome Mapping in Capsicum and the Evolution of Genome Structure in the Solanaceae. Genetics 152: 1183–1202 ( July 1999)

Taranto F., N. D ’Agostino, B. Greco, T. Cardi and P. Tripod. 2016.  Genome-wide SNP discovery and population structure analysis in pepper (Capsicum annuum ) using genotyping by sequencing. BMC Genomics  (2016) 17:943

 

VN cập nhật báo cáo cho Công ước khung về biến đổi khí hậu

  • PDF

VN cập nhật báo cáo cho Công ước khung về biến đổi khí hậu

Ngày 23/1, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường giới thiệu Báo cáo cập nhật của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (BUR1). Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Văn Tuệ cho biết, trong quá trình tham gia Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 13 tại Bali, Indonesia vào năm 2007 đến Hội nghị lần thứ 19 tại Ba Lan vào năm 2013, các nước đang phát triển được khuyến khích xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển Carbon thấp và tự nguyện thông báo cho Ban thư ký Công ước khí hậu các đề xuất về các Hành động giảm nhẹ khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (gọi tắt là NAMA). Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện các hoạt động nghiên cứu, phát triển các NAMA tại Việt Nam.

Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (BUR1) có 4 chương, gồm: Bối cảnh quốc gia; Kiểm kê quốc gia khí nhà kính; Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Nhu cầu tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực và trợ giúp nhận được cho các hoạt động biến đổi khí hậu.

Theo BUR1, tổng lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương bao gồm lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và 266 triệu tấn CO2 tương đương không bao gồm LULUCF. Phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 53,03% tổng lượng phát thải không tính LULUCF, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp chiếm 33,20%. Phát thải từ các lĩnh vực công nghiệp hóa và chất thải tương ứng là 7,97% và 5,78%.

BUR1 còn có các phương án giảm nhẹ khí nhà kính trong từng lĩnh vực như: Năng lượng; nông nghiệp; LULUCF. Cùng với đó là những nhu cầu tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực và trợ giúp nhận được cho các hoạt động biến đổi khí hậu.

Trước đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng công bố Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với Biến đổi khí hậu.

Theo ước tính, trung bình mỗi năm Việt Nam phải chịu từ 6 đến 7 cơn bão. Từ năm 1990 đến 2010 đã xảy ra 74 trận lũ trên các hệ thống sông. Hạn hán nghiêm trọng, xâm nhập mặn, sạt lở đất, và nhiều thiên tai khác cũng đã và đang gây trở ngại cho sự phát triển của các vùng miền trên cả nước.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, các thiên tai mang tính cực đoan đã xảy ra nhiều hơn, gây thiệt hại nhiều hơn về người và ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế đất nước.

Thông tin về cực đoan khí hậu trong tương lai, đại diện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho biết, theo kịch bản nồng độ khí nhà kính cao, số ngày nắng nóng dự tính đến giữa thế kỷ 21 tăng phổ biến từ 20-30 ngày; đến cuối thế kỷ, số đợt nóng (3 ngày liên tiếp) dự tính sẽ gia tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, đặc biệt là khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên với mức tăng có thể lên tới 6-10 đợt.

Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan cũng nhận định, tình hình hạn hán có khả năng xuất hiện nhiều và kéo dài hơn trong thế kỷ 21 ở hầu hết các vùng khí hậu trên cả nước.

Cùng với sự gia tăng của nhiệt độ và các hiện tượng cực đoan, số lượng bão hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam có thể giảm về tần suất nhưng tăng về cường độ và số lượng bão mạnh. Số ngày rét đậm, rét hại cũng có xu thế giảm, tuy nhiên số lượng các đợt rét lại biến đổi phức tạp và biến động mạnh từ năm này qua năm khác

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Trồng dâu tây kiểu Bỉ

  • PDF

Trồng dâu tây kiểu Bỉ 

Thêm một phương pháp trồng dâu tây mới theo phong cách châu Âu, đó là trồng dâu tây trong nhà kính hở. Đây chính là kết quả mà những chuyên gia nông nghiệp Vương quốc Bỉ chuyển giao cho người trồng dâu Đà Lạt theo cam kết hỗ trợ của tỉnh Đông Flander - Vương quốc Bỉ với Lâm Đồng.
 
Thăm vườn dâu tây của Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa Đà Lạt, nhiều nông dân rất ngạc nhiên trước những luống dâu được trồng “nửa kín nửa hở”, cho trái rất sai và đẹp. Ông Trần Huy Đường, chủ trang trại tại Măng Ling, phường 7 cho hay, theo quan niệm của bà con, dâu New Zealand chỉ trồng được trong nhà kính kín hoàn toàn. Còn ở đây, dâu được trồng trong những dàn mà lưới chỉ che vừa luống dâu. Và thực sự, trái dâu rất nhiều so với các vườn dâu nhà kính khác. Để giải thích nguyên nhân, anh Cao Đình Dũng, cán bộ kỹ thuật trực tiếp thực hiện kỹ thuật trồng dâu trong nhà kính hở chia sẻ, đây là phương pháp canh tác của Bỉ nói riêng và châu Âu nói chung, nơi điều kiện khí hậu có nét tương đồng với Đà Lạt. Với phương pháp canh tác trong nhà kính này, có thể mở ra nhiều triển vọng cho người trồng dâu.

Trồng dâu trong nhà kính hở không khó, giá thể, hệ thống tưới nhỏ giọt… tương tự như trồng dâu trong nhà kính kín. Chỉ khác duy nhất là thay vì nhà kính lớn bao phủ toàn bộ diện tích đất, mỗi luống dâu được che phủ bởi một mái che bằng kính rộng chừng 0,5-0,6m, cao khoảng 1,65m. Trong khoảng không gian ấy, cây dâu phát triển bình thường và theo thực nghiệm đối chứng với nhiều cách trồng khác như trồng ngoài trời, trồng trong nhà kính kín, cây dâu phát triển tốt hơn. Anh Cao Đình Dũng cho biết: “Cây dâu ưa sáng, ưa mát, chỉ bị ảnh hưởng bởi mưa lớn. Vì vậy, trồng trong nhà kính hở thoáng khí hơn, cây nhận được nhiều ánh sáng giúp quang hợp tốt hơn mà vẫn đảm bảo không bị mưa làm hư hại. Qua khảo nghiệm, chúng tôi nhận thấy  cây dâu kết hoa, ra quả sớm hơn so với nhà kính kín và năng suất tăng hơn”. Đặc biệt, côn trùng gây hại chủ yếu ở dâu tây là bọ trĩ đỏ, khi trồng trong nhà kính kín thì có nhiều nhưng với nhà kính hở thì giảm đáng kể. Nguyên nhân có lẽ là do bọ trĩ ưa nóng, nhà kính hở nhiệt độ thấp hơn nên mật độ bọ trĩ đỏ giảm. Các chuyên gia Bỉ cũng đánh giá mô hình trồng dâu trong nhà kính hở tại Đà Lạt là thành công. Họ cũng khuyến cáo, trồng cây theo phương pháp nhà kính hở ít ảnh hưởng tới môi trường hơn so với trồng cây trong nhà kính kín, đây cũng là vấn đề nông nghiệp Lâm Đồng cần quan tâm trong quá trình xây dựng một nền nông nghiệp xanh, bền vững và thân thiện với môi trường.

Trung tâm Nghiên cứu khoai tây, rau và hoa đang tích cực chuyển giao kỹ thuật trồng dâu tây trong nhà kính hở cho nông dân và đã tư vấn cho nhiều nông hộ khu vực Thái Phiên, phường 12, Đà Lạt xây dựng nhà kính hở. Nhiều nông dân chia sẻ, ngoài việc thu dâu trái, làm nhà kính kiểu này sẽ rất thu hút khách du lịch do đẹp, dễ hái trái và chụp hình hấp dẫn. Vừa kết hợp cung cấp dâu, vừa kết hợp làm du lịch sinh thái là một hướng làm ăn hiệu quả. Với nông dân, việc làm nhà kính kín tốn chi phí lớn hơn, diện tích đất lớn hơn và đòi hỏi phải bằng phẳng. Còn với nhà kính hở, bà con có thể tận dụng được cả những nơi đất thiếu bằng phẳng, đất đồi dốc để dựng nhà kính hở. Đặc biệt, nhiều khu du lịch đã rất ưa thích mô hình trồng dâu nhà kính hở, vì có thể trồng một diện tích không lớn phục vụ du khách. Tuy chỉ là bước đi đầu tiên nhưng với kỹ thuật trồng dâu tây theo công nghệ này, người nông dân Đà Lạt có thêm một lựa chọn, làm phong phú cho nền nông nghiệp địa phương, đồng thời sẽ mang tới cho du khách sự thích thú với loại trái đặc sản phố núi.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Ngành thực phẩm hữu cơ Mỹ tiếp tục phát triển

  • PDF

Ngành thực phẩm hữu cơ Mỹ tiếp tục phát triển

Ngành hữu cơ ở Mỹ đang tiếp tục phát triển trong nước và trên toàn cầu, với hơn 25.000 hoạt động hữu cơ được chứng nhận tại hơn 120 quốc gia khác nhau trên thế giới.
 
Tổng cộng có 763 nhà sản xuất đã được chứng nhận hữu cơ trong năm 2013, tăng 4,2% so với năm trước, thông qua chương trình Hữu cơ Quốc gia của Cơ quan Tiếp thị Nông nghiệp.

Ngành công nghiệp hữu cơ hiện nay bao gồm 18.513 trang trại và các doanh nghiệp hữu cơ được chứng nhận tại Hoa Kỳ, đại diện cho một sự gia tăng 245% từ năm 2002, theo USDA.

Danh sách các hoạt động hữu cơ chứng nhận năm 2013 của USDA cho thấy một tỷ lệ tăng trưởng ở ngành công nghiệp này trong nước, tiếp tục xu hướng trước đó.

"Nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm hữu cơ đã phát triển theo cấp số nhân trong thập kỷ qua", Bộ trưởng Nông nghiệp Tom Vilsack cho biết.

"Với doanh số bán lẻ có giá trị ở mức 35 tỷ USD năm ngoái, ngành công nghiệp hữu cơ đại diện cho một cơ hội kinh tế to lớn cho nông dân, chủ trang trại và các cộng đồng nông thôn.

"Sự hỗ trợ mới trong Farm Bill 2014 sẽ tăng cường nỗ lực của USDA để giúp các nhà sản xuất và doanh nghiệp nhỏ tiến vào thị trường này và hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ khi nó đang ngày càng phát triển".

USDA đã công bố một số những nỗ lực mới và mở rộng để kết nối những người nông dân và các doanh nghiệp có nguồn lực để đảm bảo sự phát triển liên tục của ngành công nghiệp hữu cơ trong và ngoài nước.

USDA đã ký ba hiệp định thương mại lớn về các sản phẩm hữu cơ, đầu tiên với Canada và sau đó với Liên minh châu Âu và Nhật Bản trong chính quyền hiện tại và Mỹ tuyên bố rằng, các đối tác thương mại đang mong muốn thiết lập những chương trình hữu cơ tương đương với Mỹ bởi vì họ nhận ra sức mạnh của chương trình Hữu cơ Quốc gia và giá trị của nhãn hữu cơ của USDA.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Nghiên cứu cho thấy một hoóc-môn làm tăng sự tích tụ sucrôza trong mía

  • PDF

Nghiên cứu cho thấy một hoóc-môn làm tăng sự tích tụ sucrôza trong mía 

Các hoá chất đẩy nhanh quá trình chín, được biết đến như các chất điều chỉnh tăng trưởng, được sử dụng rộng rãi trong ngành mía Brazil để sớm tăng hàm lượng sucrôza và hạn chế sự phát triển của cây trồng để kéo dài thời gian thu hoạch và nghiền mía, do đó làm tăng sản lượng và lợi nhuận cho người trồng mía.

 

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Học viện Sinh học thuộc Đại học Campinas (IB-UNICAMP) tại bang São Paulo, cùng với các đồng nghiệp thuộc Viện Nông học (IAC) và Viện Hóa học của Đại học São Paulo (IQ-USP), đã phát hiện ra các chất này, tương tự như các hoóc-môn thực vật, hoạt động ở mức độ phân tử trong mía như thế nào để tăng lượng sucrôza trong cây mía.

Marcelo Menossi, giáo sư tại IB, cho biết: “Chúng tôi đã xác định được các gien được kích hoạt bởi một trong những chất hoá học được sử dụng rộng rãi nhất và có thể là mục tiêu cho kỹ thuật di truyền trong tương lai để phát triển một giống mía có hàm lượng sucrôza cao hơn”.

Các nhà nghiên cứu phân tích các hiệu ứng cấp độ phân tử của việc đưa ethephon vào các giống mía trồng trong nhà kính.

Ethephon là hợp chất phóng thích etylen và là chất điều chỉnh tăng trưởng đầu tiên được sử dụng để quản lý cây trồng và chất lượng sau thu hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp, làm vườn và lâm nghiệp. Đối với cây mía, nó vẫn là một trong những chất được sử dụng rộng rãi nhất để kích thích quá trình chín ở mía, tăng sản lượng đường, ức chế sự ra hoa, và kéo dài mùa thu hoạch và nghiền mía.

Tác động của ethephon lên mía là do ethylene, một hoóc-môn thực vật được biết đến vì sự tham gia của nó trong quá trình làm chín quả. Ethephon thải ethylene khi nó xâm nhập vào cây sau khi phun.

Theo Menossi, Ethylene được coi là chìa khóa để hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi từ sự phát triển của cây trồng sang giai đoạn cây mía có thể thu hoạch.

Ông nói: “Mặc dù ethylene đã được biết là đóng góp vào sự tích tụ sucrôza, nhưng rõ ràng là sự tổng hợp và hoạt động của hoóc-môn này ảnh hưởng đến quá trình chín của cây mía”.

Để nghiên cứu hoạt động của ethylene trong mía, trước khi mía bắt đầu chín, các nhà nghiên cứu đã phun một loại mía đã được phát triển bởi IAC với ethephon và aminoethoxyvinylglycine (AVG), một chất điều hòa tăng trưởng được biết đến để ức chế sự sinh tổng hợp etylen.

Năm ngày sau khi phun thuốc với một trong hai hợp chất và một lần nữa sau 32 ngày (tức là vào thời điểm thu hoạch), họ đã đo hàm lượng sucrôza e trong các mẫu mô lá và cọng mía.

Phân tích cho thấy rằng ethephon, chất làm chín hóa học, kích thích sự tích tụ sucrôza trong các tế bào chưa trưởng thành. Các cây trồng được xử lý với ethephon có nồng độ sucrôza cao hơn ở đoạn thân giữa và ngọn mía trong thời gian thu hoạch. Trái lại, hàm lượng sucrôza giảm 42% ở cây được xử lý với AVG.

Menossi cho biết: “Những phát hiện này khẳng định tầm quan trọng của sự hiện diện và hoạt động của ethylene để làm mía chín”.

Để đánh giá hoạt động của ethylene ở cấp độ phân tử, các nhà nghiên cứu đã xác định những gien nào đã được biểu hiện khác biệt để đáp ứng sự giải phóng etylen trong quá trình chín. Việc phân tích ho phép các nhà nghiên cứu xác định khi nào và ở đâu mỗi gien được bật hoặc tắt trong các tế bào và các mô của cơ thể bằng cách phân tích toàn bộ các trình tự RNA.

Các phân tích của họ về các enzim chính tham gia vào quá trình chuyển hóa sucrôza, kết hợp với cấu hình hoóc-môn của các cây mía được phun ethephon và AVG, cho phép họ xác định gien mục tiêu ethylene và hoạt động của ethylene trong các vị trí tích luỹ sucrôza. Ngoài ra, họ đề xuất một mô hình phân tử cho sự tương tác của ethylene với các hoocmon khác.

Ethylene kích hoạt một số lượng đáng kể các gien vận chuyển hoóc-môn chỉ trong cọng mía. Theo Menossi, các con đường hoóc-môn quan trọng là những enzim liên quan đến ethylene và axit abscisic, một yếu tố khác trong sự trưởng thành của cây mía, cũng như gibberellin và auxin, các hoóc-môn ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mía, sự ra hoa và sự phát triển của chồi cây.

Ông nói: “Nếu bạn biết những gien nào điều chỉnh để cây tăng sự tích tụ sucrôza, bạn có thể cải tiến về mặt di truyền cho cây mía mía và phát triển các giống biểu hiện nhiều gien hơn mà không cần phải sử dụng ethylene. Ngoài ra, có thể xác định được các giống mía thể hiện những gien này một cách cao nhất và để tạo thuận lợi cho quá trình mía chín vì có những giống không đáp ứng tốt với việc sử dụng hoóc-môn”

 

 

Toàn thế giới sẽ thiếu nước vào năm 2040

  • PDF

Toàn thế giới sẽ thiếu nước vào năm 2040

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Nước được sử dụng trên toàn thế giới để sản xuất điện, nhưng các kết quả nghiên cứu mới nêu rõ sẽ không có đủ nước trên thế giới để đáp ứng nhu cầu nước vào năm 2040, nếu trước thời điểm này, tình hình sản xuất điện năng không được cải thiện.

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Hai báo cáo nghiên cứu mới về mối quan hệ giữa điện và nước trên toàn cầu vừa được công bố. Nghiên cứu do nhóm các nhà khoa học thuộc trường Đại học Aarhus ở Đan Mạch, Trường Luật Vermont và Công ty CAN ở Hoa Kỳ thực hiện trong vòng 3 năm tại Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Ấn Độ nêu rõ, đến năm 2040 sẽ không có đủ nước trên thế giới để xóa tan cơn khát của người dân trên toàn thế giới và để duy trì các giải pháp năng lượng, nếu con người tiếp tục hành động như hiện nay. Đây là mâu thuẫn tranh giành những thứ thiết yếu, giữa nhu cầu nước uống với nhu cầu năng lượng.

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Trong hầu hết các nước, điện là nguồn tiêu thụ nước lớn nhất vì các nhà máy điện cần các chu trình làm mát để hoạt động. Chỉ có các hệ thống năng lượng gió và mặt trời là không cần đến các chu trình làm mát, do đó, một trong những khuyến nghị chính mà các nhà nghiên cứu đưa ra là thay thế các hệ thống điện cũ bằng hệ thống điện gió và điện mặt trời bền vững hơn. Một phát hiện đáng ngạc nhiên của nghiên cứu, đó là hầu hết các hệ thống điện thậm chí không thống kê lại lượng nước được sử dụng để duy trì họat động của hệ thống. GS. Benjamin Sovacool thuộc trường Đại học Aarhus nói: "Vấn đề lớn nằm ở chỗ ngành điện thậm chí không xác định được lượng nước họ đã tiêu thụ. Cùng với thực tế là chúng ta không có tài nguyên nước vô hạn, nên có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nếu không hành động sớm".

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> 

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> Kết hợp các kết quả nghiên cứu mới với những dự báo về tình trạng thiếu nước và dân số thế giới cho thấy, đến năm 2020, nhiều nơi trên thế giới sẽ không được sử dụng nước uống sạch. Vào thời điểm 2020, khoảng 30-40% dân số thế giới sẽ bị thiếu nước và theo các nhà nghiên cứu, biến đổi khí hậu có thể làm cho tình trạng này thêm tồi tệ. “Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ phải quyết định nên sử dụng nước của chúng ta vào việc gì trong tương lai. Chúng ta muốn sử dụng nước vào việc duy trì các nhà máy điện hay để uống? Chúng ta không đủ nước để làm cả 2 việc này”, GS. Benjamin Sovacool cho biết. Các báo cáo nghiên cứu nhấn mạnh đến 6 khuyến nghị chung cho các nhà ra quyết định để ngăn chặn sự phát triển theo chiều hướng tiêu cực và giải quyết cuộc khủng hoảng nước trên thế giới, đó là:

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Cải thiện hiệu suất năng lượng,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Nghiên cứu các chu kỳ làm mát thay thế,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Ghi lại lượng nước các nhà máy điện sử dụng,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Đầu tư lớn cho năng lượng gió,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Đầu tư lớn cho năng lượng mặt trời,

640) {this.resized=true; this.width=640;}"> • Xóa bỏ các nhà máy sản xuất điện bằng nhiên liệu hóa thạch tại tất cả các địa điểm bị áp lực về nước (có nghĩa là một nửa hành tinh).

640) {this.resized=true; this.width=640;}">FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module