Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Hạn hán khiến sản lượng thóc gạo Thái Lan sụt giảm trên 30%

  • PDF

Hạn hán khiến sản lượng thóc gạo Thái Lan sụt giảm trên 30% 

Theo báo cáo mới nhất của Văn phòng Kinh tế nông nghiệp Thái Lan, hạn hán sẽ khiến xuất khẩu gạo vụ sắp tới của nước này sụt giảm trên 30%.

Thái Lan là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, song sản lượng thu hoạch giảm đi cũng khó có thể tác động lớn tới giá gạo toàn cầu do nguồn dự trữ thóc gạo dồi dào tại Thái Lan và sản lượng cao từ các nhà xuất khẩu như Ấn Độ và Việt Nam.

Vụ thu hoạch thứ hai của Thái Lan kéo dài từ tháng 11 đến tháng Tư sau khi vụ chính được thu hoạch và cần tưới tiêu nhiều do trong thời gian này lượng mưa rất thấp.

Tuy nhiên, Thái Lan đang trải qua tình trạng hạn hán tại tám tỉnh, trong khi chính phủ nước này thông báo không cung cấp nước cho công việc tưới tiêu dọc sông Chao Phraya trong giai đoạn từ tháng 10 tới tháng Tư.

Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết sản lượng thóc gạo vụ sắp tới của nước này sẽ giảm xuống 6,7 triệu tấn trong năm 2015 so với mức 9,7 triệu tấn của năm 2014.

Một nhà giao dịch tại Singapore nhận định "tác động của tình hình đó sẽ là không lớn vì Thái Lan phải cạnh tranh với các nhà xuất khẩu khác. Một lợi thế khác là sản lượng gạo giảm thì chính phủ Thái Lan sẽ bớt đau đầu hơn," do chính phủ nước này vẫn đang phải nỗ lực bán lượng thóc gạo tồn trữ trong kho được mua từ thời chính phủ tiền nhiệm trong kế hoạch hỗ trợ người nông dân (bằng cách trả giá mua thóc gạo cao hơn giá thị trường).

Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO), Thái Lan có thể đã vượt qua Việt Nam và Ấn Độ để trở thành nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2014, với lượng xuất khẩu lên tới 10,2 triệu tấn so với mức tương ứng 10 triệu tấn của Ấn Độ./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Cần sản xuất thêm nhiều trái cây và rau củ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu

  • PDF

Cần sản xuất thêm nhiều trái cây và rau củ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu 

Lượng tiêu thụ rau quả mỗi ngày thấp là nhân tố nguy cơ hàng đầu gây tử vong và bệnh tật trên toàn cầu, và góp phần vào khoảng 1,7 triệu cái chết mỗi năm trên thế giới. Với các khuyến nghị trên toàn cầu hiện nay về việc tiêu thụ ít nhất 5 khẩu phần trái cây và rau củ mỗi ngày, các nghiên cứu gia đã phân tích xem việc cung cấp trái cây và rau củ có đủ để đáp ứng các nhu cầu hiện tại trong tình trạng dân số ngày càng gia tăng này hay không.

“Có 1 mối quan hệ mạnh mẽ giữa việc tiêu thụ nhiều trái cây và rau củ với tỷ lệ tử vong thấp”, nghiên cứu gia Karen Siegel đến từ Trường Y tế Rollins cho biết. “Mối quan hệ này kéo sang nhiều căn bệnh mãn tính chủ yếu, như bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường và một số bệnh ung thư nào đó. Mặc dù phần lớn người dân trên thế giới đều không tiêu thụ đúng khẩu phần trái cây và rau củ như được khuyến nghị nhưng nếu các chuyên gia y tế khuyến khích điều này thì chúng tôi cũng phải xem xét đến việc thiếu hụt nguồn cung”.

Bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu về dân số và nông nghiệp trên toàn cầu, nhóm nghiên cứu đã so sánh nguồn cung cấp trái cây và rau củ trên toàn cầu với liều lượng tiêu thụ mỗi ngày cho năm 2012. Họ cũng lên kế hoạch cho việc cung cấp và nhu cầu trái cây và rau củ cho năm 2025 và 2050.

Các kết quả cho thấy rằng nguồn cung cấp trái cây và rau củ trên toàn cầu thiếu 22% nhu cầu của toàn dân và thiếu khoảng 95% ở các quốc gia có thu nhập thấp. Và đến năm 2025 và 2050 thì nguồn cung này thiếu hụt lần lượt là 34% và 43% nếu như vẫn duy trì mức độ sản xuất như hiện tại.

“Nghiên cứu của chúng tôi rất có ý nghĩa bởi vì nó cho thấy rằng sự thiếu hụt này chỉ có thể tồi tệ hơn theo thời gian, đặc biệt đối với các quốc gia có thu nhập thấp”, bác sĩ y khoa K.M. Venkat Narayan cho biết. “Thông tin này đặt nền tảng cho các phân tích sâu xa hơn và đem lại cái nhìn sâu sắc hơn về các chính sách tăng sản xuất và nguồn cung cấp trái cây và rau quả”.'

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Phát huy tiềm năng nông nghiệp từ công nghệ cao

  • PDF

Phát huy tiềm năng nông nghiệp từ công nghệ cao

Thực tế và kinh nghiệm ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp của các nước trên thế giới đều hướng vào các sản phẩm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, có chất lượng, giá trị cao về kinh tế; có mối liên hệ chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ.

Từ kinh nghiệm thế giới

Các nước đã thành công trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như Hoa Kỳ, Israel, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… dựa trên 2 yếu tố chính: Lợi thế từ điều kiện thiên nhiên hoặc địa lý, gần thị trường tiêu thụ; lợi thế từ khoa học, công nghệ và khả năng tài chính. Trong đó, với các nước phát triển, lợi thế về khoa học, công nghệ và tài chính được phát huy triệt để.

Công nghệ cao được áp dụng ở tất cả các khâu của chuỗi sản xuất nông nghiệp như các nghiên cứu phát triển giống mới, các giống biến đổi gene kháng sâu, bệnh, công nghệ tưới tiêu tiên tiến, các công nghệ tiết kiệm đất như: Tăng cường sử dụng phân hóa học, trồng cây trong nhà kính, trong các giá thể… Ngoài việc phát triển “công nghệ cứng”, các nước cũng rất quan tâm phát triển “công nghệ mềm”, trong đó quan trọng nhất là công nghệ quản lý và tổ chức sản xuất, góp phần quản lý tốt hơn chất lượng nông sản, giúp nông sản có giá cao và ổn định hơn.

Các nước có điều kiện kinh tế xã hội tương tự nước ta cũng đã có chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khá thành công. Theo một nghiên cứu của Bộ NNPTNT, trong giai đoạn 1998-2006, Trung Quốc đã phát triển được 405 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ cấp tỉnh trở lên và hàng ngàn cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước. Các khu này đóng góp trên 40% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Trung Quốc là: Coi khoa học công nghệ là đòn bẩy, lấy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật làm gốc; đầu tư hạ tầng hiện đại và đồng bộ; thu hút, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào đầu tư; mở rộng hợp tác quốc tế để trao đổi công nghệ, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.

Đến thực iễn Việt Nam

Hiện Việt Nam có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được xây dựng, đưa vào hoạt động và quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, hoạt động của các khu này còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung, cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu hấp dẫn, sản phẩm chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng.

Thực tế đã xuất hiện một số mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có hiệu quả, đem lại lợi nhuận khá cao. Các mô hình thành công này đa phần là các cơ sở tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa như sản xuất giống tại Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình, Công ty Bảo vệ thực vật An Giang; mô hình nuôi bò và chế biến sữa của Công ty TH, Công ty sữa Mộc Châu, các công ty trồng hoa công nghệ cao tại Đà Lạt, Mộc Châu…

Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Nhà nước đã thành lập và hoạt động hiệu quả chưa cao do chính quyền cơ sở chưa đủ quyết tâm, lựa chọn mô hình, sản phẩm để sản xuất chưa phù hợp, khả năng tài chính chưa đủ mạnh để thực hiện đầu tư hạ tầng và thu hút doanh nghiệp. Một số địa phương có khả năng về tài chính nhưng lại sai lầm trong lựa chọn công nghệ (công nghệ lạc hậu hoặc công nghệ quá cao), chi phí đầu tư, vận hành quá đắt đỏ dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Điển hình là các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài, tuy nhiên quá trình chuyển giao công nghệ chậm, chi phí vận hành quá cao nên thất bại.

Từ kết quả của việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Việt Nam, mà trong đó phần nhiều là những thất bại đắt giá, Bộ NNPTNT và chính quyền các địa phương phải nhìn thẳng vào các yếu kém, tồn tại để có định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho phù hợp, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và tiến tới phát huy hết các tiềm năng sẵn có của sản xuất nông nghiệp.

Biện pháp trước tiên là phải nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong sản xuất nông nghiệp: Rà soát, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn với nghiên cứu thị trường, đảm bảo tính khả thi và tuân thủ quy hoạch, từng bước hạn chế việc sản xuất theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng được mùa rớt giá. Nâng cao hiệu lực trong việc quản lý chất lượng nông sản, vệ sinh an toàn thực phẩm, coi truy xuất nguồn gốc đối với hàng nông sản của doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp phải có trách nhiệm đầu tư vào vùng nguyên liệu.

Thứ hai là hoàn thiện các chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Cần sửa đổi chính sách liên kết sản xuất nông sản theo hợp đồng, trong đó xây dựng các chính sách liên kết đủ mạnh để giải quyết vấn đề phá vỡ hợp đồng. Đây là nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp không mặn mà và không “dám” đầu tư lâu dài vào lĩnh vực này. Nhà nước đóng vai trò trung gian điều phối, trọng tài, tăng lòng tin cho các bên tham gia liên kết.

Thứ ba là quyết liệt đổi mới trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong khối các cơ quan nghiên cứu khoa học công lập, thực hiện xã hội hoá những lĩnh vực có tiềm năng, đổi mới thủ tục hành chính trong triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học theo hướng gọn nhẹ, gắn với sản phẩm đầu ra, tạo điều kiện về thời gian cho các nhà khoa học, có cơ chế đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học đầu ngành, đổi mới cơ chế thuê chuyên gia nước ngoài, cả Việt kiều làm việc tại các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam.

Thứ tư là việc lựa chọn, quyết định thành lập các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương (điều kiện tự nhiên, thị trường, khả năng tài chính, công nghệ, nhân lực..). Nên phân kỳ đầu tư để có bước đi thích hợp, tạo tiền đề tích lũy kinh nghiệm, tài chính và công nghệ để nhân rộng mô hình.

Khi phát triển thành công các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm nông sản sạch, chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng; nâng cao giá trị gia tăng cho người sản xuất, hướng tới phát huy tiềm năng lợi thế của sản xuất nông nghiệp, hạn chế thiệt hại và thích ứng với các hình thái thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng cho sản.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Kích thích rau tăng trưởng bằng kính phủ nano

  • PDF

Kích thích rau tăng trưởng bằng kính phủ nano 

Trường Bách khoa Nanyang Polytechnic (NYP) và Tập đoàn sản xuất kính an toàn Safety Glass (SSG) của Singapore đang hợp tác phát triển loại kính ứng dụng công nghệ nano nhằm mục đích nâng cao năng suất nông nghiệp.

Qua thử nghiệm, loại kính trong suốt không màu dùng làm nhà kính trồng xà lách, rau mùi và xà lách rocket đã giúp các loại rau này tăng chiều cao nhanh gấp 3 lần so với thông thường, diện tích lá cũng lớn hơn 40% mức trung bình.

Đội ngũ nghiên cứu của NYP đã tạo nên một hỗn hợp chứa các hạt nano có khả năng thay đổi màu sắc ánh sáng mặt trời thành màu xanh và đỏ, giúp cây dễ quang hợp hơn. Các hạt nano được nhúng vào một lớp polymer tích hợp trong tấm kính an toàn.

Công nghệ kính mới mang tên Nano Glo-n-Grow giúp tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời mà không cần dùng đến nguồn điện. Nhờ vậy, giá thành sản xuất rẻ hơn nhiều so với những phương pháp tăng cường sinh trưởng cây trồng đang thực hiện như dùng hệ thống đèn LED chiếu sáng màu đỏ và xanh dương.

Ông Gan Geok Chua, Giám đốc Điều hành Tập đoàn SSG cho biết sự phát triển nhanh chóng của dân số và biến đổi khí hậu trên thế giới sẽ khiến nguồn lương thực không đủ cung cấp trong vòng 10-20 năm tới. Do đó, việc ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp rất cần thiết để góp phần giải quyết vấn đề này.

"Dự kiến, chúng tôi sẽ thương mại hóa phát minh này trong vòng 1-3 năm nữa sau khi nghiên cứu hoàn thiện vật liệu hiệu quả hơn", ông Gan Geok Chua chia sẻ.

Bà Hannah Gardner, giảng viên cao cấp tại NYP, người đứng đầu dự án, từ chối tiết lộ các thành phần chi tiết của loại kính này. Tuy nhiên, bà nói rằng việc sản xuất không quá phức tạp, nguyên liệu dễ kiếm và giá rẻ, có thể mua được ngay ở các cửa hàng tạp hóa bình thường.

G20 ra thông cáo về an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu

  • PDF

G20 ra thông cáo về an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu

An ninh năng lượng phải trở thành ưu tiên của Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) và sự ổn định của các thị trường là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng của nhóm.

Đây là khẳng định được nêu ra trong tuyên bố chung sau phiên bế mạc của Hội nghị cấp cao G20 ngày 16/11, diễn ra tại thành phố Brisbane, bang Queensland, Australia.

Đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo G20 dành hẳn một phiên họp để thảo luận các vấn đề năng lượng toàn cầu.

Cho đến nay, các nước thành viên G20 chiếm tới hơn 80% mức tiêu thụ năng lượng thế giới, khoảng 60% sản lượng dầu khí và hơn 90% sản lượng than đá toàn cầu.

Tuyên bố chung nhấn mạnh sự ổn định lâu dài của các thị trường dầu mỏ được nhìn nhận là yếu tố cốt lõi để đảm bảo thành công của những cải cách mà các thành viên G20 đã cam kết, qua đó có thể đạt mục tiêu nâng tăng trưởng kinh tế của cả nhóm lên 2,1% trong 5 năm tới.

Các nhà lãnh đạo G20 nhất trí ưu tiên trong tăng cường hợp tác năng lượng, đồng thời kêu gọi tiến hành một cuộc họp bộ trưởng năng lượng các nước vào năm 2015 nhằm thảo luận cải cách trong hệ thống năng lượng thế giới.

Cùng ngày, Hội nghị G20 cũng ra tuyên bố chung về biến đổi khí hậu, trong đó hối thúc hành động mạnh mẽ và hiệu quả trong vấn đề này.

Tuyên bố tái khẳng định sự hỗ trợ của các nước G20 nhằm huy động tài chính cho các chương trình về môi trường như Quỹ khí hậu xanh của Liên hợp quốc. Đây là chương trình nhằm kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước phát triển đối với các nước nghèo để chống lại những tác động của biến đổi khí hậu. Nhật Bản đã đồng ý đóng góp 1,5 tỷ USD trong khi Pháp và Đức mỗi nước sẽ đóng góp 1 tỷ USD cho quỹ.

Bên cạnh đó, G20 cũng ra tuyên bố chung về sự cần thiết tăng cường các thể chế tài chính toàn cầu với mục đích nâng cao mức tăng tưởng toàn cầu và tạo nhiều việc làm có chất lượng.

Các nhà lãnh đạo G20 hoan nghênh việc tăng cường sự hiện diện của các nền kinh tế đang nổi trong Hội đồng ổn định tài chính (FSB), đồng thời kêu gọi tiến hành nhanh chóng kế hoạch cải tổ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Ngoài ra, các nước thành viên G20 cũng nhất trí hợp tác nhằm đảm bảo các thỏa thuận đa phương, song phương và khu vực được thực hiện một cách minh bạch, đóng góp cho hệ thống thương mại đa phương vững mạnh trong khuôn khổ các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)./

Xuất khẩu điều nhân: Đột phá thị trường thế giới

  • PDF

Xuất khẩu điều nhân: Đột phá thị trường thế giới

Theo Bộ Công thương, 6 tháng đầu năm cả nước xuất khẩu 133.000 tấn điều nhân các loại, kim ngạch xuất khẩu 847 triệu USD, tăng 20,1% về lượng và tăng 22,1% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2013. Với tình hình này, Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) dự báo, cả năm 2014 có thể xuất 270.000 tấn điều nhân các loại, với kim ngạch 1,8 tỷ USD, nếu cộng thêm các mặt hàng khác dầu vỏ hạt điều và những sản phẩm chế biến sâu thì kim ngạch xuất khẩu điều cả nước khoảng 2,2 tỷ USD, con số này năm 2013 là 1,8 tỷ USD.

Do lệ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc nên những người kinh doanh các mặt hàng nông sản chủ lực đứng ngồi không yên khi cao su đang “chết đứng” vì giá thấp, trái cây và khoai mì thấp thỏm, mặt hàng gạo lại thất thường vì buôn bán tiểu ngạch, nhưng mặt hàng điều nhân lại có cơ cấu khá lý tưởng, không quá lệ thuộc vào một thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.

Trao đổi với PV Báo SGGP, ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas, cho biết, điều nhân và các sản phẩm chế biến sâu của hạt điều xuất khẩu đến 40 quốc gia, trong đó Mỹ là thị trường nhập khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 40%; các nước châu Âu gần 30%, kế đến là Trung Quốc khoảng 20%, Úc hơn 11%. Lợi thế của mặt hàng điều là thực phẩm khô, nếu có vấn đề ở thị trường nào đó vẫn không làm ảnh hưởng lớn đến toàn ngành. Sau 30 năm xuất khẩu điều nhân, các doanh nghiệp (DN) đã hình thành mạng lưới khách hàng rộng khắp các nước.

Trung Quốc là thị trường có tốc độ phát triển khá ấn tượng, trên dưới 10%/năm, nhưng nếu xét về thị phần lại có xu hướng giảm dần. Năm 2000 mới nhập khoảng 11.000 tấn điều nhân, lúc đó chiếm 32,6% tổng lượng điều xuất khẩu Việt Nam; năm 2013 lên đến trên 52.000 tấn, nhưng thị phần giảm xuống còn 20%. 6 tháng đầu năm 2014, cũng ở con số này. Theo nhận định của Vinacas, có thể thời gian tới tỷ lệ này sẽ dao động trên dưới 20%. Một điều có thể nhận thấy, lúc mới khởi nghiệp, với các DN Việt Nam, Trung Quốc là thị trường để DN tìm đến vì là nước giáp với Việt Nam ở phía Bắc nên việc vận chuyển khá dễ dàng, chỉ sau 1 tuần hàng đã đến Trung Quốc và khách hàng khá dễ dàng chấp nhận nên những mã hàng các nước phát triển “chê” được bán sang Trung Quốc. Những DN từng buôn bán điều nhân lâu năm lại tìm cách thoát ra khỏi thị trường này, điển hình như Công ty cổ phần Nhật Huy. Ông Phạm Văn Công, Chủ tịch HĐQT cho biết, từ năm 1998 đến năm 2005 gần như 100% là bán qua Trung Quốc, nhưng sau đó giảm dần, từ năm 2010 đến nay chỉ còn 5%, trong khi 75% là xuất khẩu sang Mỹ và các nước châu Âu, còn lại là Nhật Bản, Úc và các nước khác.

Lý do mà ông Phạm Văn Công chủ động chuyển hướng là do cách làm ăn của DN Trung Quốc chưa có kế hoạch cụ thể, mang tính chụp giựt, không theo tiêu chuẩn cụ thể mà theo cảm quan nên khó chuẩn xác. Khi cần hàng mua ồ ạt, nhưng cũng ngưng mua đột ngột nếu hàng bán chậm; nhà nước Trung Quốc điều chỉnh thuế biên mậu liên tục. Trong khi giao dịch với DN các nước phát triển Âu Mỹ thì buôn bán kỳ hạn rõ ràng, dễ cho việc hoạch định sản xuất.

Nhu cầu tiêu thụ thị trường Trung Quốc tăng rất nhanh. Nếu năm 2000 Trung Quốc nhập khẩu 11.200 tấn điều nhân của Việt Nam thì năm 2013 con số này là 52.000 tấn và sẽ còn tăng mạnh thời gian tới khi mà bình quân mỗi người dân Trung Quốc chỉ mới tiêu thụ 0,04kg/người/năm, trong khi Mỹ là 0,26kg/người/năm. Chỉ cần tăng gấp đôi con số hiện nay, tức là chưa tới 1/3 lượng tiêu thụ của dân Mỹ, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu hơn 100.000 tấn/năm để đáp ứng cho hơn 1,3 tỷ người dân. Vì vậy, từ lâu Trung Quốc đã quan tâm đến công nghiệp chế biến hạt điều nhưng do không có thế mạnh để phát triển cây điều như Việt Nam nên họ đang trong quá trình hình thành công nghiệp chế biến từ nguyên liệu điều nhập khẩu các nước châu Phi, kể cả mua điều nhân Việt Nam về chế biến sâu để xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Đức Thanh, thị trấn Mao Minh của tỉnh Quảng Đông dành khu đất 10ha để lập trung tâm chế biến điều nhân; ngoài ra còn đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Châu… đã làm mấy năm nay và có dấu hiệu muốn đẩy nhanh hơn. Vì là khách hàng truyền thống của Việt Nam, một số nơi tiếp nhận người của Trung Quốc qua tiếp cận, học hỏi công nghệ chế biến điều theo thỏa thuận hợp tác giữa 2 DN. Họ cũng đã mua thiết bị Việt Nam về nghiên cứu và có thành công bước đầu. Tất nhiên để làm được như Việt Nam không thể một sớm một chiều. Giám đốc Công ty TNHH Bình Sơn 1, ông Tạ Quang Huyên (Bình Phước), tự tin cho rằng, có thể lượng nhập khẩu giảm nhưng chất lượng hạt điều Việt Nam được khách hàng nước ngoài thừa nhận là ngon nhất, trở thành thương hiệu mà người tiêu dùng các nước châu Âu, Mỹ ưa chuộng. Vấn đề còn là công nghệ và phương pháp chế biến, là “hồn cốt” sản phẩm, những lợi thế không thể có của nước khác. 

Ngay cả Ấn Độ, nước chế biến hạt điều lớn nhất thế giới nhưng do đẩy mạnh tiêu thụ nội địa nên xuất khẩu sau Việt Nam cũng tìm cách tiếp cận và mua thiết bị chế biến hạt điều của Việt Nam, kể cả lập nhà máy chế biến tại Việt Nam. Theo nhận định của Vinacas, Ấn Độ sẽ là đối thủ cạnh tranh bởi nghề chế biến điều của nước này đã hình thành cả trăm năm, có hệ thống thu mua hạt điều (thô) ngay tại những nước châu Phi để bán cho Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam dù là đất nước chế biến điều khoảng 30 năm nhưng công nghệ chế biến lại đi đầu trên thế giới nên những đối thủ này luôn tìm cách học hỏi lợi thế Việt Nam để cạnh tranh. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao tiêu thụ thị trường nội địa và giữ vững thị trường truyền thống, DN chế biến điều Việt Nam không thể chủ quan, cần có chiến lược kinh doanh lâu dài dựa trên lợi thế sẵn có.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Chuyển đổi hệ thống lương thực để có dinh dưỡng tốt hơn

  • PDF

Chuyển đổi hệ thống lương thực để có dinh dưỡng tốt hơn
M.D - Mard, Theo FAO.

 

Trong khuôn khổ hội nghị do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chủ trì, các vấn đề dinh dưỡng đang tác động đến hơn 50% dân số thế giới và hệ thống lương thực sẽ cần phải trải qua những thay đổi đáng kể nhằm cải thiện bữa ăn hàng ngày và cuộc sống của con người.

 

Sự kiện diễn ra từ ngày 13-15/11 là cuộc họp chuyên môn chuẩn bị cho Hội nghị Quốc tế về Dinh dưỡng lần thứ 2 (ICN2) dự kiến diễn ra vào ngày 19-21/11/2014. Mục đích của hội nghị nhằm tăng cường phối hợp các nỗ lực quốc tế để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, y tế, hệ thống lương thực và các lĩnh vực khác đang ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình ăn uống của con người.

José Graziano da Silva, Giám đốc FAO cho biết: “Rõ ràng là cách quản lý lương thực ngày nay không mang lại kết quả tốt, sự cải thiện về dinh dưỡng chưa đủ. Thực tế đáng buồn nhất là hơn 840 triệu người dân trên thế giới vẫn đang bị đói, mặc dù thế giới đã sản xuất đủ lương thực cho tất cả, và lãng phí 1/3 trong số đó. Tuy nhiên, đó chỉ là một phần câu chuyện. Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới bị tác động của một số dạng suy dinh dưỡng, bị đói, thiếu hụt hoặc dư thừa các vi chất dinh dưỡng cần thiết”.

Graziano cho biết thêm: “Tổng lượng lương thực sản xuất ra nhưng không tiêu thụ sẽ đủ để nuôi sống thêm 2 tỉ người. Sự thật của vấn đề là người tiêu dùng không nhận được tín hiệu đúng từ các chính sách hiện tại về cách làm thế nào để ăn lành mạnh. Đó là những gì chúng tôi cần phải nhấn mạnh”.

Trong khi 842 triệu người dân đang bị đói kinh niên, nhiều người đã chết hoặc bị bệnh do thiếu dinh dưỡng. Khoảng 2 tỉ người bị ảnh hưởng bởi thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Gần 7 triệu trẻ em chết trước tuổi 15 mỗi năm, 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị còi cọc, trong khi 500 triệu người bị béo phì.

Đánh giá tầm quan trọng của suy dinh dưỡng và tác động của nó trong sự phát triển bền vững, ông Graziano da Silva nhắc lại sự ủng hộ của FAO và hai tổ cơ quan lương thực và nông nghiệp có trụ sở tại Rome, Quỹ Quốc tế về Nông nghiệp và Phát triển (IFAD) và Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) vì mục tiêu an ninh lương thực và dinh dưỡng trong Chương trình nghị sự Phát triển sau năm 2015, theo kiến nghị của Hội đồng Tư vấn cấp cao về Đói nghèo, An ninh lương thực và Dinh dưỡng diễn ra vào tháng 4/2013 tại Madrid.

Tiến sĩ Hans Troedsson, Giám đốc điều hành Văn phòng Tổng giám đốc của WHO cũng kêu gọi xem xét lại cách quản lý hệ thống lương thực, nhấn mạnh bữa ăn hàng ngày là yếu tố then chốt trong việc giải quyết gánh nặng bệnh tật toàn cầu, và những thách thức đa chiều của dinh dưỡng sẽ cần được nhắc đến ở nhiều cấp độ, từ lúc mới sinh ra cho đến khi trưởng thành.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Phần mềm mới giúp áp dụng kỹ thuật CRISPR dễ dàng hơn

  • PDF

Phần mềm mới giúp áp dụng kỹ thuật CRISPR dễ dàng hơn 

Các nhà nghiên cứu tại Viện Karolinska và Trường Đại học Gothenburg đã chế tạo được một phần mềm dựa vào web có tên là Green Listed, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gen (CRISPR). Phần mềm đã được công bố trên Tạp chí Bioinformatics và được cung cấp miễn phí trên trang web greenlisted.cmm.ki.se.

Các tế bào rất nhỏ tạo nên một sinh vật. Một người có lượng tế bào gấp khoảng 100 lần. Phần lớn tế bào này có chứa các chuỗi ADN dài. Các chuỗi ADN ảnh hưởng đến hình dạng và hành vi của các tế bào khác nhau. CRISPR là công cụ dùng để nghiên cứu nhanh cách các phần khác nhau của ADN ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào. Nhờ có công cụ CRISPR, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và đưa ra các gợi ý về hướng điều trị.

Fredrik Wermeling, đồng tác giả nghiên cứu tại Viện Karolinska cho biết: "Chúng tôi đã áp dụng phương pháp CRISPR để nghiên cứu cả tế bào miễn dịch và tế bào ung thư với mục tiêu phát triển các liệu pháp mới cho bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến hệ miễn dịch như viêm khớp và ung thư".

Kỹ thuật CRISPR dựa vào một hệ thống xuất hiện tự nhiên trong nhiều loại vi khuẩn, trong vài năm qua đã được chú ý nhiều. Một phương thức rất hữu hiệu để sử dụng CRISPR là nghiên cứu song song nhiều thành phần khác nhau của ADN còn gọi là sàng lọc CRISPR. Đặc biệt, phần mềm Green Listed được sử dụng để thúc đẩy phát triển loại hình nghiên cứu này trên quy mô lớn.

"Bằng cách áp dụng phương pháp CRISPR trong nghiên cứu, hiện nay, chúng tôi có thể giải thích hiện tượng mà chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu trong nhiều năm qua. Điều này chủ yếu liên quan đến các thí nghiệm sàng lọc CRISPR, trong đó, chúng tôi phải chỉnh sửa đồng thời khối lượng lớn các thành phần ADN được lựa chọn của các tế bào phân tách. Phần mềm Green Listed đơn giản hoá đáng kể quá trình này và rất quan trọng cho tiến bộ của chúng tôi", Fredrik Wermeling nói.

 

Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020

  • PDF
Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020 

Đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì và ổn định ở mức 50 ngàn ha, diện tích cho sản phẩm 47 ngàn ha, năng suất đạt 30 tạ/ha, sản lượng đạt 140 ngàn tấn, sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90%. Về cơ cấu sản phẩm, tiêu đen chiếm 70%, tiêu trắng 30%; kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2-1,3 tỷ USD.

Đó là những mục tiêu chính của Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát ký phê duyệt tại Quyết định số 1442/QĐ-BNN-TT ngày 27/6/2014.

Theo định hướng Quy hoạch, căn cứ mục tiêu về diện tích hồ tiêu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, phải tiến hành rà soát, đánh giá các điều kiện sinh thái thích nghi với cây hồ tiêu, loại bỏ diện tích ít thích hợp và không thích hợp để phát triển ổn định và bền vững.

Đến năm 2020, vùng trồng hồ tiêu trọng điểm chiếm diện tích 41.500 ha, tương ứng 83% tổng diện tích hồ tiêu cả nước, gồm các địa phương: Bình Phước: 10 ngàn ha; Đồng Nai: 7 ngàn ha; Bà Rịa-Vũng Tàu: 7 ngàn ha; Đắk Nông: 7 ngàn ha; Gia Lai: 5.500 ha, Đắk Lắk: 5 ngàn ha.

Ngoài vùng trồng hồ tiêu trọng điểm, diện tích 8.500 ha tương ứng 17% diện tích hồ tiêu cả nước, phân phối tại các địa phương như sau: Quảng Trị: 2.200 ha, Bình Thuận: 1.900 ha, Quảng Binh: 1 ngàn ha, Kiên Giang: 500 ha, Phú Yên: 400 ha, Tây Ninh: 400 ha, Bình Dương: 400 ha, Nghệ An: 300 ha, Quảng Nam: 300 ha, Bình Định: 300 ha, Thừa Thiên – Huế: 250 ha, Lâm Đồng: 200 ha, Quảng Ngãi: 100 ha, Kon Tum: 100 ha, TP.Hồ Chí Minh: 50 ha, TP.Đà Nẵng: 30 ha, Khánh Hòa: 30 ha, Hà Tĩnh: 20 ha, An Giang: 20 ha.

Về chế biến hồ tiêu, đầu tư cải tạo nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có, sử dụng hiệu quả thiết bị công nghệ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm; nâng tỷ lệ tiêu chất lượng cao lên khoảng 90%, tỷ lệ tiêu trắng lên 30% và tỷ lệ tiêu nghiền bột lên 25% vào năm 2020.

Cũng theo Quyết định, Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ định hướng quy hoạch ngành hồ tiêu toàn quốc tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh rà soát, xây dựng quy hoạch phát triển hồ tiêu tại địa phương; tổ chức thực hiện phương án quy hoạch được duyệt. Đối với diện tích hồ tiêu già cỗi, thoái hóa cần có kế hoạch trồng tái canh. Hồ tiêu trồng ở những nơi điều kiện sinh thái không thích hợp, hồ tiêu bị nhiễm các bệnh khó phòng trị và không nằm trong vùng quy hoạch được duyệt, cần khuyến khích chuyển sang trồng cây khác theo quy hoạch địa phương./.



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module