Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

FAO: Chỉ số giá lương thực giảm xuống mức thấp trong 4 năm

  • PDF

FAO: Chỉ số giá lương thực giảm xuống mức thấp trong 4 năm

Chỉ số giá lương thực hàng tháng của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) đã ghi nhận một mức thấp mới trong tháng 8/2014, tiếp tục xu thế giảm kéo dài đã 5 tháng và chạm mức thấp nhất kể từ tháng 9/2010.

Chỉ số của tháng 8/2014 đạt trung bình 196,6 điểm, giảm 7,3 điểm (3,6%) so với tháng 7/2014. Ngoại trừ mặt hàng thịt, giá cả tất cả các mặt hàng đều sụt giảm mạnh.

Giá sữa dẫn đầu danh sách, với chỉ số giá tháng 8/2014 đạt trung bình 200,8 điểm, giảm 25,3 điểm (11,2%) so với tháng 7/2014 và giảm 46,8 điểm (18,9%) so với một năm trước, chủ yếu là do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu nhập khẩu giảm.

Lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm sữa của Nga được đưa ra hồi đầu tháng đã khiến giá sữa giảm mạnh, trong khi hoạt động nhập khẩu sản phẩm sữa bột nguyên kem của Trung Quốc (nhà nhập khẩu sữa lớn nhất thế giới) cũng góp phần làm thị trường sữa đi xuống.

Chỉ số giá ngũ cốc tháng 8/2014 đạt trung bình 182,5 điểm, giảm 2,8 điểm (1,5%) so với tháng trước và 24,2 điểm (11,7%) so với tháng 8/2013. Năm 2014 trở thành một năm được mùa nữa đối với sản xuất lúa mỳ, giá của mặt hàng lương thực thiết yếu này tiếp tục giảm, chạm mức thấp nhất kể từ tháng 7/2010. Tương tự, các điều kiện gần như lý tưởng ở các vùng sản xuất chính, cộng với nguồn cung dự trữ dồi dào đã khiến giá ngô tụt xuống mức thấp của 4 năm.

Tuy nhiên, giá gạo có đôi chút khác biệt, tăng nhẹ trong tháng 8/2014, phản ánh nhu cầu nhập khẩu tăng, lượng gạo dự trữ được tung ra thị trường bởi Chính phủ Thái Lan ít hơn so với dự kiến, cùng với thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến vụ gieo trồng ở châu Á.

Chỉ số giá lương thực của FAO là một chỉ số chủ yếu dựa vào tình hình thương mại, tính toán giá của 5 mặt hàng lương thực trên thị trường quốc tế: ngoài theo dõi giá cả mặt hàng ngũ cốc, còn là mặt hàng thịt, các sản phẩm sữa, dầu thực vật và đường.

Chỉ số giá dầu thực vật tháng 8/2014 đạt 166,6 điểm, giảm 14,5 điểm (8%) so với tháng trước và là mức thấp nhất kể từ tháng 11/2009.

Chỉ số giá đường tháng 8/2014 đạt 244,3 điểm, giảm 14,8 điểm (5,7%) so với tháng trước, song vẫn cao hơn 2,2 điểm (1%) so với một năm trước.

Cuối cùng, chỉ số giá thịt đạt trung bình 207,3 điểm vào tháng 8/2014, giảm 2,5 điểm (1,2%) so với tháng 7/2014, nhưng tăng 25 điểm (14 điểm) so với năm ngoái.
 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Thiếu ong mật, sản lượng cây trồng nhiều nước bị đe dọa

  • PDF

Thiếu ong mật, sản lượng cây trồng nhiều nước bị đe dọa

Trong nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí PLOS ONE của Mỹ hôm 8/1, các nhà khoa học thuộc Đại học Reading, miền Nam nước Anh cảnh báo rằng nhiều nước châu Âu sẽ thiếu số lượng ong mật cần thiết để thụ phấn cho cây trồng do Liên minh châu Âu (EU) chuyển sang chính sách ưu tiên sử dụng năng lượng sinh học.

Khi so sánh số lượng tổ ong với nhu cầu thụ phấn bằng ong ở 41 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 2005-2010, các nhà khoa học phát hiện ra rằng số lượng ong mật không thể đáp ứng nhu cầu thụ phấn ở 22 quốc gia.

Trong số các nước được nghiên cứu, tình hình ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và các nước Balkan là khả quan hơn cả do các nước này có truyền thống nuôi ong tốt, có thể đáp ứng tới 90% nhu cầu thụ phấn cho hoa màu.

Trong khi đó, ở các nước vùng Baltic, ong mật chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu thụ phấn. Còn ở Pháp và Đức, tỷ lệ này là từ 25-50%.

Theo kết quả nghiên cứu trên, nhu cầu dùng ong mật để thụ phấn cho cây tăng 38% ở những khu vực trồng các loại cây hạt có dầu như cải dầu, hướng dương và đỗ tương. Trong khi đó, quần thể ong mật chỉ tăng 7% trong giai đoạn 2005 - 2010, từ 22,5 triệu đàn lên 24,1 triệu đàn.

Diện tích trồng các loại cây hạt có dầu được mở rộng năm 2003 khi EU yêu cầu mức sử dụng nguyên liệu sinh học phải chiếm 5,75% trong tổng tiêu thụ nguyên liệu của các phương tiện giao thông vào năm 2010 và diện tích này sẽ tiếp tục tăng khi EU đặt ra mục tiêu tăng sử dụng nguyên liệu sinh học lên 10% vào năm 2020.

Thực trạng trên làm cho nông dân ngày càng phụ thuộc vào các loài động vật thụ phấn hoang dã hơn là ong mật được thuần hóa trong thời kỳ thụ phấn của cây. Sự phụ thuộc này là đáng lo ngại do các loài côn trùng hoang dã luôn biến động về số lượng.

Hơn nữa, chúng dễ bị tổn thương do tình trạng thâm canh độc canh - ít trồng các loài cây có hoa để cung cấp thức ăn và nơi làm tổ cho các loài côn trùng này.

Trong khi đó, giống ong mật Apis mellifera được sử dụng để thụ phấn ở châu Âu đang bị ảnh hưởng do các loài côn trùng có hại và việc sử dụng thuốc trừ sâu.

Theo số liệu ước tính năm 2009, giá trị kinh tế mà côn trùng thụ phấn cho cây trồng tạo ra đạt tới 153 tỷ euro trong tổng giá trị cây trồng trên thế giới

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor

  • PDF

Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Arabica L.) bằng công nghệ Bioreactor 

Cà phê chè (C. arabica L.) là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê do có chất lượng nước uống cao hơn hẳn cà phê vối. Hai giống cà phê chè mới TN1,, TN2 là con lai thế hệ F1 (TN1 con lai giữa KH3-1 x Catimor; TN2 con lai giữa Catimor x KH4) do Viện KHKT Nông lâm nghiệp tạo ra có năng suất cao, kháng được bệnh gỉ sắt, kích thước hạt lớn và có chất lượng nước uống cao; những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống mới vào năm 2012, đây là 2 giống cần được phổ biến ra sản xuất. Tuy nhiên chi phí sản xuất hạt giống lai rất cao và khó sản xuất được với khối lượng lớn. Để cung cấp giống với số lượng lớn ra sản xuất cần tiếp tục chọn lọc phả hệ đến thế hệ F5 hay F6 để có được dòng thuần, nhưng cách này tốn khá nhiều thời gian và công sức, tiền của. Vì vậy để nhân nhanh với khối lượng lớn và chi phí thấp, các giống này cần được nhân bằng con đường vô tính. Tuy nhiên sử dụng các phương pháp nhân giống vô tính thông thường (như ghép, giâm cành) đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của người dân về tái canh (do diện tích cà phê già cỗi ngày càng tăng). Vì vậy ứng dụng công nghệ mới nhân các giống mới sẽ đảm bảo cho quá trình cung cấp giống được tốt hơn, các giống đảm bảo yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc, không bị phân ly trong quá trình sản xuất và đặc biệt là đủ số lượng yêu cầu của thị trường trong những năm tiếp theo.

Công nghệ Bioreactor là một công nghệ nhân giống in vitro mới đang được ứng dụng trên nhiều loại cây trồng nhằm tăng nhanh sự phát triển của phôi, tạo thành cây, tăng tỷ lệ phát triển đồng đều, tăng tỷ lệ phát triển rễ cọc đảm bảo cho cây phát triển tốt. Tại các nước Pháp, Thái Lan, Inđônêxia việc ứng dụng các công nghệ này đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại Inđônêxia hằng năm đã cung cấp cho thị trường hàng triệu cây nuôi cấy mô từ các giống được nghiên cứu ra. Trong khi ở Việt Nam việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ này mới ở giai đoạn đầu và hầu như chưa có nhiều nghiên cứu để sản xuất cây giống cà phê.

Phương pháp sử dụng bioreactor trong quá trình nuôi cấy sẽ khắc phục các nhược điểm của phương pháp nuôi cấy mô thông thường và đảm bảo cho việc cung cấp đủ các giống có đặc tính tốt, có bộ rễ đảm bảo và đạt tiêu chuẩn cây trồng, có thể làm giảm thời gian sản xuất cây cà phê 3-4 tháng. Ngoài ra các cây con cà phê có thể chuyển giao trực tiếp cho người nông dân ở xa nên việc vận chuyển cây dễ dàng và đảm bảo tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu ứng dụng này cũng là một tiền đề để tiếp tục nghiên cứu nhân nhanh các giống sẽ được công nhận trong thời gian tới và là phương thức nhanh nhất để đưa những giống này ra thị trường, đến được tay người nông dân có nhu cầu. Với ước tính hằng năm tái canh 1-3% diện tích cà phê chè (khoảng 1000-3000 ha) thì khối lượng cây giống cà phê chè cần phải sản xuất là 5-15 triệu cây giống/năm. Đây là một lượng giống rất lớn mà chỉ có phương pháp nuôi cấy mô từ phôi soma có sử dụng bioreactor mới đáp ứng được.

Bên cạnh đó khi mở rộng diện tích cà phê chè, việc thay thế các giống cà phê chè cũ cũng được đặt ra để nâng cao giá trị trên vườn cây tại các vùng trồng thích hợp đối với cà phê chè tại Tây Nguyên như: Daklak, Lâm Đồng, Kontum, Gia Lai nên nhu cầu về giống chất lượng cao khá lớn. Việc sử dụng các phương pháp thông thường nhân giống đã không đáp ứng được yêu cầu 3 nên việc sử dụng công nghệ nhân in vitro có sử dụng bioreactor là một hướng đi có tính khả thi cao.

Với những lý do trên, Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thường cùng thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor” với mục tiêu xây dựng được quy trình công nghệ và hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor phục vụ tái canh cà phê ở Tây Nguyên.

Qua thời gian nghiên cứu đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây cà phê Arabica bằng công nghệ Bioreactor: Mẫu lá vị trí thứ 2 của cây 24 tháng tuổi, khử trùng Calcium Hypochlorite 10%, sau 15 ngày tỷ lệ mẫu sạch đạt 90,74%. Mẫu lá trên môi trường MS, có vitamin B5, bổ sung 2,4D 1 mg/l và Kin 2 mg/l, cấy chuyển 3 lần trong 4 tháng tạo mô sẹo cao >46%. Mô sẹo cấy lên môi trường 1/2MS, vitamin B5, bổ sung 2ip 0,5 mg/l, khối lượng mô sẹo 250mg/100ml môi trường, vận tốc máy lắc 100 vòng/phút sau 2,5 tháng mô sẹo tăng lên >6 lần. Mô sẹo cấy lên MS1/2 lỏng, thể tích môi trường 400 ml, pH 5,8 và cứ 15 ngày thay mới môi trường một lần, sau 2,5 tháng số phôi đạt cao >1500 phôi/1g mô sẹo. Phôi cấy lên môi trường MS1/2, đường 10 g/l, thời gian sục khí 1 phút sau mỗi chu kỳ 6 giờ, thể tích môi trường trong bình RITA 300ml, pH 5,8. Sau 2,5 tháng tỷ lệ cây lá mầm đạt >88%. Tạo cây hoàn chỉnh thích hợp trong bình tam giác, sau 2,5 tháng giúp cây phát sinh cặp lá thật 81,6%, tỷ lệ ra rễ đồng đều (90,3%) và cây không bị thủy tinh thể.

Nghiên cứu qui trình trồng cây cà phê nuôi cấy mô ngoài đồng ruộng: Chiều cao từ 2 cm có 2-3 cặp lá thật, cấy vào khay xốp có kích thước lỗ khay 3,5 cm x10cm (tương đương 84 lỗ/khay 50 x 30 x 10 cm) gồm giá thể 1 đất: 1 Xơ dừa: 1 trấu hun, che sáng 80 %, tưới nước 2 lít/m2 2 ngày /lần, phun liều lượng khoáng MS là 40 ml/1000 ml. Sau 4 tháng huấn luyện tỷ lệ cây sống >85%, chiều cao >4cm, số cặp lá > 3 cặp, chiều dài rễ 4cm. Cây có 3 cặp lá, cao 4,5 cm, cấy vào bầu đất có thành phần là 7 đất: 2 trấu hun: 1 phân chuồng, che sáng 60 %, tưới 2,5 lít/m2/lần cứ 2 ngày/lần, phun phân 18 bón lá NUCAFE với nồng độ 0,2 % chu kỳ phun 2 tuần phun một lần. Sau 3 tháng tỷ lệ cây sống >81%, chiều cao đạt >18 cm, số cặp lá >8 cặp, chiều dài rễ cọc >18 cm, đường kính thân 0,23 cm. Bước đầu đánh giá được Công thức 3 (N 100kg; P2O5 210kg; K2O 90kg) cây sinh trưởng tốt, thí nghiệm cây che bóng và mật độ chưa thấy sự khác biệt giữa các công thức. Giữa cây thực sinh và cây in-vitro chưa có sự khác biệt về hình dạng và sinh trưởng.

Quy trình trồng và chăm sóc cây ngoài đồng ruộng: Kế thừa quy trình kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch cà phê chè, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2002; Thay thế mục tiêu chuẩn cây giống (phát triển từ hạt) bằng cây giống nuôi cấy mô; Sửa đổi khoảng cách mật độ trồng cà phê, cây che bóng tạm thời và liều lượng phân bón khoáng cho năm trồng mới: Độ dốc dưới 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,5 m (3.333 cây/ha) Độ dốc trên 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,25 m (4.000 cây/ha). Cây che bóng: Gieo hạt vào đầu mùa mưa giữa hai hàng cà phê; khoảng 3 - 4 hàng cà phê gieo một hàng muồng. Liều lượng phân bón thay liều lượng và thời điểm bón phân cho vùng Tây Nguyên.

Kết quả của đề tài sẽ là một bước đệm quan trọng trong nghiên cứu nhân nuôi cấy mô tế bào trên các giống cà phê nói riêng và các loại cây thân gỗ nói chung. Sự thành công của đề tài sẽ mở ra hướng mới cho nghiên cứu về công nghệ bioreactor trên các loại cây trồng khác, mở ra một hướng mới về sản xuất các loại giống bằng công nghệ tế bào. Kết quả nghiên cứu mới nhất về nuôi cấy mô cà phê chè tại Việt Nam sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu mới, mở ra nhiều triển vọng về hợp tác quốc tế và tổ chức các hội thảo quốc gia và quốc tế. Đây cũng là một thành tựu chứng tỏ trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam về cà phê là đứng hàng đầu của thế giới, đặc biệt là về giống cà phê.

Thông thường cần 5-10 năm để đưa 1 giống cà phê được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, thâm chí có thể lên tới 12-15 năm bởi việc sản xuất giống bằng các phương pháp thông thường với hệ số nhân thấp nên tạo ra số lượng cây lớn rất khó khăn. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng để tạo ra hướng sản xuất để đưa nhanh các giống cà phê đã được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ nghiên cứu tới ứng dụng vào thực tiễn. Các giống mới đưa vào sản xuất nhanh chóng sẽ là cơ hội nâng cao sản lượng cà phê chè chất lượng cao, từ đó nâng cao giá trị xuất khẩu và thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế và xã hội của các tỉnh Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu được triển khai sẽ chấm dứt tình trạng sản xuất giống không có nguồn gốc, không đúng giống, chất lượng thấp và giá thành cao. Đồng thời tăng cường được công tác giám sát về sản xuất giống của cơ quan quản lý giống, từ đó đảm bảo cho người nông dân mua được giống đúng nguồn gốc, đúng chất lượng, xóa bỏ được hiện tượng giống giả, giống kém chất lượng. Mặt khác, người nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số khi sử dụng giống này để trồng mới hoặc tái canh thì sẽ làm tăng năng suất vườn cây, giảm chi phí giá thành trên đầu sản phẩm, từ đó tăng lợi nhuận cho người nông dân, làm ổn định đời sống vật chất cho người trồng cà phê (trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số), làm ổn định đời sống xã hội trong vùng làm ổn định về năng suất, chất lượng của sản phẩm cà phê nhân Việt Nam, từng bước xây dựng được thương hiệu mạnh cho cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

 

FAO: Giá lương thực toàn cầu suy giảm năm thứ ba liên tiếp

  • PDF

FAO: Giá lương thực toàn cầu suy giảm năm thứ ba liên tiếp

Chỉ số giá lương thực toàn cầu của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã giảm trong cả năm 2014, đánh dấu sự suy giảm năm thứ ba liên tiếp.

Sau ba tháng ổn định, chỉ số giá lương thực toàn cầu đã giảm 1,7% vào tháng 12/2014 do nguồn cung dồi dào, đồng USD mạnh lên trong khi giá dầu giảm mạnh.

Chỉ số này của FAO theo dõi giá của các loại lương thực như ngũ cốc, thịt, các sản phẩm liên quan đến sữa, dầu thực vật và đường trên thị trường quốc tế. Tính chung cả năm 2014, chỉ số này đạt mức trung bình 202 điểm, giảm 3,7% so với 2013.

Giá thịt tháng 12/2014 đã giảm 1,9% so với tháng trước đó do đồng USD mạnh hơn tác động đến giá thịt bò và cừu nhập từ châu Đại dương và thịt lợn nhập từ châu Âu.

Tuy nhiên, tính chung cả năm 2014, giá các loại thịt vẫn tăng tới 8,1%. Chỉ số giá đường đã giảm 4,8%, xuống còn 219 điểm vào tháng 12/2014, chủ yếu do nguồn cung dư thừa và giá dầu thô giảm khiến nhu cầu đường để sản xuất ethanol ít đi.

Giá dầu thô giảm cũng tác động tiêu cực tới các loại hàng hóa được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học như mía đường và dầu cọ.

Giá ngũ cốc cũng giảm tới 12,5% trong cả năm 2014 do sản lượng tăng cao kỷ lục, trong khi giá sữa cũng ở mức thấp nhất kể từ 2009 do nhu cầu nhập khẩu sụt giảm từ Trung Quốc và Nga. Sự suy giảm mạnh nhất được chứng kiến đối với các mặt hàng sữa bột, bơ và pho mát.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa

  • PDF

Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa

Trong năm 2014-2015, cả nước chuyển đổi khoảng 260 ngàn ha diện tích gieo trồng lúa sang cây trồng khác và kết hợp nuôi trồng thủy sản.

Đây là mục tiêu đặt ra tại quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa giai đoạn 2014-2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa phê duyệt.

Quy hoạch cũng nêu rõ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa nhằm mục tiêu vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa duy trì quỹ đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo nguyên tắc chuyển đổi nhưng không được làm mất các yếu tố phù hợp để trồng lúa, khi cần thiết có thể quay lại trồng lúa mà không phải đầu tư lớn; cây trồng chuyển đổi phải có thị trường tiêu thụ, có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo vùng

Theo quy hoạch, vùng Đồng bằng sông Cửu Long tập trung chuyển đổi mô hình chuyên lúa sang mô hình luân canh 2 lúa – màu, 1 lúa – 2 màu; chuyên rau, màu và lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản. Năm 2014-2015, chuyển đổi khoảng 112 ngàn ha diện tích gieo trồng lúa, trong đó chuyển sang trồng ngô 30 ngàn ha, đậu tương 8 ngàn ha, vừng, lạc 11 ngàn ha; rau, hoa 27 ngàn ha…Giai đoạn 2016-2020, tiếp tục chuyển đổi khoảng 204 ngàn ha.

Vùng Đồng bằng sông Hồng, tập trung chuyển đổi mô hình 2 lúa sang trồng các loại rau, hoa, màu; mô hình 1 lúa chuyển sang trồng rau màu, mô hình trồng lúa sang lúa – cá và tăng diện tích cây màu vụ Đông trên đất trồng lúa.

Vùng Trung du miền núi phía Bắc, chuyển đổi một số diện tích 2 vụ lúa sang trồng rau các loại, hoa; chuyển đổi mô hình 1 lúa sang trồng rau, màu, tăng cường cây vụ Đông trên đất trồng lúa.

Vùng Bắc Trung bộ, trong năm 2014-2015 chuyển đổi khoảng 26 ngàn ha đất lúa sang trồng ngô, đậu tương, vừng, lạc…Giai đoạn 2016-2020 chuyển đổi tiếp 34 ngàn ha đất lúa sang các cây trồng khác.

Đối với vùng Duyên hải Nam trung bộ, giai đoạn 2014-2020, chuyển đổi khoảng 105 ngàn ha đất lúa sang các cây trồng khác.

Đối với vùng Tây Nguyên, chuyển đổi khoảng 15 ngàn ha đất trồng lúa sang trồng ngô và các cây trồng khác.

Vùng Đông Nam bộ, tập trung chuyển đổi mô hình chuyên lúa sang các loại cây có giá trị kinh tế cao như hoa, cây cảnh, rau an toàn…

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Phát huy tiềm năng nông nghiệp từ công nghệ cao

  • PDF

Phát huy tiềm năng nông nghiệp từ công nghệ cao

Thực tế và kinh nghiệm ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp của các nước trên thế giới đều hướng vào các sản phẩm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, có chất lượng, giá trị cao về kinh tế; có mối liên hệ chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ.

Từ kinh nghiệm thế giới

Các nước đã thành công trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như Hoa Kỳ, Israel, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… dựa trên 2 yếu tố chính: Lợi thế từ điều kiện thiên nhiên hoặc địa lý, gần thị trường tiêu thụ; lợi thế từ khoa học, công nghệ và khả năng tài chính. Trong đó, với các nước phát triển, lợi thế về khoa học, công nghệ và tài chính được phát huy triệt để.

Công nghệ cao được áp dụng ở tất cả các khâu của chuỗi sản xuất nông nghiệp như các nghiên cứu phát triển giống mới, các giống biến đổi gene kháng sâu, bệnh, công nghệ tưới tiêu tiên tiến, các công nghệ tiết kiệm đất như: Tăng cường sử dụng phân hóa học, trồng cây trong nhà kính, trong các giá thể… Ngoài việc phát triển “công nghệ cứng”, các nước cũng rất quan tâm phát triển “công nghệ mềm”, trong đó quan trọng nhất là công nghệ quản lý và tổ chức sản xuất, góp phần quản lý tốt hơn chất lượng nông sản, giúp nông sản có giá cao và ổn định hơn.

Các nước có điều kiện kinh tế xã hội tương tự nước ta cũng đã có chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khá thành công. Theo một nghiên cứu của Bộ NNPTNT, trong giai đoạn 1998-2006, Trung Quốc đã phát triển được 405 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ cấp tỉnh trở lên và hàng ngàn cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước. Các khu này đóng góp trên 40% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp.

Giải pháp trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Trung Quốc là: Coi khoa học công nghệ là đòn bẩy, lấy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật làm gốc; đầu tư hạ tầng hiện đại và đồng bộ; thu hút, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào đầu tư; mở rộng hợp tác quốc tế để trao đổi công nghệ, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.

Đến thực iễn Việt Nam

Hiện Việt Nam có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được xây dựng, đưa vào hoạt động và quy hoạch tại 12 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, hoạt động của các khu này còn rất hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung, cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu hấp dẫn, sản phẩm chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng.

Thực tế đã xuất hiện một số mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có hiệu quả, đem lại lợi nhuận khá cao. Các mô hình thành công này đa phần là các cơ sở tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa như sản xuất giống tại Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình, Công ty Bảo vệ thực vật An Giang; mô hình nuôi bò và chế biến sữa của Công ty TH, Công ty sữa Mộc Châu, các công ty trồng hoa công nghệ cao tại Đà Lạt, Mộc Châu…

Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Nhà nước đã thành lập và hoạt động hiệu quả chưa cao do chính quyền cơ sở chưa đủ quyết tâm, lựa chọn mô hình, sản phẩm để sản xuất chưa phù hợp, khả năng tài chính chưa đủ mạnh để thực hiện đầu tư hạ tầng và thu hút doanh nghiệp. Một số địa phương có khả năng về tài chính nhưng lại sai lầm trong lựa chọn công nghệ (công nghệ lạc hậu hoặc công nghệ quá cao), chi phí đầu tư, vận hành quá đắt đỏ dẫn đến sản xuất không hiệu quả. Điển hình là các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng được đầu tư hàng chục tỷ đồng để nhập công nghệ trọn gói của nước ngoài, tuy nhiên quá trình chuyển giao công nghệ chậm, chi phí vận hành quá cao nên thất bại.

Từ kết quả của việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Việt Nam, mà trong đó phần nhiều là những thất bại đắt giá, Bộ NNPTNT và chính quyền các địa phương phải nhìn thẳng vào các yếu kém, tồn tại để có định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho phù hợp, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và tiến tới phát huy hết các tiềm năng sẵn có của sản xuất nông nghiệp.

Biện pháp trước tiên là phải nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong sản xuất nông nghiệp: Rà soát, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch, gắn với nghiên cứu thị trường, đảm bảo tính khả thi và tuân thủ quy hoạch, từng bước hạn chế việc sản xuất theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng được mùa rớt giá. Nâng cao hiệu lực trong việc quản lý chất lượng nông sản, vệ sinh an toàn thực phẩm, coi truy xuất nguồn gốc đối với hàng nông sản của doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp phải có trách nhiệm đầu tư vào vùng nguyên liệu.

Thứ hai là hoàn thiện các chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Cần sửa đổi chính sách liên kết sản xuất nông sản theo hợp đồng, trong đó xây dựng các chính sách liên kết đủ mạnh để giải quyết vấn đề phá vỡ hợp đồng. Đây là nguyên nhân chính khiến cho các doanh nghiệp không mặn mà và không “dám” đầu tư lâu dài vào lĩnh vực này. Nhà nước đóng vai trò trung gian điều phối, trọng tài, tăng lòng tin cho các bên tham gia liên kết.

Thứ ba là quyết liệt đổi mới trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong khối các cơ quan nghiên cứu khoa học công lập, thực hiện xã hội hoá những lĩnh vực có tiềm năng, đổi mới thủ tục hành chính trong triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học theo hướng gọn nhẹ, gắn với sản phẩm đầu ra, tạo điều kiện về thời gian cho các nhà khoa học, có cơ chế đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học đầu ngành, đổi mới cơ chế thuê chuyên gia nước ngoài, cả Việt kiều làm việc tại các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam.

Thứ tư là việc lựa chọn, quyết định thành lập các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương (điều kiện tự nhiên, thị trường, khả năng tài chính, công nghệ, nhân lực..). Nên phân kỳ đầu tư để có bước đi thích hợp, tạo tiền đề tích lũy kinh nghiệm, tài chính và công nghệ để nhân rộng mô hình.

Khi phát triển thành công các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm nông sản sạch, chất lượng cao, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng; nâng cao giá trị gia tăng cho người sản xuất, hướng tới phát huy tiềm năng lợi thế của sản xuất nông nghiệp, hạn chế thiệt hại và thích ứng với các hình thái thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng cho sản.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

  • PDF

 ​10 năm tiếp theo là giai đoạn cực kỳ quan trọng để đạt được các mục tiêu về biến đổi khí hậu

Cacbon đioxit (CO2) và các khí nhà kính khác trong khí quyển có thể giảm theo hai cách - bằng cách cắt giảm khí thải, hoặc bằng cách loại bỏ nó ra khỏi khí quyển, ví dụ như thông qua cây cối, đại dương và đất.
 

Hiệp định Paris lịch sử đặt ra mục tiêu hạn chế tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu trong tương lai ở mức dưới 2 ° C và theo đuổi các nỗ lực để thậm chí còn hạn chế mức tăng trung bình đến 1,5°C so với các giai đoạn tiền công nghiệp. Tuy nhiên, thời gian và chi tiết của những nỗ lực này lại tùy thuộc vào từng quốc gia quyết định.

Trong một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí Nature Communications, các nhà nghiên cứu đến từ Viện Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế (IIASA) đã sử dụng một mô hình toàn cầu về hệ thống cacbon để tính toán lượng cacbon thải ra và hấp thu thông qua các hoạt động tự nhiên và của con người.

Theo nghiên cứu, tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 25% lượng cung cấp năng lượng toàn cầu vào năm 2100, so với mức 95% hiện nay. Đồng thời phải giảm thiểu sử dụng đất, chẳng hạn như phá rừng. Điều này sẽ dẫn đến lượng phát thải tích lũy giảm 42% vào cuối thế kỷ so với tình huống kinh doanh bình thường.

“Nghiên cứu này đưa ra một tính toán rộng lớn về lượng cacbon điôxit trong khí quyển của chúng ta, nó đến từ đâu và nó đi đến đâu. Chúng tôi không chỉ xem xét khí thải đến từ nhiên liệu hóa thạch, mà còn từ nông nghiệp, sử dụng đất, sản xuất lương thực, năng lượng sinh học và hấp thu cacbon từ các hệ sinh thái tự nhiên", Brian Walsh, chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Thế giới, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

So sánh bốn kịch bản khác nhau về phát triển năng lượng trong tương lai, với một loạt kiểu kết hợp năng lượng tái tạo và năng lượng hóa thạch. Trong một kịch bản "tái tạo" cao, trong đó gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học tăng khoảng 5% mỗi năm, thì lượng khí thải rò rỉ có thể lên đến đỉnh điểm vào năm 2022. Tuy nhiên, nếu không có các công nghệ khí thải âm tính đáng kể, thì con đường đó vẫn sẽ dẫn đến tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu lên 2,5 độ C, không đạt được mục tiêu của Hiệp định Paris.

Theo Walsh, viễn cảnh năng lượng tái tạo cao là tham vọng, nhưng không phải là không thể - sản xuất năng lượng tái tạo toàn cầu đã tăng 2,6% trong giai đoạn 2013 và 2014, theo IEA. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy việc tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (với tốc độ tăng trưởng năng lượng tái tạo từ 2% đến 3%/năm), sẽ làm lượng khí thải cacbon đạt đỉnh ngay vào cuối thế kỷ này, gây ra nhiệt độ toàn cầu tăng lên 3,5°C vào năm 2100.

Nghiên cứu bổ sung cho một số lượng lớn các nghiên cứu của IIASA về chính sách giảm nhẹ khí hậu và cơ hội đạt được các mục tiêu.

Một mô hình mới

Nghiên cứu này là một trong những kết quả được công bố đầu tiên từ mô hình FeliX mới được phát triển. Đây là mô hình về hệ thống xã hội, kinh tế, môi trường trên trái đất và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Có thể tại mô hình miễn phí tại http://www.felixmodel.com/.

Giám đốc chương trình Dịch vụ và Quản lý Hệ sinh thái IIASA nhận xét: "So với các mô hình đánh giá khí hậu và các mô hình đánh giá tổng hợp khác, mô hình FeliX ít tốn kém hơn, nhưng nó cung cấp một cái nhìn tổng thể về toàn bộ chu kỳ cacbon, là điều quan trọng để chúng ta có thể hiểu biết về sự thay đổi khí hậu và năng lượng trong tương lai".

 

Hạn hán khiến sản lượng thóc gạo Thái Lan sụt giảm trên 30%

  • PDF

Hạn hán khiến sản lượng thóc gạo Thái Lan sụt giảm trên 30% 

Theo báo cáo mới nhất của Văn phòng Kinh tế nông nghiệp Thái Lan, hạn hán sẽ khiến xuất khẩu gạo vụ sắp tới của nước này sụt giảm trên 30%.

Thái Lan là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, song sản lượng thu hoạch giảm đi cũng khó có thể tác động lớn tới giá gạo toàn cầu do nguồn dự trữ thóc gạo dồi dào tại Thái Lan và sản lượng cao từ các nhà xuất khẩu như Ấn Độ và Việt Nam.

Vụ thu hoạch thứ hai của Thái Lan kéo dài từ tháng 11 đến tháng Tư sau khi vụ chính được thu hoạch và cần tưới tiêu nhiều do trong thời gian này lượng mưa rất thấp.

Tuy nhiên, Thái Lan đang trải qua tình trạng hạn hán tại tám tỉnh, trong khi chính phủ nước này thông báo không cung cấp nước cho công việc tưới tiêu dọc sông Chao Phraya trong giai đoạn từ tháng 10 tới tháng Tư.

Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết sản lượng thóc gạo vụ sắp tới của nước này sẽ giảm xuống 6,7 triệu tấn trong năm 2015 so với mức 9,7 triệu tấn của năm 2014.

Một nhà giao dịch tại Singapore nhận định "tác động của tình hình đó sẽ là không lớn vì Thái Lan phải cạnh tranh với các nhà xuất khẩu khác. Một lợi thế khác là sản lượng gạo giảm thì chính phủ Thái Lan sẽ bớt đau đầu hơn," do chính phủ nước này vẫn đang phải nỗ lực bán lượng thóc gạo tồn trữ trong kho được mua từ thời chính phủ tiền nhiệm trong kế hoạch hỗ trợ người nông dân (bằng cách trả giá mua thóc gạo cao hơn giá thị trường).

Theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAO), Thái Lan có thể đã vượt qua Việt Nam và Ấn Độ để trở thành nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2014, với lượng xuất khẩu lên tới 10,2 triệu tấn so với mức tương ứng 10 triệu tấn của Ấn Độ./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Cần sản xuất thêm nhiều trái cây và rau củ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu

  • PDF

Cần sản xuất thêm nhiều trái cây và rau củ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu 

Lượng tiêu thụ rau quả mỗi ngày thấp là nhân tố nguy cơ hàng đầu gây tử vong và bệnh tật trên toàn cầu, và góp phần vào khoảng 1,7 triệu cái chết mỗi năm trên thế giới. Với các khuyến nghị trên toàn cầu hiện nay về việc tiêu thụ ít nhất 5 khẩu phần trái cây và rau củ mỗi ngày, các nghiên cứu gia đã phân tích xem việc cung cấp trái cây và rau củ có đủ để đáp ứng các nhu cầu hiện tại trong tình trạng dân số ngày càng gia tăng này hay không.

“Có 1 mối quan hệ mạnh mẽ giữa việc tiêu thụ nhiều trái cây và rau củ với tỷ lệ tử vong thấp”, nghiên cứu gia Karen Siegel đến từ Trường Y tế Rollins cho biết. “Mối quan hệ này kéo sang nhiều căn bệnh mãn tính chủ yếu, như bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường và một số bệnh ung thư nào đó. Mặc dù phần lớn người dân trên thế giới đều không tiêu thụ đúng khẩu phần trái cây và rau củ như được khuyến nghị nhưng nếu các chuyên gia y tế khuyến khích điều này thì chúng tôi cũng phải xem xét đến việc thiếu hụt nguồn cung”.

Bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu về dân số và nông nghiệp trên toàn cầu, nhóm nghiên cứu đã so sánh nguồn cung cấp trái cây và rau củ trên toàn cầu với liều lượng tiêu thụ mỗi ngày cho năm 2012. Họ cũng lên kế hoạch cho việc cung cấp và nhu cầu trái cây và rau củ cho năm 2025 và 2050.

Các kết quả cho thấy rằng nguồn cung cấp trái cây và rau củ trên toàn cầu thiếu 22% nhu cầu của toàn dân và thiếu khoảng 95% ở các quốc gia có thu nhập thấp. Và đến năm 2025 và 2050 thì nguồn cung này thiếu hụt lần lượt là 34% và 43% nếu như vẫn duy trì mức độ sản xuất như hiện tại.

“Nghiên cứu của chúng tôi rất có ý nghĩa bởi vì nó cho thấy rằng sự thiếu hụt này chỉ có thể tồi tệ hơn theo thời gian, đặc biệt đối với các quốc gia có thu nhập thấp”, bác sĩ y khoa K.M. Venkat Narayan cho biết. “Thông tin này đặt nền tảng cho các phân tích sâu xa hơn và đem lại cái nhìn sâu sắc hơn về các chính sách tăng sản xuất và nguồn cung cấp trái cây và rau quả”.'

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module