Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Chuyển đổi hệ thống lương thực để có dinh dưỡng tốt hơn

  • PDF

Chuyển đổi hệ thống lương thực để có dinh dưỡng tốt hơn
M.D - Mard, Theo FAO.

 

Trong khuôn khổ hội nghị do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chủ trì, các vấn đề dinh dưỡng đang tác động đến hơn 50% dân số thế giới và hệ thống lương thực sẽ cần phải trải qua những thay đổi đáng kể nhằm cải thiện bữa ăn hàng ngày và cuộc sống của con người.

 

Sự kiện diễn ra từ ngày 13-15/11 là cuộc họp chuyên môn chuẩn bị cho Hội nghị Quốc tế về Dinh dưỡng lần thứ 2 (ICN2) dự kiến diễn ra vào ngày 19-21/11/2014. Mục đích của hội nghị nhằm tăng cường phối hợp các nỗ lực quốc tế để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, y tế, hệ thống lương thực và các lĩnh vực khác đang ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình ăn uống của con người.

José Graziano da Silva, Giám đốc FAO cho biết: “Rõ ràng là cách quản lý lương thực ngày nay không mang lại kết quả tốt, sự cải thiện về dinh dưỡng chưa đủ. Thực tế đáng buồn nhất là hơn 840 triệu người dân trên thế giới vẫn đang bị đói, mặc dù thế giới đã sản xuất đủ lương thực cho tất cả, và lãng phí 1/3 trong số đó. Tuy nhiên, đó chỉ là một phần câu chuyện. Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới bị tác động của một số dạng suy dinh dưỡng, bị đói, thiếu hụt hoặc dư thừa các vi chất dinh dưỡng cần thiết”.

Graziano cho biết thêm: “Tổng lượng lương thực sản xuất ra nhưng không tiêu thụ sẽ đủ để nuôi sống thêm 2 tỉ người. Sự thật của vấn đề là người tiêu dùng không nhận được tín hiệu đúng từ các chính sách hiện tại về cách làm thế nào để ăn lành mạnh. Đó là những gì chúng tôi cần phải nhấn mạnh”.

Trong khi 842 triệu người dân đang bị đói kinh niên, nhiều người đã chết hoặc bị bệnh do thiếu dinh dưỡng. Khoảng 2 tỉ người bị ảnh hưởng bởi thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Gần 7 triệu trẻ em chết trước tuổi 15 mỗi năm, 162 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị còi cọc, trong khi 500 triệu người bị béo phì.

Đánh giá tầm quan trọng của suy dinh dưỡng và tác động của nó trong sự phát triển bền vững, ông Graziano da Silva nhắc lại sự ủng hộ của FAO và hai tổ cơ quan lương thực và nông nghiệp có trụ sở tại Rome, Quỹ Quốc tế về Nông nghiệp và Phát triển (IFAD) và Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) vì mục tiêu an ninh lương thực và dinh dưỡng trong Chương trình nghị sự Phát triển sau năm 2015, theo kiến nghị của Hội đồng Tư vấn cấp cao về Đói nghèo, An ninh lương thực và Dinh dưỡng diễn ra vào tháng 4/2013 tại Madrid.

Tiến sĩ Hans Troedsson, Giám đốc điều hành Văn phòng Tổng giám đốc của WHO cũng kêu gọi xem xét lại cách quản lý hệ thống lương thực, nhấn mạnh bữa ăn hàng ngày là yếu tố then chốt trong việc giải quyết gánh nặng bệnh tật toàn cầu, và những thách thức đa chiều của dinh dưỡng sẽ cần được nhắc đến ở nhiều cấp độ, từ lúc mới sinh ra cho đến khi trưởng thành.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai

  • PDF

Các công nghệ trong sản xuất ngũ cốc trong tương lai 

Năng suất ngũ cốc của ngành nông nghiệp là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu lương thực toàn cầu. Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) ước tính rằng để đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số thế giới vào năm 2030, ngành nông nghiệp sẽ phải sản xuất thêm một tỷ tấn ngũ cốc mỗi năm, tương đương với sự gia tăng 50% so với sản xuất 2,2 tỷ tấn trong năm 2011.

Với các công cụ sinh học phân tử sẵn có hiện nay, việc nhân giống cây trồng sẽ có thể đạt được sản lượng ngũ cốc đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực dân số thế giới tới năm 2040. Mặc dù nhiều sản phẩm nông nghiệp được trồng, nhưng cây trồng ngũ cốc vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên thế giới. Ngũ cốc được sử dụng không chỉ cho người tiêu dùng trực tiếp mà còn để phát triển chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học. Từ năm 1960 đến năm 2010, sản lượng ngũ cốc năm tăng 270% từ 800 triệu lên đến 2,2 tỷ tấn mặc dù diện tích canh tác chỉ tăng 8%. Trong năm thập kỷ qua, năng suất hạt trung bình trên thế giới tăng từ 1,3 lên 3,2 tấn/ha. Những tiến bộ công nghệ từ Cuộc cách mạng Xanh trong thập niên 1960 đã được tăng năng suất hơn gấp đôi và bổ sung hơn một tỷ tấn các loại hạt cung cấp lương thực cho thế giới. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng năng suất ngũ cốc từ những tiến bộ đã thúc đẩy Cuộc Cách mạng Xanh đang giảm dần. Điều này chỉ ra rằng để năng suất tăng lên đến năm 2040 sẽ đòi hỏi một số tiến bộ công nghệ mới để đảm bảo sự gia tăng 50% cần thiết trong sản xuất cây lương thực.

Tốc độ tăng trưởng hàng năm liên quan đến áp dụng các tiến bộ công nghệ trong cuộc Cách mạng Xanh ở các khu vực cho thấy, tiểu vùng Sahara châu Phi có tốc độ tăng trưởng thấp hơn vì những tiến bộ trong cuộc Cách mạng Xanh đã không thích nghi với đất, khí hậu và điều kiện địa mạo khác nhau của vùng đó. Hơn nữa, các điều kiện kinh tế trong khu vực không ủng hộ việc đầu tư vào các công nghệ mới. Phần còn lại của thế giới bao gồm hầu hết các nước phát triển, và sự khác biệt về năng suất, chỉ ra tiềm năng tăng trưởng ở các vùng khác.

Các nhà di truyền học hiện nay đã nghiên cứu phát triển được các hạt giống chuyên biệt bằng cách lập bản đồ ADN của cây có thể cải thiện việc kiểm soát các loại cây trồng bằng cách tăng năng suất cùng với việc sử dụng các đầu vào ít hơn. Khi các công cụ công nghệ sinh học phát triển đến năm 2040, chi phí thực hiện các dự án nghiên cứu chuyển gen có thể sẽ giảm đáng kể và năng suất cây trồng chuyển gen sẽ lan rộng từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.

Vài năm trước, chi phí xác định một gen trong một cây là 2 USD, thì bây giờ chỉ còn 0,15 USD và những phát triển hiện nay đang diễn ra có thể làm cho chi phí này giảm xuống chỉ còn 30 USD cho một triệu gen. Vào năm 2040, việc xác định gen có thể trở thành thói quen và không còn là rào cản lớn phát triển cây trồng.

Kỹ thuật tạo giống phân tử ở thực vật có khả năng sẽ đẩy nhanh việc thương mại hóa cây trồng mới có năng suất hạt cao hơn và đặc tính nông học tốt hơn. Chi phí lập trình tự và lập bản đồ gen được giảm dần đến điểm mà các công nghệ này sẽ có khả năng trở nên phổ biến vào năm 2040. Ngô chịu hạn, mới đây đã nhận được giấy phép của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Ủy ban châu Âu, là một ví dụ về ứng dụng các công nghệ chọn lọc nhờ phân tử chỉ dấu (marker), đẩy nhanh quá trình nhân giống cây trồng.

Công nghệ chuyển gen thực vật đã có những bước tiến đáng kể với một số kỹ thuật đột phá trong thuốc trừ sâu và kháng thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, ứng dụng của nó đã bị chậm lại vì các mối lo ngại của công chúng và quy định về tác hại tiềm tàng của công nghệ. Nó dường như sẽ không được phát triển đầy đủ và triển khai vào năm 2040.

Các tiến bộ trong nghiên cứu bộ gen thực vật đòi hỏi nông dân phải gia tăng chi phí sản xuất. Chi phí của hạt giống biến đổi gen có thể cao hơn so với hạt giống thông thường 5-7 lần. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của Mỹ, việc canh tác các loại cây trồng biến đổi gen kháng thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu vẫn có lãi. Trong năm 2011, 88% cây ngô và 94% cây đậu tương ở Mỹ là biến đổi gen.

Nhờ hiệu quả trong việc phát triển, các loại cây trồng biến đổi gen tiếp tục tăng đến năm 2040, những lợi thế kinh tế của việc sử dụng các loại cây trồng này cũng sẽ tăng lên.

 

G20 ra thông cáo về an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu

  • PDF

G20 ra thông cáo về an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu

An ninh năng lượng phải trở thành ưu tiên của Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) và sự ổn định của các thị trường là yếu tố then chốt đối với tăng trưởng của nhóm.

Đây là khẳng định được nêu ra trong tuyên bố chung sau phiên bế mạc của Hội nghị cấp cao G20 ngày 16/11, diễn ra tại thành phố Brisbane, bang Queensland, Australia.

Đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo G20 dành hẳn một phiên họp để thảo luận các vấn đề năng lượng toàn cầu.

Cho đến nay, các nước thành viên G20 chiếm tới hơn 80% mức tiêu thụ năng lượng thế giới, khoảng 60% sản lượng dầu khí và hơn 90% sản lượng than đá toàn cầu.

Tuyên bố chung nhấn mạnh sự ổn định lâu dài của các thị trường dầu mỏ được nhìn nhận là yếu tố cốt lõi để đảm bảo thành công của những cải cách mà các thành viên G20 đã cam kết, qua đó có thể đạt mục tiêu nâng tăng trưởng kinh tế của cả nhóm lên 2,1% trong 5 năm tới.

Các nhà lãnh đạo G20 nhất trí ưu tiên trong tăng cường hợp tác năng lượng, đồng thời kêu gọi tiến hành một cuộc họp bộ trưởng năng lượng các nước vào năm 2015 nhằm thảo luận cải cách trong hệ thống năng lượng thế giới.

Cùng ngày, Hội nghị G20 cũng ra tuyên bố chung về biến đổi khí hậu, trong đó hối thúc hành động mạnh mẽ và hiệu quả trong vấn đề này.

Tuyên bố tái khẳng định sự hỗ trợ của các nước G20 nhằm huy động tài chính cho các chương trình về môi trường như Quỹ khí hậu xanh của Liên hợp quốc. Đây là chương trình nhằm kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước phát triển đối với các nước nghèo để chống lại những tác động của biến đổi khí hậu. Nhật Bản đã đồng ý đóng góp 1,5 tỷ USD trong khi Pháp và Đức mỗi nước sẽ đóng góp 1 tỷ USD cho quỹ.

Bên cạnh đó, G20 cũng ra tuyên bố chung về sự cần thiết tăng cường các thể chế tài chính toàn cầu với mục đích nâng cao mức tăng tưởng toàn cầu và tạo nhiều việc làm có chất lượng.

Các nhà lãnh đạo G20 hoan nghênh việc tăng cường sự hiện diện của các nền kinh tế đang nổi trong Hội đồng ổn định tài chính (FSB), đồng thời kêu gọi tiến hành nhanh chóng kế hoạch cải tổ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Ngoài ra, các nước thành viên G20 cũng nhất trí hợp tác nhằm đảm bảo các thỏa thuận đa phương, song phương và khu vực được thực hiện một cách minh bạch, đóng góp cho hệ thống thương mại đa phương vững mạnh trong khuôn khổ các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)./

Xuất khẩu điều nhân: Đột phá thị trường thế giới

  • PDF

Xuất khẩu điều nhân: Đột phá thị trường thế giới

Theo Bộ Công thương, 6 tháng đầu năm cả nước xuất khẩu 133.000 tấn điều nhân các loại, kim ngạch xuất khẩu 847 triệu USD, tăng 20,1% về lượng và tăng 22,1% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2013. Với tình hình này, Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) dự báo, cả năm 2014 có thể xuất 270.000 tấn điều nhân các loại, với kim ngạch 1,8 tỷ USD, nếu cộng thêm các mặt hàng khác dầu vỏ hạt điều và những sản phẩm chế biến sâu thì kim ngạch xuất khẩu điều cả nước khoảng 2,2 tỷ USD, con số này năm 2013 là 1,8 tỷ USD.

Do lệ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc nên những người kinh doanh các mặt hàng nông sản chủ lực đứng ngồi không yên khi cao su đang “chết đứng” vì giá thấp, trái cây và khoai mì thấp thỏm, mặt hàng gạo lại thất thường vì buôn bán tiểu ngạch, nhưng mặt hàng điều nhân lại có cơ cấu khá lý tưởng, không quá lệ thuộc vào một thị trường, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.

Trao đổi với PV Báo SGGP, ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas, cho biết, điều nhân và các sản phẩm chế biến sâu của hạt điều xuất khẩu đến 40 quốc gia, trong đó Mỹ là thị trường nhập khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 40%; các nước châu Âu gần 30%, kế đến là Trung Quốc khoảng 20%, Úc hơn 11%. Lợi thế của mặt hàng điều là thực phẩm khô, nếu có vấn đề ở thị trường nào đó vẫn không làm ảnh hưởng lớn đến toàn ngành. Sau 30 năm xuất khẩu điều nhân, các doanh nghiệp (DN) đã hình thành mạng lưới khách hàng rộng khắp các nước.

Trung Quốc là thị trường có tốc độ phát triển khá ấn tượng, trên dưới 10%/năm, nhưng nếu xét về thị phần lại có xu hướng giảm dần. Năm 2000 mới nhập khoảng 11.000 tấn điều nhân, lúc đó chiếm 32,6% tổng lượng điều xuất khẩu Việt Nam; năm 2013 lên đến trên 52.000 tấn, nhưng thị phần giảm xuống còn 20%. 6 tháng đầu năm 2014, cũng ở con số này. Theo nhận định của Vinacas, có thể thời gian tới tỷ lệ này sẽ dao động trên dưới 20%. Một điều có thể nhận thấy, lúc mới khởi nghiệp, với các DN Việt Nam, Trung Quốc là thị trường để DN tìm đến vì là nước giáp với Việt Nam ở phía Bắc nên việc vận chuyển khá dễ dàng, chỉ sau 1 tuần hàng đã đến Trung Quốc và khách hàng khá dễ dàng chấp nhận nên những mã hàng các nước phát triển “chê” được bán sang Trung Quốc. Những DN từng buôn bán điều nhân lâu năm lại tìm cách thoát ra khỏi thị trường này, điển hình như Công ty cổ phần Nhật Huy. Ông Phạm Văn Công, Chủ tịch HĐQT cho biết, từ năm 1998 đến năm 2005 gần như 100% là bán qua Trung Quốc, nhưng sau đó giảm dần, từ năm 2010 đến nay chỉ còn 5%, trong khi 75% là xuất khẩu sang Mỹ và các nước châu Âu, còn lại là Nhật Bản, Úc và các nước khác.

Lý do mà ông Phạm Văn Công chủ động chuyển hướng là do cách làm ăn của DN Trung Quốc chưa có kế hoạch cụ thể, mang tính chụp giựt, không theo tiêu chuẩn cụ thể mà theo cảm quan nên khó chuẩn xác. Khi cần hàng mua ồ ạt, nhưng cũng ngưng mua đột ngột nếu hàng bán chậm; nhà nước Trung Quốc điều chỉnh thuế biên mậu liên tục. Trong khi giao dịch với DN các nước phát triển Âu Mỹ thì buôn bán kỳ hạn rõ ràng, dễ cho việc hoạch định sản xuất.

Nhu cầu tiêu thụ thị trường Trung Quốc tăng rất nhanh. Nếu năm 2000 Trung Quốc nhập khẩu 11.200 tấn điều nhân của Việt Nam thì năm 2013 con số này là 52.000 tấn và sẽ còn tăng mạnh thời gian tới khi mà bình quân mỗi người dân Trung Quốc chỉ mới tiêu thụ 0,04kg/người/năm, trong khi Mỹ là 0,26kg/người/năm. Chỉ cần tăng gấp đôi con số hiện nay, tức là chưa tới 1/3 lượng tiêu thụ của dân Mỹ, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu hơn 100.000 tấn/năm để đáp ứng cho hơn 1,3 tỷ người dân. Vì vậy, từ lâu Trung Quốc đã quan tâm đến công nghiệp chế biến hạt điều nhưng do không có thế mạnh để phát triển cây điều như Việt Nam nên họ đang trong quá trình hình thành công nghiệp chế biến từ nguyên liệu điều nhập khẩu các nước châu Phi, kể cả mua điều nhân Việt Nam về chế biến sâu để xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Đức Thanh, thị trấn Mao Minh của tỉnh Quảng Đông dành khu đất 10ha để lập trung tâm chế biến điều nhân; ngoài ra còn đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Châu… đã làm mấy năm nay và có dấu hiệu muốn đẩy nhanh hơn. Vì là khách hàng truyền thống của Việt Nam, một số nơi tiếp nhận người của Trung Quốc qua tiếp cận, học hỏi công nghệ chế biến điều theo thỏa thuận hợp tác giữa 2 DN. Họ cũng đã mua thiết bị Việt Nam về nghiên cứu và có thành công bước đầu. Tất nhiên để làm được như Việt Nam không thể một sớm một chiều. Giám đốc Công ty TNHH Bình Sơn 1, ông Tạ Quang Huyên (Bình Phước), tự tin cho rằng, có thể lượng nhập khẩu giảm nhưng chất lượng hạt điều Việt Nam được khách hàng nước ngoài thừa nhận là ngon nhất, trở thành thương hiệu mà người tiêu dùng các nước châu Âu, Mỹ ưa chuộng. Vấn đề còn là công nghệ và phương pháp chế biến, là “hồn cốt” sản phẩm, những lợi thế không thể có của nước khác. 

Ngay cả Ấn Độ, nước chế biến hạt điều lớn nhất thế giới nhưng do đẩy mạnh tiêu thụ nội địa nên xuất khẩu sau Việt Nam cũng tìm cách tiếp cận và mua thiết bị chế biến hạt điều của Việt Nam, kể cả lập nhà máy chế biến tại Việt Nam. Theo nhận định của Vinacas, Ấn Độ sẽ là đối thủ cạnh tranh bởi nghề chế biến điều của nước này đã hình thành cả trăm năm, có hệ thống thu mua hạt điều (thô) ngay tại những nước châu Phi để bán cho Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam dù là đất nước chế biến điều khoảng 30 năm nhưng công nghệ chế biến lại đi đầu trên thế giới nên những đối thủ này luôn tìm cách học hỏi lợi thế Việt Nam để cạnh tranh. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao tiêu thụ thị trường nội địa và giữ vững thị trường truyền thống, DN chế biến điều Việt Nam không thể chủ quan, cần có chiến lược kinh doanh lâu dài dựa trên lợi thế sẵn có.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Sản phẩm công nghệ giúp người nông dân vượt qua những khó khăn khi sản xuất quy mô nhỏ

  • PDF

Công nghệ sinh học giúp người nông dân vượt qua những khó khăn khi sản xuất quy mô nhỏ
NMT - MARD, Theo FAO.

 

FAO đang kêu gọi các nỗ lực quốc gia và quốc tế lớn hơn trong việc đưa công nghệ sinh học nông nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nhỏ ở các nước đang phát triển. Ấn phẩm mang tựa đề “Công nghệ sinh học cho các nông hộ sản xuất quy mô nhỏ”. Nghiên cứu từ nước đang phát triển trong lĩnh vực cây trồng, vật nuôi và thủy sản khẳng định công nghệ sinh học có thể giúp các hộ gia đình cải thiện sinh kế và an ninh lương thực.

 

Ẫn phẩm về công nghệ sinh học nêu lên 19 trường hợp nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi, thủy sản được viết bởi các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Các bài viết mô tả thực tế và kinh nghiệm thực tế của việc nghiên cứu công nghệ sinh học và áp dụng ở các hộ trồng chuối, sắn, lúa, chăn nuôi gia súc, nuôi tôm quy mô nhỏ tại các nước đang phát triển. Các nghiên cứu chỉ ra một loạt các kỹ thuật công nghệ sinh học được áp dụng, bao gồm các kỹ thuật truyền thống như thụ tinh nhân tạo và lên men, và các kỹ thuật tiên tiến liên quan đến các phương pháp dựa trên DNA nhưng không áp dụng kỹ thuật biến đổi gien. “Với các thể chế và các giải pháp tài chính đúng đắn, các chính phủ, các viện nghiên cứu và các tổ chức có thể hỗ trợ mang lại các giải pháp công nghệ sinh học cho các hộ gia đình nông dân, nâng cao năng lực của người nông dân trong việc ứng phó với những thách thức như biến đổi khí hậu, các dịch bệnh ở thực vật và động vật và sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên”, ông Andrea Sonnino, Giám đốc nghiên cứu của FAO cho biết.
 
Bốn trường hợp nghiên cứu là ở Ấn Độ, hai trường hợp nghiên cứu ở Trung Quốc và mỗi quốc gia sau đều có một trường hợp nghiên cứu là Ác-hen-ti-na, Băng-la-đét, Bra-xin, Ca-mơ-run, Cô-lôm-bi-a, Cu-ba, Gha-na, Ni-giê-ri-a, Nam Phi, Sri Lan-ca, Tanzania và Thái Lan. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kiến thức về DNA để phát triển một giống lúa chịu lũ lụt ở Ấn Độ với sản lượng tiềm năng cao hơn từ 1-3 tấn mỗi ha so với các giống lúa được sử dụng trước đó trong điều kiện lũ lụt. Sau khi được đưa ra vào năm 2009, giống lúa mới Swarna - Sub1 đã được 3 triệu nông dân sử dụng trong năm 2012. Các giống lúa chịu được ngập úng cung cấp cơ hội để cải thiện và ổn định sản lượng tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, góp phần quan trọng đối với an ninh lương thực quốc gia. Uma Singh và các đồng nghiệp từ Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI ) đã thực hiện nghiên cứu này.
 
Ở Trung Quốc, cá chép Jian đã được lai tạo dựa trên biện pháp chọn lọc di truyền. Cá chép Jian hiện nay được nuôi ở khoảng 160.000 trang trại nuôi cá và chiếm hơn 50% sản lượng cá chép ở Trung Quốc. Ở miền Bắc Cameroon, việc sử dụng các công cụ chẩn đoán dựa trên DNA trong lĩnh vực này cho phép các cơ quan thú y nhanh chóng chẩn đoán sự bùng phát của dịch sốt trên động vật nhai lại, một căn bệnh do virút gây ra rất dễ lây lan ảnh hưởng đến dê và cừu. Việc chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác giúp dập tắt các ổ dịch và ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh gây tử vong cho đàn gia súc khác. “Nếu không có phản ứng nhanh này, hàng ngàn con cừu và dê có khả năng đã chết, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế”, Abel Wade và Abdoulkadiri Souley thuộc Phòng thí nghiệm thú y quốc gia (LANAVET) ở Ca-mơ-run cho biết.
 
Công nghệ sinh học có thể cải thiện cây trồng, sinh kế chăn nuôi và thủy sản bằng cách thúc đẩy năng suất và tăng cường tiếp cận thị trường. Việc giới thiệu công nghệ sinh học mới ở các trang trại gia đình cũng có thể giúp giảm chi phí sản xuất và cải thiện quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu đưa ra giúp hỗ trợ hoạch định chính sách trong việc đưa ra quyết định về các chương trình liên quan đến công nghệ sinh học. Tuyên bố của FAO cũng cho thấy quan hệ đối tác quốc tế và quốc gia là rất quan trọng để đạt được các kết quả mong muốn như là chia sẻ các nguồn tài nguyên về mặt di truyền, kỹ thuật và bí quyết qua biên giới quốc gia và lục địa.

 

FOODCROPS. HỌC MỔI NGÀY

Robot nano sinh học từ DNA và Protein

  • PDF

Robot nano sinh học từ DNA và Protein 

Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một robot phân tử có kích cỡ bằng một tế bào có thể thay đổi hình dạng của nó khi hồi đáp một tín hiệu DNA.

Đây là lần đầu tiên một hệ thống robot phân tử có thể nhận biết các tín hiệu và kiểm soát chức năng thay đổi hình dạng của nó. Điều này có nghĩa là trong tương lai gần, chúng có thể hoạt động như những sinh vật sống.

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Đại học Tohoku và Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Nhật Bản đã phát triển một robot được tạo ra từ DNA và protein. Kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên Science Robotics.

Sử dụng những phân tử sinh học tinh vi như DNA và các protein có vai trò hết sức quan trọng. Chẳng hạn như những tế bào bạch cầu có thể đuổi theo vi khuẩn bằng cách cảm nhận những tín hiệu hóa học và di chuyển về phía mục tiêu. Trong lĩnh vực hóa học và sinh học tổng hợp, những công nghệ nền tảng cho việc tạo ra những cỗ máy phân tử đa dạng, chẳng hạn như cảm biến, bộ vi xử lí và bộ dẫn động, được tạo ra bằng cách sử dụng những phân tử sinh học.

Một robot phân tử là một hệ thống phân tử nhân tạo được tạo ra bằng cách tích hợp những cỗ máy phân tử. Các nhà nghiên cứu tin rằng việc tạo ra được một hệ thống như vậy có thể dẫn đến bước đột phá quan trọng – một robot được thiết kế trên cơ sở phân tử.

Để đạt được mục tiêu này, các nhà nghiên cứu tích hợp những cỗ máy phân tử vào một màng tế bào nhân tạo để tạo ra một robot phân tử. Robot phân tử do nhóm nghiên cứu nói trên phát triển có kích thước cực kì nhỏ - khoảng một phần triệu của một mét – tương đương kích thước tế bào ở người.

Nó bao gồm một bộ dẫn động phân tử tạo ra từ protein và một bộ li hợp phân tử tạo ra từ DNA. Hình dạng của thân robot (màng tế bào nhân tạo) có thể được thay đổi nhờ bộ dẫn động, trong khi sự truyền lực do bộ dẫn động sinh ra có thể được kiểm soát bởi bộ li hợp phân tử.

Nhóm nghiên cứu đã chứng minh qua các thử nghiệm rằng robot phân tử này có thể thay đổi hình dạng trước các tín hiệu DNA cụ thể.

Giáo sư Shin-ichiro Nomura thuộc nhóm nghiên cứu phát triển robot phân tử ở Đại học Tohoku, chia sẻ: "Thật thú vị khi thấy chuyển động thay đổi hình dạng của robot qua kính hiển vi. Nó có nghĩa là bộ li hợp DNA do chúng tôi thiết kế đã hoạt động hoàn hảo, bất chấp những điều kiện phức tạp bên trong robot”.

Việc tạo ra một robot phân tử có các thành phần được thiết kế ở cấp độ phân tử và có thể hoạt động trong môi trường nhỏ và phức tạp, như cơ thể con người, được cho là sẽ mở rộng đáng kể khả năng của công nghệ robot. Những kết quả của nghiên cứu này có thể đưa đến những sự phát triển về mặt công nghệ giúp giải quyết những vấn đề y tế quan trọng, chẳng hạn như một robot điều trị cho việc nuôi cấy sống các tế bào và robot giám sát ô nhiễm môi trường.

 

Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020

  • PDF
Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020 

Đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì và ổn định ở mức 50 ngàn ha, diện tích cho sản phẩm 47 ngàn ha, năng suất đạt 30 tạ/ha, sản lượng đạt 140 ngàn tấn, sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90%. Về cơ cấu sản phẩm, tiêu đen chiếm 70%, tiêu trắng 30%; kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2-1,3 tỷ USD.

Đó là những mục tiêu chính của Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát ký phê duyệt tại Quyết định số 1442/QĐ-BNN-TT ngày 27/6/2014.

Theo định hướng Quy hoạch, căn cứ mục tiêu về diện tích hồ tiêu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, phải tiến hành rà soát, đánh giá các điều kiện sinh thái thích nghi với cây hồ tiêu, loại bỏ diện tích ít thích hợp và không thích hợp để phát triển ổn định và bền vững.

Đến năm 2020, vùng trồng hồ tiêu trọng điểm chiếm diện tích 41.500 ha, tương ứng 83% tổng diện tích hồ tiêu cả nước, gồm các địa phương: Bình Phước: 10 ngàn ha; Đồng Nai: 7 ngàn ha; Bà Rịa-Vũng Tàu: 7 ngàn ha; Đắk Nông: 7 ngàn ha; Gia Lai: 5.500 ha, Đắk Lắk: 5 ngàn ha.

Ngoài vùng trồng hồ tiêu trọng điểm, diện tích 8.500 ha tương ứng 17% diện tích hồ tiêu cả nước, phân phối tại các địa phương như sau: Quảng Trị: 2.200 ha, Bình Thuận: 1.900 ha, Quảng Binh: 1 ngàn ha, Kiên Giang: 500 ha, Phú Yên: 400 ha, Tây Ninh: 400 ha, Bình Dương: 400 ha, Nghệ An: 300 ha, Quảng Nam: 300 ha, Bình Định: 300 ha, Thừa Thiên – Huế: 250 ha, Lâm Đồng: 200 ha, Quảng Ngãi: 100 ha, Kon Tum: 100 ha, TP.Hồ Chí Minh: 50 ha, TP.Đà Nẵng: 30 ha, Khánh Hòa: 30 ha, Hà Tĩnh: 20 ha, An Giang: 20 ha.

Về chế biến hồ tiêu, đầu tư cải tạo nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có, sử dụng hiệu quả thiết bị công nghệ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm; nâng tỷ lệ tiêu chất lượng cao lên khoảng 90%, tỷ lệ tiêu trắng lên 30% và tỷ lệ tiêu nghiền bột lên 25% vào năm 2020.

Cũng theo Quyết định, Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ định hướng quy hoạch ngành hồ tiêu toàn quốc tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh rà soát, xây dựng quy hoạch phát triển hồ tiêu tại địa phương; tổ chức thực hiện phương án quy hoạch được duyệt. Đối với diện tích hồ tiêu già cỗi, thoái hóa cần có kế hoạch trồng tái canh. Hồ tiêu trồng ở những nơi điều kiện sinh thái không thích hợp, hồ tiêu bị nhiễm các bệnh khó phòng trị và không nằm trong vùng quy hoạch được duyệt, cần khuyến khích chuyển sang trồng cây khác theo quy hoạch địa phương./.

Ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững

  • PDF

Ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững

Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát tại Phiên họp giải trình về khoa học - công nghệ trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới (NMT), diễn ra sáng nay (8/4), tại Hà Nội.

Phiên họp do Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, dưới sự chủ trì, điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng.

Phát biểu khai mạc Phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã khẳng định vai trò, vị trí của khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên những tồn tại, thách thức của nông nghiệp Việt Nam trước xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có những giải pháp lâu dài cũng như trước mắt phù hợp để từng bước phát triển hiệu quả, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: Phiên họp giải trình lần này là cơ hội để Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cùng Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, một số bộ, ngành liên quan giải đáp các thắc mắc của đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước liên quan tới nội dung khoa học – công nghệ, phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM.

Giải trình về các nội dung liên quan, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã trả lời chất vấn, tập trung vào việc tổ chức thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại vào phát triển nông nghiệp; chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản; xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam; đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ chăn nuôi trong nước (cây ngô, cây đậu tương); vấn đề cây trồng biến đổi gen, quản lý các loại vật tư nông nghiệp, gia tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng cường sức cạnh tranh và nâng cao đời sống của người nông dân...

Thống kê hiện nay cho thấy, nông nghiệp chiếm 47,5% tỷ trọng sản xuất với hơn 22 triệu lao động, trong đó có tới 10 triệu nông hộ với tổng diện tích đất nông nghiệp xấp xỉ 700.000ha. Đây là một thuận lợi và cũng là thách thức của ngành Nông nghiệp nước ta trong hội nhập ngày càng sâu rộng. Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, những năm qua, Đảng và Nhà nước cũng quan tâm đặc biệt phát triển tiềm năng sẵn có trong nông nghiệp, nhưng ngành Nông nghiệp vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng (tăng mạnh về số lượng, sản lượng cây trồng, vật nuôi). Đơn cử, năm 2013, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam đạt 28 tỉ USD, là một trong 15 nước xuất khẩu nông sản hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, do phát triển theo chiều rộng nên hiệu quả đối với nông dân và đất nước còn hạn chế và không được như mong đợi. Thực tế này đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh sang phát triển theo chiều sâu (nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng nông sản).

 
Trả lời chất vấn của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội), Huỳnh Minh Hoàng (Cà Mau), Bộ NN&PTNT cho rằng, việc phát triển nông nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn phải hướng tới đảm bảo đời sống, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Do đó, Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đã xác định, khoa học – công nghệ là khâu then chốt để nâng cao chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản nước ta. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp, đó là: Sản xuất nông nghiệp phải hướng tới sản xuất hàng hóa, có khả năng cạnh tranh quốc tế với các sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao trong từng sản phẩm.
 
 Cũng theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, đã đến lúc phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, chuyển từ sản xuất dựa trên phát huy khả năng hộ nông dân là chính, sang tổ chức lại liên kết nông dân – doanh nghiệp – các đối tác kinh tế, hình thành chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ nhằm phục vụ sản xuất ổn định và phân phối lợi ích công bằng hơn.

 Bộ trưởng Cao Đức Phát chỉ ra, cần chọn lựa những cây trồng, vật nuôi nông nghiệp mà Việt Nam có lợi thế để phát triển và gia tăng giá trị, xây dựng thành thương hiệu, như: Trong lĩnh vực thủy sản, hiện nay, ngành tập trung vào cá tra, tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) để có những rà soát, quy hoạch, huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nghiên cứu đưa ra mô hình cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện, yêu cầu của từng vùng, từng loài cũng như nâng cao năng lực của các Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học để phát triển các loại giống chất lượng cao.

Giải đáp thắc mắc của các đại biểu: Trần Xuân Hùng (Hà Nam), Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình), Nguyễn Bắc Việt (Ninh Thuận) về bất cập của ngành chăn nuôi hiện nay, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng: Trong điều kiện thực tế hiện tại, một mặt, duy trì phát triển chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Nhưng mặt khác, khuyến khích phát triển chăn nuôi lớn, tập trung, từng bước chuyển từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, phát triển khoa học – kỹ thuật tiến bộ, trong đó, tập trung nghiên cứu chọn, tạo và phổ biến, hướng dẫn tới bà con nông dân những giống vật nuôi có lợi thế của Việt Nam.

 Để khắc phục tình trạng nhập khẩu chủ yếu nguồn thức ăn chăn nuôi hiện nay, Bộ NN&PTNT cũng đang xây dựng phương án và thực tế, đã triển khai phát triển nhanh hơn sản xuất ngô và đậu tương có khả năng cạnh tranh, chú ý tới cây trồng biến đổi gen, tận dụng thành tựu khoa học của thế giới để tạo ra nguồn thức ăn chăn nuôi năng suất, chất lượng …

Ngoài ra, các nội dung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo lực lượng nông dân mới có trình độ khoa học – công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng được Bộ quan tâm, chú ý triển khai.

Liên quan tới công tác khuyến nông, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết: Hiện nay, hệ thống khuyến nông bao phủ 80% số xã với lực lượng 39.000 người, có nhiều đóng góp lớn trong phát triển nông nghiệp, nhưng cũng còn nhiều tồn tại. Do đó, tới đây, Bộ cũng chỉ đạo rà soát lại các tổ chức khuyến nông, tập trung triển khai hoạt động hướng vào các mục tiêu chính của từng địa phương, nâng cao chất lượng mà không chạy theo số lượng. Đặc biệt, sẽ rà soát, điều chỉnh lại cơ chế, chính sách để lực lượng làm công tác khuyến nông gắn bó, bám sát hơn với các nội dung hoạt động, cũng như gắn kết mật thiết với bà con nông dân./.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Nông nghiệp: tăng sản lượng "vượt" thách thức

  • PDF

Nông nghiệp: tăng sản lượng "vượt" thách thức
Trần Quân - STINFO Số 10/2013.

Thế giới sẽ no đủ trong nhiều thập niên sắp đến nếu đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ không chỉ ở những nước tiên tiến mà ở khắp mọi nơi.

Julian Cribb, trong cuốn “The coming famine” - tạm dịch là nạn đói đang đến, năm 2010 đã tiên đoán rằng dù những cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào 2007-2008 chưa gây nạn đói nhưng lại là mối nguy hết sức to lớn của hành tinh, thậm chí còn khẩn cấp hơn cả nguy cơ biến đổi khí hậu. Nhà môi trường học Lester Brown trong cuốn “Full Planet, Empty Plates” - Hành tinh no nê, hành tinh đói kém, năm 2012 cũng đã nói rằng thế giới đang chuyển từ kỷ nguyên tràn trề lương thực sang thời khan hiếm. Từ năm 1968, trong cuốn “Population bomb” - Bom dân số, Paul R. Ehrlich từng cho rằng vào những năm 1970 hàng triệu người sẽ chết đói. Thực ra Ehrlich cũng chỉ “ăn theo” nhà kinh tế học lừng danh Thomas Malthus từ hai thế kỷ trước từng cảnh báo tình trạng dân số tăng theo cấp số nhân trong khi lương thực chỉ tăng theo cấp số cộng sẽ dẫn đến nạn đói, dịch bệnh và chiến tranh.

Điều đó đã không xảy ra và cũng sẽ không xảy ra trong tương lai gần mặc cho những cảnh báo bi quan về lương thực hiện nay. Có hai nguyên nhân chính: nông dân “cày” nhiều đất đai hơn và quan trọng hơn là đang“vắt” được nhiều lương thực hơn từ đó. Từ 1800 đến 1950, diện tích đất canh tác tăng khá tương đồng với tốc độ tăng dân số, nhưng từ 1950, tính trên đầu người, diện tích giảm mất một nửa trong khi lương thực tăng khoảng 30%. Mặt khác, hệ thống thương mại thế giới đã hết sức rộng mở để đưa lương thực từ những vùng dư thừa đến vùng thiếu hụt.

Tuy nhiên, năm 2001, giá lương thực thế giới đã tăng do một số biến động. Nguyên nhân là từ 1990, tốc độ tăng năng suất qua từng năm của những loại ngũ cốc chính như lúa mì và gạo đã giảm nhưng những nguyên nhân quan trọng hơn là do gia tăng nhu cầu lương thực của những nước phát triển mạnh như Trung Quốc và việc sử dụng hạt có dầu để sản xuất nhiên liệu sinh học. Dù vậy, chúng ta có những lý do thuyết phục để tin rằng sản xuất lương thực sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong ít nhất là vài thập niên nữa, tương ứng với thời gian dân số thế giới dự kiến đạt khoảng 10 tỉ.

Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ

Chắc bạn cũng biết rằng sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào khoa học và công nghệ nhưng có thể không rõ phụ thuộc như thế nào, mức độ ra sao. Đầu thế kỷ 20, thực chất của bất kỳ sự gia tăng sản lượng lương thực nào cũng là do tăng thêm những vùng đất canh tác mới. Cuối thế kỷ 20, hầu hết sự gia tăng sản lượng là do cải tiến về giống, hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tự động hóa và kỹ năng quản lý, tất cả từ thành quả nghiên cứu.

Điển hình là khám phá di truyền gen của vị tu sĩ người Áo Gregor Mendel giữa thế kỷ 19 và quy trình cố định đạm từ không khí của Haber-Bosch ở Đức đầu những năm 1900. Thiếu đạm là điểm khống chế quan trọng nhất đối với năng suất cây trồng và nếu loại trừ được điều đó sẽ tạo ra lượng lương thực nhiều hơn hẵn dù số lượng lao động và diện tích đất không đổi. Việc sử dụng phân đạm tổng hợp phát triển nhanh chóng, đặc biệt là sau Thế chiến thứ II vì nhiều nhà máy sản xuất đạn dược được chuyển qua sản xuất phân bón và các nhà khoa học đã tận dụng tiến bộ này bằng cách áp dụng những phát kiến của Mendel để lai tạo những giống cây trồng đáp ứng với liều lượng phân bón cao hơn. Trong đó có cả những giống bắp lai trồng với mật độ dày hơn; lúa, lúa mì “bán lùn” cho nhiều hạt hơn thay vì phát triển thân nhờ tăng khả năng hấp thụ đạm. Sự kết hợp này đã làm bùng nổ cuộc các mạng xanh vào khoảng những năm 1940 ở Bắc Mỹ và những năm 1960 tại các nước đang phát triển.

Để đẩy nhanh việc áp dụng những quy trình mới, chính phủ phải cung cấp những chương trình huấn luyện nông dân về phương pháp canh tác mới, cấp tín dụng để giúp họ đầu tư công nghệ mới và cơ sở hạ tầng như đường xá, điện nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường cũng như chất lượng cuộc sống. Thành quả cho những nỗ lực này cũng sẽ rất to lớn. Ví dụ, Trung Quốc đã gia tăng mạnh mẽ sản lượng khi chuyển những nông trang tập thể thành những trang trại gia đình giúp nông dân trực tiếp hưởng lợi nhiều hơn và đầu tư dài hạn vào các hệ thống tưới tiêu và bảo vệ đất v.v. ..Những thành quả như vậy ở các nước đang phát triển có ý nghĩa sống còn vì đang đóng góp 2/3 sản lượng nông nghiệp toàn cầu so với 42% vào năm 1961.

Quan trọng là TFP

Năng suất nông nghiệp thường được tính theo sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích hay nhân công. Mức năng suất cao nhất ở vài nước châu Á với tổng sản lượng thu hoạch của cây trồng và vật nuôi trên mỗi hecta gấp tám lần của Mỹ do nền nông nghiệp thâm canh với rất nhiều lao động, vốn và phân bón cũng như thu hoạch nhiều vụ trên mỗi hecta. Tuy vậy, năng suất cao nhất trên mỗi lao động là ở Bắc Mỹ nhờ áp dụng công nghệ để một nông dân có thể canh tác rất nhiều đất. 

Tuy nhiên, không phải để tăng năng suất thì chỉ cần ném vào đó nhiều tài nguyên hơn như tăng phân bón, hóa chất, máy móc và năng lượng; nên nhớ là sản xuất nhiều hơn nghĩa là phải chi phí nhiều hơn. Vấn đề là làm thế nào để thu được nhiều hơn với tổ hợp những yếu tố cho sẵn gồm đất, lao động, vốn, vật tư – chúng ta gọi đó là năng suất tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity). TFP tăng là sự phản ánh của những cải tiến về công nghệ và quản lý, đó thực sự là câu chuyện về khả năng biết cách thu được nhiều hơn dù đầu tư ít hơn.

Việc đo lường TFP đòi hỏi phải có dữ liệu chính xác về những gì mà người nông dân sản xuất và những gì họ dùng để sản xuất. Nó còn đòi hỏi phải có phương pháp hữu hiệu để tổng hợp mọi yếu tố đầu vào và đầu ra, vì một yếu tố đầu vào tăng giá có thể khiến nông dân giảm sử dụng và chuyển sang một số yếu tố khác. Mãi đến gần đây chúng ta mới có thể đưa mọi thứ vào mô hình tăng trưởng TFP nông nghiệp cho toàn thế giới. Kết quả rất đáng khích lệ, tính trên toàn cầu, tốc độ tăng năng suất đang gia tăng và hầu hết có nguồn gốc từ những cải thiện năng suất của các nước đang phát triển. Hiện nay, những nước này có thành quả tính theo TFP cũng ngang với những nước phát triển vào những năm 1960 và cũng đang bắt kịp mức năng suất của những nước công nghiệp hóa. 

Tin tốt là sản lượng nông nghiệp toàn cầu đã tăng gần gấp ba lần từ 1961 đến 2009. Tin còn tốt hơn nữa là chỉ khoảng 60% của sự cải thiện này là do sử dụng nhiều đất đai, lao động, vốn, vật tư hơn. Phần còn lại là do cải thiện trong TFP. Trong vòng 48 năm qua, đóng góp của TFP đã gia tăng và ở thập kỷ kết thúc vào năm 2009 đóng góp khoảng ¾ mức tăng hàng năm của nguồn cung lương thực thế giới.

Theo thời gian, nông dân đã tăng TFP bằng cách áp dụng chính xác hơn các yếu tố đầu vào như dùng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để gieo hạt và bón phân; hệ thống tưới tiêu dạng phun hay nhỏ giọt cần lượng nước ít hơn trước nhiều; thuốc trừ sâu cần liều lượng thấp hơn hẵn và chỉ dùng khi các mô hình máy tính tiên đoán cây trồng đang gặp nguy cơ v.v...  

 Tiềm năng tăng trưởng đã hết?

Nhiều chuyên gia nghĩ rằng những công nghệ đã được khẳng định trong nông nghiệp gần như đạt tới giới hạn. Nhưng những người lạc quan không cho là vậy. Nếu nhìn vào các nước đã công nghiệp hóa, chúng ta thấy đang có cách kết hợp mới giữa công nghệ sinh học, di truyền gen và công nghệ thông tin để giúp các nhà khoa học nông nghiệp phát triển công nghệ nhanh hơn và trên phạm vi rộng lớn hơn. Đó có thể là công nghệ biến đổi gen gây tranh cãi trên cây trồng và vật nuôi hay là những câu chuyện lớn hơn khi các nhà khoa học tìm ra sức sống mới cho những kỹ thuật cũ về lai tạo giống.

Tuy nhiên, lý do chính của sự lạc quan này là những bằng chứng cho thấy nhiều nước đang phát triển, nơi đang tạo ra khoảng 2/3 tổng sản lượng nông nghiệp toàn cầu, cũng đã nghiêm túc thực hiện những nghiên cứu của riêng mình, đặc biệt là những nơi có năng suất đất và lao động thấp. Khi những khu vực này đạt tốc độ tăng trưởng TFP hàng năm khoảng 2% đã thực sự tạo ra sự thay đổi tầm mức toàn cầu. Điều kỳ diệu nằm ở chỗ là tốc độ tăng trưởng hàng năm 1% sẽ tăng gấp đôi sản lượng trong 70 năm; tốc độ 2% sẽ tăng gấp đôi sản lượng trong 35 năm. Cải tiến của những nước đang phát triển để tăng sản lượng hàng năm chính là cách sử dụng tài nguyên, nên nếu họ đầu tư thêm tài nguyên thì mức tăng sản lượng có thể đạt hơn 3%/năm, nghĩa là tổng sản lượng sẽ tăng gấp đôi chỉ sau 23 năm.

Những điển hình phát triển là Trung Quốc, Brazil, Đông Nam Á, châu Mỹ La Tinh, Đông Âu v.v. Chỉ có vùng hạ Sahara của châu Phi là thất bại khi một số phân tích cho thấy đâu tư đất đai, lao động, vốn chỉ tăng khoảng 1% mỗi năm.

Tay làm hàm nhai

Đặc điểm nổi bật của những nước thành công nhất là gì? Có nhiều yếu tố nhưng rõ nhất là hai điểm: những viện nghiên cứu quốc gia và chính sách khích lệ, tăng cường mạnh mẽ khả năng tiếp cận thị trường của nông dân.

Tiến bộ nông nghiệp không như những lĩnh vực khác. Một chiếc xe “lai” có thể xuất xưởng ở Nhật và ngay sau đó chạy trên đường phố ở Hà Nội, nhưng những cải tiến nông nghiệp thì phải được “đóng ni, đo giày” theo từng người sử dụng. Cây trồng phải được lai tạo riêng cho từng vùng khí hậu, chiều dài ngày, loại đất trồng cũng như khả năng kháng sâu bệnh địa phương. Đó là lý do tại sao những nước đang phát triển đang nghiêm túc thực hiện những nghiên cứu nông nghiệp của chính mình.

Công nghệ nông nghiệp không giống với những ngành khác là cần phải đi trước thiên nhiên một bước. Côn trùng gây hại cây trồng và bệnh vật nuôi tiến hóa rất nhanh về khả năng kháng lại bất kỳ biện pháp kiểm soát nào của con người. Giờ đây không chỉ côn trùng gây hại đang thay đổi mà cả chính khí hậu cũng vậy. Điều này thực sự đe dọa nông nghiệp, đặc biệt là sau 2050 nếu mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu không bị khống chế. Việc nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp nông dân thích ứng với những thay đổi không chỉ về mặt cải tiến mà còn cả việc giữ được năng suất.

Lo lắng nhưng lạc quan

Những vùng đang tụt hậu so với các tiến bộ nông nghiệp như hạ Sahara châu Phi có thể học theo gương như của Brazil và Trung Quốc để khai thác kiến thức chuyên môn quốc tế, đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu của địa phương, thực hiện những cải cách quan trọng về chính sách và định chế, nhờ đó đẩy mạnh tức thời năng suất nông nghiệp.

Không có cải tiến nào về chế tạo, dược phẩm, dịch vụ, truyền thông hay giao thông có thể mang lại điều tốt đẹp là cuộc sống ấm no hơn cho hơn một nửa dân số thế giới lạc hậu thông qua việc tăng năng suất nông nghiệp, chúng ta cần luôn nhớ điều này.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module