Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững

  • PDF

Ngành Nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững

Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát tại Phiên họp giải trình về khoa học - công nghệ trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới (NMT), diễn ra sáng nay (8/4), tại Hà Nội.

Phiên họp do Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, dưới sự chủ trì, điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng.

Phát biểu khai mạc Phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã khẳng định vai trò, vị trí của khoa học – công nghệ trong phát triển nông nghiệp giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên những tồn tại, thách thức của nông nghiệp Việt Nam trước xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có những giải pháp lâu dài cũng như trước mắt phù hợp để từng bước phát triển hiệu quả, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: Phiên họp giải trình lần này là cơ hội để Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cùng Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, một số bộ, ngành liên quan giải đáp các thắc mắc của đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước liên quan tới nội dung khoa học – công nghệ, phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM.

Giải trình về các nội dung liên quan, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đã trả lời chất vấn, tập trung vào việc tổ chức thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại vào phát triển nông nghiệp; chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản; xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam; đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ chăn nuôi trong nước (cây ngô, cây đậu tương); vấn đề cây trồng biến đổi gen, quản lý các loại vật tư nông nghiệp, gia tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng cường sức cạnh tranh và nâng cao đời sống của người nông dân...

Thống kê hiện nay cho thấy, nông nghiệp chiếm 47,5% tỷ trọng sản xuất với hơn 22 triệu lao động, trong đó có tới 10 triệu nông hộ với tổng diện tích đất nông nghiệp xấp xỉ 700.000ha. Đây là một thuận lợi và cũng là thách thức của ngành Nông nghiệp nước ta trong hội nhập ngày càng sâu rộng. Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, những năm qua, Đảng và Nhà nước cũng quan tâm đặc biệt phát triển tiềm năng sẵn có trong nông nghiệp, nhưng ngành Nông nghiệp vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng (tăng mạnh về số lượng, sản lượng cây trồng, vật nuôi). Đơn cử, năm 2013, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam đạt 28 tỉ USD, là một trong 15 nước xuất khẩu nông sản hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, do phát triển theo chiều rộng nên hiệu quả đối với nông dân và đất nước còn hạn chế và không được như mong đợi. Thực tế này đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh sang phát triển theo chiều sâu (nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng nông sản).

 
Trả lời chất vấn của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội), Huỳnh Minh Hoàng (Cà Mau), Bộ NN&PTNT cho rằng, việc phát triển nông nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn phải hướng tới đảm bảo đời sống, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Do đó, Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đã xác định, khoa học – công nghệ là khâu then chốt để nâng cao chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản nước ta. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp, đó là: Sản xuất nông nghiệp phải hướng tới sản xuất hàng hóa, có khả năng cạnh tranh quốc tế với các sản phẩm nông nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao trong từng sản phẩm.
 
 Cũng theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, đã đến lúc phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, chuyển từ sản xuất dựa trên phát huy khả năng hộ nông dân là chính, sang tổ chức lại liên kết nông dân – doanh nghiệp – các đối tác kinh tế, hình thành chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ nhằm phục vụ sản xuất ổn định và phân phối lợi ích công bằng hơn.

 Bộ trưởng Cao Đức Phát chỉ ra, cần chọn lựa những cây trồng, vật nuôi nông nghiệp mà Việt Nam có lợi thế để phát triển và gia tăng giá trị, xây dựng thành thương hiệu, như: Trong lĩnh vực thủy sản, hiện nay, ngành tập trung vào cá tra, tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) để có những rà soát, quy hoạch, huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nghiên cứu đưa ra mô hình cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện, yêu cầu của từng vùng, từng loài cũng như nâng cao năng lực của các Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học để phát triển các loại giống chất lượng cao.

Giải đáp thắc mắc của các đại biểu: Trần Xuân Hùng (Hà Nam), Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình), Nguyễn Bắc Việt (Ninh Thuận) về bất cập của ngành chăn nuôi hiện nay, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng: Trong điều kiện thực tế hiện tại, một mặt, duy trì phát triển chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Nhưng mặt khác, khuyến khích phát triển chăn nuôi lớn, tập trung, từng bước chuyển từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, phát triển khoa học – kỹ thuật tiến bộ, trong đó, tập trung nghiên cứu chọn, tạo và phổ biến, hướng dẫn tới bà con nông dân những giống vật nuôi có lợi thế của Việt Nam.

 Để khắc phục tình trạng nhập khẩu chủ yếu nguồn thức ăn chăn nuôi hiện nay, Bộ NN&PTNT cũng đang xây dựng phương án và thực tế, đã triển khai phát triển nhanh hơn sản xuất ngô và đậu tương có khả năng cạnh tranh, chú ý tới cây trồng biến đổi gen, tận dụng thành tựu khoa học của thế giới để tạo ra nguồn thức ăn chăn nuôi năng suất, chất lượng …

Ngoài ra, các nội dung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo lực lượng nông dân mới có trình độ khoa học – công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng được Bộ quan tâm, chú ý triển khai.

Liên quan tới công tác khuyến nông, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết: Hiện nay, hệ thống khuyến nông bao phủ 80% số xã với lực lượng 39.000 người, có nhiều đóng góp lớn trong phát triển nông nghiệp, nhưng cũng còn nhiều tồn tại. Do đó, tới đây, Bộ cũng chỉ đạo rà soát lại các tổ chức khuyến nông, tập trung triển khai hoạt động hướng vào các mục tiêu chính của từng địa phương, nâng cao chất lượng mà không chạy theo số lượng. Đặc biệt, sẽ rà soát, điều chỉnh lại cơ chế, chính sách để lực lượng làm công tác khuyến nông gắn bó, bám sát hơn với các nội dung hoạt động, cũng như gắn kết mật thiết với bà con nông dân./.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Sản phẩm công nghệ giúp người nông dân vượt qua những khó khăn khi sản xuất quy mô nhỏ

  • PDF

Công nghệ sinh học giúp người nông dân vượt qua những khó khăn khi sản xuất quy mô nhỏ
NMT - MARD, Theo FAO.

 

FAO đang kêu gọi các nỗ lực quốc gia và quốc tế lớn hơn trong việc đưa công nghệ sinh học nông nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nhỏ ở các nước đang phát triển. Ấn phẩm mang tựa đề “Công nghệ sinh học cho các nông hộ sản xuất quy mô nhỏ”. Nghiên cứu từ nước đang phát triển trong lĩnh vực cây trồng, vật nuôi và thủy sản khẳng định công nghệ sinh học có thể giúp các hộ gia đình cải thiện sinh kế và an ninh lương thực.

 

Ẫn phẩm về công nghệ sinh học nêu lên 19 trường hợp nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi, thủy sản được viết bởi các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Các bài viết mô tả thực tế và kinh nghiệm thực tế của việc nghiên cứu công nghệ sinh học và áp dụng ở các hộ trồng chuối, sắn, lúa, chăn nuôi gia súc, nuôi tôm quy mô nhỏ tại các nước đang phát triển. Các nghiên cứu chỉ ra một loạt các kỹ thuật công nghệ sinh học được áp dụng, bao gồm các kỹ thuật truyền thống như thụ tinh nhân tạo và lên men, và các kỹ thuật tiên tiến liên quan đến các phương pháp dựa trên DNA nhưng không áp dụng kỹ thuật biến đổi gien. “Với các thể chế và các giải pháp tài chính đúng đắn, các chính phủ, các viện nghiên cứu và các tổ chức có thể hỗ trợ mang lại các giải pháp công nghệ sinh học cho các hộ gia đình nông dân, nâng cao năng lực của người nông dân trong việc ứng phó với những thách thức như biến đổi khí hậu, các dịch bệnh ở thực vật và động vật và sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên”, ông Andrea Sonnino, Giám đốc nghiên cứu của FAO cho biết.
 
Bốn trường hợp nghiên cứu là ở Ấn Độ, hai trường hợp nghiên cứu ở Trung Quốc và mỗi quốc gia sau đều có một trường hợp nghiên cứu là Ác-hen-ti-na, Băng-la-đét, Bra-xin, Ca-mơ-run, Cô-lôm-bi-a, Cu-ba, Gha-na, Ni-giê-ri-a, Nam Phi, Sri Lan-ca, Tanzania và Thái Lan. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng kiến thức về DNA để phát triển một giống lúa chịu lũ lụt ở Ấn Độ với sản lượng tiềm năng cao hơn từ 1-3 tấn mỗi ha so với các giống lúa được sử dụng trước đó trong điều kiện lũ lụt. Sau khi được đưa ra vào năm 2009, giống lúa mới Swarna - Sub1 đã được 3 triệu nông dân sử dụng trong năm 2012. Các giống lúa chịu được ngập úng cung cấp cơ hội để cải thiện và ổn định sản lượng tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, góp phần quan trọng đối với an ninh lương thực quốc gia. Uma Singh và các đồng nghiệp từ Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI ) đã thực hiện nghiên cứu này.
 
Ở Trung Quốc, cá chép Jian đã được lai tạo dựa trên biện pháp chọn lọc di truyền. Cá chép Jian hiện nay được nuôi ở khoảng 160.000 trang trại nuôi cá và chiếm hơn 50% sản lượng cá chép ở Trung Quốc. Ở miền Bắc Cameroon, việc sử dụng các công cụ chẩn đoán dựa trên DNA trong lĩnh vực này cho phép các cơ quan thú y nhanh chóng chẩn đoán sự bùng phát của dịch sốt trên động vật nhai lại, một căn bệnh do virút gây ra rất dễ lây lan ảnh hưởng đến dê và cừu. Việc chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác giúp dập tắt các ổ dịch và ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh gây tử vong cho đàn gia súc khác. “Nếu không có phản ứng nhanh này, hàng ngàn con cừu và dê có khả năng đã chết, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế”, Abel Wade và Abdoulkadiri Souley thuộc Phòng thí nghiệm thú y quốc gia (LANAVET) ở Ca-mơ-run cho biết.
 
Công nghệ sinh học có thể cải thiện cây trồng, sinh kế chăn nuôi và thủy sản bằng cách thúc đẩy năng suất và tăng cường tiếp cận thị trường. Việc giới thiệu công nghệ sinh học mới ở các trang trại gia đình cũng có thể giúp giảm chi phí sản xuất và cải thiện quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Các nghiên cứu đưa ra giúp hỗ trợ hoạch định chính sách trong việc đưa ra quyết định về các chương trình liên quan đến công nghệ sinh học. Tuyên bố của FAO cũng cho thấy quan hệ đối tác quốc tế và quốc gia là rất quan trọng để đạt được các kết quả mong muốn như là chia sẻ các nguồn tài nguyên về mặt di truyền, kỹ thuật và bí quyết qua biên giới quốc gia và lục địa.

 

FOODCROPS. HỌC MỔI NGÀY

Sinh học 2.0: Camera quan sát sự tăng trưởng thực vật

  • PDF

Sinh học 2.0: Camera quan sát sự tăng trưởng thực vật 

Trong 70 năm qua, dân số thế giới đã tăng gấp ba lần, ở mức hơn 7 tỷ người, và nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng gần một độ C. Tăng trưởng dân số và biến đổi khí hậu có liên quan với những thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp hiện đại. Viện công nghệ Karlsruhe (KIT) đã kết hợp ngành khoa học máy tính và sinh học cùng nhau để xác định những gen mà làm cho cây có khả năng kháng nhiều hơn với các yếu tố căng thẳng, chẳng hạn như khô hạn và đất nhiễm mặn.

"Để đối phó với những yêu cầu thay đổi về nông nghiệp, thì việc phát triển các loài cây trồng mới là điều không thể thiếu. Để làm điều này, chúng ta cần một sự hiểu biết tốt hơn về các loại cây trồng quan trọng, chẳng hạn như lúa, được coi là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên toàn thế giới", tiến sĩ Michael Riemann tại Viện KIT, giải thích. Ông đã phát triển hệ thống phân tích sự tăng trưởng của cây mạ, gọi tắt là RiSeGrAn. Bằng cách so sánh các loài khác nhau về mặt di truyền, có thể rút ra kết luận về chức năng của các gen nhất định về mặt khả năng đề kháng với một loạt các yếu tố căng thẳng. Do nghiên cứu tập trung vào các giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của cây giống, nên có thể phân loại các biến dị gen một cách nhanh chóng hơn. Hệ thống sử dụng một máy ảnh hồng ngoại để chụp ảnh cây con phát triển trong bóng tối. "Lúc đầu, cây con phải lớn lên trong bóng tối để chúng trở nên rất nhạy với ánh sáng. Sau đó, chúng ta có thể đo lường hiệu quả của ánh sáng đến cây con", Riemann giải thích. Trong bước tiếp theo, hệ thống đánh giá các bức ảnh một cách tự động.

 

Cài đặt hệ thống RiSeGrAn

Hệ thống được cài đặt trong một chiếc hộp có kích thước gấp 50 cm 50 lần. Bên trong được chiếu sáng bằng 20 đèn LED hồng ngoại. "Cây con thay đổi bề ngoài phụ thuộc vào việc chúng phát triển trong bóng tối hay trong ánh sáng. Tuy nhiên, hệ thống này là để quan sát các loài thực vật và không ảnh hưởng đến chúng. Vì lý do này, các hộp được thiết kế sao cho ánh sáng không đến được cây con", Riemann cho biết. Các cây con được sắp xếp trong một đĩa kín trong môi trường thạch nước, một môi trường dinh dưỡng trong suốt cung cấp nước cho cây con. Để có được thông tin chi tiết về sự phát triển của cây, hệ thống chụp ảnh mỗi tiếng một lần trong khoảng thời gian mười ngày, theo sự kiểm soát của máy tính, chứ không cần phải có một người nhìn vào hộp. Các thuật toán được sử dụng để xác định từ các bức ảnh này độ dài của chồi, độ dài của lá thứ nhất, và độ dài của rễ. Ngoài ra, máy tính còn truyền các hình ảnh này một cách tự động vào máy chủ, và các nhà nghiên cứu có thể xem các bức ảnh này từ đây.

Xem video minh họa cho hệ thống RiSeGrAn tại: http://da-cons.de/uploads/images/videos/RiSeGrAn__description.mp4

"Bằng cách này, chúng tôi có thể khám phá các tính chất chưa được biết của những gen đã được biết. Ví dụ như, chúng tôi có thể đo chính xác các thông số, chẳng hạn như thời gian nảy mầm hoặc sự tăng trưởng của các mô nhất định", Riemann giải thích. "Các số đo của chúng tôi có thể hỗ trợ các nghiên cứu sinh học phân tử, bằng việc xác định các gen mà giúp cho cây có khả năng kháng nhiều hơn với một số yếu tố gây căng thẳng, ví dụ như đất nhiễm mặn".

Dữ liệu mở

Bước tiếp theo, các nhà phát triển dự án RiSeGrAn dự tính sẽ thiết lập một nền tảng Dữ liệu Mở trực tuyến dựa trên các dữ liệu thu thập được. Các nhà khoa học sau đó có thể xuất bản dữ liệu của họ trên nền tảng này. Dữ liệu mở có nghĩa là dữ liệu thô thu được từ các thí nghiệm luôn có sẵn cho các nhà khoa học khác. Các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra kết quả ban đầu hoặc để nghiên cứu dữ liệu để tìm hiểu một số đặc điểm nhất định.

Thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp

  • PDF

Thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp 

Thúc đẩy khu vực tư nhân hợp tác với người nghèo là hết sức cần thiết để người nghèo cải thiện thu nhập. Theo đó, Cơ quan hợp tác và phát triển Thụy Sĩ (SDC) tập trung cải thiện mối quan hệ hợp tác với khu vực tư nhân để mang lại lợi ích bền vững cho các cộng đồng nông thôn còn đang trong tình trạng nghèo dai dẳng ở Việt Nam.

Đó là nhận định của ông Samuel Waelty, Giám đốc quốc gia của SDC vừa cho biết tại Hội thảo về thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo nằm trong khuôn khổ hoạt động chương trình “Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho người nghèo nông thôn thông qua phát triển chuỗi giá trị“ (gọi tắt là MARP) do chính phủ Thụy Sĩ tài trợ.

Theo Giám đốc Samuel Waelty, nông thôn là thị trường có nhiều rủi ro, chi phí giao dịch lớn và thiếu những liên kết thị trường bền vững, do đó huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân cho phát triển bền vững vì người nghèo vẫn là một thách thức.

“Những chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của quốc tế và Việt Nam ngày hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm ra giải pháp tốt nhất để hợp tác với khu vực tư nhân nhằm tăng thu nhập bền vững cho người nghèo ở vùng nông thôn và bản thân khu vực tư nhân,” ông Samuel Waelty nhấn mạnh.

Chia sẻ kinh nghiệm của mình ông Javier Ayala, Giám đốc điều hành Quỹ thách thức doanh nghiệp Việt Nam cho rằng, kinh doanh cùng người thu nhập thấp (IB) là mô hình kinh doanh huy động nhóm thu nhập thấp trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp với vai trò là nhà cung ứng, khách hàng, nhà phân phối và công nhân bằng cách tạo ra các giá trị chia sẻ.

Mặt khác, kinh doanh cùng người thu nhập thấp bằng cách hỗ trợ nông dân quy mô nhỏ là cách hiệu quả nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo, bởi 70% lương thực thế giới sản xuất bởi nông dân quy mô nhỏ.

Ông Javier Ayala nêu rõ, những chuỗi giá trị có sự tham gia giữa doanh nghiệp và những đối tượng có thu nhập thấp đã tạo ra những lợi ích đáng kể như công ty ngành chè đã góp phần tăng thu nhập cho người thu nhập thấp lên 60% (trước đó chỉ 0,5 USD/ngày) cho ít nhất 800 nông hộ (giai đoạn thử nghiệm, tiềm năng cho hơn 2.000 hộ). Năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, các hợp đồng thương mại bền vững.

Theo đó, các doanh nghiệp tham gia cũng có lợi nhuận tăng trên 50% và cung ứng chè chất lượng cao, ổn định, cải thiện tiếp cận các thị trường mới đối với chè tự nhiên chất lượng cao, cải thiện mối quan hệ với chính quyền địa phương.

Ông Samuel Waelty cũng cho biết, chương trình MARP khởi động vào tháng 7 năm 2013 với tổng ngân sách là 5,2 triệu USD nhằm hỗ trợ cho các dự án và các tổ chức, chủ yếu tại Việt Nam và một phần tại Lào và Myanmar. Mục tiêu của chương trình là hỗ trợ các hộ gia đình nông thôn nghèo tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp phù hợp để tăng thu nhập.

Đánh giá kết quả sau 10 tháng triển khai chương trình MARP đến nay, ông Samuel Waelty nhấn mạnh chương trình đã được triển khai tại 8 tỉnh ở Việt Nam với tám chuỗi giá trị nông nghiệp là: chè, mây, tre, vải lụa, vải thổ cẩm, thảo quả, quế và hồi. Hiện, MARP đã tiếp cận được 6.870 hộ gia đình tại 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong đó 90% là người dân tộc thiểu số, 32% người hưởng lợi là phụ nữ./.

Liên Hiệp Quốc công bố Báo cáo về tình hình thời tiết trong năm 2013

  • PDF

Liên Hiệp Quốc công bố Báo cáo về tình hình thời tiết trong năm 2013
N.T.T - VISTA

 

Ngày 13/11/2013, Liên Hiệp Quốc đã công bố Báo cáo về tình hình thời tiết 2013 với những cảnh báo nghiêm trọng về khí hậu thế giới. Báo cáo cho biết, năm 2013 là một năm chứng kiến nhiều hiện tượng thời tiết diễn biến bất thường và khắc nghiệt, với nhiều cơn bão lớn, điển hình là cơn bão Haiyan tàn phá Philipin.

 

Báo cáo cho biết, những số liệu tạm thời được Tổ chức Thời tiết Thế giới (OMM) công bố năm 2013 đang trở thành một trong mười năm nóng nhất kể từ năm 1850. Ngoài ra, mực nước biển dâng cũng ở mức cao kỷ lục. Các chuyên gia của cơ quan chuyên trách về khí hậu của Liên Hiệp Quốc cảnh báo, mực nước biển trung bình đến tháng 3/2013 đã đạt kỷ lục, tăng 3,2 mm/năm, gấp đôi với số liệu ghi được trong thế kỷ 20 là 1,6 mm/năm. Nhiệt độ trung bình trong năm cũng đạt mức cao nhất. Hầu hết các vùng trên Trái đất đều có nhiệt độ cao hơn mức trung bình, đặc biệt trong  các khu vực như Ôxtrâylia, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Bắc Phi. Trong 9 tháng đầu năm 2013 cũng được ghi nhận nóng hơn thời gian tương ứng ở các năm 2011 và 2012.

 

Ông Michel Jarraud, Tổng thư ký của OMM, cho biết, mực nước biển sẽ còn tiếp tục tăng do băng tan chảy. Hơn 90% lượng nhiệt bắt nguồn từ khí gây hiệu ứng nhà kính vẫn được đại dương hấp thụ. Chính vì thế mà nước biển sẽ ấm lên làm đại dương giãn nở ra trong hàng trăm năm. Ngoài ra, hàm lượng CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính đã đạt mức đỉnh năm 2012 và trong năm 2013 con số này sẽ còn đạt mức kỷ lục mới. Điều này cho thấy khí hậu thế giới còn nóng hơn nữa trong tương lai.

 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Nông nghiệp: tăng sản lượng "vượt" thách thức

  • PDF

Nông nghiệp: tăng sản lượng "vượt" thách thức
Trần Quân - STINFO Số 10/2013.

Thế giới sẽ no đủ trong nhiều thập niên sắp đến nếu đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ không chỉ ở những nước tiên tiến mà ở khắp mọi nơi.

Julian Cribb, trong cuốn “The coming famine” - tạm dịch là nạn đói đang đến, năm 2010 đã tiên đoán rằng dù những cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào 2007-2008 chưa gây nạn đói nhưng lại là mối nguy hết sức to lớn của hành tinh, thậm chí còn khẩn cấp hơn cả nguy cơ biến đổi khí hậu. Nhà môi trường học Lester Brown trong cuốn “Full Planet, Empty Plates” - Hành tinh no nê, hành tinh đói kém, năm 2012 cũng đã nói rằng thế giới đang chuyển từ kỷ nguyên tràn trề lương thực sang thời khan hiếm. Từ năm 1968, trong cuốn “Population bomb” - Bom dân số, Paul R. Ehrlich từng cho rằng vào những năm 1970 hàng triệu người sẽ chết đói. Thực ra Ehrlich cũng chỉ “ăn theo” nhà kinh tế học lừng danh Thomas Malthus từ hai thế kỷ trước từng cảnh báo tình trạng dân số tăng theo cấp số nhân trong khi lương thực chỉ tăng theo cấp số cộng sẽ dẫn đến nạn đói, dịch bệnh và chiến tranh.

Điều đó đã không xảy ra và cũng sẽ không xảy ra trong tương lai gần mặc cho những cảnh báo bi quan về lương thực hiện nay. Có hai nguyên nhân chính: nông dân “cày” nhiều đất đai hơn và quan trọng hơn là đang“vắt” được nhiều lương thực hơn từ đó. Từ 1800 đến 1950, diện tích đất canh tác tăng khá tương đồng với tốc độ tăng dân số, nhưng từ 1950, tính trên đầu người, diện tích giảm mất một nửa trong khi lương thực tăng khoảng 30%. Mặt khác, hệ thống thương mại thế giới đã hết sức rộng mở để đưa lương thực từ những vùng dư thừa đến vùng thiếu hụt.

Tuy nhiên, năm 2001, giá lương thực thế giới đã tăng do một số biến động. Nguyên nhân là từ 1990, tốc độ tăng năng suất qua từng năm của những loại ngũ cốc chính như lúa mì và gạo đã giảm nhưng những nguyên nhân quan trọng hơn là do gia tăng nhu cầu lương thực của những nước phát triển mạnh như Trung Quốc và việc sử dụng hạt có dầu để sản xuất nhiên liệu sinh học. Dù vậy, chúng ta có những lý do thuyết phục để tin rằng sản xuất lương thực sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong ít nhất là vài thập niên nữa, tương ứng với thời gian dân số thế giới dự kiến đạt khoảng 10 tỉ.

Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ

Chắc bạn cũng biết rằng sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào khoa học và công nghệ nhưng có thể không rõ phụ thuộc như thế nào, mức độ ra sao. Đầu thế kỷ 20, thực chất của bất kỳ sự gia tăng sản lượng lương thực nào cũng là do tăng thêm những vùng đất canh tác mới. Cuối thế kỷ 20, hầu hết sự gia tăng sản lượng là do cải tiến về giống, hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tự động hóa và kỹ năng quản lý, tất cả từ thành quả nghiên cứu.

Điển hình là khám phá di truyền gen của vị tu sĩ người Áo Gregor Mendel giữa thế kỷ 19 và quy trình cố định đạm từ không khí của Haber-Bosch ở Đức đầu những năm 1900. Thiếu đạm là điểm khống chế quan trọng nhất đối với năng suất cây trồng và nếu loại trừ được điều đó sẽ tạo ra lượng lương thực nhiều hơn hẵn dù số lượng lao động và diện tích đất không đổi. Việc sử dụng phân đạm tổng hợp phát triển nhanh chóng, đặc biệt là sau Thế chiến thứ II vì nhiều nhà máy sản xuất đạn dược được chuyển qua sản xuất phân bón và các nhà khoa học đã tận dụng tiến bộ này bằng cách áp dụng những phát kiến của Mendel để lai tạo những giống cây trồng đáp ứng với liều lượng phân bón cao hơn. Trong đó có cả những giống bắp lai trồng với mật độ dày hơn; lúa, lúa mì “bán lùn” cho nhiều hạt hơn thay vì phát triển thân nhờ tăng khả năng hấp thụ đạm. Sự kết hợp này đã làm bùng nổ cuộc các mạng xanh vào khoảng những năm 1940 ở Bắc Mỹ và những năm 1960 tại các nước đang phát triển.

Để đẩy nhanh việc áp dụng những quy trình mới, chính phủ phải cung cấp những chương trình huấn luyện nông dân về phương pháp canh tác mới, cấp tín dụng để giúp họ đầu tư công nghệ mới và cơ sở hạ tầng như đường xá, điện nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường cũng như chất lượng cuộc sống. Thành quả cho những nỗ lực này cũng sẽ rất to lớn. Ví dụ, Trung Quốc đã gia tăng mạnh mẽ sản lượng khi chuyển những nông trang tập thể thành những trang trại gia đình giúp nông dân trực tiếp hưởng lợi nhiều hơn và đầu tư dài hạn vào các hệ thống tưới tiêu và bảo vệ đất v.v. ..Những thành quả như vậy ở các nước đang phát triển có ý nghĩa sống còn vì đang đóng góp 2/3 sản lượng nông nghiệp toàn cầu so với 42% vào năm 1961.

Quan trọng là TFP

Năng suất nông nghiệp thường được tính theo sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích hay nhân công. Mức năng suất cao nhất ở vài nước châu Á với tổng sản lượng thu hoạch của cây trồng và vật nuôi trên mỗi hecta gấp tám lần của Mỹ do nền nông nghiệp thâm canh với rất nhiều lao động, vốn và phân bón cũng như thu hoạch nhiều vụ trên mỗi hecta. Tuy vậy, năng suất cao nhất trên mỗi lao động là ở Bắc Mỹ nhờ áp dụng công nghệ để một nông dân có thể canh tác rất nhiều đất. 

Tuy nhiên, không phải để tăng năng suất thì chỉ cần ném vào đó nhiều tài nguyên hơn như tăng phân bón, hóa chất, máy móc và năng lượng; nên nhớ là sản xuất nhiều hơn nghĩa là phải chi phí nhiều hơn. Vấn đề là làm thế nào để thu được nhiều hơn với tổ hợp những yếu tố cho sẵn gồm đất, lao động, vốn, vật tư – chúng ta gọi đó là năng suất tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity). TFP tăng là sự phản ánh của những cải tiến về công nghệ và quản lý, đó thực sự là câu chuyện về khả năng biết cách thu được nhiều hơn dù đầu tư ít hơn.

Việc đo lường TFP đòi hỏi phải có dữ liệu chính xác về những gì mà người nông dân sản xuất và những gì họ dùng để sản xuất. Nó còn đòi hỏi phải có phương pháp hữu hiệu để tổng hợp mọi yếu tố đầu vào và đầu ra, vì một yếu tố đầu vào tăng giá có thể khiến nông dân giảm sử dụng và chuyển sang một số yếu tố khác. Mãi đến gần đây chúng ta mới có thể đưa mọi thứ vào mô hình tăng trưởng TFP nông nghiệp cho toàn thế giới. Kết quả rất đáng khích lệ, tính trên toàn cầu, tốc độ tăng năng suất đang gia tăng và hầu hết có nguồn gốc từ những cải thiện năng suất của các nước đang phát triển. Hiện nay, những nước này có thành quả tính theo TFP cũng ngang với những nước phát triển vào những năm 1960 và cũng đang bắt kịp mức năng suất của những nước công nghiệp hóa. 

Tin tốt là sản lượng nông nghiệp toàn cầu đã tăng gần gấp ba lần từ 1961 đến 2009. Tin còn tốt hơn nữa là chỉ khoảng 60% của sự cải thiện này là do sử dụng nhiều đất đai, lao động, vốn, vật tư hơn. Phần còn lại là do cải thiện trong TFP. Trong vòng 48 năm qua, đóng góp của TFP đã gia tăng và ở thập kỷ kết thúc vào năm 2009 đóng góp khoảng ¾ mức tăng hàng năm của nguồn cung lương thực thế giới.

Theo thời gian, nông dân đã tăng TFP bằng cách áp dụng chính xác hơn các yếu tố đầu vào như dùng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để gieo hạt và bón phân; hệ thống tưới tiêu dạng phun hay nhỏ giọt cần lượng nước ít hơn trước nhiều; thuốc trừ sâu cần liều lượng thấp hơn hẵn và chỉ dùng khi các mô hình máy tính tiên đoán cây trồng đang gặp nguy cơ v.v...  

 Tiềm năng tăng trưởng đã hết?

Nhiều chuyên gia nghĩ rằng những công nghệ đã được khẳng định trong nông nghiệp gần như đạt tới giới hạn. Nhưng những người lạc quan không cho là vậy. Nếu nhìn vào các nước đã công nghiệp hóa, chúng ta thấy đang có cách kết hợp mới giữa công nghệ sinh học, di truyền gen và công nghệ thông tin để giúp các nhà khoa học nông nghiệp phát triển công nghệ nhanh hơn và trên phạm vi rộng lớn hơn. Đó có thể là công nghệ biến đổi gen gây tranh cãi trên cây trồng và vật nuôi hay là những câu chuyện lớn hơn khi các nhà khoa học tìm ra sức sống mới cho những kỹ thuật cũ về lai tạo giống.

Tuy nhiên, lý do chính của sự lạc quan này là những bằng chứng cho thấy nhiều nước đang phát triển, nơi đang tạo ra khoảng 2/3 tổng sản lượng nông nghiệp toàn cầu, cũng đã nghiêm túc thực hiện những nghiên cứu của riêng mình, đặc biệt là những nơi có năng suất đất và lao động thấp. Khi những khu vực này đạt tốc độ tăng trưởng TFP hàng năm khoảng 2% đã thực sự tạo ra sự thay đổi tầm mức toàn cầu. Điều kỳ diệu nằm ở chỗ là tốc độ tăng trưởng hàng năm 1% sẽ tăng gấp đôi sản lượng trong 70 năm; tốc độ 2% sẽ tăng gấp đôi sản lượng trong 35 năm. Cải tiến của những nước đang phát triển để tăng sản lượng hàng năm chính là cách sử dụng tài nguyên, nên nếu họ đầu tư thêm tài nguyên thì mức tăng sản lượng có thể đạt hơn 3%/năm, nghĩa là tổng sản lượng sẽ tăng gấp đôi chỉ sau 23 năm.

Những điển hình phát triển là Trung Quốc, Brazil, Đông Nam Á, châu Mỹ La Tinh, Đông Âu v.v. Chỉ có vùng hạ Sahara của châu Phi là thất bại khi một số phân tích cho thấy đâu tư đất đai, lao động, vốn chỉ tăng khoảng 1% mỗi năm.

Tay làm hàm nhai

Đặc điểm nổi bật của những nước thành công nhất là gì? Có nhiều yếu tố nhưng rõ nhất là hai điểm: những viện nghiên cứu quốc gia và chính sách khích lệ, tăng cường mạnh mẽ khả năng tiếp cận thị trường của nông dân.

Tiến bộ nông nghiệp không như những lĩnh vực khác. Một chiếc xe “lai” có thể xuất xưởng ở Nhật và ngay sau đó chạy trên đường phố ở Hà Nội, nhưng những cải tiến nông nghiệp thì phải được “đóng ni, đo giày” theo từng người sử dụng. Cây trồng phải được lai tạo riêng cho từng vùng khí hậu, chiều dài ngày, loại đất trồng cũng như khả năng kháng sâu bệnh địa phương. Đó là lý do tại sao những nước đang phát triển đang nghiêm túc thực hiện những nghiên cứu nông nghiệp của chính mình.

Công nghệ nông nghiệp không giống với những ngành khác là cần phải đi trước thiên nhiên một bước. Côn trùng gây hại cây trồng và bệnh vật nuôi tiến hóa rất nhanh về khả năng kháng lại bất kỳ biện pháp kiểm soát nào của con người. Giờ đây không chỉ côn trùng gây hại đang thay đổi mà cả chính khí hậu cũng vậy. Điều này thực sự đe dọa nông nghiệp, đặc biệt là sau 2050 nếu mức khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu không bị khống chế. Việc nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp nông dân thích ứng với những thay đổi không chỉ về mặt cải tiến mà còn cả việc giữ được năng suất.

Lo lắng nhưng lạc quan

Những vùng đang tụt hậu so với các tiến bộ nông nghiệp như hạ Sahara châu Phi có thể học theo gương như của Brazil và Trung Quốc để khai thác kiến thức chuyên môn quốc tế, đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu của địa phương, thực hiện những cải cách quan trọng về chính sách và định chế, nhờ đó đẩy mạnh tức thời năng suất nông nghiệp.

Không có cải tiến nào về chế tạo, dược phẩm, dịch vụ, truyền thông hay giao thông có thể mang lại điều tốt đẹp là cuộc sống ấm no hơn cho hơn một nửa dân số thế giới lạc hậu thông qua việc tăng năng suất nông nghiệp, chúng ta cần luôn nhớ điều này.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Đột phá về biến đổi gen ở các hạt ngũ cốc

  • PDF

Đột phá về biến đổi gen ở các hạt ngũ cốc 

Cây trồng biến đổi gen đang là vấn đề gây tranh cãi trong nhiều ứng dụng thương mại, tuy nhiên không thể phủ nhận lợi ích của nó đối với mục đích nghiên cứu. Mặc dù đã nỗ lực trong nhiều năm, tuy nhiên, việc phát triển những phương pháp hiệu quả cho các loại ngũ cốc còn gặp khá nhiều khó khăn. Các báo cáo nghiên cứu mới đây đã đưa ra phương pháp biến đổi gen ở ngô và các loại ngũ cốc khác.


Mặc dù việc thương mại hóa các cây trồng biến đổi gen đang gây nhiều tranh cãi, tuy nhiên các nghiên cứu vẫn tập trung vào việc nâng cao kỹ thuật để tạo ra các loại cây trồng biến đổi gen cho năng xuất cao. Công nghệ biến đổi gen cho phép các nhà tạo giống cây tạo ra các gen có các đặc tính như mong muốn với những nguyên liệu giống có giá trị. Tuy nhiên, thực vật biến đổi gen cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học cơ bản. Khả năng đưa một gen đơn vào một cây cho phép các nhà nghiên cứu khám phá ra gen đó là gì.

Mặc dù đã nhiều năm nỗ lực, nhưng việc phát triển các phương pháp biến đổi gen hiệu quả đối với các loại cây ngũ cốc còn gặp khá nhiều khó khăn. Những phương pháp ưa chuộng thường liên quan đến việc tiêm Agrobacterium vào mô - một loại vi khuẩn mà chuyển đổi ADN một cách tự nhiên thành gen vật chủ của nó - và sau đó kích thích mô đó tái sinh thành cây trồng. Tuy nhiên, Agrobacterium chỉ tiêm được trên phạm vi hẹp đối với các giống ngũ cốc, nhiều giống cây không thể tái sinh. Một bài báo được đăng trên The Plant Cell đã báo cáo về bước đột phá trong công nghệ biến đổi gen mà có thể mở rộng phạm vi lớn đối với các giống cây và các loài mà có khả năng biến đổi.

Nhóm các nhà nghiên cứu từ DuPont đã đưa các gen được gọi là gen morphogenic - được biết đến từ nghiên cứu cơ bản nhằm thúc đẩy quả trình tạo ra các mô phôi thai - vào các gen khác đã bị biến đổi (trong trường hợp này thể hiện protein huỳnh quang xanh lục là dấu hiệu của sự biến đổi). Như vậy, tốc độ biến đổi tăng ở một số lượng lớn các giống ngô - trong nhiều trường hợp đi từ cơ bản, quá trình biến đổi có tốc độ chưa đủ cao để có thể sử dụng hiệu quả trong các ứng dụng thương mại và nghiên cứu. Kỹ thuật này cũng đã được nghiên cứu ở lúa miến, lúa gạo và cây mía. Công trình nghiên cứu này mở rộng phạm vi các loài, giống cây trồng và các mô mà có thể được sử dụng để chuyển đổi hiệu quả và là một ví dụ hay về những gì có thể thực hiện được bằng cách kết hợp nghiên cứu cơ bản, chuyên môn kỹ thuật và kiến thức về các vấn đề thực tế đang phải đối mặt với những ứng dụng phổ thông.

 

Để cây điều Việt Nam phát triển bền vững

  • PDF
Để cây điều Việt Nam phát triển bền vững

Sản phẩm thuộc ngành hàng nông nghiệp, nhưng cây điều được xếp vào cây trồng công nghiệp lâu năm. Từ nhiều năm nay, kim ngạch xuất khẩu của hàng nông phẩm này xếp thứ tư sau gạo, cà phê, cao su, đã tạo nhiều công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân. Thực tế, hiện nay vẫn còn nhiều bất cập trong đầu tư cho cây điều, cần phải có chiến lược phát triển phù hợp, tương xứng với tiềm năng của những vùng đất sản xuất điều trong thời gian tới.

Thực trạng sản xuất điều nước ta

Cây điều ở nước ta phát triển rất nhanh, từ thập niên 80 thế kỷ trước đã được đưa vào cơ cấu cây trồng thuộc ngành lâm nghiệp. Đến năm 1990, trở thành một trong những cây công nghiệp lâu năm xuất khẩu chủ lực, có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng thấp Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và một số vùng đất cao ở đồng bằng sông Cửu Long. Là cây đa mục tiêu (phát triển kinh tế, phòng hộ đất, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo…), sinh trưởng nhanh, rễ phát triển mạnh, tán rộng che phủ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn rất tốt.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh, năm 2013 cả nước có 310.000 ha điều, trong đó diện tích điều trồng tập trung khoảng 60,8%, phân tán 39,2%, năng suất bình quân đạt 9,1 tạ/ha, sản lượng 285.000 tấn hạt, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,654 tỷ USD (hạt điều, dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm chế biến từ điều) đến 95 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 35% thị phần, Trung Quốc 20%, EU 20%, còn lại 25% là các quốc gia khác; với 330 đơn vị xuất khẩu, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (số doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu dưới 5 triệu USD/năm, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu); tiêu thụ nội địa chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 4%. Nước ta đang chuyển từ nước sản xuất nguyên liệu sang nước chế biến điều của thế giới.

Những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận và cho phép sản xuất thử 10 giống điều mới. Hiện nay, các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, tuyển chọn giống mới có nhiều ưu điểm nổi bật, vừa đạt năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh, thích nghi với điều kiện sinh thái của từng vùng và chịu đựng tốt với sự biến đổi khí hậu, đang được nhân rộng trong thời gian tới. Số liệu điều tra cho thấy, chỉ có khoảng dưới 34,4% diện tích điều hiện nay được trồng bằng các giống điều mới, diện tích điều trồng bằng cây thực sinh, giống cũ vẫn đang chiếm diện tích lớn, khoảng trên 65,6%, phần lớn diện tích điều này chất lượng giống kém, rất ít được chăm sóc, đã có một số biểu hiện sự thoái hóa. Những vườn điều mới trồng, đa số nông dân trồng bằng giống ghép, mới, nhưng khâu quản lý nguồn gốc xuất xứ, chất lượng giống còn nhiều bất cập, một số cơ sở cung cấp giống không đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật làm cho người trồng điều chưa thật sự yên tâm khi chuyển sang trồng giống điều ghép, mới.

Nhiều tiến bộ kỹ thuật về cây điều đã được các cơ quan chuyên môn, hệ thống khuyến nông, Hiệp hội điều chuyển giao thông qua nhiều hình thức như xây dựng mô hình thâm canh, cải tạo vườn điều cũ, chăm sóc, bón phân, tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh… đã tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo, thăm quan, tuyên truyền quảng bá. Nhiều nông dân trồng điều học tập, làm theo và đã đạt kết quả rất khả quan, nhất là nông dân các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, nhiều diện tích điều được trồng từ những năm 80 - 90 thế kỷ trước với mục đích phủ xanh theo chương trình 327, 661, hiện nay đều đã lớn tuổi, chất lượng giống không bảo đảm, khoảng cách mật độ trồng không hợp lý, chăm bón kém… đã dẫn đến thực trạng năng suất, sản lượng thấp, thậm chí một số vườn điều nông dân tiến hành đầu tư thâm canh nhưng năng suất tăng không đáng kể, đã ảnh hưởng đến tâm lý và thu nhập của nông dân.

Hiện nay, cả nước có trên 465 cơ sở chế biến điều, trong đó 30 doanh nghiệp chế biến đạt tiêu chuẩn HACCP, ISO 9001, ISO14000, ISO 22000, BRC. Để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng yêu cầu về công nghệ chế biến hạt điều theo tiêu chuẩn xuất khẩu, giảm áp lực về lao động, 100% doanh nghiệp lớn đã đầu tư tự động hóa nhiều khâu trong dây chuyền sản xuất (cắt, tách vỏ hạt, bóc vỏ lụa); đổi mới công nghệ chế biến. Năm 2013, các doanh nghiệp thu mua hạt điều sản xuất trong nước 285.000 tấn, giá bình quân từ 20.000 đến 23.000 đồng/kg, đáp ứng 30% nhu cầu chế biến của các nhà máy, số còn lại nhập khẩu; nhìn chung, chất lượng hạt điều nhập khẩu không đồng đều, nhiều lô hàng có chất lượng kém so với điều trong nước (về tỷ lệ nhân thu hồi, cỡ hạt, độ ẩm, tạp chất).

Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất điều

Là ngành hàng phát triển trên quy mô rộng, diện tích lớn, giải quyết việc làm cho hơn 900.000 lao động, trong sản xuất nông nghiệp và chế biến, kim ngạch xuất khẩu xếp hạng thứ 4 sau lúa gạo, cà phê, cao su, nhưng đến nay, hầu hết các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chưa tổ chức, đầu tư xây dựng được vùng nguyên liệu, chưa ký kết hợp đồng thu mua sản phẩm để ổn định nguyên liệu có chất lượng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà chủ yếu thu mua qua tầng nấc trung gian, ảnh hưởng đến giá thu mua trực tiếp từ người sản xuất.

Phần lớn diện tích đất trồng điều được bố trí trên chân đất không thuận lợi. Đất xấu, độ dốc lớn, không có nước tưới, khó có điều kiện thâm canh và thậm chí có những vùng sinh thái điều kiện khí hậu, đất đai không phù hợp.

Trên 65,6% diện tích điều hiện nay được trồng bằng cây thực sinh, và giống chất lượng kém, không được chọn lọc… có năng suất thấp, chất lượng hạt thu hoạch kém. Các giống này có đặc điểm ít quả, quả bé, dễ nhiễm sâu bệnh, ra hoa tập trung trong thời gian ngắn dễ bị ảnh hưởng của thời tiết bất lợi như mưa trái vụ lúc ra hoa. Một số giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đang được khuyến khích, nhưng khâu quản lý chất lượng giống chưa được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra, diện tích điều đã già cỗi (trên 20 năm tuổi) chiếm tỷ lệ cao khoảng 29,5%, sâu bệnh nhiều, trồng phân tán (trên 39,2% diện tích) nên năng suất thấp.

Mấy năm gần đây do sự biến đổi khí hậu đã phát sinh nhiều loại sâu bệnh như bọ xít muỗi, sâu róm đỏ, bọ đục chồi, xén tóc đục thân cành, rệp sáp, bệnh thán thư, bệnh khô cành… gây hại ở mức độ nặng hơn cho cây điều, làm giảm năng suất, sản lượng.

Phần lớn các vườn điều không được đầu tư chăm bón theo đúng yêu cầu kỹ thuật và nhu cầu của cây. Thiết kế vườn cây không hợp lý, không có biện pháp bảo vệ đất chống xói mòn, mật độ cây không bảo đảm, quá dày 400 cây/ha, hoặc quá thưa 70 cây/ha, không xới xáo, bón phân, tưới nước (trừ một số vườn trồng xen), không tiến hành tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh không triệt để và đúng cách đã làm cho vườn cây nhanh suy kiệt, năng suất thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

Giá bán hạt điều thấp, biến động nhiều, bình quân khoảng 20.000-23.000 đồng/kg, phải qua nhiều khâu trung gian; trong lúc giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công liên tục tăng cao… ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng điều, làm giảm tính cạnh tranh của cây điều so với nhiều cây trồng khác.

Để cây điều phát triển được bền vững

Với quan điểm, phát triển ngành điều bền vững, theo hướng hiện đại, đồng bộ, sản xuất hàng hóa lớn với các sản phẩm đa dạng có chất lượng, mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp, từ nay đến năm 2020, ngành sản xuất điều phấn đấu tổng diện tích trồng điều khai thác 350 ngàn ha (phân bố ở 9 tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Bình Định), trong đó diện tích thu hoạch 300 ngàn ha, chiếm 85,7%; cho năng suất 15-17 tạ hạt/ha; tổng kim ngạch xuất khẩu ngành điều 2,5 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu trên, ngành cần thực hiện một số nhóm giải pháp chính, đồng bộ. Đó là:

1. Đối với sản xuất điều

Rà soát, điều chỉnh vùng quy hoạch trồng điều. Hình thành vùng trồng trọng điểm, tập trung đầu tư thâm canh, hướng tới xây dựng vườn điều lớn; đầu tư xây dựng giao thông, thủy lợi, mạng lưới thu mua, chế biến. Phân loại các vườn điều hiện có: diện tích điều già cỗi, sâu bệnh nhiều, giống không đạt yêu cầu cần trồng tái canh, cải tạo; diện tích có đủ điều kiện thì tập trung thâm canh, tăng năng suất.

Để từng bước nâng cao chất lượng vườn điều, tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao đời sống cho người dân, từng địa phương xây dựng kế hoạch thâm canh phù hợp ở mức cao nhất nhằm phát huy tiềm năng lợi thế, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây điều và xây dựng kế hoạch, bước đi cụ thể để tái canh, cải tạo, khôi phục vườn điều già cỗi, nhiễm sâu bệnh, giống không đạt yêu cầu hoặc chuyển sang trồng cây lâm nghiệp hoặc cây trồng khác đối với diện tích điều trồng nơi không phù hợp, hiệu quả thấp hơn.

Chú trọng trồng xen, nuôi xen tổng diện tích điều với các cây trồng, vật nuôi phù hợp. Cụ thể, trên đất có nước tưới bổ sung sẽ trồng điều xen ca cao; trên đất có điều kiện giữ ẩm sẽ trồng điều xen gừng, nghệ, sa nhân; trên đất dốc, sườn đồi, ven biển sẽ trồng điều kết hợp nuôi gà thả vườn, nuôi ong lấy mật…

Nghiên cứu chọn tạo và đưa vào sản xuất giống điều có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái, chống chịu một số sâu bệnh chủ yếu và thích nghi với sự biến đổi khí hậu. Xây dựng vườn đầu dòng, vườn nhân giống gốc. Đối với giống ghép, 100% cành ghép, gốc ghép phải lấy từ cây đầu dòng có chứng nhận; thường xuyên kiểm tra, đánh giá cây giống bảo đảm yêu cầu. Đơn vị được chọn nhân, cung ứng giống phải cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và chịu trách nhiệm vật chất về chất lượng cây giống.

Tổ chức lại sản xuất theo hướng tăng cường liên kết ngang giữa các nông hộ trồng điều với nhau, hình thành các tổ chức sản xuất: hợp tác xã, tổ kinh tế hợp tác, tổ đoàn kết sản xuất, câu lạc bộ trồng điều năng suất cao, liên minh nông dân trồng điều...Tập hợp được các nông hộ trồng điều (hiện cả nước có 456.410 nông hộ trồng điều) nhằm tạo sự đồng thuận để họ tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật; thông tin thị trường, giá cả; tiếp nhận các chính sách của Nhà nước và phối hợp cùng nhau thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Tăng cường liên kết giữa người trồng điều với doanh nghiệp, xây dựng mô hình vườn điều mẫu lớn, tiến đến xây dựng vùng nguyên liệu điều cho từng doanh nghiệp.

2. Đối với chế biến điều

Quy hoạch, sắp xếp lại các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu điều theo hướng giảm đầu mối, hình thành các cơ sở chế biến lớn, thiết bị và công nghệ hiện đại.

Khuyến cáo không thành lập mới cơ sở chế biến và không tăng thêm công suất chế biến hạt điều khi thị trường cung cấp hạt điều nguyên liệu trong nước còn chưa phát triển vượt công suất chế biến.

Xây dựng mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO, HACCP, GMP, BRC và quy chuẩn kỹ thuật cơ sở chế biến hạt điều, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

3. Đối với tiêu thụ

Đẩy mạnh tiêu thụ điều trong nước, tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm chế biến có chất lượng và giá trị cao. Ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.

Mở rộng hệ thống thông tin giúp nông dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, khuyến khích xuất khẩu thông qua Hiệp hội Điều Việt Nam. Chuyển từ chính sách trợ cấp xuất khẩu sang hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của điều Việt Nam, chuẩn bị điều kiện tốt để tham gia hiệp định TPP.

4. Giải pháp về chính sách

Để thực hiện trồng tái canh, cải tạo, khôi phục và trồng mới, trồng xen cây thuộc vùng quy hoạch điều, phía nhà sản xuất rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ Nhà nước bằng các chính sách cụ thể. Đó là, hỗ trợ 80% giá trị cây giống đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cho nông dân được sản xuất từ các đơn vị cung ứng giống được chỉ định; 40% phân bón cho trồng điều trong năm đầu tiên khi thực hiện cải tạo, khôi phục diện tích điều và trong 3 năm đầu sau khi trồng tái canh. Về vốn vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất vay ưu đãi 6%/năm với thời gian 7 năm đối với vốn đầu tư trồng tái canh, cải tạo khôi phục và trồng mới bằng giống mới có chất lượng, thời gian hoàn trả vốn và lãi bắt đầu từ năm thứ 4 và kết thúc vào năm thứ 7.

Bên cạnh sự hỗ trợ về vốn, các nhà sản xuất điều cũng mong muốn có được những cơ chế, chính sách bảo đảm cho phát triển sản xuất được ổn định: các cơ quan hữu quan sớm xây dựng, ban hành giá sàn thu mua hạt điều hằng năm để làm căn cứ các doanh nghiệp thu mua giá an toàn; hình thành Quỹ Bảo hiểm rủi ro ngành điều, bằng cách huy động từ các nguồn hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước, đóng góp của doanh nghiệp điều và các nguồn đóng góp khác; giảm thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm điều tiêu thụ trong nước./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

 

Cần một giải pháp xây dựng đội ngũ khoa học mới

  • PDF
Cần một giải pháp xây dựng đội ngũ khoa học mới
Trần Gia Ninh - Tiasang.

 

Trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam ta thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn.

 

Từ nhiều năm nay, Bộ KH&CN đã mong muốn có được một chính sách sử dụng, trọng dụng nhà khoa học nhằm tạo điều kiện để nhà khoa học phát huy tối đa năng lực và được hưởng lợi ích xứng đáng từ kết quả hoạt động KH&CN. Nhưng để những chính sách đó có tính khả thi thì trước hết cần có giải pháp xây dựng một đội ngũ khoa học mới. 

 

Không chỉ riêng Việt Nam, nhân loại từ lâu cũng đau đầu về việc nghĩ ra cách để đánh giá trình độ tài năng qua bằng cấp và tuyển chọn, bổ nhiệm, từ đó có chính sách ưu đãi và trọng dụng nhà khoa học tài năng:
 

Với nhóm nước có truyền thống đào tạo giáo dục chính thống lâu đời như nhóm quốc gia châu Âu lục địa (Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Nga…) thì họ chọn việc tôn trọng bằng cấp đi kèm với thi cử chặt chẽ và chính danh bổ nhiệm. Ở những nước này, nhân tài trên Đại học (không tính cấp Thạc sĩ) phải được lọc qua hai cấp: Tiến sĩ (gọi chung cho Phó tiến sĩ, Ph.D, Dr.Rer nat…) và mức Tiến sĩ Khoa học (gọi chung cho Tiến sĩ Khoa học, Dr.habil, Dr.d’Etat…). Ở trình độ TSKH là mức tài năng cao nhất cho nghề nghiệp giảng dạy Đại học (Professur) việc bổ nhiệm làm Giáo sư (Professor) là đương nhiên nếu có ghế trống, Tiến sĩ cũng có thể bổ nhiệm GS như là ngoại lệ. Ở những quốc gia này, bổ nhiệm Giáo sư là việc do nhà nước (Liên bang hoặc Bang) thực hiện theo tiến cử của một số nhà khoa học độc lập có uy tín nhất. Ngay Einstein muốn được bổ nhiệm Giáo sư (có ghế hoặc thỉnh giảng) cũng phải hoàn thành luận văn Habilitation. Như vậy, nếu nhà nước muốn giữ quyền tuyển chọn và bổ nhiệm thì bộ lọc nhân tài phải nghiêm cẩn thứ bậc, minh bạch và chặt chẽ.

Ở những quốc gia theo xu hướng thực dụng, đánh giá theo thực lực (nhóm Anglo-Saxon như Anh, Mỹ) thì chỉ có một cấp Ph.D và hoàn toàn phân quyền, cạnh tranh tự do về tài năng. Đại học và Viện Nghiên cứu mọi loại hình sở hữu đều tự trị. Giáo sư là một chức vụ nghề nghiệp, lấy Ph.D là một điều kiện nhưng quyết định lại là tài năng thực sự, do trường tự chọn, tự chịu trách nhiệm và tự bổ nhiệm, hết dạy là hết chức danh. Nhà nước không can thiệp ngoài sự hỗ trợ tài chính theo luật định. Dễ nhận thấy rằng, dù là hệ thống nào thì cũng phải bảo đảm có hai vế: Động lực và Kiểm soát. Nếu động lực, đánh giá là sự ban phát của nhà nước thì bằng cấp phải được kiểm soát chặt chẽ, thực chất, qua nhiều bộ lọc độc lập có trách nhiệm. Nếu bằng cấp là thả nổi thì xã hội và thị trường nhân lực là hệ thống kiểm soát đánh giá theo thực chất, nhà nước không can thiệp. Nhà nước chỉ tạo chính sách để thu hút nhân tài cho quốc gia kể cả rút ruột các quốc gia khác.

 

Dù đã được thiết kế chặt chẽ và hợp lý như vậy nhưng không có hệ thống nào được coi là hoàn thiện mà không phải liên tục cải tiến. Huống hồ trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn. 

Những năm gần đây nhiều lâu đài của khoa học cũng không còn tự trọng, chăm lo cho uy tín của mình nữa, vì không ít lãnh đạo các đơn vị nhà nước đó không lo bị xã hội đào thải và chẳng còn động lực gì ngoài đồng tiền. Đến mức như Đại học Quốc gia… thậm chí còn liên kết đào tạo, bán bằng rởm, điển hình như hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ ĐH Irwin (rởm), ĐH Giggs. Có lãnh đạo chuyên ngành ở Viện Hàn lâm nọ được xác định gian trá trong khoa học lại được nhà nước đưa lên nắm giữ những trọng trách như Tổng Cục trưởng chính cái ngành chuyên môn anh ta đã gian trá, hoặc có anh khác lại làm Viện trưởng các Viện lớn hơn nữa… Đó thật sự là nhạo báng nhân tài.

Đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là một quá trình dài hạn, có tính thừa kế liên tục. Cha nào con nấy, thầy nào trò nấy… Nếu không nhìn nhận sự thật cay đắng đó và có những quyết sách quyết liệt trong việc thanh lọc lại đội ngũ hiện có và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ mới thì mọi chính sách về ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ KHCN, nếu có đề ra, cũng chỉ là vẽ rắn thêm chân.

Cần phải thành thật nhìn nhận rằng trong đội ngũ cán bộ KH&CN hiện nay, có nhiều người đang thực sự là vật cản vô hình chính yếu đối với mọi hoạt động KHCN. Việc đánh giá, thanh lọc đội ngũ này là cấp thiết nhưng rất khó khăn, nhất là các tổ chức KHCN ở nước ta hiện nay chủ yếu là công lập hoặc nằm trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Tất cả các tổ chức này đã hành chính hóa nặng nề, không thể tự cải tổ được. Do vậy việc cải tổ phải là một quá trình áp đặt từ bên ngoài. 

Để thực hiện chính sách cải tổ áp đặt này nhà nước có thể chọn mời cỡ 50-60 nhà khoa học thật sự, đã trực tiếp làm khoa học cho đến nay (kể cả số đã nghỉ), có thành quả cụ thể (không phải chỉ nói hay) đủ uy tín với giới chuyên môn trong và ngoài nước (chứ không phải với quan chức nhà nước). Họ phải không có hoặc không còn có tham vọng quyền lực hành chính. Những nhân vật này sẽ được giao đề xuất một chính sách và giám sát thực thi việc thanh lọc và xây dựng đội ngũ khoa học công nghệ mới một cách thực chất, vô tư. 

Khi hiện trạng đã được cải tổ, lực lượng KHCN mới thực sự manh nha và phát triển dần, từ đó mới có đất cho những chính sách ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ phát huy tác dụng.

***

Mấy năm trước, báo chí Việt Nam viết về câu chuyện “Tiến sĩ trẻ người Việt trên đất Đức” có đăng bức thư của một giáo sư Đức gửi cơ quan ngoại vụ Đức, xin trích1 “…Tôi đã tìm trong hơn 6 tháng qua mà không thể tìm thấy một ứng cử viên nào có khả năng và kiến thức được như vậy trong lĩnh vực này. Vì những lý do đó tôi yêu cầu quý ngài giải quyết nhanh nhất hồ sơ của kỹ sư Hoang Hung Tran.

Tôi muốn lưu ý các ngài rằng, theo kinh nghiệm cá nhân của tôi thu nhận được trong thời gian tôi điều hành một số công ty  ở Mỹ thì lĩnh vực trên đây đang là nơi cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty của Mỹ và Đức.

Trong điều kiện nói chung rộng mở rất hấp dẫn của nước Mỹ đối với các kỹ sư nước ngoài thì sẽ có nguy cơ mất kỹ sư Hoang Hung Tran vào tay một công ty hoặc trường Đại học của Mỹ nếu quý ngài giải quyết quá chậm chạp…”

Thư yêu cầu gửi cơ quan ngoại vụ Đức (Auslandsamt) của Giáo sư M. Schroeter, chủ nhiệm bộ môn Vi điện tử (hết trích dẫn).

Bài báo cho biết là lập tức Chính phủ bang Sachsen ký ngay một hợp đồng tuyển dụng nhà khoa học 26 tuổi người Việt này với bậc lương viên chức BAT. Điều đáng chú ý là ngay đối với các kỹ sư Đức trẻ tuổi cũng khó có vị trí như vậy, huống chi là người nước ngoài, nhất là lúc tỷ lệ thất nghiệp của người Đức ở đây cao hơn 15%.  

Liên tưởng với câu chuyện hành xử linh hoạt, vì nhân tài này ở nước Đức, một nước điển hình cho quy chuẩn và nguyên tắc cứng nhắc, thử hỏi, liệu có một Giáo sư Việt Nam nào có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam tuyển dụng đặc cách ngay với một chàng trai trẻ tài năng nào đó, người Việt thôi chứ không phải là người nước ngoài, để giữ một trọng trách khoa học với một sự tôn trọng và đãi ngộ thích đáng đủ để giữ chân anh ta lại trong nước. Chưa nói đến sẵn sàng linh hoạt hành xử như người Đức nguyên tắc, mà chỉ riêng việc tin tưởng và tôn trọng ý kiến nhà khoa học cũng là việc hầu như ít thấy ở các quan chức hành chính Việt Nam. 

Vì vậy, trong quá trình xây dựng chính sách ưu đãi sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, những ý kiến của những nhà khoa học được giao nhiệm vụ đó và của cộng đồng khoa học, cần được những quan chức quản lý KHCN (như Bộ KH&CN chẳng hạn) tôn trọng, lắng nghe.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module