Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Sản lượng của các giống cây trồng nông nghiệp mới vẫn đang tiếp tục gia tăng

  • PDF

Sản lượng của các giống cây trồng nông nghiệp mới vẫn đang tiếp tục gia tăng
K.P. - Mard, Theo Sciencedaily

 

Nghiên cứu về giống lúa mì đông, lúa mạch xuân, khoai tây trồng lấy tinh bột và củ cải đường đã được các công ty giống cây trồng khởi xướng ở Hà Lan từ năm 1980 đến năm 2010 cho thấy các giống cây trồng mới đang tiếp tục cho sản lượng nhiều hơn các giống tổ tiên của chúng.

 

Bất chấp những quan ngại gần đây cho rằng các giống cây trồng chủ lực tại các vùng có năng suất cao đã đạt mức sản xuất tối đa, sự gia tăng năng suất tiềm tàng của các giống cây mới vẫn chưa chững lại. Thực tế là việc lai tạo giống cây trồng vẫn có thể dẫn đến sự gia tăng về sản lượng đã được các nghiên cứu tại trường Đại học Wageningen chứng minh.

Các doanh nghiệp, chuyên gia tư vấn và các nhà khoa học đôi khi cũng tự hỏi liệu các nhà nhân giống cây trồng có thể làm tăng thêm nữa năng suất các loại cây trồng hiện nay như lúa mì đông và khoai tây hay không. Ngày càng có nhiều bài báo được đăng tải trên các bài điểm báo quốc tế cho rằng, sản lượng hầu như không tăng tại các quốc gia đã từng có năng suất cao. Quan điểm chiếm ưu thế là cây trồng không thể tiếp tục phát triển thêm nữa khi chúng đã phát triển tới mức tối đa, rõ ràng là phải đạt được một mức trần sản lượng. Các nhà khoa học tại trường Đại học Wageningen đã quyết định nghiên cứu sâu hơn vấn đề này.

Năng suất cây trồng phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, đất, khí hậu và chăm sóc, quản lý cây trồng. Các nhà khoa học đã phân tích các thử nghiệm chính thức trên các giống đã được thực hiện từ năm 1980 đến năm 2010. Một kỹ thuật thống kê cho phép họ tách ảnh hưởng của thời tiết, nồng độ CO2 và quản lý cây trồng khỏi ảnh hưởng của việc đưa ra các giống mới. Điều này cho thấy rằng, các giống mới được đưa ra từ năm 1980 đến 2010 trung bình đều có sản lượng cao hơn các giống cũ. Điều này được áp dụng đối với lúa mì đông, lúa mạch xuân, khoai tây trồng lấy tinh bột, củ cải đường, cũng như ở phạm vi hẹp hơn, để áp dụng với khoai tây hàng hóa. Trong giai đoạn được xem xét, năng suất của các giống lúa mì đông và lúa mạch xuân xuất hiện trên thị trường lần đầu tiên đã tăng khoảng 1% mỗi năm.

Nhân giống cây trồng vẫn đảm bảo một sự gia tăng tối đa về năng suất. Nhưng sản lượng thực tế của người nông dân đạt được trong một số trường hợp có vẻ tăng chậm hơn hoặc thậm chí chững lại. Nói cách khác, sẽ khó khăn hơn để khai thác đầy đủ tiềm năng của các giống mới. Điều này có nghĩa rằng, cái được gọi là khoảng cách năng suất giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế đang gia tăng. Vấn đề còn lại là liệu điều này có phải do thay đổi khí hậu, chất lượng đất, thay đổi quản lý cây trồng hay không, hay là do kết hợp của những yếu tố này.

Công nghệ CRISPR-Cas9 giúp cải thiện hiệu quả cây trồng

  • PDF

Công nghệ CRISPR-Cas9 giúp cải thiện hiệu quả cây trồng 

Một nhóm nghiên cứu bao gồm một nhà thực vật học của Virginia Tech gần đây đã sử dụng công nghệ khoa học đời sống để sửa đổi 14 vị trí mục tiêu xung quanh 8 gien thực vật cùng một thời điểm mà không tạo ra những thay đổi ngoài ý muốn ở những vị trí khác trong hệ gien.

Đây là một công cụ chỉnh sửa bộ gien được gọi là CRISPR-Cas9. Công nghệ này đã cách mạng hóa khoa học đời sống khi nó xuất hiện trên thị trường vào năm 2012. Nó được chứng minh là hữu ích trong cộng đồng khoa học thực vật dưới dạng là một công cụ hiệu quả cho việc cải tiến cây trồng nông nghiệp.

Khả năng thay đổi một vài gien cùng lúc hứa hẹn sẽ nâng cao hiểu biết của các nhà nghiên cứu về cách thức gien tương tác qua lại để định hình cho sự phát triển và phản ứng của cây trồng với những thay đổi của môi trường. Tuy nhiên, một trở ngại của công nghệ này là đã xác định được tác động của việc thay đổi trên vùng gien mà không phải là mục tiêu.

David Haak - Giảng viên ngành Bệnh học, sinh lý học thực vật, và khoa học cỏ dại tại trường Nông nghiệp và Khoa học đời sống, đã phát triển một chương trình tin sinh học sử dụng dữ liệu giải trình chuyên sâu để kiểm tra xem liệu việc chỉnh sửa hệ gien của loài thực vật Arabidopsis mà nhóm nghiên cứu thực hiện có hiệu quả hay không và có theo mục tiêu cụ thể của nó hay không.

Phát hiện của nhóm nghiên cứu thông qua sử dụng phương pháp CRISPR-Cas9 để hiệu chỉnh đa gien của các loài thực vật cụ thể này đã được xuất bản trên tạp chí PLOS ONE số ra ngày 13/9.

"Khả năng chỉnh sửa chức năng của gien một cách cụ thể thông qua sử dụng CRISPR-Cas9 có tiềm năng sẽ thực sự thay đổi cách chúng ta nghiên cứu thực vật trong phòng thí nghiệm và nâng cao hiệu quả cây trồng", đồng tác giả Zachary Nimchuk – Giảng viên ngành sinh học tại trường Đại học Bắc Carolina nói. "Nhưng, đã có những lo ngại về khả năng có tác động xảy ra ở ngoài mục tiêu không mong muốn. Chúng tôi đã thử nghiệm trên thực vật, hướng mục tiêu tới 14 vị trí cùng một lúc, và thấy không có hiện tượng ngoài mục tiêu nào trong một lượng lớn cây trồng. Dữ liệu của chúng tôi mở rộng thêm cho các công trình nghiên cứu trước đó để cho thấy rằng, ít nhất là trong loài Arabidopsis, hiện tượng ngoài mục tiêu sẽ là vô cùng hiếm hoi khi sử dụng phương pháp Cas9".

 

Phát triển nghề cá để nuôi sống nhân loại

  • PDF
Theo bản tin của FAO ngày 09 tháng Sáu 2014 – Người ta chưa bao giờ tiêu thụ nhiều cá đến như vậy hoặc lệ thuộc vào ngành cá quá lớn để nuôi sống mình như cách làm hiện nay. Cá là một ngành hàng thực phẩm có giá trị thương mại lớn nhất trên thế giới, khoảng 130 tỷ đô la Mỹ năm 2012 – con số này vẫn sẽ tiếp tục gia tăng.

- Mức tiêu thụ cá tính trên đầu người của thế giới là 9,9 kg trong thập niên 1960 đã tăng lên 18,9 kg vào năm 2010, với dự đoán sau 2012 đạt trên 19,2 kg.

- Trong 130,1 triệu tấn cá thỏa mãn cho nhu cầu của loài người năm 2010, Châu Phi được cung cấp thấp nhất, trong khi Châu Á tiêu dùng hai phần ba tổng lượng cá của thế giới, với 89,8 triệu tấn (21,6 kg trên đầu người), ngoài Trung Quốc là 45,4 triệu tấn (16,1 kg / người).

- Trung Quốc là nước xuất khẩu cá và sản phẩm chế biến từ cá lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, kể từ năm 2011, TQ đã trở thành nước nhập khẩu cá đứng hàng thứ Ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản.

- Cộng Đồng Châu Âu là thị trường nhập khẩu cá và sản phẩm chế biến từ cá lớn nhất thế giới, sự lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu ngày càng lớn.

- Tính trung bình, năng lượng dinh dưỡng từ cá khá thấp so với tổng calories nạp vào, ước khoảng 33 calories / người.

- Cá và sản phẩm chế biến từ cá là nguồn protein động vật có giá trị cao, cứ 150 g cá sẽ cung cấp khoảng  50–60 % nhu cầu protein mỗi ngày cho người trưởng thành.

- Có khoảng 25 triệu tấn rong tảo biển được thu hoạch hàng năm để sử dụng làm thực phẩm, mỹ phẩm và phân bón, chúng được chế biến để ly trích ra chất đặc hoặc sử dụng làm nguồn bổ sung trong thức ăn gia súc.

- Chỉ trừ một vài trường hợp ngoại lệ của vài loài cá nào đó, nhìn chung cá chứa rất ít chất béo bảo hòa, ít carbohydrates và cholesterol. Cá không những cung cấp protein chất lượng cao mà còn nhiều chất dinh dưỡng cần thiết khác, đó là các vitamins (D, A và B), các chất khoáng (calcium, iodine, kẽm, sắt và selenium) đặc biệt là omega 3 (polyunsaturated omega-3 fatty acids).

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Bảy trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore

  • PDF

FOODCROPS. Những bài học từ sự phát triển quyền lực của Singapore làm rõ ra những tiêu chuẩn sai lầm tư tưởng của những người đướng đầu đất nước thời độc lập và sự mê muội điều hành từ Khổng giáo, chọn lựa trực quan đầy cảm tính không xuất phát từ tâm huyết đại đòan kết dân tộc mà là lợi ích riêng từng phần. So sánh trình độ cũng như tầm nhìn từ những lãnh đạo xuất chúng có thể nhận định rõ những sai lầm trong bộ máy chính trị do lệch lạc tư tưởng. Ba yếu tố chính trong quản lý đất nước của chính sách Singapore là chính sách đãi ngộ nhân tài, tính thực dụng và lòng chân thành. Quản lý luật pháp đặt pháp luật cao hơn chính phủ để dĩ công vi thượng. Quản lý đa văn hóa minh bạch, công bằng, tôn trọng để đạt đại đòan kết về dân tộc.  Phát triển giáo dục lấy tiếng Anh làm chính để theo sát tiến bộ nhân lọai. Quản lý môi trường lấy sinh thái làm trọng để bảo đảm môi trường cộng đồng.  Quản lý kinh tế lấy mở và quốc tế hóa làm đầu để thu hút nguồn vốn. (Kishore Mahbubani, 2013).

Bảy trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore

Nhật báo "Strait Times" của Singapore số ra ngày 9/11 đã đăng tải bài viết của ông Kishore Mahbubani - Hiệu trưởng Trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore - nhận định về 7 trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore.

Tác giả Mahbubani cho rằng trụ cột quyền lực mềm đầu tiên rất rõ ràng: đó là một ban lãnh đạo xuất chúng. Theo ông, các nhà lập quốc Singapore tài năng không thua kém các nhà lập quốc Mỹ. Một trong số đó, Tiến sĩ Goh Keng Swee, thậm chí còn trở thành cố vấn cho lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Cũng không có gì phải nghi ngờ rằng Lý Quang Diệu là một trong những nhà lãnh đạo toàn cầu nổi bật nhất. Ông rất được tôn trọng ở phương Tây và không ngần ngại nói thật. Rõ ràng, Lý Quang Diệu đã "đặt" Singapore lên bản đồ thế giới.

Trụ cột thứ hai là khả năng quản lí đất nước. Theo ông Mahbubani, sự thành công của Singapore nằm ở ba yếu tố chính: chính sách đãi ngộ nhân tài, tính thực dụng và lòng chân thành. May mắn là dù quy định luật pháp là một khái niệm phương Tây, song nó vẫn hoạt động hiệu quả trong các xã hội phương Đông. Ông Mahbubani nhấn mạnh rằng tại Singapore, luật pháp đứng trên chính phủ. Toàn bộ Nội các cũng là một đối tượng của những bộ luật được áp dụng cho toàn bộ người dân đất nước.

Trụ cột thứ ba là tính đa văn hóa. Tác giả nhấn mạnh tới việc bốn nền văn minh lớn thế giới đang tương tác với nhau mỗi ngày ở một Singapore nhỏ bé: Trung Quốc, Malay-Hồi giáo, Ấn Độ và phương Tây. Sẽ không dễ dàng để những người từ nhiều văn hóa khác nhau có thể cùng chung sống. Vì thế, luật pháp tại Singapore được áp dụng để chống phân biệt sắc tộc và tôn giáo, cũng như nhiều quy định được đưa ra để đảm bảo cộng đồng thiểu số được đại diện tại mỗi khu nhà công cộng. Không nhiều xã hội khác trên thế giới có thể sánh với thành tích của Singapore trong việc quản lí đa văn hóa.

Trụ cột thứ tư là tiếng Anh. Thực tế, người dân Singapore có kĩ năng nói tiếng Anh tốt nhất châu Á. Mỗi đứa trẻ Singapore đều được dạy cả tiếng Anh lẫn ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Việc tiếp xúc với tiếng Anh không chỉ giúp người dân có được kỹ năng ngôn ngữ, nó còn mở ra cánh cửa tới kho tàng di sản giàu có của văn minh phương Tây, giúp người Singapore có được lợi thế cạnh tranh khác.

Trụ cột thứ năm là đồ ăn, như câu nói nổi tiếng của cựu Ngoại trưởng George Yeo, ăn uống là “đạo” của Singapore. Người dân Singapore thoải mái ăn nhiều món ăn theo phong cách ẩm thực khác nhau trong cùng một ngày, thậm chí trong cùng một bữa ăn.

Trụ cột thứ sáu là môi trường xanh. Singapore chỉ có diện tích bằng 1/5 Rhode Island, tiểu bang nhỏ nhất tại Mỹ. Tuy nhiên, Singapore lại có nhiều loại thực vật hơn cả 48 bang lục địa của Mỹ gộp lại. Singapore cũng có Ngày Trồng Cây hàng năm, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc phủ xanh.

Cuối cùng, trụ cột thứ bảy là Singapore là quốc gia mở và toàn cầu hóa nhất thế giới. Tổng kim ngạch thương mại của Singapore hiện gấp 3,5 lần Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP). Đây là lí do khiến Ngân hàng Thế giới xếp Singapore là quốc gia tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh dễ dàng nhất thế giới. Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc tập đoàn "Nhà Kinh tế" hiện xếp Singapore là thành phố có sức cạnh tranh thứ ba thế giới, sau New York và London.

Theo ông Mahbubani, quyền lực mềm phụ thuộc nhiều vào bối cảnh toàn cầu. Trong thế kỉ 19, khi châu Âu vượt trội, London và Paris thu hút cả thế giới bằng quyền lực mềm của họ. Tuy nhiên, thời đại đã thay đổi. Quyền lực đang chuyển từ Tây sang Đông. Song phương Tây vẫn chưa kết thúc. Đó vẫn là nền văn minh mạnh nhất thế giới trong một khoảng thời gian tới. Vì thế, các thành phố có quyền lực mềm tốt là sẽ những nơi có thể kết hợp những phẩm chất tốt nhất của cả phương Đông và phương Tây. Đây chính là vị trí của Singapore. Người Singapore đang có một bản sắc kép đặc biệt khi sống ở một quốc gia hiện đại nhất châu Á và cũng Tây hóa nhất. Nếu thành công với quyền lực mềm của mình, Singapore hoàn toàn có thể đạt được vị thế có ý nghĩa toàn cầu. 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY  

Nông nghiệp trước ngưỡng cửa TPP

  • PDF

Nông nghiệp trước ngưỡng cửa TPP

Chúng ta đang nỗ lực thực hiện nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP, đặc biệt là với Hoa Kỳ, nước có vai trò chi phối nhiều mặt trong các nước thành viên sau này.

Đây là một trong những hiệp định đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế thương mại nói chung, trong đó có ngành nông nghiệp vốn là thế mạnh của chúng ta nhưng lại chưa phát triển bền vững.
Chế biến hạt điều xuất khẩu

Các tài liệu liên quan đến lịch trình đàm phán cho thấy trong năm này, trao đổi thương mại nông nghiệp hai chiều giữa Mỹ với mười quốc gia TPP khác đạt mốc 94 tỉ USD, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông nghiệp của Hoa Kỳ với thế giới. Trong đó, xuất khẩu nông nghiệp Hoa Kỳ vào 10 nước đối tác TPP đạt hơn 45 tỉ USD, tương đương 32% tổng lượng xuất khẩu Hoa Kỳ trên toàn thế giới.

Mặt khác, Hoa Kỳ cũng là một thị trường lớn. Các đối tác TPP cũng là nguồn cung cấp quan trọng các sản phẩm nhập khẩu nông sản vào Hoa Kỳ với kim ngạch xuất khẩu chiếm đến 47% nhập khẩu của Mỹ.
 
Một trong những vấn đề cơ bản quan trọng nhất trong việc tham gia TPP chính là việc chuẩn bị hạ tầng, kỹ thuật và khả năng quản lý trong nông nghiệp. 

 Bên cạnh đó, cạnh tranh gay gắt khi tham gia TPP cũng buộc Việt Namphải có những thay đổi tích cực để sản phẩm nông nghiệp ViệtNamcó chỗ đứng. Những cải cách đó bắt nguồn từ khâu cung ứng: cải cách phương thức sản xuất, công nghệ, bảo quản, tăng chất lượng; đến khâu xuất khẩu: phương thức tiếp thị, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tăng cường sản phẩm mới…

 Như vậy, nếu được gia nhập một sân chơi tập trung nhiều nước phát triển cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Singapore… đó sẽ là cơ hội lớn cho cải cách nông nghiệp Việt Nam. Đồng thời, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng có điều kiện tiếp cận thị trường chất lượng cao trong phân khúc thị trường thế giới, giúp nông nghiệp Việt Nam thoát khỏi hình ảnh “nông nghiệp giá rẻ”.

 Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, TPP có thể giúp thúc đẩy đầu tư của các nước trong khối vào Việt Nam, đặc biệt trong một số lĩnh vực Việt Nam mong muốn, trong đó có mục tiêu nâng cao trình độ của lĩnh vực nông nghiệp, tạo khả năng cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị trong khu vực và trên toàn cầu.

 Các nước châu Á – Thái Bình Dương nói chung là thị trường quan trọng của Việt Nam. Hai trong ba nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ và Nhật Bản, TPP sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các nước này cũng như các thành viên khác của TPP nhờ những cam kết mở cửa thị trường mạnh hơn.

 Tuy các nền kinh tế tham gia đàm phán TPP (Australia, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, Việt Nam và Nhật Bản) có sự phát triển không đồng đều, nhưng rõ ràng Việt Nam là một nước có thế mạnh trong nông nghiệp, điều kiện thiên nhiên thuận lợi, đại bộ phận người dân sống ở nông thôn gắn bó có tính truyền thống với sản xuất nông nghiệp.

 So sánh năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam và các nước tham gia đàm phán TPP thì chúng ta có thế mạnh trong xuất khẩu các sản phẩm của ngành trồng trọt. Trong các nước tham gia TPP, Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt và đối với chúng ta việc đàm phán với nước này có tính quyết định hơn cả.

 Theo ghi nhận của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Mỹ là đối tác lớn nhất của chúng ta trong khối TPP và cũng là thị trường xuất khẩu hàng nông sản lớn nhất. Việt Nam là một trong 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất sang Mỹ với các sản phẩm như cà phê, điều, tiêu, gạo và chè. Năm 2012, Mỹ là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, đạt 203,5 nghìn tấn, kim ngạch xấp xỉ 460 triệu USD.

 Theo số liệu mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm tháng đầu năm 2013, khối lượng xuất khẩu cà phê vào Mỹ đạt 101,7 ngàn tấn, giá trị đạt 235,42 triệu USD, tăng 30,1% về lượng và 24,7% về giá trị so với cùng kỳ.

 Trong các nước tham gia đàm phán thì Nhật Bản là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về ngũ cốc, hạt có dầu và chăn nuôi; và Nhật Bản là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ ba của Việt Nam trong TPP với các mặt hàng nông sản như cà phê, rau quả….

 Một số nước khác như Australia, Mexico cũng là những thị trường xuất khẩu nông sản lớn của Việt Nam trong khối TPP với các mặt hàng như điều, gạo, cà phê, hạt tiêu, rau quả…

 Về nhập khẩu của Việt Nam trong TPP, Australia là thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam với các sản phẩm lúa mì, bông, rau quả, sữa và sản phẩm từ sữa. Mỹ là thị trường nhập khẩu nông sản và nguyên liệu đầu vào lớn thứ hai của Việt Nam với các sản phẩm như bông, thức ăn gia súc, sữa, lúa mì, rau quả.

 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương có thể mang lại cho chúng ta thuận lợi trong một số lĩnh vực nông nghiệp này đồng thời cũng có thể tạo ra thách thức trong vài lĩnh vực nông nghiệp khác. Ngành có cơ hội hưởng lợi lớn nhất là ngành trồng trọt, nhất là lúa gạo.

 Thái Lan không tham gia đàm phán TPP, nên sẽ tăng cơ hội xuất khẩu gạo của Việt Nam vào TPP, nhất là thị trường Nhật Bản (nhu cầu nhập khẩu gạo của Nhật Bản đứng thứ 3 trong TPP). Đồng thời, đa số các thành viên TPP là các nước phát triển, nên đây cũng là thị trường tiềm năng cho hàng nông sản chất lượng cao, nhất là gạo chất lượng cao.

 Ngành gặp khó khăn lớn nhất là ngành chăn nuôi. Mỹ, Úc, Canada, New Zealand,… xuất khẩu ròng sản phẩm chăn nuôi, trong khi sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chất lượng chưa cao, hàng rào kỹ thuật của Việt Nam thấp. Do vậy, Nhà nước cần hỗ trợ để bảo vệ ngành này trước những thách thức mới, cũng như nâng dần năng lực cạnh tranh cho ngành.

 Mặt trái của TPP đối với nông nghiệp Việt Nam không phải là ít. Nông nghiệp Hoa Kỳ là một ngành có khả năng thâm nhập mạnh vào bất cứ thị trường nào nhờ chất lượng sản phẩm mang tính ưu việt, đồng thời cũng có khả năng phòng thủ rất tốt trước nông sản các nước. Cùng các rào cản kỹ thuật đặt ra khá khắc nghiệt, Hoa Kỳ hoàn toàn có thể duy trì và bảo vệ nền nông nghiệp quốc gia trước những thách thức về nhập khẩu.

 Đây chính là điều chúng ta phải đối phó để tránh thiệt hại cho nông dân. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước khác cũng đứng trước thách thức này. Như Nhật Bản chẳng hạn, trước khi tham gia vòng đàm phán gia nhập TPP, chính phủ nước này phải xem xét phương thức bồi hoàn thiệt hại cho nông dân. Những thâm hụt sản xuất trong ngành nông nghiệp – vốn được bảo hộ nhờ thuế nhập khẩu nông sản cao – sẽ là rất lớn, do TPP đã xóa thuế quan các mặt hàng nông nghiệp nhập khẩu.

 Tất nhiên trình độ phát triển của chúng ta không thể làm như Nhật mà phải kêu gọi, thu hút sự hỗ trợ và đầu tư của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, để giải quyết nhanh các vấn đề hạ tầng, kỹ thuật, quản lý. Muốn thế, chính sách thu hút đầu tư, thiện chí trong cải cách mở cửa phải được thực hiện mạnh mẽ và triệt để hơn nữa.

 Tuy vậy chỉ chừng ấy cũng chưa đủ và có thể bị lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, mà tự lực cánh sinh là bài toán phải tính đến. Cụ thể là chính sách cải cách nông nghiệp từ khâu ruộng đất, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, công nghệ, phương thức sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, tiếp cận thị trường đầu ra… phải được thực hiện nhằm tạo thế mạnh, sức chịu đựng và khả năng đối phó với sự xâm nhập của nông sản các nước trên thị trường nội địa.

 Những vấn đề đặt ra trên đây là chuyện lâu dài, còn trước mắt, trong giai đoạn đàm phán chúng ta phải lựa chọn thái độ nào đấy để thuyết phục được các đối tác.

 Theo cam kết TPP, Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước, tức phải loại bỏ 100% dòng thuế (thuế quan nhập khẩu) đối với các sản phẩm nông nghiệp, đồng thời các nước tham gia TPP cũng phải mở cửa cho nông sản Việt Nam.

 Hiện nay, các nước tham gia TPP đều có xu hướng đàm phán hạn chế, giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa. Cụ thể, với thị trường xuất khẩu, rào cản kỹ thuật của các nước sẽ khắt khe hơn, trong khi năng lực cạnh tranh của Việt Nam không cao nên khó tận dụng lợi ích từ việc giảm thuế quan.

 Về thị trường nội địa, do nền nông nghiệp nước ta lạc hậu, thu nhập không cao và nông dân là nhóm dễ bị tổn thương trong hội nhập, nên cần bảo hộ một số lĩnh vực nhất định trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Đáng nói là rào cản kỹ thuật lĩnh vực này của chúng ta chưa có hoặc không cao nên thị trường nội địa sẽ gặp bất lợi.

 Trong khi đó, hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) rất quan trọng đối với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt Nam.

 Tại sao vậy? Bởi dù thuế quan được cắt bỏ nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao gói… vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí rủi ro hơn nhiều hơn so với thuế quan.

 Để đưa ra những đề xuất thích hợp trong xây dựng phương án bảo vệ ngành nông nghiệp, nước ta cần có đánh giá đầy đủ về tương quan năng lực cạnh tranh của ngành này với các đối tác TPP, đặt trong bối cảnh các cam kết mở cửa thương mại hiện có của Việt Nam với các nước này.

 Và cũng đừng quên các quỵ định về sở hữu trí tuệ được bảo hộ chỉ dẫn địa lý cũng rất quan trọng mà nếu chậm chân từ bây giờ thì sau này nhiều nông sản của chúng ta như vải thiều Thanh Hà, thanh long Phan Rang, cam Vinh, cà phê Đắk Lắk… sẽ gặp khó khăn vào thị trường TPP nếu có ai đó nhanh chân đăng ký trước tên gọi.

Diễn biến đàm phán TPP từ 2009 đến nay

- Vòng đàm phán 1 và 2: Có tám nước tham gia: Australia, Mỹ, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Peru và Việt Nam.
- Vòng thứ 3 đến 14: Có chín nước tham gia, với thành viên mới là Malaysia. Từ sau vòng 3, Việt Nam chính thức là thành viên đầy đủ (trước đó chỉ là thành viên liên kết).
- Vòng thứ 15 và 16: Có 11 nước tham gia, với hai thành viên mới là Mexico và Canada.
- Vòng thứ 17: Có 12 nước tham gia với thành viên mới là Nhật Bản.
- Vòng thứ 18: Diễn ra tại Malaysia từ 14 đến 25-7-2013.

Nội dung đàm phán:

(1) Cạnh tranh, (2) Hợp tác và xây dựng năng lực, (3) Dịch vụ xuyên biên giới, (4) Hải quan, (5) Thương mại điện tử, (6) Môi trường, (7) Dịch vụ tài chính, (8) Mua sắm chính phủ, (9) Sở hữu trí tuệ, (10) Đầu tư, (11) Lao động, (12) Các vấn đề pháp lý, (13) Thương mại hàng hóa, (14) Thương mại dịch vụ.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Chào ngày mới 8 tháng 9

  • PDF

alt
CNM365. Chào ngày mới 8 tháng 9
. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Đức Mẹ theo đức tin Công giáoChính thống giáo. Ngày Lễ Tạ ơn truyền thống của MỹCanada, được tổ chức lần đầu vào ngày 8 tháng 9 năm 1565. Ngày Quốc tế biết Chữ; ngày Độc lập tại Macedonia (1991). Năm 1504 – Tác phẩm điêu khắc David một kiệt tác nghệ thuật điêu khắc thời Phục Hưng và là một trong hai tác phẩm điêu khắc vĩ đại nhất của Michelangelo được khánh thành tại Florence, Ý. xem thêm ...

Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển

  • PDF

Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển 

BẤT KHUẤT TRƯỜNG SA

KỲ II- ĐÔ THỊ GIỮA BIỂN

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”. Đó là nội dung mật lệnh ngày 7/4/1975 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng ít người biết rằng, 3 ngày truớc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một mật lệnh chỉ đạo “chiến dịch Hồ Chí Minh trên biển”, giải phóng quần đảo Trường Sa."

Ngày 11/4/1975, một phân đội của Đoàn 126 đặc công Hải quân, được tăng cường lực lượng của Tiểu đoàn 471 đặc công Quân khu 5, do Trung tá Mai Năng, Đoàn trưởng Đoàn 126 chỉ huy hành quân ra Trường Sa, trên 3 tàu vận tải của Đoàn 125 hải quân, giả dạng tàu cá Hồng Công. Với phương châm “thần tốc, táo bạo, bí mật, bất ngờ”, sáng 14/4 quân ta giải phóng đảo Song Tử Tây sau 45 phút nổ súng, mở màn chiến dịch giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ.
 
Đẹp và hiện đại
 
Nhìn trên bản đồ vùng biển Việt Nam, đảo Song Tử Tây nằm ở cực Bắc quần đảo Trường Sa, vĩ độ 11025’55 Bắc, kinh độ 114018'00’’ Đông. Đảo có hình bầu dục theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, dài khoảng 630m, rộng 270m, khi thủy triều xuống thấp nhất, mặt đảo cao 4m - 6m so với mặt biển, diện tích tự nhiên khoảng 12 ha, lớn thứ hai trong các đảo (sau đảo Trường Sa Lớn). 
 
Là đảo được chọn để giải phóng đầu tiên, Song Tử Tây cũng là đảo hiện đang giữ nhiều kỷ lục của Trường Sa, như: có hải đăng đầu tiên trên quần đảo Trường Sa (đưa vào hoạt động tháng 10/1993); âu tàu hiện đại với sức chứa lớn nhất; nhà lưới trồng rau xanh cùng hệ thống tưới tự động hiện đại nhất…   
 
Với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, phối cảnh hài hoà giữa công trình doanh trại, khu dân cư xen kẽ cây xanh, không gian khiến toàn cảnh đảo đẹp và bình yên như một khu đô thị sinh thái được quy hoạch bài bản chứ không phải một đảo tiền tiêu nơi đầu sóng ngọn gió.
 
Thượng tá Nguyễn Trọng Bình, Chính trị viên đảo Song Tử Tây cho biết: Dự án “Sản xuất thử nghiệm một số giống cây trồng, vật nuôi ở quần đảo Trường Sa” do Bộ NN-PTNT thực hiện, là một trong những hoạt động nhằm góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân nơi biển đảo tiền tiêu. Mục tiêu của Dự án là sản xuất thử nghiệm và mở rộng sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi thích hợp, góp phần tự túc được một phần rau xanh, thực phẩm và tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp tại một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Cùng với đảo Trường Sa Lớn và đảo Sinh Tồn, đảo Song Tử Tây được đầu tư xây dựng nhà kính diện tích 156m2  dùng trồng rau quanh năm; nuôi các loại gia cầm như vịt, gà, ngỗng; nuôi bò lai và trồng thử nghiệm một số loại hoa sứ, cúc, sống đời và hoa giấy trên đảo. 

 
Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển
 
Về phát triển đàn bò, năm 2011, Bộ NN-PTNT đã tặng đảo ba con bò giống lai Sind, sau đó cấp thêm bốn con. Sau hơn ba năm, đàn bò đã sinh sôi đông đúc, béo khoẻ như được chăn nuôi tốt tại các trang trại trong đất liền. 
 
Chiến sĩ Võ Hoàn Vinh phụ trách chăn nuôi tâm sự: “Điều kiện ở đảo khó khăn, không có cỏ tươi nên thức ăn của bò là cơm canh thừa nấu thành cháo. Nhưng đôi khi bò thèm cỏ quá, ăn cả quần áo cũ, giấy báo và bao xi măng, vậy mà con nào con nấy cứ “ú na ú nần”, “múp rụp” đầu đuôi ”.

 
Thượng uý Nguyễn Phú Huyến, Trợ lý Hậu cần cho biết, để có được khu nhà vườn, hơn 30 tấn hàng gồm khung nhà kính, giá thể (mụn xơ dừa, đất), phân bón, giống rau, gà và ngỗng giống, thức ăn chăn nuôi… đã được vận chuyển từ đất liền ra đảo. Từ khi nhà kính được đưa vào sử dụng tháng 7/2013, bộ đội tích cực trồng xen canh các loại rau, bình quân mỗi tháng thu được từ 30-35kg rau xanh trên diện tích 10m2 được chia cho mỗi phân đội, thường xuyên đáp ứng khoảng 80% nhu cầu rau xanh, thậm chí vào dịp tháng 7, tháng 8 còn thừa rau bán cho nhà bếp.
 
Trực tiếp ra đảo nuôi, trồng, cán bộ của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (Bộ NN-PTNT) cũng đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho hàng chục lượt cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên đảo. Dự án đã đạt hiệu quả bước đầu, góp phần cải thiện bữa ăn cho quân và dân, tăng cường sức khoẻ để xây dựng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. 
 
Nhờ thành tích tốt trong huấn luyện phục vụ chiến đấu, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây  dựng và bảo vệ Tổ quốc, xã đảo Song Tử Tây đã vinh dự được tặng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước, của Bộ Quốc phòng, trong đó có danh hiệu cao quý đơn vị “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” năm 1999. Đảo Song Tử Tây cũng là đơn vị nhiều năm liên tục được tặng danh hiệu đơn vị quyết thắng, đơn vị huấn luyện giỏi.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn

  • PDF

FOODCROPS. Đứng trên vai những người khổng lồ tiên phong. Phương Tây mới thực sự là cái nôi của các ngành khoa học công nghệ cao. Tư duy mở, hợp tác trao đổi công nghệ nhiều hơn trong nghiên cứu mới có thể xây dựng được thế giới khoa học ngôn ngữ cho người Việt. Khỏang cách do sự khác biệt ngôn ngữ, yếu kém trong đào tạo giáo dục, tư duy đóng trong chia sẽ kiến thức, hạ tầng không đồng bộ ... là vấn đề chính gây cản trở trong nghiên cứu thực tế. Việt Nam khác Trung Quốc ngay từ nền tảng. Không thể chỉ học tập theo mô hình đóng của Trung Quốc trong phát  triển khoa học kỹ thuật mà phải gắn chặt hơn vào sự cởi mở của khoa học phương Tây bằng việc mở rộng ngôn ngữ giáo dục chính quy có tôn trọng và kế thừa. Lịch sử để lại của nước Trung Hoa không phải là một sự thuần khiết cho giáo dục hiện đại.  Nên tiến đến lấy ngôn ngữ tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính từ bậc Trung học lên Đại học.  Đẩy mạnh các phương thức giáo dục song ngữ Anh - Việt kết hợp ngôn ngữ truyền thống tiếng Hoa ngọai khóa tiến theo mô hình giáo dục từ Singapore sẽ giúp thế hệ trẻ vượt lên, thóat khỏi thiếu sót từ hệ thống giáo dục thiếu động lực do những hạn chế của quá khứ để lại cho đất nước. 

Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn

Phùng Văn Quân
Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ, thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ

Việt Nam hiện có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức chỉ khoảng 2.000 kết quả có tiềm năng ứng dụng thực tế.

Thực trạng kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tại các kỳ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X "phát triển thị trường Khoa học và công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm khoa học và công nghệ (từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển ) trở thành hàng hóa. 

Để thực hiện chủ trương trên, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, hệ thống luật và các văn bản hướng dẫn luật, nghị định. Điều này có tác động tích cực nhất định đối với việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam. Một số viện nghiên cứu và phát triển đã thành công trong chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Xét số nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp hàng năm, các tổ chức nghiên cứu trong nước thực hiện khoảng 2.000 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đóng góp kết quả vào nguồn tài sản trí tuệ có thể khai thác thương mại phục vụ phát triển sản xuất.

Theo nguồn thông tin chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, riêng số lượng các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tại các trường đại học, mỗi năm, khối các trường đại học đào tạo khoảng 15.000 thạc sĩ, 1.000 tiến sĩ. Nếu coi mỗi luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ là một kết quả nghiên cứu, thì hàng năm khối các trường đại học đóng góp vào kho kết quả nghiên cứu khoảng 16.000 kết quả.

Đối với các sáng chế, giải pháp hữu ích có nguồn gốc nước ngoài được các tổ chức, cá nhân đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, theo thông tin từ Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia, tính đến tháng 10 năm ngoái, đơn vị này đã cấp khoảng 12.000 văn bằng bảo hộ.

Đối với kho tài sản trí tuệ mở của thế giới, hiện Cục Sở hữu trí tuệ đang lưu trữ gần 30 triệu bản mô tả sáng chế (tương ứng 30% số sáng chế lưu giữ tại WIPO đang lưu giữ tại NOIP), trong đó có 31.500 bản đã được dịch ra tiếng Việt sẵn sàng cho tra cứu khai thác. Đây là nguồn tài sản trí tuệ rất lớn đóng góp vào nguồn các kết quả nghiên cứu, sáng chế phục vụ cho khai thác thương mại, phát triển sản xuất ở nước ta.

Ngoài các nguồn trên, một nguồn khá lớn các kết quả nghiên cứu, giải pháp hữu ích đến từ các nhóm đơn lẻ, các cá nhân, thường được biết đến với cái tên “sáng chế nông dân”. Những kết quả nghiên cứu này đến từ quá trình tìm tòi, sáng tạo của người lao động nhằm giải quyết các vấn đề kĩ thuật liên quan đến lao động sản xuất của họ. Nhiều kết quả nghiên cứu loại này có tiềm năng ứng dụng lớn vì nó xuất phát từ bài toán thực tiễn sản xuất. Theo ước tính sơ bộ, các nghiên cứu loại này mỗi năm có hàng nghìn kết quả.

Như vậy, xét về số lượng, có thể thấy, hiện chúng ta đang sở hữu một kho kết quả nghiên cứu, sáng chế rất lớn. Ước tính, hàng năm các tổ chức cá nhân trong nước đóng góp thêm vào kho tài sản trí tuệ khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, sáng chế.

Tuy nhiên, hướng nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu theo tiêu chí ứng dụng vào khu vực doanh nghiệp sản xuất là điều cần phải quan tâm. Hiện Việt Nam có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức là chỉ khoảng 2.000 kết quả là có tiềm năng ứng dụng thực tế, số còn lại là các nghiên cứu không phải nghiên cứu ứng dụng, hoặc những nghiên cứu chưa thiết thực với thực tế sản xuất trong nước.

Ngoài ra, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ các tổ chức khoa học và công nghệ vào doanh nghiệp còn rất hạn chế.

Theo kết quả của một cuộc điều tra về thị trường công nghệ, trên 50% số doanh nghiệp trả lời có quá ít các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước cung cấp công nghệ cho thị trường và nếu có thì thường chỉ là các công nghệ nhỏ lẻ, ít tạo thành các dây chuyền công nghệ đồng bộ, đủ sức tạo ra sản phẩm hàng hóa cạnh tranh với nước ngoài.

Theo đánh giá của các cơ quan quản lý, các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước thường nghiên cứu tiếp nhận những thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và vận dụng vào Việt Nam, ít công trình sáng tạo. Ngay cả những đề tài nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn, số kết quả nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện cấp bằng bảo hộ trí tuệ không nhiều.

Theo thống kê, mỗi năm số hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng thực hiện thành công chỉ khoảng 20 – 30 hợp đồng. Nếu kể cả các khai thác theo thỏa thuận giữa các nhóm nghiên cứu với các doanh nghiệp không qua các hợp đồng chuyển nhượng, con số khai thác thành công các kết quả nghiên cứu cũng chỉ tính theo đơn vị hàng trăm.

So với con số tiềm năng khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, 13.000 nhu cầu đổi mới công nghệ mỗi năm, có thể thấy việc khai thác thương mại kết quả nghiên cứu, sáng chế trong nước là quá nhỏ so với tiềm năng.

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu trên thế giới

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, chình quyền liên bang Hoa Kỳ đã có những thay đổi to lớn trong chính sách, chiến lược liên quan đến việc khai thác và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. 

Để thực hiện điều này, việc đầu tiên, Mỹ ban hành các điều luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Ví dụ, để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980, Mỹ ban hành Luật Bayh-Dole. Từ khi đạo luật này ra đời, các trường đại học của Mỹ đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của họ.

 Theo các nhà nghiên cứu, cứ một đô la đầu tư vào tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ, trường đại học nhận được trên 6 đô la thu nhập từ các dịch vụ chuyển giao công nghệ. Hiện Mỹ có hơn 200 trường đại học hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ trong trường. Ngoài ra, chính quyền liên bang còn rất chú trọng trong việc kết nối các doanh nghiệp với các trường đại học. Mối liên kết này được thực hiện qua việc đầu tư một phần của doanh nghiệp vào hoạt động của các trung tâm nghiên cứu tại trường Đại học. Về phần mình, trường Đại học chịu áp lực từ hội đồng khoa học Quốc gia, chủ động kết nối với doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu – triển khai. Đây là điểm thể hiện mối liên kết bền chặt giữa Nhà nước – trường đại học và doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được chú trọng ở nhiều nước châu Á. Đầu năm 2000, Hàn Quốc ban hành Luật Thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhằm đẩy mạnh việc thương mại hóa công nghệ được tạo ra từ các tổ chức khoa học và công nghệ. Thông qua các biện pháp miễn, giảm thuế, hỗ trợ tài chính, Hàn Quốc hỗ trợ thành lập các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ như Trung tâm Chuyển giao công nghệ quốc gia, các văn phòng chuyển giao công nghệ trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập.

Để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Malaysia đã xây dựng Chương trình hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Chương trình tài trợ một phần kinh phí thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển trong nước.

Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện những biện pháp mạnh để thúc đẩy tiến trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trung Quốc thực hiện một số biện pháp cải cách hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ. Hiện nhiều viện nghiên cứu truyền thống buộc phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng dành một khoản ngân sách đáng kể để khuyến khích và hỗ trợ các viện nghiên cứu tiến hành thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình và đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ cho các sáng chế.

Chính sách của các nước góp phần quan trọng gia tăng tốc độ giao dịch mua bán công nghệ (bao gồm kết quả nghiên cứu và phát triển). Ở một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia, tăng trưởng về giao dịch mua bán công nghệ đang diễn ra với tốc độ cao.

Đặc biệt, giao dịch mua bán công nghệ trên thị trường Trung Quốc trong hơn 20 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng trên hai lần so với tăng trưởng GDP. So với các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, ở các nước như Trung Quốc, Malaysia và nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, sự can thiệp của nhà nước trong việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học mạnh hơn.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Giải thưởng Food Prize 2013 thế giới hướng về cây chuyển gen

  • PDF

Ba nhà khoa học có công trong giống cây trồng GM nhận được giải thưởng FOOD PRIZE thế giới

Ba nhà khoa học thuộc lĩnh vực agri-biotechnology đã được tặng giải thưởng cao quý WFP 2013 (World Food Prize).

Đầu tiên là GS TS Marc Van Montagu, Founde nhà sáng lập và Chủ tịch IPBO (Institute of Plant Biotechnology Outreach), Ghent, Belgium. Công trình khoa học nổi bật của ông về bệnh “crown gall” một trong những khám phá vi khuẩn gây khối u cho thực vật sống trong đất (Agrobacterium tumefaciens) mang phân tử cấu trúc vòng đáng dấu DNA được biết với thuật ngữ "Ti plasmid". Người thứ hai là Bà Mary-Del Chilton, nhận giải thưởng WFP 2013, đã chứng minh được một phần của plasmid này được sao bản và chuyển vào genome của tế bào thực vật bị vi khuẩn tấn công.

Mary-Del Chilton, Nhà sáng lập và nhà nghiên cứu của công ty Syngenta Biotechnology, nhóm nghiên cứu của Bà đã tìm ra cơ chế của vi khuẩn Agrobacterium, Bà đã sử dụng cơ chế ấy để tạo ra được cây thuốc lá biến đổi gen đầu tiên. Công trình khoa học của Bà cung cấp cho loài người chứng cứ rằng genome cây trồng có thể được cải biên với mức độ chính xác theo như mong muốn so với cải tiến giống theo phương pháp truyền thống.

Người thứ ba là TS Robert T. Fraley, Phó Chủ Tịch điều hành và Trưởng cơ quan kỹ thuật của Monsanto. Nhóm nghiên cứu của Fraley sản xuất được những cây transgenic đầu tien thông qua chuyển nạp gen nhờ vi khuẩn Agrobacterium. Fraley đã được xem như một nhân vật chính của giống đậu nành GE kháng thuốc cỏ. Ông đặc biệt đã mang lại giống cây trồng GM cho những người nông dân sản xuất qui mô nhỏ.

 Xem chi tiết http://www.w  orldfoodprize.org/en/laureates/2013_laureates/

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module