Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Robot nông nghiệp thay người chăm sóc cây

  • PDF

Robot nông nghiệp thay người chăm sóc cây

Phenotyping là quá trình quan sát các đặc điểm vật lý của một cây trồng để đánh giá sức khỏe của nó. Mặc dù một phần cần thiết của quá trình lai giống cây trồng nhưng nó cũng rất tẻ nhạt và ngốn thời gian, đặc biệt khi bạn có cả một cánh đồng để kiểm tra, đó chính xác là kiểu công việc phù hợp để giao cho robot. Dẫn đầu bởi Giáo sư Stephen P. Long, nhóm nghiên cứu Đại học Illinois đã vừa tạo ra được một chú robot như thế.

Thiết bị bán tự động này được điều khiển nhờ sự kết hợp giữa GPS và một laptop do con người vận hành khi nó di chuyển giữa các luống cây trên 2 vòng xích giống bánh xe tăng mọi địa hình.

Nó được trang bị các cảm biến bao gồm camera siêu quang phổ, phân giải cao và camera nhiệt cùng với màn hình thời tiết và máy quét laser dạng xung. Hệ thống này cho phép thiết bị thu thập dữ liệu chăm sóc cây trồng như đường kính gốc, chiều cao của cây và diện tích lá cùng với các thông tin về điều kiện môi trường như nhiệt độ và thành phần độ ẩm của đất.

Dữ liệu được lưu trữ trên một máy tính tích hợp của robot và đồng thời được truyền tới laptop của người dùng. Sau đó người dùng sẽ sử dụng thông tin đó để tạo ra một mô hình máy tinh 3D của mỗi cây trông để tạo mô hình dự đoán về sự sinh trưởng và phát triển của cây và ước tính sản lượng sinh khối cho cả từng cây và toàn bộ vụ mùa.

Cho đến nay nó chỉ được thử nghiệm trên cây lúa miến năng lượng vốn được trồng để sử dụng làm nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, người ta tin rằng kỹ thuật có thể thực hiện tốt với các loại cây trồng thân cao khác như bắp hoặc lúa mỳ.

Giáo sư Girish Chowdhary, người cộng tác với dự án, hiện đang tìm cách để làm cho robot thanh mảnh hơn để nó đi dễ dàng giữa các hàng cây. Ông cũng đang lên kế hoạch trang bị cho robot một hệ thống tránh chướng ngại vật. Rốt cuộc nhóm hy vọng sẽ có sản phẩm ra mắt thị trường vào năm 2021 với tầm giá khoảng 5000 USD.

“Điều mà chúng ta cần là khả năng mô tả cây trồng khi nó sinh trưởng. Bạn có thể làm điều đó có lẽ với nhóm rất nhiều người nhưng nay robot có thể đảm nhận tất cả cho bạn”, Long cho biết.

 

Thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp

  • PDF

Thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp 

Thúc đẩy khu vực tư nhân hợp tác với người nghèo là hết sức cần thiết để người nghèo cải thiện thu nhập. Theo đó, Cơ quan hợp tác và phát triển Thụy Sĩ (SDC) tập trung cải thiện mối quan hệ hợp tác với khu vực tư nhân để mang lại lợi ích bền vững cho các cộng đồng nông thôn còn đang trong tình trạng nghèo dai dẳng ở Việt Nam.

Đó là nhận định của ông Samuel Waelty, Giám đốc quốc gia của SDC vừa cho biết tại Hội thảo về thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo nằm trong khuôn khổ hoạt động chương trình “Tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho người nghèo nông thôn thông qua phát triển chuỗi giá trị“ (gọi tắt là MARP) do chính phủ Thụy Sĩ tài trợ.

Theo Giám đốc Samuel Waelty, nông thôn là thị trường có nhiều rủi ro, chi phí giao dịch lớn và thiếu những liên kết thị trường bền vững, do đó huy động các nguồn lực của khu vực tư nhân cho phát triển bền vững vì người nghèo vẫn là một thách thức.

“Những chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của quốc tế và Việt Nam ngày hôm nay sẽ giúp chúng ta tìm ra giải pháp tốt nhất để hợp tác với khu vực tư nhân nhằm tăng thu nhập bền vững cho người nghèo ở vùng nông thôn và bản thân khu vực tư nhân,” ông Samuel Waelty nhấn mạnh.

Chia sẻ kinh nghiệm của mình ông Javier Ayala, Giám đốc điều hành Quỹ thách thức doanh nghiệp Việt Nam cho rằng, kinh doanh cùng người thu nhập thấp (IB) là mô hình kinh doanh huy động nhóm thu nhập thấp trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp với vai trò là nhà cung ứng, khách hàng, nhà phân phối và công nhân bằng cách tạo ra các giá trị chia sẻ.

Mặt khác, kinh doanh cùng người thu nhập thấp bằng cách hỗ trợ nông dân quy mô nhỏ là cách hiệu quả nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo, bởi 70% lương thực thế giới sản xuất bởi nông dân quy mô nhỏ.

Ông Javier Ayala nêu rõ, những chuỗi giá trị có sự tham gia giữa doanh nghiệp và những đối tượng có thu nhập thấp đã tạo ra những lợi ích đáng kể như công ty ngành chè đã góp phần tăng thu nhập cho người thu nhập thấp lên 60% (trước đó chỉ 0,5 USD/ngày) cho ít nhất 800 nông hộ (giai đoạn thử nghiệm, tiềm năng cho hơn 2.000 hộ). Năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, các hợp đồng thương mại bền vững.

Theo đó, các doanh nghiệp tham gia cũng có lợi nhuận tăng trên 50% và cung ứng chè chất lượng cao, ổn định, cải thiện tiếp cận các thị trường mới đối với chè tự nhiên chất lượng cao, cải thiện mối quan hệ với chính quyền địa phương.

Ông Samuel Waelty cũng cho biết, chương trình MARP khởi động vào tháng 7 năm 2013 với tổng ngân sách là 5,2 triệu USD nhằm hỗ trợ cho các dự án và các tổ chức, chủ yếu tại Việt Nam và một phần tại Lào và Myanmar. Mục tiêu của chương trình là hỗ trợ các hộ gia đình nông thôn nghèo tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp phù hợp để tăng thu nhập.

Đánh giá kết quả sau 10 tháng triển khai chương trình MARP đến nay, ông Samuel Waelty nhấn mạnh chương trình đã được triển khai tại 8 tỉnh ở Việt Nam với tám chuỗi giá trị nông nghiệp là: chè, mây, tre, vải lụa, vải thổ cẩm, thảo quả, quế và hồi. Hiện, MARP đã tiếp cận được 6.870 hộ gia đình tại 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam, trong đó 90% là người dân tộc thiểu số, 32% người hưởng lợi là phụ nữ./.

Liên Hiệp Quốc công bố Báo cáo về tình hình thời tiết trong năm 2013

  • PDF

Liên Hiệp Quốc công bố Báo cáo về tình hình thời tiết trong năm 2013
N.T.T - VISTA

 

Ngày 13/11/2013, Liên Hiệp Quốc đã công bố Báo cáo về tình hình thời tiết 2013 với những cảnh báo nghiêm trọng về khí hậu thế giới. Báo cáo cho biết, năm 2013 là một năm chứng kiến nhiều hiện tượng thời tiết diễn biến bất thường và khắc nghiệt, với nhiều cơn bão lớn, điển hình là cơn bão Haiyan tàn phá Philipin.

 

Báo cáo cho biết, những số liệu tạm thời được Tổ chức Thời tiết Thế giới (OMM) công bố năm 2013 đang trở thành một trong mười năm nóng nhất kể từ năm 1850. Ngoài ra, mực nước biển dâng cũng ở mức cao kỷ lục. Các chuyên gia của cơ quan chuyên trách về khí hậu của Liên Hiệp Quốc cảnh báo, mực nước biển trung bình đến tháng 3/2013 đã đạt kỷ lục, tăng 3,2 mm/năm, gấp đôi với số liệu ghi được trong thế kỷ 20 là 1,6 mm/năm. Nhiệt độ trung bình trong năm cũng đạt mức cao nhất. Hầu hết các vùng trên Trái đất đều có nhiệt độ cao hơn mức trung bình, đặc biệt trong  các khu vực như Ôxtrâylia, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Bắc Phi. Trong 9 tháng đầu năm 2013 cũng được ghi nhận nóng hơn thời gian tương ứng ở các năm 2011 và 2012.

 

Ông Michel Jarraud, Tổng thư ký của OMM, cho biết, mực nước biển sẽ còn tiếp tục tăng do băng tan chảy. Hơn 90% lượng nhiệt bắt nguồn từ khí gây hiệu ứng nhà kính vẫn được đại dương hấp thụ. Chính vì thế mà nước biển sẽ ấm lên làm đại dương giãn nở ra trong hàng trăm năm. Ngoài ra, hàm lượng CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính đã đạt mức đỉnh năm 2012 và trong năm 2013 con số này sẽ còn đạt mức kỷ lục mới. Điều này cho thấy khí hậu thế giới còn nóng hơn nữa trong tương lai.

 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Sản lượng của các giống cây trồng nông nghiệp mới vẫn đang tiếp tục gia tăng

  • PDF

Sản lượng của các giống cây trồng nông nghiệp mới vẫn đang tiếp tục gia tăng
K.P. - Mard, Theo Sciencedaily

 

Nghiên cứu về giống lúa mì đông, lúa mạch xuân, khoai tây trồng lấy tinh bột và củ cải đường đã được các công ty giống cây trồng khởi xướng ở Hà Lan từ năm 1980 đến năm 2010 cho thấy các giống cây trồng mới đang tiếp tục cho sản lượng nhiều hơn các giống tổ tiên của chúng.

 

Bất chấp những quan ngại gần đây cho rằng các giống cây trồng chủ lực tại các vùng có năng suất cao đã đạt mức sản xuất tối đa, sự gia tăng năng suất tiềm tàng của các giống cây mới vẫn chưa chững lại. Thực tế là việc lai tạo giống cây trồng vẫn có thể dẫn đến sự gia tăng về sản lượng đã được các nghiên cứu tại trường Đại học Wageningen chứng minh.

Các doanh nghiệp, chuyên gia tư vấn và các nhà khoa học đôi khi cũng tự hỏi liệu các nhà nhân giống cây trồng có thể làm tăng thêm nữa năng suất các loại cây trồng hiện nay như lúa mì đông và khoai tây hay không. Ngày càng có nhiều bài báo được đăng tải trên các bài điểm báo quốc tế cho rằng, sản lượng hầu như không tăng tại các quốc gia đã từng có năng suất cao. Quan điểm chiếm ưu thế là cây trồng không thể tiếp tục phát triển thêm nữa khi chúng đã phát triển tới mức tối đa, rõ ràng là phải đạt được một mức trần sản lượng. Các nhà khoa học tại trường Đại học Wageningen đã quyết định nghiên cứu sâu hơn vấn đề này.

Năng suất cây trồng phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống, đất, khí hậu và chăm sóc, quản lý cây trồng. Các nhà khoa học đã phân tích các thử nghiệm chính thức trên các giống đã được thực hiện từ năm 1980 đến năm 2010. Một kỹ thuật thống kê cho phép họ tách ảnh hưởng của thời tiết, nồng độ CO2 và quản lý cây trồng khỏi ảnh hưởng của việc đưa ra các giống mới. Điều này cho thấy rằng, các giống mới được đưa ra từ năm 1980 đến 2010 trung bình đều có sản lượng cao hơn các giống cũ. Điều này được áp dụng đối với lúa mì đông, lúa mạch xuân, khoai tây trồng lấy tinh bột, củ cải đường, cũng như ở phạm vi hẹp hơn, để áp dụng với khoai tây hàng hóa. Trong giai đoạn được xem xét, năng suất của các giống lúa mì đông và lúa mạch xuân xuất hiện trên thị trường lần đầu tiên đã tăng khoảng 1% mỗi năm.

Nhân giống cây trồng vẫn đảm bảo một sự gia tăng tối đa về năng suất. Nhưng sản lượng thực tế của người nông dân đạt được trong một số trường hợp có vẻ tăng chậm hơn hoặc thậm chí chững lại. Nói cách khác, sẽ khó khăn hơn để khai thác đầy đủ tiềm năng của các giống mới. Điều này có nghĩa rằng, cái được gọi là khoảng cách năng suất giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế đang gia tăng. Vấn đề còn lại là liệu điều này có phải do thay đổi khí hậu, chất lượng đất, thay đổi quản lý cây trồng hay không, hay là do kết hợp của những yếu tố này.

Israel thay đổi nền nông nghiệp thế giới

  • PDF

12 cách người Israel thay đổi nền nông nghiệp thế giới 

Từ tưới nhỏ giọt đến thuốc bảo vệ thực vật sinh học, cuộc cách mạng nông nghiệp của Israel đang mang đến những phương thức mới để thay đổi bộ mặt của sản xuất nông nghiệp.

An ninh lương thực đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu cho mọi quốc gia trong bối cảnh dân số không ngừng phát triển hiện nay. Khi mà tài nguyên đang dần cạn kiện trong khi dân số vẫn không ngừng tăng lên, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực bền vững đang là điều mà bất cứ quốc gia nào cũng khao khát. Và cho đên nay, chưa từng có một quốc gia nào có các điều kiện canh tác nông nghiệp khó khăn hàng đầu thế giới có thể đóng góp các thành tựu để thay đổi bộ mặt nền nông nghiệp thế giới tốt hơn Israel.

Từ những năm 1950, người Israel không những chỉ tìm ra phương thức tuyệt với để phủ xanh cho những sa mạc mà họ đã chia sẻ, chuyển giao những sáng kiến này đến các quốc gia khác thông qua các tổ chức hợp tác quốc tế của họ một cách rộng rãi. Và dưới đây là 12 thành tựu của người Israel đã mang đến cho nhân loại, giúp thay đổi bộ mặt của nền sản xuất nông nghiệp toàn cầu, đem đến phương thức sản xuất hiệu quả và là cách thức để giải quyết vấn đề an ninh lương thực hiện nay.

1. Công nghệ tưới nhỏ giọt

Có lẽ không có thành tựu nào có được sự ảnh hưởng to lớn đến nền nông nghiệp Israel cũng như cả thế giới như phát minh này. Khái niệm tưới nhỏ giọt đã có từ trước khi nhà nước Israel ra đời, nhưng nó chỉ được thực sự trở thành cuộc cách mạng với sự phát hiện của kỹ sư tài nguyên nước Israel - Simcha Blass, người tình cờ phát hiện ra rằng sự nhỏ giọt chậm và đều đặn dẫn đến khả năng kích thích tăng trưởng đáng kể trên thực vật. Từ phát hiện trên, ông đã chế tạo ra một loại ống dẫn nước có các đầu tưới từ từ nhỏ từng giọt nước theo tỷ lệ tối ưu nhất cho từng loại cây trồng.

Từ đó đến nay, công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel và các giải pháp tưới tiêu vi thủy lợi nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới. Chúng liên tục được phát triển, làm cho tốt hơn, các mô hình tưới nhỏ giọt mới nhất là công nghệ tự làm sạch đường ống và duy trì tốc độ dòng chảy thống nhất bất kể chất lượng nước và áp suất nước trong hệ thống tưới.

Một ví dụ rất nhỏ để thấy được ý nghĩa của công nghệ này đến nền nông nghiệp của các quốc gia là hệ thống Tipa, có nghĩa là "nhỏ giọt", một sản phẩm của Israel phát triển cho thị trường nước ngoài đã cho phép 700 hộ nông dân ở Senegal có thể canh tác ba vụ một năm thay vì chỉ một vụ mỗi năm vào mùa mưa, đối với cả những vùng đất tưởng chừng không thể trồng trọt được. Các kết quả tương tự ở Kenya, Nam Phi, Benin và Nigeria có thể chứng minh hiệu quả của hệ thống này.

2. Kén tồn trữ lương thực

Người Israel đã thiết kế sản phẩm kén tồn trữ lương thực nhằm đưa ra một giải pháp đơn giản, rẻ tiền cho các nông dân châu Á và châu Phi để tồn trữ lương thực sau thu hoạch một cách hiệu quả nhất.

Sản phẩm này chỉ đơn giản là một chiếc túi khổng lồ - được thiết kế bởi Giáo sư công nghệ thực thẩm quốc tế Shlomo Navarro - giúp lương thực tránh được việc tiếp xúc với không khí và độ ẩm. Nó đang được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển tại châu Phi, Trung Đông và cả những quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Israel như Pakistan.

Với các phương pháp tồn trữ lương thực truyền thống, 50 % lượng ngũ cốc thu hoạch được và 100% sản lượng đậu bị tổn thất là do côn trùng và ẩm mốc. Tại các quốc gia đang phát triển, nông dân chỉ tồn trữ lương thực họ thu hoạch được bằng các phương tiện thô sơ như giỏ, bồ, túi, bao tải, những thứ không thể bảo vệ lương thực của họ thoát khỏi sự đói khát của côn trùng và các tác nhân gây hại từ bên ngoài. Và sản phẩm kén tồn trữ lương thực sinh ra để giải quyết các vấn đề đó, đặc biệt là sức nóng và độ ẩm cao.

3. Kiểm soát côn trùng theo phương pháp sinh học

Các kỹ sư Israel đã lai tạo ra các giống côn trùng có ích nhằm giải quyết vấn đề kiểm soát sâu bệnh tuân theo các nguyên lý sinh thái học tự nhiên, đồng thời họ cũng lai tạo các giống công trùng chuyên biệt như giống ong vò vẽ chuyên thực hiện thụ phấn tự nhiên trong môi trường nhà kính.

Theo Tiến sĩ Shimon Steinberg của cơ quan ISRAEL21c, việc sử dụng giống nhện kích thước chỉ dài 2mm hình quả lê màu cam hiện đang là giải pháp hiệu quả nhất để kiểm soát tình trạng bọ ký sinh trên cây trồng, kể cả các loại bọ tàn phá cây trồng nông nghiệp rất khó bị loại trừ bằng các phương pháp hóa học. Ông cho biết: "60% sản lượng dâu tây của California từ năm 1990 đến nay đã được cứu bằng các giống nhện ăn thịt bọ ký sinh từ Israel", ông cũng cho biết, tại Israel, các sản phẩm sinh học đã cho phép nông dân giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đi 75% trong canh tác.

4. Công nghệ chăn nuôi bò sữa công nghiệp

Israel là quốc gia đã phát triển các công nghệ chăn nuôi bò sữa tập trung theo quy mô công nghiệp đầu tiên trên thế giới, đây là những hệ thống cho phép người chăn nuôi có thể quản lý, theo dõi, giám sát và cho ăn đàn gia súc tập trung thông qua các thiết bị máy tính. SAE Afikim là một trong 10 công ty của Israel đã tham gia vào dự án 5 năm trong việc phát triển đàn bò sữa trị giá 500 USD tại Việt Nam, đó là sự án chăn nuôi lớn nhất thế giới mà họ tham gia. Trong dự án này các hoạt động sẽ bao gồm phát triển đàn bò 30.000 con tại 12 vùng chuyên canh chăn nuôi – sản xuất sữa tập trung với sản lượng 300 triệu lít mỗi năm và tăng dần qua các năm. Đến cuối năm 2012, 500.000 lít sữa đã được sản xuất hàng ngày.

5. Nông nghiệp trực tuyến

Đó là Hệ thống Kiến thức nông nghiệp trực tuyến (Agricultural Knowledge On-Line (AKOL), đây là một hệ thống tương tác trực tuyến trên toàn cầu, nó liên kết kho dữ liệu về kiến thức nông nghiệp, các chuyên gia và nông dân để giải quyết bất cứ một vấn đề gì trong nông nghiệp. Mọi nông đân giờ đây có thể truy cập vào hệ thống này, học hỏi các kiến thức, kinh nghiệm và yêu cầu sự giúp đỡ, tư vấn phương pháp, giải pháp nông nghiệp từ các chuyên gia hàng đầu, các nhà sản xuất nông nghiệp chuyên nghiệp về vấn đề của họ.

6. Giống khoai tây có thể trồng ở những nơi khắc nghiệt

Phải mất gần 30 năm nghiên cứu, Giáo sư David Levy developedstrains của Đại học Hebrew mới lai tạo được giống khoai tây có thể phát triển mạnh trong khí hậu nóng, khô, và có thể được tưới bằng nước mặn. Đây là giải pháp trồng trọt vô cùng hiệu quả và mang lại lối thoát cho việc canh tác tại các vùng cát sa mạc, ven biển.

Khoai tây là một trong những nguồn lương thực chính của hàng triệu người trên thế giới, nhưng trước đây người ta không thể trồng được một củ khoai tây nào trong các vùng sa mạc như Trung Đông. Bây giờ nông dân ở các khu vực này có thể phát triển khoai tây là một loại cây trồng đem lại lợi ích kinh tế lớn.

7. Công nghệ tưới nước nhỏ giọt từ không khí

Tal-Ya là công nghệ tưới nước bằng khay nhựa dùng nhiều lần để thu thập sương, hơi nước từ không khí, giúp giảm lượng nước phải tưới cho cây trồng, nó có thể tiết kiệm lên đến 50% lượng nước tưới. Mấu chốt của công nghệ là các khay vuông có răng cưa, được làm từ nhựa tái chế với các bộ lọc tia cực tím, nó sẽ bao quanh gốc cây.

Với sự thay đổi nhiệt độ ngày - đêm, hơi nước bốc lên và sương đêm buông xuống sẽ đọng lại trên cả hai bề mặt của khay Tal-Ya, theo phễu sương và tưới thẳng vào rễ cây. Nếu trời mưa, các khay này sẽ hứng nước mưa và tưới cho cây, nó làm tăng hiệu quả hiệu quả tưới của mỗi milimet nước mưa lên 27 lần.

Ngoài ra các khay cũng còn hạn chế ánh mặt trời để cỏ dại không thể bén rễ, và bảo vệ thực vật khỏi sự thay đổi nhiệt độ khắc nghiệt tại các vùng sa mạc, đất cằn, đồng thời cùng làm giảm sự ô nghiễm nước ngầm.

8. Công nghệ bảo vệ thực vật thân thiện với môi trường

Để giải quyết vần đề bảo vệ thực vật mà vẫn thân thiện với môi trường, công ty chuyển giao công nghệ của Đại học Hebrew hợp tác với Makhteshim Agan, công ty hàng đầu thế giới về các sản phẩm bảo vệ cây trồng đã phát triển và thương mại hóa các sản phẩm thuốc diệt cỏ chậm phát tán vào đất và thuốc trừ sâu không gây tổn hại cho côn trùng có ích.

Cách tiếp cận của Israel là sản xuất các túi thuốc diệt cỏ có tính chất vật lý giống đất sét, mang điện tích âm để cho phép phát tán vào đất chậm và có thể kiểm soát, làm giảm thẩm thấu vào các lớp đất sâu hơn trong khi vẫn duy trì tác động diệt cỏ trên lớp đất bề mặt.

Điều này làm tăng hiệu quả diệt cỏ và giảm liều lượng cần thiết. Với thuốc trừ sâu, các kỹ sư Israel chế tạo ra các loại thuốc đặc chủng chỉ tác động đến 1 hoặc một số loài sâu bệnh trong khi đó không có tác dụng đến các loài khác, điều này làm giảm tác động của thuốc trừ sâu đến các côn trùng có ích, đảm bảo đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

9. Nuôi cá trong sa mạc

Đánh bắt quá mức là một mối đe dọa nghiêm trọng đến việc duy trì sản lượng các loại cá, cá là nguồn chính cung cấp protein cho hàng trăm triệu người trên thế giới. Rất nhiều quốc gia đang đau đầu vì muốn phát triển nguồn cung cấp cá trong nước, nhưng điều kiện về diện tích nuôi trồng lại bị giới hạn bởi điều kiện tự nhiên và nguồn nước. Những lo lắng đó có thể được giải quyết với một công nhệ của Israel khi cho phép cá có thể được nuôi tại hầu như bất cứ nơi nào, ngay cả trong sa mạc.

Đó là hệ thống GFA (Grow Fish Anywhere). Hệ thống nuôi cá này là một khu vực nuôi cá được khép kín và có thể đặt ở bất cứ đâu, không phụ thuộc vào các điều kiện về điện, nguồn nước cũng như môi trường bên ngoài, nó cho phép loại bỏ các vấn đề về làm sạch môi trường trong nuôi cá thông thường, và không phụ thuộc vào nguồn nước sẵn có. Đặc biệt, hệ thống sử dụng các vi khuẩn được phát triển làm sạch bể nuôi cũng như mầm bệnh ở cá khiến cho hầu như không có chất thải trong ao nuôi và không cần thay nước.

10. Sản xuất thực phẩm từ khí nhà kính

Khí nhà kính - CO2 là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu, nhưng nếu nó được sử dụng để nuôi trồng thì sao? Đó là điều mà công nghệ seambiotic của Israel mang lại. Từ lâu con người đã biết tảo là loài thưc vật có thể mang lại giá trị cao gấp 30 lần so với bất kỳ loại cây trồng nào từng được biết đến, và nó cũng là nhân tố chủ chốt trong việc tạo ra phần lớn lượng Ôxy cho chúng ta hít thở hàng ngày. Thức ăn chính của tảo là gì? Chính là CO2 và ánh sáng, và hệ thống seambiotic sẽ đem CO2 được phát thải từ các nhà máy biến thành nguồn cung cấp thức ăn cho tảo.

Tại các vùng châu Phi và Trung Đông, thứ không bao giờ thiếu đó là ánh sáng mặt trời, với thời gian có ánh sáng hàng năm cao nhất thế giới, hai khu vực này chính là thiên đường cho việc nuôi tảo. Còn gì tuyệt với hơn khi một công nghệ vừa có thể giải quyết vấn đề phát thải CO2 ra không khí lại vừa đem lại giá trị kinh tế cao, đó là điều tuyệt vời mà người Israel đã mang lại cho thế giới.

11. Nhân giống cá chép châu Phi

Nửa thế kỷ trước, trong khu vực hồ Victoria, cá chép châu Phi là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống của người dân Uganda gần đó. Nhưng khi cá rô sông Nile xâm nhập được vào hồ, nó đã cạnh tranh và tàn sát hầu hết các loài cá trong hồ, kể cả cá chép châu Phi. Cư sân xung quanh đó không có dụng cụ cũng như kỹ thuật đánh bắt cá rô sông Nile cũng như không có kỹ thuật nhân giống và nuôi cá nên đã xảy ra tình trạng thiếu hụt thực phẩm trầm trọng. Từ đó chế độ dinh dưỡng của cư dân bị suy giảm, các vấn đề sức khỏe đã xảy ra.

Để giải quyết vấn đề thiếu hụt nguồn cung, Giáo sư Berta Sivan của Đại học Hebrew đã thực hiện một dự án kéo dài nhiều năm để giúp đỡ các gia đình châu Phi. Nhóm nghiên cứu của bà đã áp dụng các kỹ thuật nhân giống, lai tạo cũng như nuôi trồng được phát triển qua nhiều năm cho người nuôi Israel để giải quyết vấn đề này.

Qua nhiều năm, dự án đã mang lại sự thay đổi to lớn cho Uganda, không chỉ nhân giống được các loại cá chép châu Phi để nuôi tại các trang trại cá Uganda, mà nó còn cung cấp các khóa đào tạo về làm thế nào để khai thác và nuôi trồng giống cá này với quy mô nhỏ. Bây giờ trẻ em địa phương có một nguồn cung cấp dồi dào protein cùng với trái cây và rau quả của họ, vấn đề dinh dưỡng đã căn bản được giả quyết.

12. Hạt giống chất lượng cao cho mùa vụ bội thu

Tại Đại học Hebrew, các nhà khoa học nông nghiệp Ilan Sela và Haim D. Rabinowitch đã phát triển công nghệ TraitUP, một công nghệ cho phép cấy ghép vật liệu di truyền vào hạt giống mà không sửa đổi cấu trúc DNA gốc của chúng. Phương pháp này đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng hạt giống cây trồng ngay trước khi chúng được gieo trồng. Với công nghệ này, các nhà khoa học có thể đưa các đặc tính về kháng sâu bệnh, tăng cường các đặc điểm thích nghi với thổ nhưỡng và khí hậu vào các hạt giống để nâng cao chất lượng cây trồng về sau.

Công nghệ này mở ra các cơ hội cho việc phát triển các giống cây trồng chuyên biệt cho từng vùng khí hậu, thổ nhưỡng nhằm tối đa hóa năng suất, đảm bảo chất lượng. Điều này mang đến cơ hội cho các quốc gia đang phát triển trong việc nang cao năng suất và chất lượng cho các sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Để cây điều Việt Nam phát triển bền vững

  • PDF
Để cây điều Việt Nam phát triển bền vững

Sản phẩm thuộc ngành hàng nông nghiệp, nhưng cây điều được xếp vào cây trồng công nghiệp lâu năm. Từ nhiều năm nay, kim ngạch xuất khẩu của hàng nông phẩm này xếp thứ tư sau gạo, cà phê, cao su, đã tạo nhiều công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân. Thực tế, hiện nay vẫn còn nhiều bất cập trong đầu tư cho cây điều, cần phải có chiến lược phát triển phù hợp, tương xứng với tiềm năng của những vùng đất sản xuất điều trong thời gian tới.

Thực trạng sản xuất điều nước ta

Cây điều ở nước ta phát triển rất nhanh, từ thập niên 80 thế kỷ trước đã được đưa vào cơ cấu cây trồng thuộc ngành lâm nghiệp. Đến năm 1990, trở thành một trong những cây công nghiệp lâu năm xuất khẩu chủ lực, có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng thấp Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và một số vùng đất cao ở đồng bằng sông Cửu Long. Là cây đa mục tiêu (phát triển kinh tế, phòng hộ đất, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo…), sinh trưởng nhanh, rễ phát triển mạnh, tán rộng che phủ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn rất tốt.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh, năm 2013 cả nước có 310.000 ha điều, trong đó diện tích điều trồng tập trung khoảng 60,8%, phân tán 39,2%, năng suất bình quân đạt 9,1 tạ/ha, sản lượng 285.000 tấn hạt, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,654 tỷ USD (hạt điều, dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm chế biến từ điều) đến 95 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 35% thị phần, Trung Quốc 20%, EU 20%, còn lại 25% là các quốc gia khác; với 330 đơn vị xuất khẩu, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (số doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu dưới 5 triệu USD/năm, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu); tiêu thụ nội địa chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 4%. Nước ta đang chuyển từ nước sản xuất nguyên liệu sang nước chế biến điều của thế giới.

Những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận và cho phép sản xuất thử 10 giống điều mới. Hiện nay, các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, tuyển chọn giống mới có nhiều ưu điểm nổi bật, vừa đạt năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh, thích nghi với điều kiện sinh thái của từng vùng và chịu đựng tốt với sự biến đổi khí hậu, đang được nhân rộng trong thời gian tới. Số liệu điều tra cho thấy, chỉ có khoảng dưới 34,4% diện tích điều hiện nay được trồng bằng các giống điều mới, diện tích điều trồng bằng cây thực sinh, giống cũ vẫn đang chiếm diện tích lớn, khoảng trên 65,6%, phần lớn diện tích điều này chất lượng giống kém, rất ít được chăm sóc, đã có một số biểu hiện sự thoái hóa. Những vườn điều mới trồng, đa số nông dân trồng bằng giống ghép, mới, nhưng khâu quản lý nguồn gốc xuất xứ, chất lượng giống còn nhiều bất cập, một số cơ sở cung cấp giống không đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật làm cho người trồng điều chưa thật sự yên tâm khi chuyển sang trồng giống điều ghép, mới.

Nhiều tiến bộ kỹ thuật về cây điều đã được các cơ quan chuyên môn, hệ thống khuyến nông, Hiệp hội điều chuyển giao thông qua nhiều hình thức như xây dựng mô hình thâm canh, cải tạo vườn điều cũ, chăm sóc, bón phân, tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh… đã tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo, thăm quan, tuyên truyền quảng bá. Nhiều nông dân trồng điều học tập, làm theo và đã đạt kết quả rất khả quan, nhất là nông dân các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, nhiều diện tích điều được trồng từ những năm 80 - 90 thế kỷ trước với mục đích phủ xanh theo chương trình 327, 661, hiện nay đều đã lớn tuổi, chất lượng giống không bảo đảm, khoảng cách mật độ trồng không hợp lý, chăm bón kém… đã dẫn đến thực trạng năng suất, sản lượng thấp, thậm chí một số vườn điều nông dân tiến hành đầu tư thâm canh nhưng năng suất tăng không đáng kể, đã ảnh hưởng đến tâm lý và thu nhập của nông dân.

Hiện nay, cả nước có trên 465 cơ sở chế biến điều, trong đó 30 doanh nghiệp chế biến đạt tiêu chuẩn HACCP, ISO 9001, ISO14000, ISO 22000, BRC. Để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng yêu cầu về công nghệ chế biến hạt điều theo tiêu chuẩn xuất khẩu, giảm áp lực về lao động, 100% doanh nghiệp lớn đã đầu tư tự động hóa nhiều khâu trong dây chuyền sản xuất (cắt, tách vỏ hạt, bóc vỏ lụa); đổi mới công nghệ chế biến. Năm 2013, các doanh nghiệp thu mua hạt điều sản xuất trong nước 285.000 tấn, giá bình quân từ 20.000 đến 23.000 đồng/kg, đáp ứng 30% nhu cầu chế biến của các nhà máy, số còn lại nhập khẩu; nhìn chung, chất lượng hạt điều nhập khẩu không đồng đều, nhiều lô hàng có chất lượng kém so với điều trong nước (về tỷ lệ nhân thu hồi, cỡ hạt, độ ẩm, tạp chất).

Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất điều

Là ngành hàng phát triển trên quy mô rộng, diện tích lớn, giải quyết việc làm cho hơn 900.000 lao động, trong sản xuất nông nghiệp và chế biến, kim ngạch xuất khẩu xếp hạng thứ 4 sau lúa gạo, cà phê, cao su, nhưng đến nay, hầu hết các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chưa tổ chức, đầu tư xây dựng được vùng nguyên liệu, chưa ký kết hợp đồng thu mua sản phẩm để ổn định nguyên liệu có chất lượng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà chủ yếu thu mua qua tầng nấc trung gian, ảnh hưởng đến giá thu mua trực tiếp từ người sản xuất.

Phần lớn diện tích đất trồng điều được bố trí trên chân đất không thuận lợi. Đất xấu, độ dốc lớn, không có nước tưới, khó có điều kiện thâm canh và thậm chí có những vùng sinh thái điều kiện khí hậu, đất đai không phù hợp.

Trên 65,6% diện tích điều hiện nay được trồng bằng cây thực sinh, và giống chất lượng kém, không được chọn lọc… có năng suất thấp, chất lượng hạt thu hoạch kém. Các giống này có đặc điểm ít quả, quả bé, dễ nhiễm sâu bệnh, ra hoa tập trung trong thời gian ngắn dễ bị ảnh hưởng của thời tiết bất lợi như mưa trái vụ lúc ra hoa. Một số giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đang được khuyến khích, nhưng khâu quản lý chất lượng giống chưa được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra, diện tích điều đã già cỗi (trên 20 năm tuổi) chiếm tỷ lệ cao khoảng 29,5%, sâu bệnh nhiều, trồng phân tán (trên 39,2% diện tích) nên năng suất thấp.

Mấy năm gần đây do sự biến đổi khí hậu đã phát sinh nhiều loại sâu bệnh như bọ xít muỗi, sâu róm đỏ, bọ đục chồi, xén tóc đục thân cành, rệp sáp, bệnh thán thư, bệnh khô cành… gây hại ở mức độ nặng hơn cho cây điều, làm giảm năng suất, sản lượng.

Phần lớn các vườn điều không được đầu tư chăm bón theo đúng yêu cầu kỹ thuật và nhu cầu của cây. Thiết kế vườn cây không hợp lý, không có biện pháp bảo vệ đất chống xói mòn, mật độ cây không bảo đảm, quá dày 400 cây/ha, hoặc quá thưa 70 cây/ha, không xới xáo, bón phân, tưới nước (trừ một số vườn trồng xen), không tiến hành tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh không triệt để và đúng cách đã làm cho vườn cây nhanh suy kiệt, năng suất thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

Giá bán hạt điều thấp, biến động nhiều, bình quân khoảng 20.000-23.000 đồng/kg, phải qua nhiều khâu trung gian; trong lúc giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công liên tục tăng cao… ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng điều, làm giảm tính cạnh tranh của cây điều so với nhiều cây trồng khác.

Để cây điều phát triển được bền vững

Với quan điểm, phát triển ngành điều bền vững, theo hướng hiện đại, đồng bộ, sản xuất hàng hóa lớn với các sản phẩm đa dạng có chất lượng, mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp, từ nay đến năm 2020, ngành sản xuất điều phấn đấu tổng diện tích trồng điều khai thác 350 ngàn ha (phân bố ở 9 tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Bình Định), trong đó diện tích thu hoạch 300 ngàn ha, chiếm 85,7%; cho năng suất 15-17 tạ hạt/ha; tổng kim ngạch xuất khẩu ngành điều 2,5 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu trên, ngành cần thực hiện một số nhóm giải pháp chính, đồng bộ. Đó là:

1. Đối với sản xuất điều

Rà soát, điều chỉnh vùng quy hoạch trồng điều. Hình thành vùng trồng trọng điểm, tập trung đầu tư thâm canh, hướng tới xây dựng vườn điều lớn; đầu tư xây dựng giao thông, thủy lợi, mạng lưới thu mua, chế biến. Phân loại các vườn điều hiện có: diện tích điều già cỗi, sâu bệnh nhiều, giống không đạt yêu cầu cần trồng tái canh, cải tạo; diện tích có đủ điều kiện thì tập trung thâm canh, tăng năng suất.

Để từng bước nâng cao chất lượng vườn điều, tăng năng suất, hiệu quả và nâng cao đời sống cho người dân, từng địa phương xây dựng kế hoạch thâm canh phù hợp ở mức cao nhất nhằm phát huy tiềm năng lợi thế, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây điều và xây dựng kế hoạch, bước đi cụ thể để tái canh, cải tạo, khôi phục vườn điều già cỗi, nhiễm sâu bệnh, giống không đạt yêu cầu hoặc chuyển sang trồng cây lâm nghiệp hoặc cây trồng khác đối với diện tích điều trồng nơi không phù hợp, hiệu quả thấp hơn.

Chú trọng trồng xen, nuôi xen tổng diện tích điều với các cây trồng, vật nuôi phù hợp. Cụ thể, trên đất có nước tưới bổ sung sẽ trồng điều xen ca cao; trên đất có điều kiện giữ ẩm sẽ trồng điều xen gừng, nghệ, sa nhân; trên đất dốc, sườn đồi, ven biển sẽ trồng điều kết hợp nuôi gà thả vườn, nuôi ong lấy mật…

Nghiên cứu chọn tạo và đưa vào sản xuất giống điều có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái, chống chịu một số sâu bệnh chủ yếu và thích nghi với sự biến đổi khí hậu. Xây dựng vườn đầu dòng, vườn nhân giống gốc. Đối với giống ghép, 100% cành ghép, gốc ghép phải lấy từ cây đầu dòng có chứng nhận; thường xuyên kiểm tra, đánh giá cây giống bảo đảm yêu cầu. Đơn vị được chọn nhân, cung ứng giống phải cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật và chịu trách nhiệm vật chất về chất lượng cây giống.

Tổ chức lại sản xuất theo hướng tăng cường liên kết ngang giữa các nông hộ trồng điều với nhau, hình thành các tổ chức sản xuất: hợp tác xã, tổ kinh tế hợp tác, tổ đoàn kết sản xuất, câu lạc bộ trồng điều năng suất cao, liên minh nông dân trồng điều...Tập hợp được các nông hộ trồng điều (hiện cả nước có 456.410 nông hộ trồng điều) nhằm tạo sự đồng thuận để họ tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật; thông tin thị trường, giá cả; tiếp nhận các chính sách của Nhà nước và phối hợp cùng nhau thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Tăng cường liên kết giữa người trồng điều với doanh nghiệp, xây dựng mô hình vườn điều mẫu lớn, tiến đến xây dựng vùng nguyên liệu điều cho từng doanh nghiệp.

2. Đối với chế biến điều

Quy hoạch, sắp xếp lại các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu điều theo hướng giảm đầu mối, hình thành các cơ sở chế biến lớn, thiết bị và công nghệ hiện đại.

Khuyến cáo không thành lập mới cơ sở chế biến và không tăng thêm công suất chế biến hạt điều khi thị trường cung cấp hạt điều nguyên liệu trong nước còn chưa phát triển vượt công suất chế biến.

Xây dựng mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO, HACCP, GMP, BRC và quy chuẩn kỹ thuật cơ sở chế biến hạt điều, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

3. Đối với tiêu thụ

Đẩy mạnh tiêu thụ điều trong nước, tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm chế biến có chất lượng và giá trị cao. Ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.

Mở rộng hệ thống thông tin giúp nông dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại, khuyến khích xuất khẩu thông qua Hiệp hội Điều Việt Nam. Chuyển từ chính sách trợ cấp xuất khẩu sang hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của điều Việt Nam, chuẩn bị điều kiện tốt để tham gia hiệp định TPP.

4. Giải pháp về chính sách

Để thực hiện trồng tái canh, cải tạo, khôi phục và trồng mới, trồng xen cây thuộc vùng quy hoạch điều, phía nhà sản xuất rất cần sự quan tâm hỗ trợ từ Nhà nước bằng các chính sách cụ thể. Đó là, hỗ trợ 80% giá trị cây giống đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cho nông dân được sản xuất từ các đơn vị cung ứng giống được chỉ định; 40% phân bón cho trồng điều trong năm đầu tiên khi thực hiện cải tạo, khôi phục diện tích điều và trong 3 năm đầu sau khi trồng tái canh. Về vốn vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất vay ưu đãi 6%/năm với thời gian 7 năm đối với vốn đầu tư trồng tái canh, cải tạo khôi phục và trồng mới bằng giống mới có chất lượng, thời gian hoàn trả vốn và lãi bắt đầu từ năm thứ 4 và kết thúc vào năm thứ 7.

Bên cạnh sự hỗ trợ về vốn, các nhà sản xuất điều cũng mong muốn có được những cơ chế, chính sách bảo đảm cho phát triển sản xuất được ổn định: các cơ quan hữu quan sớm xây dựng, ban hành giá sàn thu mua hạt điều hằng năm để làm căn cứ các doanh nghiệp thu mua giá an toàn; hình thành Quỹ Bảo hiểm rủi ro ngành điều, bằng cách huy động từ các nguồn hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước, đóng góp của doanh nghiệp điều và các nguồn đóng góp khác; giảm thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm điều tiêu thụ trong nước./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

 

Cần một giải pháp xây dựng đội ngũ khoa học mới

  • PDF
Cần một giải pháp xây dựng đội ngũ khoa học mới
Trần Gia Ninh - Tiasang.

 

Trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam ta thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn.

 

Từ nhiều năm nay, Bộ KH&CN đã mong muốn có được một chính sách sử dụng, trọng dụng nhà khoa học nhằm tạo điều kiện để nhà khoa học phát huy tối đa năng lực và được hưởng lợi ích xứng đáng từ kết quả hoạt động KH&CN. Nhưng để những chính sách đó có tính khả thi thì trước hết cần có giải pháp xây dựng một đội ngũ khoa học mới. 

 

Không chỉ riêng Việt Nam, nhân loại từ lâu cũng đau đầu về việc nghĩ ra cách để đánh giá trình độ tài năng qua bằng cấp và tuyển chọn, bổ nhiệm, từ đó có chính sách ưu đãi và trọng dụng nhà khoa học tài năng:
 

Với nhóm nước có truyền thống đào tạo giáo dục chính thống lâu đời như nhóm quốc gia châu Âu lục địa (Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Nga…) thì họ chọn việc tôn trọng bằng cấp đi kèm với thi cử chặt chẽ và chính danh bổ nhiệm. Ở những nước này, nhân tài trên Đại học (không tính cấp Thạc sĩ) phải được lọc qua hai cấp: Tiến sĩ (gọi chung cho Phó tiến sĩ, Ph.D, Dr.Rer nat…) và mức Tiến sĩ Khoa học (gọi chung cho Tiến sĩ Khoa học, Dr.habil, Dr.d’Etat…). Ở trình độ TSKH là mức tài năng cao nhất cho nghề nghiệp giảng dạy Đại học (Professur) việc bổ nhiệm làm Giáo sư (Professor) là đương nhiên nếu có ghế trống, Tiến sĩ cũng có thể bổ nhiệm GS như là ngoại lệ. Ở những quốc gia này, bổ nhiệm Giáo sư là việc do nhà nước (Liên bang hoặc Bang) thực hiện theo tiến cử của một số nhà khoa học độc lập có uy tín nhất. Ngay Einstein muốn được bổ nhiệm Giáo sư (có ghế hoặc thỉnh giảng) cũng phải hoàn thành luận văn Habilitation. Như vậy, nếu nhà nước muốn giữ quyền tuyển chọn và bổ nhiệm thì bộ lọc nhân tài phải nghiêm cẩn thứ bậc, minh bạch và chặt chẽ.

Ở những quốc gia theo xu hướng thực dụng, đánh giá theo thực lực (nhóm Anglo-Saxon như Anh, Mỹ) thì chỉ có một cấp Ph.D và hoàn toàn phân quyền, cạnh tranh tự do về tài năng. Đại học và Viện Nghiên cứu mọi loại hình sở hữu đều tự trị. Giáo sư là một chức vụ nghề nghiệp, lấy Ph.D là một điều kiện nhưng quyết định lại là tài năng thực sự, do trường tự chọn, tự chịu trách nhiệm và tự bổ nhiệm, hết dạy là hết chức danh. Nhà nước không can thiệp ngoài sự hỗ trợ tài chính theo luật định. Dễ nhận thấy rằng, dù là hệ thống nào thì cũng phải bảo đảm có hai vế: Động lực và Kiểm soát. Nếu động lực, đánh giá là sự ban phát của nhà nước thì bằng cấp phải được kiểm soát chặt chẽ, thực chất, qua nhiều bộ lọc độc lập có trách nhiệm. Nếu bằng cấp là thả nổi thì xã hội và thị trường nhân lực là hệ thống kiểm soát đánh giá theo thực chất, nhà nước không can thiệp. Nhà nước chỉ tạo chính sách để thu hút nhân tài cho quốc gia kể cả rút ruột các quốc gia khác.

 

Dù đã được thiết kế chặt chẽ và hợp lý như vậy nhưng không có hệ thống nào được coi là hoàn thiện mà không phải liên tục cải tiến. Huống hồ trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm nhà khoa học của Việt Nam thì áp dụng lai tạp giữa hai hệ thống: Thi cử và bằng cấp thì theo kiểu thị trường tự do kiểu Mỹ, kể cả mua bán. Đánh giá và bổ nhiệm thì lại do nhà nước độc quyền nắm giữ. Kết quả là mặt trái của hai cơ chế thả sức hoành hành. Kết quả là đến nay, hiện trạng tài năng trẻ già, giáo sư thật giả, cán bộ đầu ngành, cuối ngành… là một mớ vàng thau lẫn lộn. 

Những năm gần đây nhiều lâu đài của khoa học cũng không còn tự trọng, chăm lo cho uy tín của mình nữa, vì không ít lãnh đạo các đơn vị nhà nước đó không lo bị xã hội đào thải và chẳng còn động lực gì ngoài đồng tiền. Đến mức như Đại học Quốc gia… thậm chí còn liên kết đào tạo, bán bằng rởm, điển hình như hàng ngàn Thạc sĩ, Tiến sĩ ĐH Irwin (rởm), ĐH Giggs. Có lãnh đạo chuyên ngành ở Viện Hàn lâm nọ được xác định gian trá trong khoa học lại được nhà nước đưa lên nắm giữ những trọng trách như Tổng Cục trưởng chính cái ngành chuyên môn anh ta đã gian trá, hoặc có anh khác lại làm Viện trưởng các Viện lớn hơn nữa… Đó thật sự là nhạo báng nhân tài.

Đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là một quá trình dài hạn, có tính thừa kế liên tục. Cha nào con nấy, thầy nào trò nấy… Nếu không nhìn nhận sự thật cay đắng đó và có những quyết sách quyết liệt trong việc thanh lọc lại đội ngũ hiện có và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ mới thì mọi chính sách về ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ KHCN, nếu có đề ra, cũng chỉ là vẽ rắn thêm chân.

Cần phải thành thật nhìn nhận rằng trong đội ngũ cán bộ KH&CN hiện nay, có nhiều người đang thực sự là vật cản vô hình chính yếu đối với mọi hoạt động KHCN. Việc đánh giá, thanh lọc đội ngũ này là cấp thiết nhưng rất khó khăn, nhất là các tổ chức KHCN ở nước ta hiện nay chủ yếu là công lập hoặc nằm trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). Tất cả các tổ chức này đã hành chính hóa nặng nề, không thể tự cải tổ được. Do vậy việc cải tổ phải là một quá trình áp đặt từ bên ngoài. 

Để thực hiện chính sách cải tổ áp đặt này nhà nước có thể chọn mời cỡ 50-60 nhà khoa học thật sự, đã trực tiếp làm khoa học cho đến nay (kể cả số đã nghỉ), có thành quả cụ thể (không phải chỉ nói hay) đủ uy tín với giới chuyên môn trong và ngoài nước (chứ không phải với quan chức nhà nước). Họ phải không có hoặc không còn có tham vọng quyền lực hành chính. Những nhân vật này sẽ được giao đề xuất một chính sách và giám sát thực thi việc thanh lọc và xây dựng đội ngũ khoa học công nghệ mới một cách thực chất, vô tư. 

Khi hiện trạng đã được cải tổ, lực lượng KHCN mới thực sự manh nha và phát triển dần, từ đó mới có đất cho những chính sách ưu đãi, sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học công nghệ phát huy tác dụng.

***

Mấy năm trước, báo chí Việt Nam viết về câu chuyện “Tiến sĩ trẻ người Việt trên đất Đức” có đăng bức thư của một giáo sư Đức gửi cơ quan ngoại vụ Đức, xin trích1 “…Tôi đã tìm trong hơn 6 tháng qua mà không thể tìm thấy một ứng cử viên nào có khả năng và kiến thức được như vậy trong lĩnh vực này. Vì những lý do đó tôi yêu cầu quý ngài giải quyết nhanh nhất hồ sơ của kỹ sư Hoang Hung Tran.

Tôi muốn lưu ý các ngài rằng, theo kinh nghiệm cá nhân của tôi thu nhận được trong thời gian tôi điều hành một số công ty  ở Mỹ thì lĩnh vực trên đây đang là nơi cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty của Mỹ và Đức.

Trong điều kiện nói chung rộng mở rất hấp dẫn của nước Mỹ đối với các kỹ sư nước ngoài thì sẽ có nguy cơ mất kỹ sư Hoang Hung Tran vào tay một công ty hoặc trường Đại học của Mỹ nếu quý ngài giải quyết quá chậm chạp…”

Thư yêu cầu gửi cơ quan ngoại vụ Đức (Auslandsamt) của Giáo sư M. Schroeter, chủ nhiệm bộ môn Vi điện tử (hết trích dẫn).

Bài báo cho biết là lập tức Chính phủ bang Sachsen ký ngay một hợp đồng tuyển dụng nhà khoa học 26 tuổi người Việt này với bậc lương viên chức BAT. Điều đáng chú ý là ngay đối với các kỹ sư Đức trẻ tuổi cũng khó có vị trí như vậy, huống chi là người nước ngoài, nhất là lúc tỷ lệ thất nghiệp của người Đức ở đây cao hơn 15%.  

Liên tưởng với câu chuyện hành xử linh hoạt, vì nhân tài này ở nước Đức, một nước điển hình cho quy chuẩn và nguyên tắc cứng nhắc, thử hỏi, liệu có một Giáo sư Việt Nam nào có thể yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam tuyển dụng đặc cách ngay với một chàng trai trẻ tài năng nào đó, người Việt thôi chứ không phải là người nước ngoài, để giữ một trọng trách khoa học với một sự tôn trọng và đãi ngộ thích đáng đủ để giữ chân anh ta lại trong nước. Chưa nói đến sẵn sàng linh hoạt hành xử như người Đức nguyên tắc, mà chỉ riêng việc tin tưởng và tôn trọng ý kiến nhà khoa học cũng là việc hầu như ít thấy ở các quan chức hành chính Việt Nam. 

Vì vậy, trong quá trình xây dựng chính sách ưu đãi sử dụng, trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, những ý kiến của những nhà khoa học được giao nhiệm vụ đó và của cộng đồng khoa học, cần được những quan chức quản lý KHCN (như Bộ KH&CN chẳng hạn) tôn trọng, lắng nghe.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Nông nghiệp trước ngưỡng cửa TPP

  • PDF

Nông nghiệp trước ngưỡng cửa TPP

Chúng ta đang nỗ lực thực hiện nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP, đặc biệt là với Hoa Kỳ, nước có vai trò chi phối nhiều mặt trong các nước thành viên sau này.

Đây là một trong những hiệp định đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế thương mại nói chung, trong đó có ngành nông nghiệp vốn là thế mạnh của chúng ta nhưng lại chưa phát triển bền vững.
Chế biến hạt điều xuất khẩu

Các tài liệu liên quan đến lịch trình đàm phán cho thấy trong năm này, trao đổi thương mại nông nghiệp hai chiều giữa Mỹ với mười quốc gia TPP khác đạt mốc 94 tỉ USD, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông nghiệp của Hoa Kỳ với thế giới. Trong đó, xuất khẩu nông nghiệp Hoa Kỳ vào 10 nước đối tác TPP đạt hơn 45 tỉ USD, tương đương 32% tổng lượng xuất khẩu Hoa Kỳ trên toàn thế giới.

Mặt khác, Hoa Kỳ cũng là một thị trường lớn. Các đối tác TPP cũng là nguồn cung cấp quan trọng các sản phẩm nhập khẩu nông sản vào Hoa Kỳ với kim ngạch xuất khẩu chiếm đến 47% nhập khẩu của Mỹ.
 
Một trong những vấn đề cơ bản quan trọng nhất trong việc tham gia TPP chính là việc chuẩn bị hạ tầng, kỹ thuật và khả năng quản lý trong nông nghiệp. 

 Bên cạnh đó, cạnh tranh gay gắt khi tham gia TPP cũng buộc Việt Namphải có những thay đổi tích cực để sản phẩm nông nghiệp ViệtNamcó chỗ đứng. Những cải cách đó bắt nguồn từ khâu cung ứng: cải cách phương thức sản xuất, công nghệ, bảo quản, tăng chất lượng; đến khâu xuất khẩu: phương thức tiếp thị, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tăng cường sản phẩm mới…

 Như vậy, nếu được gia nhập một sân chơi tập trung nhiều nước phát triển cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Singapore… đó sẽ là cơ hội lớn cho cải cách nông nghiệp Việt Nam. Đồng thời, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng có điều kiện tiếp cận thị trường chất lượng cao trong phân khúc thị trường thế giới, giúp nông nghiệp Việt Nam thoát khỏi hình ảnh “nông nghiệp giá rẻ”.

 Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, TPP có thể giúp thúc đẩy đầu tư của các nước trong khối vào Việt Nam, đặc biệt trong một số lĩnh vực Việt Nam mong muốn, trong đó có mục tiêu nâng cao trình độ của lĩnh vực nông nghiệp, tạo khả năng cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị trong khu vực và trên toàn cầu.

 Các nước châu Á – Thái Bình Dương nói chung là thị trường quan trọng của Việt Nam. Hai trong ba nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ và Nhật Bản, TPP sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang các nước này cũng như các thành viên khác của TPP nhờ những cam kết mở cửa thị trường mạnh hơn.

 Tuy các nền kinh tế tham gia đàm phán TPP (Australia, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, Việt Nam và Nhật Bản) có sự phát triển không đồng đều, nhưng rõ ràng Việt Nam là một nước có thế mạnh trong nông nghiệp, điều kiện thiên nhiên thuận lợi, đại bộ phận người dân sống ở nông thôn gắn bó có tính truyền thống với sản xuất nông nghiệp.

 So sánh năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam và các nước tham gia đàm phán TPP thì chúng ta có thế mạnh trong xuất khẩu các sản phẩm của ngành trồng trọt. Trong các nước tham gia TPP, Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt và đối với chúng ta việc đàm phán với nước này có tính quyết định hơn cả.

 Theo ghi nhận của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Mỹ là đối tác lớn nhất của chúng ta trong khối TPP và cũng là thị trường xuất khẩu hàng nông sản lớn nhất. Việt Nam là một trong 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn nhất sang Mỹ với các sản phẩm như cà phê, điều, tiêu, gạo và chè. Năm 2012, Mỹ là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, đạt 203,5 nghìn tấn, kim ngạch xấp xỉ 460 triệu USD.

 Theo số liệu mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm tháng đầu năm 2013, khối lượng xuất khẩu cà phê vào Mỹ đạt 101,7 ngàn tấn, giá trị đạt 235,42 triệu USD, tăng 30,1% về lượng và 24,7% về giá trị so với cùng kỳ.

 Trong các nước tham gia đàm phán thì Nhật Bản là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về ngũ cốc, hạt có dầu và chăn nuôi; và Nhật Bản là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ ba của Việt Nam trong TPP với các mặt hàng nông sản như cà phê, rau quả….

 Một số nước khác như Australia, Mexico cũng là những thị trường xuất khẩu nông sản lớn của Việt Nam trong khối TPP với các mặt hàng như điều, gạo, cà phê, hạt tiêu, rau quả…

 Về nhập khẩu của Việt Nam trong TPP, Australia là thị trường nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam với các sản phẩm lúa mì, bông, rau quả, sữa và sản phẩm từ sữa. Mỹ là thị trường nhập khẩu nông sản và nguyên liệu đầu vào lớn thứ hai của Việt Nam với các sản phẩm như bông, thức ăn gia súc, sữa, lúa mì, rau quả.

 Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương có thể mang lại cho chúng ta thuận lợi trong một số lĩnh vực nông nghiệp này đồng thời cũng có thể tạo ra thách thức trong vài lĩnh vực nông nghiệp khác. Ngành có cơ hội hưởng lợi lớn nhất là ngành trồng trọt, nhất là lúa gạo.

 Thái Lan không tham gia đàm phán TPP, nên sẽ tăng cơ hội xuất khẩu gạo của Việt Nam vào TPP, nhất là thị trường Nhật Bản (nhu cầu nhập khẩu gạo của Nhật Bản đứng thứ 3 trong TPP). Đồng thời, đa số các thành viên TPP là các nước phát triển, nên đây cũng là thị trường tiềm năng cho hàng nông sản chất lượng cao, nhất là gạo chất lượng cao.

 Ngành gặp khó khăn lớn nhất là ngành chăn nuôi. Mỹ, Úc, Canada, New Zealand,… xuất khẩu ròng sản phẩm chăn nuôi, trong khi sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chất lượng chưa cao, hàng rào kỹ thuật của Việt Nam thấp. Do vậy, Nhà nước cần hỗ trợ để bảo vệ ngành này trước những thách thức mới, cũng như nâng dần năng lực cạnh tranh cho ngành.

 Mặt trái của TPP đối với nông nghiệp Việt Nam không phải là ít. Nông nghiệp Hoa Kỳ là một ngành có khả năng thâm nhập mạnh vào bất cứ thị trường nào nhờ chất lượng sản phẩm mang tính ưu việt, đồng thời cũng có khả năng phòng thủ rất tốt trước nông sản các nước. Cùng các rào cản kỹ thuật đặt ra khá khắc nghiệt, Hoa Kỳ hoàn toàn có thể duy trì và bảo vệ nền nông nghiệp quốc gia trước những thách thức về nhập khẩu.

 Đây chính là điều chúng ta phải đối phó để tránh thiệt hại cho nông dân. Không chỉ Việt Nam mà nhiều nước khác cũng đứng trước thách thức này. Như Nhật Bản chẳng hạn, trước khi tham gia vòng đàm phán gia nhập TPP, chính phủ nước này phải xem xét phương thức bồi hoàn thiệt hại cho nông dân. Những thâm hụt sản xuất trong ngành nông nghiệp – vốn được bảo hộ nhờ thuế nhập khẩu nông sản cao – sẽ là rất lớn, do TPP đã xóa thuế quan các mặt hàng nông nghiệp nhập khẩu.

 Tất nhiên trình độ phát triển của chúng ta không thể làm như Nhật mà phải kêu gọi, thu hút sự hỗ trợ và đầu tư của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, để giải quyết nhanh các vấn đề hạ tầng, kỹ thuật, quản lý. Muốn thế, chính sách thu hút đầu tư, thiện chí trong cải cách mở cửa phải được thực hiện mạnh mẽ và triệt để hơn nữa.

 Tuy vậy chỉ chừng ấy cũng chưa đủ và có thể bị lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, mà tự lực cánh sinh là bài toán phải tính đến. Cụ thể là chính sách cải cách nông nghiệp từ khâu ruộng đất, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, công nghệ, phương thức sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, tiếp cận thị trường đầu ra… phải được thực hiện nhằm tạo thế mạnh, sức chịu đựng và khả năng đối phó với sự xâm nhập của nông sản các nước trên thị trường nội địa.

 Những vấn đề đặt ra trên đây là chuyện lâu dài, còn trước mắt, trong giai đoạn đàm phán chúng ta phải lựa chọn thái độ nào đấy để thuyết phục được các đối tác.

 Theo cam kết TPP, Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước, tức phải loại bỏ 100% dòng thuế (thuế quan nhập khẩu) đối với các sản phẩm nông nghiệp, đồng thời các nước tham gia TPP cũng phải mở cửa cho nông sản Việt Nam.

 Hiện nay, các nước tham gia TPP đều có xu hướng đàm phán hạn chế, giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa. Cụ thể, với thị trường xuất khẩu, rào cản kỹ thuật của các nước sẽ khắt khe hơn, trong khi năng lực cạnh tranh của Việt Nam không cao nên khó tận dụng lợi ích từ việc giảm thuế quan.

 Về thị trường nội địa, do nền nông nghiệp nước ta lạc hậu, thu nhập không cao và nông dân là nhóm dễ bị tổn thương trong hội nhập, nên cần bảo hộ một số lĩnh vực nhất định trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Đáng nói là rào cản kỹ thuật lĩnh vực này của chúng ta chưa có hoặc không cao nên thị trường nội địa sẽ gặp bất lợi.

 Trong khi đó, hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) rất quan trọng đối với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt Nam.

 Tại sao vậy? Bởi dù thuế quan được cắt bỏ nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao gói… vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí rủi ro hơn nhiều hơn so với thuế quan.

 Để đưa ra những đề xuất thích hợp trong xây dựng phương án bảo vệ ngành nông nghiệp, nước ta cần có đánh giá đầy đủ về tương quan năng lực cạnh tranh của ngành này với các đối tác TPP, đặt trong bối cảnh các cam kết mở cửa thương mại hiện có của Việt Nam với các nước này.

 Và cũng đừng quên các quỵ định về sở hữu trí tuệ được bảo hộ chỉ dẫn địa lý cũng rất quan trọng mà nếu chậm chân từ bây giờ thì sau này nhiều nông sản của chúng ta như vải thiều Thanh Hà, thanh long Phan Rang, cam Vinh, cà phê Đắk Lắk… sẽ gặp khó khăn vào thị trường TPP nếu có ai đó nhanh chân đăng ký trước tên gọi.

Diễn biến đàm phán TPP từ 2009 đến nay

- Vòng đàm phán 1 và 2: Có tám nước tham gia: Australia, Mỹ, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Peru và Việt Nam.
- Vòng thứ 3 đến 14: Có chín nước tham gia, với thành viên mới là Malaysia. Từ sau vòng 3, Việt Nam chính thức là thành viên đầy đủ (trước đó chỉ là thành viên liên kết).
- Vòng thứ 15 và 16: Có 11 nước tham gia, với hai thành viên mới là Mexico và Canada.
- Vòng thứ 17: Có 12 nước tham gia với thành viên mới là Nhật Bản.
- Vòng thứ 18: Diễn ra tại Malaysia từ 14 đến 25-7-2013.

Nội dung đàm phán:

(1) Cạnh tranh, (2) Hợp tác và xây dựng năng lực, (3) Dịch vụ xuyên biên giới, (4) Hải quan, (5) Thương mại điện tử, (6) Môi trường, (7) Dịch vụ tài chính, (8) Mua sắm chính phủ, (9) Sở hữu trí tuệ, (10) Đầu tư, (11) Lao động, (12) Các vấn đề pháp lý, (13) Thương mại hàng hóa, (14) Thương mại dịch vụ.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Kích thích rau tăng trưởng bằng kính phủ nano

  • PDF

Kích thích rau tăng trưởng bằng kính phủ nano 

Trường Bách khoa Nanyang Polytechnic (NYP) và Tập đoàn sản xuất kính an toàn Safety Glass (SSG) của Singapore đang hợp tác phát triển loại kính ứng dụng công nghệ nano nhằm mục đích nâng cao năng suất nông nghiệp.

Qua thử nghiệm, loại kính trong suốt không màu dùng làm nhà kính trồng xà lách, rau mùi và xà lách rocket đã giúp các loại rau này tăng chiều cao nhanh gấp 3 lần so với thông thường, diện tích lá cũng lớn hơn 40% mức trung bình.

Đội ngũ nghiên cứu của NYP đã tạo nên một hỗn hợp chứa các hạt nano có khả năng thay đổi màu sắc ánh sáng mặt trời thành màu xanh và đỏ, giúp cây dễ quang hợp hơn. Các hạt nano được nhúng vào một lớp polymer tích hợp trong tấm kính an toàn.

Công nghệ kính mới mang tên Nano Glo-n-Grow giúp tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời mà không cần dùng đến nguồn điện. Nhờ vậy, giá thành sản xuất rẻ hơn nhiều so với những phương pháp tăng cường sinh trưởng cây trồng đang thực hiện như dùng hệ thống đèn LED chiếu sáng màu đỏ và xanh dương.

Ông Gan Geok Chua, Giám đốc Điều hành Tập đoàn SSG cho biết sự phát triển nhanh chóng của dân số và biến đổi khí hậu trên thế giới sẽ khiến nguồn lương thực không đủ cung cấp trong vòng 10-20 năm tới. Do đó, việc ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp rất cần thiết để góp phần giải quyết vấn đề này.

"Dự kiến, chúng tôi sẽ thương mại hóa phát minh này trong vòng 1-3 năm nữa sau khi nghiên cứu hoàn thiện vật liệu hiệu quả hơn", ông Gan Geok Chua chia sẻ.

Bà Hannah Gardner, giảng viên cao cấp tại NYP, người đứng đầu dự án, từ chối tiết lộ các thành phần chi tiết của loại kính này. Tuy nhiên, bà nói rằng việc sản xuất không quá phức tạp, nguyên liệu dễ kiếm và giá rẻ, có thể mua được ngay ở các cửa hàng tạp hóa bình thường.



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module