Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Biển Đông vạn dặm

  • PDF

Ảnh

Hoàng Kim
(bài tổng hợp)

Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” là hai câu thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) trong bài thơ chữ Hán Cự Ngao Đới Sơn của Bạch Vân Am Thi Tập, với bản dịch thơ của Nguyễn Khắc Mai, giám đốc trung tâm minh triết Hà Nội, nhà nghiên cứu Hán Nôm. Tôi viết bài này từ năm trước, nay bổ sung thêm một số thông tin liên quan bài viết và hình ảnh về Núi Xanh, Thiên An Môn, Di Hòa Viên (Bắc Kinh).

Chuyện phong thủy Trung Hoa về Thiên đạo.

Trung Hoa nhiều người chuộng phong thủy. Các đế vương khởi nghiệp phát triển triều đại Trung Hoa xưa và nay đều rất ý tứ trong việc này. Bắc Kinh được lưa chọn làm đế đô của nhiều đời do được coi là thế đất phong thủy  hưng vượng muôn đời. Mỗi triều đại chỉ làm một phần việc tại thủ đô để lưu dấu công tích sự nghiệp của triều đại mình cho đời sau. Chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai khi sáng lập nước Trung Hoa mới không đụng vào quần thể di sản lịch sử văn hóa có từ nhiều đời trước mà chỉ tập trung xây dựng “cửa Trời yên”là Thiên An Môn, định rõ cửa Thiên An và hướng Thiên đạo.
TQ KimLong 1
TQ KimLong 15
TQ KimLong 13
Núi Cảnh Sơn nhìn từ điểm trung tâm của thủ đô Bắc Kinh (Center Point of Beijing City) đến trục trung tâm của thủ đô Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn (ảnh: Hoàng Long)

Điểm gốc của đế đô Bắc Kinh là Núi Cảnh Sơn ( Jǐngshān, 景山, “Núi Cảnh”, Núi Xanh, Green Mount ), địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô, ngọn núi nhân tạo, cao 45,7 m này, tạo dựng dưới thời vua Vĩnh Lạc nhà Minh, được coi là linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp, tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn.
TQ KimLong 4
Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu.

TQ KimLong 7
TQ KimLong 5

Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) – là “vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa” một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc.

Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á.
DaoTruongSa

Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc.  Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm,  bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.

Vị trí của Thông tin quốc gia

Chủ tịch Mao xác định Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải”, là phương lược căn bản để “Con sư tử phương Đông vùng dậy”. Đối với Trung Hoa thì liên Nga tránh được họa phương Bắc là tâm điểm lưu ý của các triều đại. Việc mở mang bờ cõi tranh đoạt thiên hạ phải là Nam, Hải (cửa Sinh). Sự phòng thủ Bắc Kinh hướng chính bắc là Tử Cấm Thành (cửa Tử).

Nắm vững Trung là gốc căn bản của đại kế Mao Trạch Đông, vì trong có yên thì ngoài mới ổn, nhưng trong ngoài chính phụ phải khéo chuyển hóa. Chủ tịch Mao Trạch Đông tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965 đã nhấn mạnh giả thuyết chiến lược “tam tuyến” và phương lược xử lý khi có chiến tranh lớn xẩy ra: “Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc động loạn

Hướng về Nam, mở rộng Hải là định kế phát triển Trung Hoa của Mao Trạch Đông. “Hồi thế kỷ thứ nhất đế quốc La Mã cũng đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng biển Địa Trung Hải mà họ gọi là “Biển lịch sử của chúng tôi” (Mare Nostrum: Notre Mer/ Our Sea). Địa Trung Hải là vùng biển bao la chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến các bờ biển Trung Đông và Bắc Phi. Đường Lưỡi Rồng (dân gian gọi là Lưỡi Bò) rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Mao Trạch Đông đã đưa ra phương lược khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất của nhà Thanh năm 1892. Hoàng Sa và Trường Sa trở thành “tọa độ vàng” của Bắc Kinh trên bản đồ “Biển lịch sử ” do Mao Trạch Đông khoanh vùng, để lại. Và đến nay Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp tục đường lối đó.

alt

Biển Đông vạn dặm dang tay giữ

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lạ lùng thay hơn 500 trước đã dự báo điều này và sứ giả Chu Xán triều Thanh đã phải khâm phục kính nể khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Núi tiên biển biếc nước trong xanh
Rùa lớn đội lên non nước thành
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá
Dầm chân đất sóng vỗ an lành
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.

(dịch thơ: Nguyễn Khắc Mai)

Nguyên văn:

CỰ NGAO ĐỚI SƠN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực
Trước cước trào vô quyển địa thanh
Vạn lý Đông minh quy bá ác
Ức niên Nam cực điện long bình
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành

Dịch nghĩa:

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đá
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất
Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình
Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy
Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra thông điệp ngoại giao nhắn gửi con cháu về quyết tâm và lý lẽ giữ nước: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình)

” Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình”.

Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Thiên An là trời yên cũng là dân yên. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là “kê cân – gân gà” mà bậc hiền minh cần sáng suốt.

“Cổ lai nhân giả tri vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh”

Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh.

“Quân vương như hữu quang minh chúc,
ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân”

Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo.”Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; (Hàng chục triệu người dân Việt Nam mưu sinh từ nghề biển – Ảnh Internet). “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”.

Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !

Chuyện đồng dao trên đèo Ngang của Bác Hồ

Bác Hồ có bài thơ đồng dao lạ “Biển là ao lớn, thuyền là con bò”  viết lúc 5 tuổi  khoàng năm 1895 – 1896 trên đèo Ngang. Chuyện do nhà văn Sơn Tùng kể ngày 11 tháng 4 năm 2001 tại trường Cán bộ quản lý giáo dục ngành Giáo dục Đào tạo.

Chuyện kể rằng Nguyễn Tất Thành 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế. Ông Sơn Tùng được ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho cuốn “Tất Đạt tự ngôn” vào tháng 6 – 1950, cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ. Sau đó ít tháng cụ qua đời.

Cụ Khiêm kể lại: – Hôm đó cả nhà Bác chuẩn bị đi vào Huế, Bác ngủ với bà ngoại, em Thành ngủ với mẹ, còn chị Thanh thì ngủ với dì An. Đêm đêm Bác thấy bà khóc, ngày bà vui, đêm nào cũng nghe thấy bà khóc. Sáng hôm sau thấy bà đi xin mo cau cả làng (xưa dân ta lấy mo cau làm gàu múc nước). Bác với chú Thành lấy mo cau cắt thành chiếc thuyền đem thả vào ao trước nhà, bà không cho, bà bảo đây là dép của các cháu và cha mẹ cháu để đi vào kinh đô, thời đó chưa có nhiều giày dép như bây giờ. Bác thấy bà ngoại đo chân cha mẹ Bác, đo chân cho hai anh em Bác.
Bác nói: – Mẹ, sao đêm bà khóc?
Về sau mới biết tâm sự của bà là thế này:
– Lúc đầu cha mẹ bác tưởng bà khóc vì bán ruộng cho con rể vào kinh đi học, bán mất 5 sào. Bà ngoại đêm nằm buồn mà khóc. Không phải tiếc bán 5 sào ruộng cho con rể vào kinh đi học vì “chữ nó sẽ đẻ ra ruộng, chứ ruộng nó không đẻ ra chữ”, bán ruộng cho con đi học, có chữ về thì cái chữ đẻ ra ruộng. Còn cái ruộng, bán đi đánh bạc mới mất, nên không có gì là khóc cả. Khóc là vì bà không có con trai. Ông Tú mất rồi, con rể coi như là con trai, con gái là chỗ dựa, bây giờ cả nhà kéo vào Huế, bà ở nhà cô đơn một mình, hai cháu trai và cháu gái cũng đi. (Vì thế nên cha mẹ bác chỉ cho hai anh em cùng đi vào Huế, còn chị Thanh phải ở lại quê với bà để sớm hôm, có bà, có cháu).
Như vậy cha mẹ Bác quyết định vào Huế không phải là để làm ăn sinh sống trở thành người Huế đâu, mà muốn cho anh em Bác vào Huế để học. Cha Bác vào Huế để làm bạn với các nhà khoa bảng ở kinh đô. Các ông quan thời đó đều là Tiến sĩ, là Hoàng Giáp, là Đình Nguyên, ít ra là cử nhân. Đúng là cha của Bác vào Huế đã tạo ra được một cái “chiếu văn”, các ông quan trong triều thường đến đó bình văn, bình thơ cùng với các cụ đồ ở kinh đô.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Khi đi dép mo cau, mỗi lần rách thì phải thay cái khác, còn chú Thành thì được cha cõng trên lưng. Trên cao chú ấy quan sát hỏi hết chuyện này đến chuyện khác, ví dụ như:
– Núi này là núi gì mà cao thế?
Bà Ngoại hay ví “Trèo truông mới biết truông cao” là nghĩa làm sao?
Có bao nhiêu nước để được gọi là biển? vân vân và vân vân.
Chú ấy hỏi nhiều chuyện, còn chân Bác thì nó đau vì đi mấy ngày liền, có khi Bác khóc. Mẹ Bác lại động viên:
Em nó vui vẻ hỏi chuyện này chuyện khác, con là anh mà chẳng vui chi cả. Chú được cha cõng trên lưng, đến đồng bằng thì chạy tung tăng, hỏi nhiều thứ đến cha còn lạ mắt nên mẹ Bác nói em thông minh hơn anh.
Rồi cụ Khiêm kể tiếp:
– Mà chú ấy thông minh hơn Bác thật…! Lúc đến đèo Ngang, đường có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Ở chân Đèo Ngang có bãi cỏ rất bằng, mẹ Bác mới đặt gánh xuống, cha Bác xếp ô lại, bảo:
– Chỗ này phẳng, nghỉ lại đây ta ăn cơm nắm để rồi leo đèo. Bác ngồi xuống ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi rồi hỏi cha:
– Thưa cha, cái gì ở trên cao mà đỏ lại ngoằn nghoèo như rứa?
Cha Bác nói:
Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên trên đó, lên cái con đường mòn đó. Nghe xong , chú ứng khẩu đọc luôn một bài thơ. Sau này Bác ghi lại trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” này.
Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng con theo
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con.
Năm 1950, tôi là anh thanh niên được tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ, thấy Bác làm thơ từ lúc 5 tuổi thì hơi sững sờ.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Lúc đó cha mở cái túi vải lấy lá số tử vi của con ra xem thì Bác mới được biết, cha Bác đã lấy số tử vi cho các con hết rồi. Cha Bác nói với mẹ: – Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn và ông ngoại đã nói như thế không nhầm.
Rồi Bác Khiêm lại kể tiếp:
– Lúc đó Bác cũng chẳng có bụng dạ nào vì chân bỏng rộp, rất đau. Ăn cơm nắm, uống nước đựng trong quả bầu khô xong, cả nhà lại leo núi, chú Thành lại được cha cõng trên lưng. Anh em Bác ở làng Sen chỉ biết ao, biết sông, biết hồ, biết núi chứ biển thì chưa thấy. Hôm đó, đến đỉnh đèo, cả nhà dừng lại nghỉ, Bác ngồi ôm chân, chú Thành lại chạy nhảy rồi nói:
– Cha ơi, cái ao ở đây sao lại lớn thế?
Cha Bác nói: – Không phải ao đâu con ơi, đó là biển đấy chứ.
Lúc đó, đang đứng trên đỉnh đèo Ngang, nhìn thấy biển, ở đây đi xuống là đến Ròn, tức Cảnh Dương của Quảng Bình. Lần đầu tiên thấy biển lại cứ gọi là ao, cha Bác phải giải thích là biển. Chú ấy lại hỏi:
– Cha ơi, tại sao bò nó lại lội trên biển? Cha Bác cười bảo:
– Không phải là bò đâu con, đó là cánh buồm nâu, thuyền nó chạy trên biển đó. Nghe xong, chú Thành liền ứng khẩu đọc ngay một bài thơ:
Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Bò ăn gió no
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn.
Cụ Khiêm nói một câu tâm sự mà cũng là tâm trạng:
– Con người ta có số mệnh. Số mệnh có khi nó xuất ra thành ý. Cái thông thường, cái lẽ thường anh là phải nhìn thấy trước em chứ, vì anh ra đời trước, khôn hơn . Nhưng đây lại nói là: “em nhìn thấy trước, anh nhìn thấy sau, ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”. Cái khẩu khí ấy là cái ứng mệnh, Bác là anh, Bác đau chân, Bác không còn nhìn thấy những gì ở xung quanh, nhưng chú ấy quan sát, chú ấy lại ứng khẩu được cái đó “Ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”.Có lẽ cũng vì cái khẩu khí ấy nên suốt cuộc đời của chú Thành phải đi hết nơi này đến nơi khác thì phải, (năm châu bốn biển) ….

Nhà văn Sơn Tùng kề rằng cụ Khiêm nói với ông điều này vào năm 1950. Sau này nhà văn Sơn Tùng  công bố hai bài thơ ấy trên báo Văn Nghệ số Tết năm 1980, lúc đó là chuẩn bị đại hội V (1981). Khi cuốn “Búp Sen Xanh” chưa in, nhà văn Sơn Tùng có đưa hai bài thơ này và viết cái đoạn gặp cụ Nguyễn Sinh Khiêm. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng là Tổng biên tập báo Văn Nghệ, trước khi đăng đã hỏi:”– Có chính xác không anh? mới 5 tuổi mà làm hai bài thơ này, trẻ con thì trẻ con thật nhưng rất trí tuệ”. Nhà văn Sơn Tùng nói, “anh cứ đăng, có gì tôi (Sơn Tùng) chịu trách nhiệm” ….

Thiên Đạo, chuyện “biển lịch sử”, “đường lưỡi Rồng” là lý của người mạnh, của nước lớn, có thể ỳ mạnh hiếp yếu. Biến Dịch, “rùa lớn đội núi”, “đường lưỡi Bò” là tình của kẻ yếu, kẻ phi thường, của nước nhỏ, có thể đội đá vá trời. Điều lạ và hay trong thơ đồng dao của Bác Hồ là không thể đánh tráo khái niệm, không thể lấy cái hữu hạn để đo cái vô hạn. Lời tuyên bố rất sớm, và “Em nhìn thấy trước. Anh trông thấy sau. Ta lớn mau mau. Vượt qua ao lớn”.

Hoàng Kim

Xem thêm

Biển Đông những diễn biến mới
Biển Đông và sông Mekong
Tình hình biển Đông có gì mới?

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

  • PDF

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

Mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích canh tác còn thấp.

Ngày 25/4 tại Cần Thơ, Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tổ chức hội thảo “Cánh đồng lớn”.

Đại diện Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Hội nông dân Việt Nam, Sở Nông nghiệp các tỉnh thành Đông, Nam bộ cùng đông đảo các nhà khoa học ở các Viện, trường Đại học tham dự.

Phát biểu tại Hội thảo ông Tăng Minh Lộc –Chánh văn phòng điều phối- Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho rằng mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích đất canh tác bình quân đầu người còn thấp và ruộng đất manh mún do phân tán cho nhiều hộ.

Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản, nâng sức cạnh tranh trên thị trường. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất hàng hóa là liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.

Tại hội thảo nhiều đại biểu đặt ra câu hỏi là làm thế nào để nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất lúa gạo tại các cánh đồng lớn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đệ - Phó trưởng khoa Phát triển nông thôn, Đại học Cần Thơ cho rằng, trong thời gian qua việc xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng với doanh nghiệp theo Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ hiệu quả đem lại chưa cao. Quyền lợi giữa doanh nghiệp và nông dân chưa được hài hòa nên tính liên kết thiếu bền vững. 

Bên cạnh đó nhiều đại biểu cũng lo lắng khi các “Cánh đồng lớn”  sản xuất ra lượng hàng hóa lớn, thu hoạch đồng loạt, nhưng thực tế giải pháp sau thu hoạch chưa đảm bảo. Cụ thể như máy gặt đập, máy sấy, bảo kho quản chưa đáp ứng, tình trạng nông dân bán lúa tươi hiệu quả thu nhập thấp, lúa bảo quản không đảm bảo dẫn đến gạo kém chất lượng. Việc thu hoạch số lượng lớn cùng thời điểm làm cho giá lúa bị giảm. 

Theo ông  Nguyễn Duy Lượng - Phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, cả nước hiện có 150 doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Do vậy ông đề xuất Chính phủ cần có chính sách để các doanh nghiệp đều có kế hoạch xây dựng vùng nguyên liệu riêng. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ cho các doanh nghiệp này vốn đầu tư giống lúa, phân bón và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm lúa hàng hóa cho nông dân. Làm như thế nông dân sản xuất an tâm đầu ra, lúa sản xuất đồng loạt một loại giống, đủ tiêu chuẩn và chất lượng xuất khẩu; doanh nghiệp từng bước xây dựng được thương hiệu lúa gạo Việt Nam.

Để mô hình cánh đồng lớn đạt hiệu quả cao, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bãnh – Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đề xuất trong thời gian tới cần xác định rõ vai trò chủ yếu của đối tác trong quan hệ liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã và các nhà khoa học, ngân hàng…. để có biện pháp quản lý, hỗ trợ, nâng cao hiệu quả liên kết; Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ các đối tượng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phâm chủ lực, trong đó ưu tiên  hiện mô hình “Cánh đồng lớn”./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Thực phẩm bền vững - Chìa khóa bảo đảm an ninh lương thực

  • PDF

Thực phẩm bền vững - Chìa khóa bảo đảm an ninh lương thực

 

Nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO - 16/10/1945-16/10/2013), Ngày Lương thực Thế giới năm nay có chủ đề: "Thực phẩm bền vững giúp bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng".

 

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 870 triệu người bị thiếu dinh dưỡng trường diễn và cộng đồng quốc tế đang hết sức nỗ lực xóa đói giảm nghèo. Các phương thức phát triển không bền vững đang làm suy thoái môi trường tự nhiên, đe dọa các hệ sinh thái và đa dạng sinh học vốn rất cần thiết cho việc cung ứng lương thực, thực phẩm trong tương lai.

 

Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực và dinh dưỡng sẽ được quan tâm giải quyết theo cách bền vững.

Các hệ thống thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp. Một hệ thống thực phẩm là một chuỗi hoàn chỉnh bao gồm tất cả các khâu từ trồng, chế biến, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ, bán, mua, và tiêu thụ thực phẩm. Các hệ thống thực phẩm sẽ là bền vững khi chúng không gây hại cho môi trường và đem lại mức lợi nhuận hợp lý cho những nỗ lực mà tiểu nông bỏ ra.

 

FAO cho rằng các hệ thống thực phẩm bền vững là chìa khóa đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng, nên chủ đề “Các hệ thống thực phẩm bền vững giúp đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng” sẽ là hoạt động trọng tâm của Ngày Lương thực Thế giới 2013. Đây cũng là dịp giúp nâng cao hiểu biết về các vấn đề tồn tại cùng giải pháp trong công cuộc nỗ lực xóa đói nghèo.

 

Năm nay, tổ chức FAO tại Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm Ngày Lương thực Thế giới cùng Bộ NNPTNT tại xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Việc tổ chức lễ kỷ niệm tại xã đã đạt chuẩn nông thôn mới ở nước ta nhằm đưa ra một thông điệp: "Xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới mặc dù là vấn đề khó, nhưng nếu quyết tâm và nỗ lực cao, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện thành công".

 

Nhân dịp này, FAO đã trao các giải Nhất, Nhì, Ba và giải Khuyến khích cho 8 tác phẩm xuất sắc tham dự cuộc thi ảnh "Các hệ thống thực phẩm bền vững giúp người dân Việt Nam nâng cao đời sống".

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC 

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

  • PDF

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

Mỗi năm thế giới đang lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực, tương đương với một phần ba sản lượng thực phẩm toàn cầu, báo cáo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) cho hay.

Tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, lượng thực phẩm bị mất mát tương ứng với 670 và 630 triệu tấn, ước tính thiệt hại lần lượt tương đương với 680 tỷ và 310 tỷ USD.

Người dân Australia lãng phí hơn 4 triệu tấn lương thực mỗi năm, trung bình gần 1 tấn trên mỗi hộ gia đình. Mỹ sản xuất 180 triệu tấn thực phẩm hàng năm và khoảng 50 triệu tấn, nghĩa là gần 1/3 phải bỏ đi.

Các hộ gia đình Anh lang phí khoảng 6,7 triệu tấn lương thực mỗi năm. Điều này có nghĩa là khoảng 32% tổng lượng lương thực được mua mỗi năm không được dùng tới 

Trong khi đó, báo cáo của FAO cũng cho biết, cả thế giới đang phải đấu tranh để cung cấp đủ lương thực cho 7 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 9 tỷ trong năm 2050. Hiện tại, cứ 7 người thì có 1 người đói và hơn 20 ngàn trẻ em dưới 5 tuổi chết vì đói mỗi ngày.

Việc lãng phí lương thực do đó là lãng phí tài nguyên thiên nhiên và gây ra những tác động xấu về môi trường. Hơn nữa, việc lãng phí này còn là vấn đề về mặt đạo đức.

Chính vì những lý do trên, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã quyết định chọn chủ đề “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm” (Think.Eat.Save) làm chủ đề cho Ngày Môi trường thế giới năm nay với mục đích khuyến khích mọi người trên toàn thế giới chú ý hơn đến những ảnh hưởng tới môi trường từ việc lựa chọn thực phẩm, tránh lãng phí và lựa chọn những loại thực phẩm ít tác động tới môi trường. Chủ đề này cũng sẽ là một chiến dịch toàn cầu nhằm chống lại sự lãng phí thực phẩm trên toàn thế giới.
 
“Để hướng tới một tương lai bền vững, chúng ta cần thay đổi phương thức sản xuất và tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, chúng tôi kêu gọi mọi người trên toàn thế giới cùng nỗ lực để nâng cao nhận thức và hành động thực tế ở gia đình, trên trang trại, trong các siêu thị, ở căng tin, trong khách sạn hoặc bất cứ nơi nào thực phẩm được tiêu thụ hằng ngày trong cuộc sống”, ông Achim Steiner, Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kiêm Giám đốc điều hành UNEP khẳng định.

Các hoạt động quốc tế hưởng ứng sự kiện Ngày Môi trường thế giới 2013 sẽ được tổ chức tại Mông Cổ, một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Tại Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và UBNN tỉnh Thừa Thiên – Huế sẽ phố hợp tổ chức nhiều hoạt động khác nhau nhằm hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2013 từ ngày 4-5/6/2013.

Các hoạt động chính sẽ được tổ chức bao gồm: Hội nghị tổng kết xây dựng và nhân rộng mô hình điểm khu dân cư bảo vệ môi trường, trao đổi kinh nghiệm xây dựng môi hình du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường, triển lãm tranh ảnh, các cuộc thi về môi trường,…

Lễ mít tinh quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới sẽ được tổ chức tại Nghinh Lương Đình bên bờ sông Hương, thành phố Huế vào sáng ngày 5/6. Tại đây, cũng sẽ diễn ra Lễ trao Giải thưởng môi trường Việt Nam năm 2013. Thông tin từ Bộ TN&MT cũng cho biết, cho tới thời điểm hiện tại, việc chấm giải cho các cá nhân tổ chức đã hoàn tất.

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Biển Đông và sông Mekong

  • PDF

Biển Đông và sông Mekong cập nhật các thông tin nổi bật “Tình hình biển Đông có gì mới?” “Sông Mekong, tài liệu  tổng hợp“.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và chính quyền Bắc Kinh đang quyết tâm theo đuổi luận thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” do cố Chủ tịch Mao Trạch Đông khởi xướng theo thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm. Nay thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. “Mekong chặn dòng” “giữ thế thượng phong nước đầu nguồn” “tùy cơ dùng kinh tế và khoa học công nghệ để chế ngự”. Việt Nam đang phải ứng phó với  “biển Đông dậy sóng, Mekong chặn dòng”. Chiến lược ứng phó cơ bản, lâu dài của Việt Nam là minh triết: “Kế sách một chữ Đồng” (Trần Nhân Tông), “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)  “Biển là ao lớn/ Thuyền là con bò/ Bò ăn gió no/ Lội trên mặt nước/ Em nhìn thấy trước/ Anh trông thấy sau/ Ta lớn mau mau/ Vượt qua ao lớn (Hồ Chí Minh).

DodocTon

Tình hình biển Đông có gì mới?

Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore 2015 vào cuối tuần qua. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã ‘kiềm chế hết mức’ ở Biển Đông. Bắc Kinh báo hiệu: Không còn hiền lành ở Biển Đông nữa!  Bài bình luận quốc tế trên báo Mỹ  Wall Street Journal,  tác giả: Andrew Browne, người dịch: Trần Văn Minh. Với thông tin này, Trung Quốc phát đi thông điệp sẵn sàng chấp nhận đối đầu với thách thức hải chiến hoặc chiến tranh thế giới thứ ba có thể xảy ra trên biển Đông. Họ tiếp tục thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, khiêu khích và sẵn sàng tranh chấp.

Nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình sau bốn thập kỷ tăng trưởng liên tục, đã vượt lên nổi nhục Trung Quốc bị tám đế quốc xâu xé cuối thời Mãn Thanh, Quốc Cộng nội chiến  hơn 20 năm, sự xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản , sự xáo động dữ dội của đại cách mạng văn hóa trước trong và sau thời kỳ “đại loạn” làm nhân dân Trung Quốc phải trả giá đau đớn, những hiểm họa cực kỳ nguy hiểm đến tồn vong chế độ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế, suy thoái môi trường , phân hóa giàu nghèo, phát triển nóng, nay tuy nguy cơ vẫn rất cao nhưng có vẻ như đang từng bước vượt qua.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất.

Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Họ nuôi dưỡng và khích lệ lòng tự hào, tự tôn của dân tộc Đại Hán bằng cách tuyên truyền nhiều năm trong dân chúng về “đường chín đoạn” trên biển Đông Việt Nam là “chuỗi ngọc trai trên cổ của bà mẹ Trung Quốc”. Ho phân bua với thế giới những vùng đất tranh chấp khi so sánh bản đồ Trung Hoa đời Thanh năm 1892 và bản đồ Trung Quốc hiện tại (Hình 1) và (Hình 2).
TQ 1892 Thanh

Hình 1: Bản đồ Trung Quốc năm 1892

Ban do Trung Quoc ngay nay
Hình 2: Bản đồ Trung Quốc ngày nay

Trung Quốc tìm kiếm quyền lực trên biển Đông Việt Nam thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ. Trung Quốc  thực hiện một loạt các kế sách liên hoàn:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế , khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới.

Trung Quốc”  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”. Để cưỡng chiếm biển Đông Việt Nam, Trung Quốc rêu rao là đang bị “Các nước nhỏ hơn ở quanh vùng biển gồm Việt Nam, Philippines và Malaysia đã thách thức sự kiên nhẫn của Bắc Kinh bằng cách đưa ra các tuyên bố chủ quyền trên nhiều đảo nhỏ, công trình xây dựng trên các đảo này và thăm dò năng lượng ở vùng biển xung quanh. Thật vậy, những hành động này đi trước bất kỳ hành động nào của Trung Quốc. Nhưng sự khoan dung cũng có giới hạn“.

Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp, tiếp tục đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân,  bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.

Tình hình biển Đông có gì mới đang tiếp tục diễn biến, mời xem các comment cập nhật.

Sông Mekong, tài liệu tổng hợp

Sông Mekong là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông Việt Nam. Sông Mekong tính theo độ dài đứng thứ 12 nhưng tính theo lưu lượng nước thì đứng thứ 10 trên thế giới.  Lưu vực sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc. Đặc điểm thủy năng nổi bật của Sông Mekong là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap – hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á – người Việt thường gọi là “Biển Hồ”.

Phần thương nguồn sông Mekong người Trung Quốc hiện đã hoàn thành xây dựng một loạt các đập trên sông tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Cảnh Hồng, và đang xây đập Tiểu Loan và hơn một chục đập thủy điện điều lượng nước gây nhiều tranh cãi cho an sinh vì thay đổi trữ lượng nước, gia tăng mức độ xói mòn cũng như gây thiệt hại cho nông nghiệp và nguồn cá.

alt

Thời gian gần đây có nhiều tài liệu quan tâm sâu sắc khu vực này. Trong đó, đáng chú ý nhất là các bài: Từ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong, Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ; Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ, Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện.

“Mekong chặn dòng” xây dựng một loạt đập thủy điện và điều lượng nước sông Mekong “giữ thế thượng phong nước đầu nguồn”  là một chiến lược kinh tế chính trị sâu sắc của Trung Quốc. Với phương lược này có thể  “tùy cơ, dùng kinh tế và khoa học công nghệ để chế ngự các nước trong lưu vực vùng hạ lưu sông Mekong”.  

Sông Mekong, thông tin tổng hợp đọc báo giùm bạn và cập nhật thông tin qua các comment.

Hoàng Kim

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Xuất khẩu nông sản đạt gần 9,7 tỷ USD

  • PDF

Xuất khẩu nông sản đạt gần 9,7 tỷ USD 

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 4 ước đạt 2,63 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành 4 tháng đầu năm 2014 lên 9,69 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 4,74 tỷ USD, tăng 5,8%.

Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 2,22 tỷ USD, tăng 31,2%.

Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 2 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong số các nhóm hàng nông sản chủ lực mặt hàng cà phê tăng trưởng mạnh về cả lượng và giá trị xuất khẩu. Trong 4 tháng đầu năm xuất khẩu cà phê ước đạt 826 nghìn tấn và 1,65 tỷ USD, tăng 39,6% về khối lượng và tăng 30% về giá trị so cùng kỳ năm 2013. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2014 với thị phần lần lượt là 13,7% và 9,29%. Thị trường Pháp có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp gần 46 lần so với 3 tháng đầu năm 2013.

Trái với mặt hàng cà phê mặt hàng gạo vẫn chưa có nhiều tín hiệu khả quan về tăng trưởng. Khối lượng gạo xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2014 ước đạt 2,04 triệu tấn và 931 triệu USD, giảm 6,9% về khối lượng, và giảm 4,7% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gạo xuất khẩu bình quân tháng 3 năm 2014 đạt 460,3 USD/tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2013. Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong 3 tháng đầu năm với mức tăng gấp 6 lần về khối lượng và tăng 6,68 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Với mức tăng trưởng này, Philippin vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 26,87% thị phần (đứng thứ nhất là thị trường Trung Quốc với 38,37% thị phần), tiếp đến là Gana, Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 4,8% và 3,79%.

Cao su đạt 189 nghìn tấn với giá trị đạt 378 triệu USD.

Khối lượng xuất khẩu chè 4 tháng  ước đạt 33 nghìn tấn với giá trị đạt 51 triệu USD, giảm 13,2% về khối lượng và giảm 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Giá chè xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2014 đạt 1.541 USD/tấn, tăng 2,49% so với cùng kỳ năm 2013. Khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan - thị trường lớn nhất của Việt Nam giảm 13,06% về khối lượng và giảm 0,91% về giá trị.

Bốn tháng lượng hạt điều xuất khẩu đạt 73 nghìn tấn với 456 triệu USD, tăng 14,5% về khối lượng và tăng 15,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2014 đạt 6.182 USD/tấn, tăng 1,76% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 28,44%, 20,01% và 9,12% tổng giá trị xuất khẩu. 

Sắn và các sản phẩm từ sắn có lượng xuất khẩu ước tính khoảng 305 nghìn tấn, với giá trị đạt 88 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 4 tháng đầu năm đạt 1,4 triệu tấn với giá trị 429 triệu USD, giảm 16,9% về khối lượng và giảm 17,9% về giá trị so cùng kỳ năm 2013.

Giá trị xuất khẩu sản và các sản phẩm sắn sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm mạnh, ngoại trừ thị trường Malaysia tăng (tăng 20,23% về khối lượng và tăng 14,44% về giá trị) so với cùng kỳ năm 2013. Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 89% thị phần./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Hơn 500 triệu người có thể đối mặt với sự khan hiếm nước do biến đổi khí hậu

  • PDF

FOODCROPS. Biến đổi khí hậu đặt nhân lọai vào mối quan hệ cộng hưởng có tác động mạnh đến các mặt của xã hội gây nguy cơ bất ổn chính trị cao. Nếu chỉ tập trung giải quyết các nhu cầu chính trị và đứng ngòai mối quan hệ hợp tác với các quốc gia cộng động, đất nước sẽ bị cô lập và không tìm được giải pháp cho chính mình. Ngay cả khi nóng lên toàn cầu được giới hạn trong mức tăng nhiệt là 2oC, 500 triệu người vẫn có thể đối mặt với tình trạng khan hiếm nước, số người phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng thêm 8%. Với một quốc gia như Việt Nam thì hệ thống phân phối nước từ trách nhiệm của nhóm điều hành các dịch vụ công sẽ giải quyết thế nào để đảm bảo nhu cầu sinh họat của người dân vùng xa, và những vùng nằm trong tác động của biến đổi khí hậu!

 

Hơn 500 triệu người có thể đối mặt với sự khan hiếm nước do biến đổi khí hậu

 

Cả hai nguồn cung cấp nước ngọt cho hàng triệu người và sự ổn định của hệ sinh thái như vùng lãnh nguyên Siberia hoặc đồng cỏ Ấn Độ đang đối diện với những rủi ro do biến đổi khí hậu. Ngay cả khi nóng lên toàn cầu được giới hạn trong mức tăng nhiệt là 2oC, 500 triệu người vẫn có thể đối mặt với tình trạng khan hiếm nước. Con số này sẽ tăng thêm 50% nếu lượng phát thải khí nhà kính không được cắt giảm sớm. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên 5oC, gần như tất cả các vùng đất không có băng trên thế giới có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hệ sinh thái.

 

Điều này được thể hiện qua các nghiên cứu được các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Tác động khí hậu Potsdam (PIK) công bố. Nghiên cứu chỉ ra, khi nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 2oC, số người phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng thêm 8%. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng 3,5oC, điều này có khả năng xảy ra nếu lượng khí thải của các quốc gia chỉ được giảm ở mức cam kết hiện tại, tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số thế giới. Mức tăng 5oC có thể làm số người dân bị ảnh hưởng tăng lên 13%.

Nhà nghiên cứu Gerten chỉ ra rằng: Nếu tốc độ tăng trưởng dân số vẫn tiếp tục, vào cuối thế kỷ này, theo như kịch bản như bình thường, hơn một tỷ con người sẽ phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước. Người dân tại các khu vực châu Á và Bắc Phi, Địa Trung Hải và Trung Đông là những người đặc biệt dễ bị tổn thương.

Các khu vực có nguy cơ biến đổi hệ sinh thái sẽ tăng gấp đôi khi nhiệt độ toàn cầu tăng khoảng 3 – 4oC, Lila Warszawski, tác giả chính của một nghiên cứu khác nói về những hậu quả có thể có do biến đổi khí hậu gây ra đối với các hệ sinh thái tự nhiên. Mức gia tăng nhiệt độ 5oC có khả năng xảy ra trong thế kỷ tới nếu biến đổi khí hậu tiếp tục không suy giảm. Mức gia tăng nhiệt độ này sẽ đặt gần như tất cả các hệ sinh thái tự nhiên trên mặt đất có nguy cơ bị thay đổi nghiêm trọng.

Các khu vực có nguy cơ gặp nhiều rủi ro nếu quá trình nóng lên toàn cầu không suy giảm, bao gồm các khu vực đồng cỏ của Đông Ấn Độ, các vùng đất cây bụi của cao nguyên Tây Tạng, các khu rừng của miền Bắc Canada, các thảo nguyên của Ethiopia và Somalia và các khu rừng nhiệt đới Amazon. Nhiều khu vực trong số này là các khu vực sinh học đa dạng, phong phú và độc đáo.

Các nghiên cứu sử dụng một phương pháp tiếp cận mới, đưa ra các rủi ro dựa trên những thay đổi của cấu trúc thảm thực vật, các dòng chảy của nước và lượng các-bon lưu trữ. Các mô hình mô phỏng sinh quyển đã được sử dụng để so sánh hàng trăm kịch bản biến đổi khí hậu và chỉ ra các khu vực đầu tiên có thể phải đối mặt với các tác động quan trọng của biến đổi khí hậu.

Hans Joachim Schellnhuber, một trong những đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: “Tình trạng khan hiếm nước ngày một nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của một số lượng lớn người dân, trong đó những người nghèo là dễ bị tổn thương nhất. Do đó, lượng phát thải khí nhà kính phải được giảm đáng kể trong thời gian ngắn”.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Các chiến lược bảo tồn hệ sinh thái tại Mỹ và Canada

  • PDF

Các chiến lược bảo tồn hệ sinh thái tại Mỹ và Canad
TN - Mard, Theo phys.org

Một báo cáo mới từ Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã Canada (WCS Canada) đã đưa ra một chiến lược bảo tồn nhằm thúc đẩy khả năng phục hồi động vật hoang dã ở khu vực Nam Rockies Canada dưới tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai. Báo cáo tập trung vào các loài mang tính biểu tượng cho khu vực đó là loài cá hồi, gấu xám Bắc Mỹ, chồn gulô, dê núi và loài cừu hoang, các loài được xếp vào danh sách các loài dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
 
Nằm giữa khu Công viên quốc gia Glacier ở Montana và Vườn Quốc gia Banff ở Canada, khu vực Nam Rockies Canada (SCR) có cảnh quan ngoạn mục, là môi trường sống của một trong những cộng đồng đa dạng nhất của các động vật ăn thịt và động vật có vú ở Bắc Mỹ. Trong bản báo cáo mang tựa đề Môi trường sống an toàn cho các loài cá và các loài động vật hoang dã dễ bị tổn thương, các nhà khoa học lưu ý các loài động vật hoang dã cần có môi trường sống để thích nghi với những tác động của biến đổi khí hậu.

Những đường cao tốc chính tại khu vực này đang làm phức tạp thêm những hiệu ứng chuyển tiếp liên quan đến khí hậu và việc mở rộng mạng lưới các con đường rừng khiến cảnh quan tại khu vực bị phân mảnh. Việc cung cấp nơi trú ẩn an toàn trong môi trường sống an toàn và đa dạng và lối đi an toàn trên đường cao tốc cho các loài vật được coi là các chiến lược thông minh. Các nhà khoa học đã tiến hành đánh giá 16.978 km2 (6632 dặm vuông) cảnh quan tại đây nhằm đưa ra các giải pháp bảo tồn dựa trên nhu cầu của các loài dễ bị tổn thương.
 
Nhiệt độ mùa đông ấm hơn do biến đổi khí hậu sẽ làm giảm lượng tuyết bao phủ núi và giảm môi trường sống thích hợp cho loài chồn gulô thuộc diện quý hiếm, một loài vốn thích nghi với thời gian tuyết rơi kéo dài. Việc giảm dòng chảy và nhiệt độ dòng nước ấm hơn sẽ làm giảm môi trường sống của loài cá hồi, loài cá bản địa vốn thích nghi tốt với vùng nước lạnh.

Các nhà khoa học đề nghị một danh mục đất cần được đầu tư bảo tồn bao gồm khu vực Quản lý động vật hoang dã (WMA) tại nam Rockies, Canada nơi có thể bảo tồn 66% môi trường sống quan trọng. Các lưu vực sông Flathead xuyên biên giới Mỹ và Canada tiếp giáp với hồ Waterton cũng cần được quan tâm bảo tồn do sự đa dạng sinh học của khu vực này rất đáng chú ý. Việc xác định nơi trú ẩn an toàn không chỉ quan trọng đối với các loài động vật hoang dã hiện tại mà còn giúp tạo địa hình đa dạng cho các loài động vật trong tương lai. Báo cáo lập bản đồ chín địa điểm phù hợp qua dọc theo quốc lộ tại British Columbia và 16 đèo núi cung cấp sự kết nối động vật hoang dã quan trọng giữa Alberta và British Columbia. Báo cáo này sẽ là tư liệu hữu ích giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định về đất đai và quản lý tài nguyên tại khu vực nam Rockies Canada và Montana.


FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

CIAT xây dựng trên đa dạng sinh học

  • PDF

FOODCROPS.VN. Theo CIAT e-Bulletin 21.4.2015, bảo vệ đa dạng sinh học là điều cần thiết để đạt được an ninh lương thực. Chúng ta cần đa dạng cây trồng được bảo quản cả trong các lĩnh vực của nông dân và trong ngân hàng gen hiện đại. Chúng ta cần làm cho nó có sẵn cho tất cả thông qua một hệ thống toàn cầu hiệu quả, bây giờ và mãi mãi.  CIAT đã và đang xây dựng một ngân hàng gen mới về đậu, sắn, cỏ nhiệt đới tại trụ sở chính của CIAT gần Cali, Colombia để bảo tồn và sử dụng đa dạng cây trồng lâu dài cho an ninh lương thực trên toàn thế giới. Các ngân hàng gen mới này nhằm mục đích truyền cảm hứng cho sự sáng tạo và hợp tác quốc tế, không chỉ cung cấp hạt/ cây giống và dữ liệu di truyền mà còn tận dụng sức mạnh của thông tin để thúc đẩy sự biến đổi tăng trưởng nông nghiệp . Mục tiêu của CIAT là sẵn sàng cung cấp các các bộ sưu tập đậu, sắn, cỏ nhiệt đới và cây khác nhân lễ kỷ niệm 50 năm thành lập CIAT vào năm 2017. Bảo tồn nguồn gen hoang dã cây trồng ở CIAT có giá trị 1,9 tỷ USD một năm ..., tiến sĩ Geoff Hawtin đã trao đổi như vậy với cơ quan kiểm toán PWC của CRW trên trang The Trust Crop (CropTrust) ngày 10 tháng mười một năm 2014. Thông tin chi tiết bài viết tiếng Anh về "xây dựng trên đa dạng sinh học"  mời bạn đọc tại đây: http://annualreport2014.ciat.cgiar.org/new-genebank/

Building on biodiversity

alt

Safeguarding biodiversity is essential for achieving food security. We need crop diversity to be preserved both in farmers’ fields and in modern genebanks. And we need to make it available to all through an efficient global system, now and forever.

Doing its part to ensure long-term conservation and use of crop diversity for food security worldwide, CIAT will construct a new state-of-the-art genebank with LEED (Leadership in Energy and Environmental Design) certification at our headquarters near Cali, Colombia. The new genebank will aim to inspire innovation and international cooperation, not only providing seed and genetic data but also leveraging the power of information to drive transformative agricultural growth. Our goal is to have a new home for CIAT’s bean, cassava, and tropical forages collections ready for inauguration on the occasion of CIAT’s 50th anniversary in 2017.

 “Much more than a seed museum, this new genebank will serve as a global knowledge hub for crop diversity, sharing the know-how and genetic resources that developing countries need for responding successfully to pressures like population growth, market shifts, and climate change,” said Cristián Samper, president and CEO of the Wildlife Conservation Society.

A new home for crop diversity

CIAT’s current genebank urgently needs renewal, which can be accomplished with an investment of US$25 million in more effective conservation of more than 67,000 samples of beans, cassava, wild species related to these crops, and tropical forages. The budget includes a $4 million endowment to support genebank operations and efforts to strengthen national scientific capacity.

 “Safeguarding biodiversity requires more than just bricks and mortar,” said Joe Tohme, director of CIAT’s Agrobiodiversity Research Area. “This is why CIAT will invest in a world-class training program for the next generation of conservation experts – including the first-ever endowed position in the CGIAR Consortium.”

Alejandro Echeverri + Valencia, an architectural firm based in Medellín, Colombia, impressed the CIAT Board of Trustees with its creative plan for the building, which features a “double skin” or canopy-like structure that will create a cool microclimate, together with modules that allow for economy, flexibility, and expansion in subsequent stages.

future-genebank

The new building will be energy efficient, environmentally friendly, and fully capable of standing the test of time, with offices, tissue culture labs, glasshouses, seed processing areas, and a herbarium – all oriented to:

  • Conserving and characterizing crop genetic resources that contribute to sustainable food production and poverty reduction
  • Discovering new ways to safeguard and use agrobiodiversity, while also accelerating crop improvement in response to the needs of farmers and consumers
  • Educating the next generation of experts in genebank curation and strengthening scientific capacity, while also conveying strong messages to the public about the vital importance of crop diversity

Crop diversity come what may

Crop diversity is rapidly disappearing as a result of urbanization and other pressures, and is also threatened by climate change. Once biodiversity is lost, it’s gone forever. Since 1900, India has lost 90% of its rice varieties, and the USA has lost 90% of its fruit and vegetable varieties. While no one knows the total number of plant varieties that have disappeared, many can be found today only in genebanks like CIAT’s.

Maintaining the greatest possible amount of crop diversity is critical for securing food supplies in the face of unprecedented demand and pressures. We need this diversity to ensure that nutritious food will be available at stable and affordable prices, without expanding agriculture’s environmental footprint. The CIAT genebank is a key resource for meeting these challenges.

Agrobiodiversity impacts

  • With traditional fodder sources failing during times of drought, high-quality forage grasses are giving hope to millions of small farmers in Rwanda and other countries of Eastern and Central Africa, where livestock production must be intensified in response to rising demand for milk and meat.
  • Using germplasm from CIAT and other CGIAR collections, Brazilian researchers and international partners have developed biofortified varieties of crops that include sweetpotatoes, squash, beans, and cassava, which farmers in Itaguaí are growing to supply nutritionally enriched foods for 13 pre-schools with about 8,000 students.
  • Cassava breeders in Asia have developed new varieties that are better adapted to a wide variety of growing conditions, are resistant to pests and diseases, and offer higher starch content, making them more attractive for industrial markets.

cassava-farmer-gsmith

With your support

The Building on Biodiversity initiative is well underway but needs support. To this end, CIAT is reaching out to governments, foundations, the private sector, and individuals to establish a global genebank and knowledge hub for agrobiodiversity. We look forward to showing you around the iconic new home for humanity’s crop diversity in 2017.

beans-genebank-npalmer

See more:

CIAT E-Bulletin
View this email in your browser
Special Issue: Annual Report 2014-2015

alt
20 April 2015

altFeast your eyes and your mind on the online version of CIAT’s Annual Report 2014-2015: Pathways to Development Impact – our first virtual and fully interactive and responsive publication.

Like our printed annual reports of the past, this one offers a comprehensive overview of the Center’s achievements in the last year – including its contributions to the global research agenda of CGIAR – as viewed by our own leaders and scientists as well as from the perspective of partners and rural people across the tropics.
In this issue
More to see in the report:
  • Financials
  • Our people
  • Donors
  • CIAT and the International Year of Soils 2015
  • Gender Research Focus
  • Discover: The Biopacific Park

Go to the report 

Message from the Board Chair and Director general
alt
"Advances highlighted in CIAT Annual Report 2014-2015 represent key milestones along the path to eco-efficient agriculture. We invite all of our partners and donors to join us in making the arduous journey to this vital destination, which none of us can reach on our own..."
Read more →

At a Glance
alt
alt
alt
alt

Strategic Initiatives
Under its strategy for 2014–2020, CIAT has embarked on forward-looking strategic initiatives, whose aim is to open new avenues for enhancing the development impact of our research. The new initiatives are rapidly gaining buy-in through expanded partnerships, and major projects are underway in pursuit of their central aims.
alt
FoodLens
Sharpening the focus of research on sustainable food systems
alt
Ecosystem Action
Renewing rural landscapes for improved food security and livelihoods
alt
LivestockPlus
Fast-tracking tropical forages for twin-win agricultural systems

Our Stories
alt
Agrobiodiversity
alt
Decision and Policy Analysis
alt
Soils

Building on Biodiversity: New Genebank Project
alt
Safeguarding biodiversity is essential for achieving food security. We need crop diversity to be preserved both in farmers’ fields and in modern genebanks. And we need to make it available to all through an efficient global system, now and forever.
Read more →

CIAT and CGIAR
CIAT’s research feeds into the collective agenda of CGIAR. CIAT leads in particular the CGIAR Research Program on Climate Change, Agriculture and Food Security (CCAFS) and shares in the coordination of HarvestPlus, which is a major part of the CGIAR Research Program on Agriculture for Nutrition and Health; and contributes to other programs as well.



alt
CCAFS: On Track for Impact
CCAFS underwent significant reorientation in 2014, with a sharpened focus on developing detailed theories of change and impact pathways,and ensuring that all activities are linked to clear indicators of progress...
alt
HarvestPlus: Modern Crop Science Meets Popular Culture
In addition to relying on the power of modern crop science, farmers, technicians, and private sector entrepreneurs, last year, HarvestPlus also recruited a full cast of characters from the world of pop culture...

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module