Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Phát triển nghề cá để nuôi sống nhân loại

  • PDF
Theo bản tin của FAO ngày 09 tháng Sáu 2014 – Người ta chưa bao giờ tiêu thụ nhiều cá đến như vậy hoặc lệ thuộc vào ngành cá quá lớn để nuôi sống mình như cách làm hiện nay. Cá là một ngành hàng thực phẩm có giá trị thương mại lớn nhất trên thế giới, khoảng 130 tỷ đô la Mỹ năm 2012 – con số này vẫn sẽ tiếp tục gia tăng.

- Mức tiêu thụ cá tính trên đầu người của thế giới là 9,9 kg trong thập niên 1960 đã tăng lên 18,9 kg vào năm 2010, với dự đoán sau 2012 đạt trên 19,2 kg.

- Trong 130,1 triệu tấn cá thỏa mãn cho nhu cầu của loài người năm 2010, Châu Phi được cung cấp thấp nhất, trong khi Châu Á tiêu dùng hai phần ba tổng lượng cá của thế giới, với 89,8 triệu tấn (21,6 kg trên đầu người), ngoài Trung Quốc là 45,4 triệu tấn (16,1 kg / người).

- Trung Quốc là nước xuất khẩu cá và sản phẩm chế biến từ cá lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, kể từ năm 2011, TQ đã trở thành nước nhập khẩu cá đứng hàng thứ Ba trên thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản.

- Cộng Đồng Châu Âu là thị trường nhập khẩu cá và sản phẩm chế biến từ cá lớn nhất thế giới, sự lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu ngày càng lớn.

- Tính trung bình, năng lượng dinh dưỡng từ cá khá thấp so với tổng calories nạp vào, ước khoảng 33 calories / người.

- Cá và sản phẩm chế biến từ cá là nguồn protein động vật có giá trị cao, cứ 150 g cá sẽ cung cấp khoảng  50–60 % nhu cầu protein mỗi ngày cho người trưởng thành.

- Có khoảng 25 triệu tấn rong tảo biển được thu hoạch hàng năm để sử dụng làm thực phẩm, mỹ phẩm và phân bón, chúng được chế biến để ly trích ra chất đặc hoặc sử dụng làm nguồn bổ sung trong thức ăn gia súc.

- Chỉ trừ một vài trường hợp ngoại lệ của vài loài cá nào đó, nhìn chung cá chứa rất ít chất béo bảo hòa, ít carbohydrates và cholesterol. Cá không những cung cấp protein chất lượng cao mà còn nhiều chất dinh dưỡng cần thiết khác, đó là các vitamins (D, A và B), các chất khoáng (calcium, iodine, kẽm, sắt và selenium) đặc biệt là omega 3 (polyunsaturated omega-3 fatty acids).

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Bảy trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore

  • PDF

FOODCROPS. Những bài học từ sự phát triển quyền lực của Singapore làm rõ ra những tiêu chuẩn sai lầm tư tưởng của những người đướng đầu đất nước thời độc lập và sự mê muội điều hành từ Khổng giáo, chọn lựa trực quan đầy cảm tính không xuất phát từ tâm huyết đại đòan kết dân tộc mà là lợi ích riêng từng phần. So sánh trình độ cũng như tầm nhìn từ những lãnh đạo xuất chúng có thể nhận định rõ những sai lầm trong bộ máy chính trị do lệch lạc tư tưởng. Ba yếu tố chính trong quản lý đất nước của chính sách Singapore là chính sách đãi ngộ nhân tài, tính thực dụng và lòng chân thành. Quản lý luật pháp đặt pháp luật cao hơn chính phủ để dĩ công vi thượng. Quản lý đa văn hóa minh bạch, công bằng, tôn trọng để đạt đại đòan kết về dân tộc.  Phát triển giáo dục lấy tiếng Anh làm chính để theo sát tiến bộ nhân lọai. Quản lý môi trường lấy sinh thái làm trọng để bảo đảm môi trường cộng đồng.  Quản lý kinh tế lấy mở và quốc tế hóa làm đầu để thu hút nguồn vốn. (Kishore Mahbubani, 2013).

Bảy trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore

Nhật báo "Strait Times" của Singapore số ra ngày 9/11 đã đăng tải bài viết của ông Kishore Mahbubani - Hiệu trưởng Trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore - nhận định về 7 trụ cột trong quyền lực mềm của Singapore.

Tác giả Mahbubani cho rằng trụ cột quyền lực mềm đầu tiên rất rõ ràng: đó là một ban lãnh đạo xuất chúng. Theo ông, các nhà lập quốc Singapore tài năng không thua kém các nhà lập quốc Mỹ. Một trong số đó, Tiến sĩ Goh Keng Swee, thậm chí còn trở thành cố vấn cho lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình. Cũng không có gì phải nghi ngờ rằng Lý Quang Diệu là một trong những nhà lãnh đạo toàn cầu nổi bật nhất. Ông rất được tôn trọng ở phương Tây và không ngần ngại nói thật. Rõ ràng, Lý Quang Diệu đã "đặt" Singapore lên bản đồ thế giới.

Trụ cột thứ hai là khả năng quản lí đất nước. Theo ông Mahbubani, sự thành công của Singapore nằm ở ba yếu tố chính: chính sách đãi ngộ nhân tài, tính thực dụng và lòng chân thành. May mắn là dù quy định luật pháp là một khái niệm phương Tây, song nó vẫn hoạt động hiệu quả trong các xã hội phương Đông. Ông Mahbubani nhấn mạnh rằng tại Singapore, luật pháp đứng trên chính phủ. Toàn bộ Nội các cũng là một đối tượng của những bộ luật được áp dụng cho toàn bộ người dân đất nước.

Trụ cột thứ ba là tính đa văn hóa. Tác giả nhấn mạnh tới việc bốn nền văn minh lớn thế giới đang tương tác với nhau mỗi ngày ở một Singapore nhỏ bé: Trung Quốc, Malay-Hồi giáo, Ấn Độ và phương Tây. Sẽ không dễ dàng để những người từ nhiều văn hóa khác nhau có thể cùng chung sống. Vì thế, luật pháp tại Singapore được áp dụng để chống phân biệt sắc tộc và tôn giáo, cũng như nhiều quy định được đưa ra để đảm bảo cộng đồng thiểu số được đại diện tại mỗi khu nhà công cộng. Không nhiều xã hội khác trên thế giới có thể sánh với thành tích của Singapore trong việc quản lí đa văn hóa.

Trụ cột thứ tư là tiếng Anh. Thực tế, người dân Singapore có kĩ năng nói tiếng Anh tốt nhất châu Á. Mỗi đứa trẻ Singapore đều được dạy cả tiếng Anh lẫn ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Việc tiếp xúc với tiếng Anh không chỉ giúp người dân có được kỹ năng ngôn ngữ, nó còn mở ra cánh cửa tới kho tàng di sản giàu có của văn minh phương Tây, giúp người Singapore có được lợi thế cạnh tranh khác.

Trụ cột thứ năm là đồ ăn, như câu nói nổi tiếng của cựu Ngoại trưởng George Yeo, ăn uống là “đạo” của Singapore. Người dân Singapore thoải mái ăn nhiều món ăn theo phong cách ẩm thực khác nhau trong cùng một ngày, thậm chí trong cùng một bữa ăn.

Trụ cột thứ sáu là môi trường xanh. Singapore chỉ có diện tích bằng 1/5 Rhode Island, tiểu bang nhỏ nhất tại Mỹ. Tuy nhiên, Singapore lại có nhiều loại thực vật hơn cả 48 bang lục địa của Mỹ gộp lại. Singapore cũng có Ngày Trồng Cây hàng năm, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc phủ xanh.

Cuối cùng, trụ cột thứ bảy là Singapore là quốc gia mở và toàn cầu hóa nhất thế giới. Tổng kim ngạch thương mại của Singapore hiện gấp 3,5 lần Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP). Đây là lí do khiến Ngân hàng Thế giới xếp Singapore là quốc gia tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh dễ dàng nhất thế giới. Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc tập đoàn "Nhà Kinh tế" hiện xếp Singapore là thành phố có sức cạnh tranh thứ ba thế giới, sau New York và London.

Theo ông Mahbubani, quyền lực mềm phụ thuộc nhiều vào bối cảnh toàn cầu. Trong thế kỉ 19, khi châu Âu vượt trội, London và Paris thu hút cả thế giới bằng quyền lực mềm của họ. Tuy nhiên, thời đại đã thay đổi. Quyền lực đang chuyển từ Tây sang Đông. Song phương Tây vẫn chưa kết thúc. Đó vẫn là nền văn minh mạnh nhất thế giới trong một khoảng thời gian tới. Vì thế, các thành phố có quyền lực mềm tốt là sẽ những nơi có thể kết hợp những phẩm chất tốt nhất của cả phương Đông và phương Tây. Đây chính là vị trí của Singapore. Người Singapore đang có một bản sắc kép đặc biệt khi sống ở một quốc gia hiện đại nhất châu Á và cũng Tây hóa nhất. Nếu thành công với quyền lực mềm của mình, Singapore hoàn toàn có thể đạt được vị thế có ý nghĩa toàn cầu. 

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY  

Giải thưởng Food Prize 2013 thế giới hướng về cây chuyển gen

  • PDF

Ba nhà khoa học có công trong giống cây trồng GM nhận được giải thưởng FOOD PRIZE thế giới

Ba nhà khoa học thuộc lĩnh vực agri-biotechnology đã được tặng giải thưởng cao quý WFP 2013 (World Food Prize).

Đầu tiên là GS TS Marc Van Montagu, Founde nhà sáng lập và Chủ tịch IPBO (Institute of Plant Biotechnology Outreach), Ghent, Belgium. Công trình khoa học nổi bật của ông về bệnh “crown gall” một trong những khám phá vi khuẩn gây khối u cho thực vật sống trong đất (Agrobacterium tumefaciens) mang phân tử cấu trúc vòng đáng dấu DNA được biết với thuật ngữ "Ti plasmid". Người thứ hai là Bà Mary-Del Chilton, nhận giải thưởng WFP 2013, đã chứng minh được một phần của plasmid này được sao bản và chuyển vào genome của tế bào thực vật bị vi khuẩn tấn công.

Mary-Del Chilton, Nhà sáng lập và nhà nghiên cứu của công ty Syngenta Biotechnology, nhóm nghiên cứu của Bà đã tìm ra cơ chế của vi khuẩn Agrobacterium, Bà đã sử dụng cơ chế ấy để tạo ra được cây thuốc lá biến đổi gen đầu tiên. Công trình khoa học của Bà cung cấp cho loài người chứng cứ rằng genome cây trồng có thể được cải biên với mức độ chính xác theo như mong muốn so với cải tiến giống theo phương pháp truyền thống.

Người thứ ba là TS Robert T. Fraley, Phó Chủ Tịch điều hành và Trưởng cơ quan kỹ thuật của Monsanto. Nhóm nghiên cứu của Fraley sản xuất được những cây transgenic đầu tien thông qua chuyển nạp gen nhờ vi khuẩn Agrobacterium. Fraley đã được xem như một nhân vật chính của giống đậu nành GE kháng thuốc cỏ. Ông đặc biệt đã mang lại giống cây trồng GM cho những người nông dân sản xuất qui mô nhỏ.

 Xem chi tiết http://www.w  orldfoodprize.org/en/laureates/2013_laureates/

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Phần mềm mới giúp áp dụng kỹ thuật CRISPR dễ dàng hơn

  • PDF

Phần mềm mới giúp áp dụng kỹ thuật CRISPR dễ dàng hơn 

Các nhà nghiên cứu tại Viện Karolinska và Trường Đại học Gothenburg đã chế tạo được một phần mềm dựa vào web có tên là Green Listed, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gen (CRISPR). Phần mềm đã được công bố trên Tạp chí Bioinformatics và được cung cấp miễn phí trên trang web greenlisted.cmm.ki.se.

Các tế bào rất nhỏ tạo nên một sinh vật. Một người có lượng tế bào gấp khoảng 100 lần. Phần lớn tế bào này có chứa các chuỗi ADN dài. Các chuỗi ADN ảnh hưởng đến hình dạng và hành vi của các tế bào khác nhau. CRISPR là công cụ dùng để nghiên cứu nhanh cách các phần khác nhau của ADN ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào. Nhờ có công cụ CRISPR, các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và đưa ra các gợi ý về hướng điều trị.

Fredrik Wermeling, đồng tác giả nghiên cứu tại Viện Karolinska cho biết: "Chúng tôi đã áp dụng phương pháp CRISPR để nghiên cứu cả tế bào miễn dịch và tế bào ung thư với mục tiêu phát triển các liệu pháp mới cho bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến hệ miễn dịch như viêm khớp và ung thư".

Kỹ thuật CRISPR dựa vào một hệ thống xuất hiện tự nhiên trong nhiều loại vi khuẩn, trong vài năm qua đã được chú ý nhiều. Một phương thức rất hữu hiệu để sử dụng CRISPR là nghiên cứu song song nhiều thành phần khác nhau của ADN còn gọi là sàng lọc CRISPR. Đặc biệt, phần mềm Green Listed được sử dụng để thúc đẩy phát triển loại hình nghiên cứu này trên quy mô lớn.

"Bằng cách áp dụng phương pháp CRISPR trong nghiên cứu, hiện nay, chúng tôi có thể giải thích hiện tượng mà chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu trong nhiều năm qua. Điều này chủ yếu liên quan đến các thí nghiệm sàng lọc CRISPR, trong đó, chúng tôi phải chỉnh sửa đồng thời khối lượng lớn các thành phần ADN được lựa chọn của các tế bào phân tách. Phần mềm Green Listed đơn giản hoá đáng kể quá trình này và rất quan trọng cho tiến bộ của chúng tôi", Fredrik Wermeling nói.

 

Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển

  • PDF

Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển 

BẤT KHUẤT TRƯỜNG SA

KỲ II- ĐÔ THỊ GIỮA BIỂN

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”. Đó là nội dung mật lệnh ngày 7/4/1975 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng ít người biết rằng, 3 ngày truớc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một mật lệnh chỉ đạo “chiến dịch Hồ Chí Minh trên biển”, giải phóng quần đảo Trường Sa."

Ngày 11/4/1975, một phân đội của Đoàn 126 đặc công Hải quân, được tăng cường lực lượng của Tiểu đoàn 471 đặc công Quân khu 5, do Trung tá Mai Năng, Đoàn trưởng Đoàn 126 chỉ huy hành quân ra Trường Sa, trên 3 tàu vận tải của Đoàn 125 hải quân, giả dạng tàu cá Hồng Công. Với phương châm “thần tốc, táo bạo, bí mật, bất ngờ”, sáng 14/4 quân ta giải phóng đảo Song Tử Tây sau 45 phút nổ súng, mở màn chiến dịch giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ.
 
Đẹp và hiện đại
 
Nhìn trên bản đồ vùng biển Việt Nam, đảo Song Tử Tây nằm ở cực Bắc quần đảo Trường Sa, vĩ độ 11025’55 Bắc, kinh độ 114018'00’’ Đông. Đảo có hình bầu dục theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, dài khoảng 630m, rộng 270m, khi thủy triều xuống thấp nhất, mặt đảo cao 4m - 6m so với mặt biển, diện tích tự nhiên khoảng 12 ha, lớn thứ hai trong các đảo (sau đảo Trường Sa Lớn). 
 
Là đảo được chọn để giải phóng đầu tiên, Song Tử Tây cũng là đảo hiện đang giữ nhiều kỷ lục của Trường Sa, như: có hải đăng đầu tiên trên quần đảo Trường Sa (đưa vào hoạt động tháng 10/1993); âu tàu hiện đại với sức chứa lớn nhất; nhà lưới trồng rau xanh cùng hệ thống tưới tự động hiện đại nhất…   
 
Với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, phối cảnh hài hoà giữa công trình doanh trại, khu dân cư xen kẽ cây xanh, không gian khiến toàn cảnh đảo đẹp và bình yên như một khu đô thị sinh thái được quy hoạch bài bản chứ không phải một đảo tiền tiêu nơi đầu sóng ngọn gió.
 
Thượng tá Nguyễn Trọng Bình, Chính trị viên đảo Song Tử Tây cho biết: Dự án “Sản xuất thử nghiệm một số giống cây trồng, vật nuôi ở quần đảo Trường Sa” do Bộ NN-PTNT thực hiện, là một trong những hoạt động nhằm góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân nơi biển đảo tiền tiêu. Mục tiêu của Dự án là sản xuất thử nghiệm và mở rộng sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi thích hợp, góp phần tự túc được một phần rau xanh, thực phẩm và tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp tại một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Cùng với đảo Trường Sa Lớn và đảo Sinh Tồn, đảo Song Tử Tây được đầu tư xây dựng nhà kính diện tích 156m2  dùng trồng rau quanh năm; nuôi các loại gia cầm như vịt, gà, ngỗng; nuôi bò lai và trồng thử nghiệm một số loại hoa sứ, cúc, sống đời và hoa giấy trên đảo. 

 
Nông nghiệp công nghệ cao giữa biển
 
Về phát triển đàn bò, năm 2011, Bộ NN-PTNT đã tặng đảo ba con bò giống lai Sind, sau đó cấp thêm bốn con. Sau hơn ba năm, đàn bò đã sinh sôi đông đúc, béo khoẻ như được chăn nuôi tốt tại các trang trại trong đất liền. 
 
Chiến sĩ Võ Hoàn Vinh phụ trách chăn nuôi tâm sự: “Điều kiện ở đảo khó khăn, không có cỏ tươi nên thức ăn của bò là cơm canh thừa nấu thành cháo. Nhưng đôi khi bò thèm cỏ quá, ăn cả quần áo cũ, giấy báo và bao xi măng, vậy mà con nào con nấy cứ “ú na ú nần”, “múp rụp” đầu đuôi ”.

 
Thượng uý Nguyễn Phú Huyến, Trợ lý Hậu cần cho biết, để có được khu nhà vườn, hơn 30 tấn hàng gồm khung nhà kính, giá thể (mụn xơ dừa, đất), phân bón, giống rau, gà và ngỗng giống, thức ăn chăn nuôi… đã được vận chuyển từ đất liền ra đảo. Từ khi nhà kính được đưa vào sử dụng tháng 7/2013, bộ đội tích cực trồng xen canh các loại rau, bình quân mỗi tháng thu được từ 30-35kg rau xanh trên diện tích 10m2 được chia cho mỗi phân đội, thường xuyên đáp ứng khoảng 80% nhu cầu rau xanh, thậm chí vào dịp tháng 7, tháng 8 còn thừa rau bán cho nhà bếp.
 
Trực tiếp ra đảo nuôi, trồng, cán bộ của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (Bộ NN-PTNT) cũng đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho hàng chục lượt cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trên đảo. Dự án đã đạt hiệu quả bước đầu, góp phần cải thiện bữa ăn cho quân và dân, tăng cường sức khoẻ để xây dựng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo. 
 
Nhờ thành tích tốt trong huấn luyện phục vụ chiến đấu, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây  dựng và bảo vệ Tổ quốc, xã đảo Song Tử Tây đã vinh dự được tặng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước, của Bộ Quốc phòng, trong đó có danh hiệu cao quý đơn vị “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” năm 1999. Đảo Song Tử Tây cũng là đơn vị nhiều năm liên tục được tặng danh hiệu đơn vị quyết thắng, đơn vị huấn luyện giỏi.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn

  • PDF

FOODCROPS. Đứng trên vai những người khổng lồ tiên phong. Phương Tây mới thực sự là cái nôi của các ngành khoa học công nghệ cao. Tư duy mở, hợp tác trao đổi công nghệ nhiều hơn trong nghiên cứu mới có thể xây dựng được thế giới khoa học ngôn ngữ cho người Việt. Khỏang cách do sự khác biệt ngôn ngữ, yếu kém trong đào tạo giáo dục, tư duy đóng trong chia sẽ kiến thức, hạ tầng không đồng bộ ... là vấn đề chính gây cản trở trong nghiên cứu thực tế. Việt Nam khác Trung Quốc ngay từ nền tảng. Không thể chỉ học tập theo mô hình đóng của Trung Quốc trong phát  triển khoa học kỹ thuật mà phải gắn chặt hơn vào sự cởi mở của khoa học phương Tây bằng việc mở rộng ngôn ngữ giáo dục chính quy có tôn trọng và kế thừa. Lịch sử để lại của nước Trung Hoa không phải là một sự thuần khiết cho giáo dục hiện đại.  Nên tiến đến lấy ngôn ngữ tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính từ bậc Trung học lên Đại học.  Đẩy mạnh các phương thức giáo dục song ngữ Anh - Việt kết hợp ngôn ngữ truyền thống tiếng Hoa ngọai khóa tiến theo mô hình giáo dục từ Singapore sẽ giúp thế hệ trẻ vượt lên, thóat khỏi thiếu sót từ hệ thống giáo dục thiếu động lực do những hạn chế của quá khứ để lại cho đất nước. 

Làm sao để nghiên cứu ứng dụng thực tế nhiều hơn

Phùng Văn Quân
Cục phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học công nghệ, thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ

Việt Nam hiện có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức chỉ khoảng 2.000 kết quả có tiềm năng ứng dụng thực tế.

Thực trạng kết quả nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được khẳng định tại các kỳ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X "phát triển thị trường Khoa học và công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm khoa học và công nghệ (từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển ) trở thành hàng hóa. 

Để thực hiện chủ trương trên, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, hệ thống luật và các văn bản hướng dẫn luật, nghị định. Điều này có tác động tích cực nhất định đối với việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam. Một số viện nghiên cứu và phát triển đã thành công trong chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Xét số nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp hàng năm, các tổ chức nghiên cứu trong nước thực hiện khoảng 2.000 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đóng góp kết quả vào nguồn tài sản trí tuệ có thể khai thác thương mại phục vụ phát triển sản xuất.

Theo nguồn thông tin chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, riêng số lượng các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tại các trường đại học, mỗi năm, khối các trường đại học đào tạo khoảng 15.000 thạc sĩ, 1.000 tiến sĩ. Nếu coi mỗi luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ là một kết quả nghiên cứu, thì hàng năm khối các trường đại học đóng góp vào kho kết quả nghiên cứu khoảng 16.000 kết quả.

Đối với các sáng chế, giải pháp hữu ích có nguồn gốc nước ngoài được các tổ chức, cá nhân đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, theo thông tin từ Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia, tính đến tháng 10 năm ngoái, đơn vị này đã cấp khoảng 12.000 văn bằng bảo hộ.

Đối với kho tài sản trí tuệ mở của thế giới, hiện Cục Sở hữu trí tuệ đang lưu trữ gần 30 triệu bản mô tả sáng chế (tương ứng 30% số sáng chế lưu giữ tại WIPO đang lưu giữ tại NOIP), trong đó có 31.500 bản đã được dịch ra tiếng Việt sẵn sàng cho tra cứu khai thác. Đây là nguồn tài sản trí tuệ rất lớn đóng góp vào nguồn các kết quả nghiên cứu, sáng chế phục vụ cho khai thác thương mại, phát triển sản xuất ở nước ta.

Ngoài các nguồn trên, một nguồn khá lớn các kết quả nghiên cứu, giải pháp hữu ích đến từ các nhóm đơn lẻ, các cá nhân, thường được biết đến với cái tên “sáng chế nông dân”. Những kết quả nghiên cứu này đến từ quá trình tìm tòi, sáng tạo của người lao động nhằm giải quyết các vấn đề kĩ thuật liên quan đến lao động sản xuất của họ. Nhiều kết quả nghiên cứu loại này có tiềm năng ứng dụng lớn vì nó xuất phát từ bài toán thực tiễn sản xuất. Theo ước tính sơ bộ, các nghiên cứu loại này mỗi năm có hàng nghìn kết quả.

Như vậy, xét về số lượng, có thể thấy, hiện chúng ta đang sở hữu một kho kết quả nghiên cứu, sáng chế rất lớn. Ước tính, hàng năm các tổ chức cá nhân trong nước đóng góp thêm vào kho tài sản trí tuệ khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, sáng chế.

Tuy nhiên, hướng nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu theo tiêu chí ứng dụng vào khu vực doanh nghiệp sản xuất là điều cần phải quan tâm. Hiện Việt Nam có chưa đầy 10% kết quả nghiên cứu, tức là chỉ khoảng 2.000 kết quả là có tiềm năng ứng dụng thực tế, số còn lại là các nghiên cứu không phải nghiên cứu ứng dụng, hoặc những nghiên cứu chưa thiết thực với thực tế sản xuất trong nước.

Ngoài ra, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ các tổ chức khoa học và công nghệ vào doanh nghiệp còn rất hạn chế.

Theo kết quả của một cuộc điều tra về thị trường công nghệ, trên 50% số doanh nghiệp trả lời có quá ít các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước cung cấp công nghệ cho thị trường và nếu có thì thường chỉ là các công nghệ nhỏ lẻ, ít tạo thành các dây chuyền công nghệ đồng bộ, đủ sức tạo ra sản phẩm hàng hóa cạnh tranh với nước ngoài.

Theo đánh giá của các cơ quan quản lý, các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước thường nghiên cứu tiếp nhận những thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và vận dụng vào Việt Nam, ít công trình sáng tạo. Ngay cả những đề tài nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn, số kết quả nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện cấp bằng bảo hộ trí tuệ không nhiều.

Theo thống kê, mỗi năm số hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng thực hiện thành công chỉ khoảng 20 – 30 hợp đồng. Nếu kể cả các khai thác theo thỏa thuận giữa các nhóm nghiên cứu với các doanh nghiệp không qua các hợp đồng chuyển nhượng, con số khai thác thành công các kết quả nghiên cứu cũng chỉ tính theo đơn vị hàng trăm.

So với con số tiềm năng khoảng 20.000 kết quả nghiên cứu, 13.000 nhu cầu đổi mới công nghệ mỗi năm, có thể thấy việc khai thác thương mại kết quả nghiên cứu, sáng chế trong nước là quá nhỏ so với tiềm năng.

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu trên thế giới

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, chình quyền liên bang Hoa Kỳ đã có những thay đổi to lớn trong chính sách, chiến lược liên quan đến việc khai thác và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. 

Để thực hiện điều này, việc đầu tiên, Mỹ ban hành các điều luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Ví dụ, để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980, Mỹ ban hành Luật Bayh-Dole. Từ khi đạo luật này ra đời, các trường đại học của Mỹ đẩy mạnh việc hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của họ.

 Theo các nhà nghiên cứu, cứ một đô la đầu tư vào tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ, trường đại học nhận được trên 6 đô la thu nhập từ các dịch vụ chuyển giao công nghệ. Hiện Mỹ có hơn 200 trường đại học hình thành các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ trong trường. Ngoài ra, chính quyền liên bang còn rất chú trọng trong việc kết nối các doanh nghiệp với các trường đại học. Mối liên kết này được thực hiện qua việc đầu tư một phần của doanh nghiệp vào hoạt động của các trung tâm nghiên cứu tại trường Đại học. Về phần mình, trường Đại học chịu áp lực từ hội đồng khoa học Quốc gia, chủ động kết nối với doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu – triển khai. Đây là điểm thể hiện mối liên kết bền chặt giữa Nhà nước – trường đại học và doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được chú trọng ở nhiều nước châu Á. Đầu năm 2000, Hàn Quốc ban hành Luật Thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhằm đẩy mạnh việc thương mại hóa công nghệ được tạo ra từ các tổ chức khoa học và công nghệ. Thông qua các biện pháp miễn, giảm thuế, hỗ trợ tài chính, Hàn Quốc hỗ trợ thành lập các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ như Trung tâm Chuyển giao công nghệ quốc gia, các văn phòng chuyển giao công nghệ trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập.

Để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Malaysia đã xây dựng Chương trình hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Chương trình tài trợ một phần kinh phí thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển trong nước.

Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện những biện pháp mạnh để thúc đẩy tiến trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trung Quốc thực hiện một số biện pháp cải cách hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ. Hiện nhiều viện nghiên cứu truyền thống buộc phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng dành một khoản ngân sách đáng kể để khuyến khích và hỗ trợ các viện nghiên cứu tiến hành thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình và đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ cho các sáng chế.

Chính sách của các nước góp phần quan trọng gia tăng tốc độ giao dịch mua bán công nghệ (bao gồm kết quả nghiên cứu và phát triển). Ở một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia, tăng trưởng về giao dịch mua bán công nghệ đang diễn ra với tốc độ cao.

Đặc biệt, giao dịch mua bán công nghệ trên thị trường Trung Quốc trong hơn 20 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng trên hai lần so với tăng trưởng GDP. So với các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, ở các nước như Trung Quốc, Malaysia và nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, sự can thiệp của nhà nước trong việc thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học mạnh hơn.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

  • PDF

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

Mỗi năm thế giới đang lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực, tương đương với một phần ba sản lượng thực phẩm toàn cầu, báo cáo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) cho hay.

Tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, lượng thực phẩm bị mất mát tương ứng với 670 và 630 triệu tấn, ước tính thiệt hại lần lượt tương đương với 680 tỷ và 310 tỷ USD.

Người dân Australia lãng phí hơn 4 triệu tấn lương thực mỗi năm, trung bình gần 1 tấn trên mỗi hộ gia đình. Mỹ sản xuất 180 triệu tấn thực phẩm hàng năm và khoảng 50 triệu tấn, nghĩa là gần 1/3 phải bỏ đi.

Các hộ gia đình Anh lang phí khoảng 6,7 triệu tấn lương thực mỗi năm. Điều này có nghĩa là khoảng 32% tổng lượng lương thực được mua mỗi năm không được dùng tới 

Trong khi đó, báo cáo của FAO cũng cho biết, cả thế giới đang phải đấu tranh để cung cấp đủ lương thực cho 7 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 9 tỷ trong năm 2050. Hiện tại, cứ 7 người thì có 1 người đói và hơn 20 ngàn trẻ em dưới 5 tuổi chết vì đói mỗi ngày.

Việc lãng phí lương thực do đó là lãng phí tài nguyên thiên nhiên và gây ra những tác động xấu về môi trường. Hơn nữa, việc lãng phí này còn là vấn đề về mặt đạo đức.

Chính vì những lý do trên, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã quyết định chọn chủ đề “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm” (Think.Eat.Save) làm chủ đề cho Ngày Môi trường thế giới năm nay với mục đích khuyến khích mọi người trên toàn thế giới chú ý hơn đến những ảnh hưởng tới môi trường từ việc lựa chọn thực phẩm, tránh lãng phí và lựa chọn những loại thực phẩm ít tác động tới môi trường. Chủ đề này cũng sẽ là một chiến dịch toàn cầu nhằm chống lại sự lãng phí thực phẩm trên toàn thế giới.
 
“Để hướng tới một tương lai bền vững, chúng ta cần thay đổi phương thức sản xuất và tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, chúng tôi kêu gọi mọi người trên toàn thế giới cùng nỗ lực để nâng cao nhận thức và hành động thực tế ở gia đình, trên trang trại, trong các siêu thị, ở căng tin, trong khách sạn hoặc bất cứ nơi nào thực phẩm được tiêu thụ hằng ngày trong cuộc sống”, ông Achim Steiner, Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kiêm Giám đốc điều hành UNEP khẳng định.

Các hoạt động quốc tế hưởng ứng sự kiện Ngày Môi trường thế giới 2013 sẽ được tổ chức tại Mông Cổ, một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Tại Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và UBNN tỉnh Thừa Thiên – Huế sẽ phố hợp tổ chức nhiều hoạt động khác nhau nhằm hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2013 từ ngày 4-5/6/2013.

Các hoạt động chính sẽ được tổ chức bao gồm: Hội nghị tổng kết xây dựng và nhân rộng mô hình điểm khu dân cư bảo vệ môi trường, trao đổi kinh nghiệm xây dựng môi hình du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường, triển lãm tranh ảnh, các cuộc thi về môi trường,…

Lễ mít tinh quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới sẽ được tổ chức tại Nghinh Lương Đình bên bờ sông Hương, thành phố Huế vào sáng ngày 5/6. Tại đây, cũng sẽ diễn ra Lễ trao Giải thưởng môi trường Việt Nam năm 2013. Thông tin từ Bộ TN&MT cũng cho biết, cho tới thời điểm hiện tại, việc chấm giải cho các cá nhân tổ chức đã hoàn tất.

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Sinh học 2.0: Camera quan sát sự tăng trưởng thực vật

  • PDF

Sinh học 2.0: Camera quan sát sự tăng trưởng thực vật 

Trong 70 năm qua, dân số thế giới đã tăng gấp ba lần, ở mức hơn 7 tỷ người, và nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng gần một độ C. Tăng trưởng dân số và biến đổi khí hậu có liên quan với những thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp hiện đại. Viện công nghệ Karlsruhe (KIT) đã kết hợp ngành khoa học máy tính và sinh học cùng nhau để xác định những gen mà làm cho cây có khả năng kháng nhiều hơn với các yếu tố căng thẳng, chẳng hạn như khô hạn và đất nhiễm mặn.

"Để đối phó với những yêu cầu thay đổi về nông nghiệp, thì việc phát triển các loài cây trồng mới là điều không thể thiếu. Để làm điều này, chúng ta cần một sự hiểu biết tốt hơn về các loại cây trồng quan trọng, chẳng hạn như lúa, được coi là nguồn thực phẩm quan trọng nhất trên toàn thế giới", tiến sĩ Michael Riemann tại Viện KIT, giải thích. Ông đã phát triển hệ thống phân tích sự tăng trưởng của cây mạ, gọi tắt là RiSeGrAn. Bằng cách so sánh các loài khác nhau về mặt di truyền, có thể rút ra kết luận về chức năng của các gen nhất định về mặt khả năng đề kháng với một loạt các yếu tố căng thẳng. Do nghiên cứu tập trung vào các giai đoạn đầu trong quá trình phát triển của cây giống, nên có thể phân loại các biến dị gen một cách nhanh chóng hơn. Hệ thống sử dụng một máy ảnh hồng ngoại để chụp ảnh cây con phát triển trong bóng tối. "Lúc đầu, cây con phải lớn lên trong bóng tối để chúng trở nên rất nhạy với ánh sáng. Sau đó, chúng ta có thể đo lường hiệu quả của ánh sáng đến cây con", Riemann giải thích. Trong bước tiếp theo, hệ thống đánh giá các bức ảnh một cách tự động.

 

Cài đặt hệ thống RiSeGrAn

Hệ thống được cài đặt trong một chiếc hộp có kích thước gấp 50 cm 50 lần. Bên trong được chiếu sáng bằng 20 đèn LED hồng ngoại. "Cây con thay đổi bề ngoài phụ thuộc vào việc chúng phát triển trong bóng tối hay trong ánh sáng. Tuy nhiên, hệ thống này là để quan sát các loài thực vật và không ảnh hưởng đến chúng. Vì lý do này, các hộp được thiết kế sao cho ánh sáng không đến được cây con", Riemann cho biết. Các cây con được sắp xếp trong một đĩa kín trong môi trường thạch nước, một môi trường dinh dưỡng trong suốt cung cấp nước cho cây con. Để có được thông tin chi tiết về sự phát triển của cây, hệ thống chụp ảnh mỗi tiếng một lần trong khoảng thời gian mười ngày, theo sự kiểm soát của máy tính, chứ không cần phải có một người nhìn vào hộp. Các thuật toán được sử dụng để xác định từ các bức ảnh này độ dài của chồi, độ dài của lá thứ nhất, và độ dài của rễ. Ngoài ra, máy tính còn truyền các hình ảnh này một cách tự động vào máy chủ, và các nhà nghiên cứu có thể xem các bức ảnh này từ đây.

Xem video minh họa cho hệ thống RiSeGrAn tại: http://da-cons.de/uploads/images/videos/RiSeGrAn__description.mp4

"Bằng cách này, chúng tôi có thể khám phá các tính chất chưa được biết của những gen đã được biết. Ví dụ như, chúng tôi có thể đo chính xác các thông số, chẳng hạn như thời gian nảy mầm hoặc sự tăng trưởng của các mô nhất định", Riemann giải thích. "Các số đo của chúng tôi có thể hỗ trợ các nghiên cứu sinh học phân tử, bằng việc xác định các gen mà giúp cho cây có khả năng kháng nhiều hơn với một số yếu tố gây căng thẳng, ví dụ như đất nhiễm mặn".

Dữ liệu mở

Bước tiếp theo, các nhà phát triển dự án RiSeGrAn dự tính sẽ thiết lập một nền tảng Dữ liệu Mở trực tuyến dựa trên các dữ liệu thu thập được. Các nhà khoa học sau đó có thể xuất bản dữ liệu của họ trên nền tảng này. Dữ liệu mở có nghĩa là dữ liệu thô thu được từ các thí nghiệm luôn có sẵn cho các nhà khoa học khác. Các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra kết quả ban đầu hoặc để nghiên cứu dữ liệu để tìm hiểu một số đặc điểm nhất định.

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

  • PDF

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

Mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích canh tác còn thấp.

Ngày 25/4 tại Cần Thơ, Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tổ chức hội thảo “Cánh đồng lớn”.

Đại diện Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Hội nông dân Việt Nam, Sở Nông nghiệp các tỉnh thành Đông, Nam bộ cùng đông đảo các nhà khoa học ở các Viện, trường Đại học tham dự.

Phát biểu tại Hội thảo ông Tăng Minh Lộc –Chánh văn phòng điều phối- Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho rằng mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích đất canh tác bình quân đầu người còn thấp và ruộng đất manh mún do phân tán cho nhiều hộ.

Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản, nâng sức cạnh tranh trên thị trường. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất hàng hóa là liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.

Tại hội thảo nhiều đại biểu đặt ra câu hỏi là làm thế nào để nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất lúa gạo tại các cánh đồng lớn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đệ - Phó trưởng khoa Phát triển nông thôn, Đại học Cần Thơ cho rằng, trong thời gian qua việc xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng với doanh nghiệp theo Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ hiệu quả đem lại chưa cao. Quyền lợi giữa doanh nghiệp và nông dân chưa được hài hòa nên tính liên kết thiếu bền vững. 

Bên cạnh đó nhiều đại biểu cũng lo lắng khi các “Cánh đồng lớn”  sản xuất ra lượng hàng hóa lớn, thu hoạch đồng loạt, nhưng thực tế giải pháp sau thu hoạch chưa đảm bảo. Cụ thể như máy gặt đập, máy sấy, bảo kho quản chưa đáp ứng, tình trạng nông dân bán lúa tươi hiệu quả thu nhập thấp, lúa bảo quản không đảm bảo dẫn đến gạo kém chất lượng. Việc thu hoạch số lượng lớn cùng thời điểm làm cho giá lúa bị giảm. 

Theo ông  Nguyễn Duy Lượng - Phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, cả nước hiện có 150 doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Do vậy ông đề xuất Chính phủ cần có chính sách để các doanh nghiệp đều có kế hoạch xây dựng vùng nguyên liệu riêng. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ cho các doanh nghiệp này vốn đầu tư giống lúa, phân bón và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm lúa hàng hóa cho nông dân. Làm như thế nông dân sản xuất an tâm đầu ra, lúa sản xuất đồng loạt một loại giống, đủ tiêu chuẩn và chất lượng xuất khẩu; doanh nghiệp từng bước xây dựng được thương hiệu lúa gạo Việt Nam.

Để mô hình cánh đồng lớn đạt hiệu quả cao, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bãnh – Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đề xuất trong thời gian tới cần xác định rõ vai trò chủ yếu của đối tác trong quan hệ liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã và các nhà khoa học, ngân hàng…. để có biện pháp quản lý, hỗ trợ, nâng cao hiệu quả liên kết; Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ các đối tượng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phâm chủ lực, trong đó ưu tiên  hiện mô hình “Cánh đồng lớn”./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module