Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

PPP: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản

  • PDF

PPP: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản 

Mô hình đối tác công-tư (PPP) đang được kỳ vọng là một đáp án hiệu quả để liên kết chuỗi giá trị, tăng cường đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy giá trị gia tăng của nông sản.

Ông J.V. Raman, Tổng Giám đốc Unilever Việt Nam, Trưởng nhóm PPP về chè cho hay, nhằm nâng cao chất lượng chè Việt Nam khi xuất khẩu, Chương trình PPP về chè đã lồng ghép hướng dẫn kỹ thuật canh tác và chế biến vào trong chuỗi sản xuất của ngành hàng.

Nông dân trồng chè và các chủ nhà máy chế biến chè quy mô nhỏ đã được đào tạo về canh tác nông nghiệp bền vững để đạt các chứng nhận quốc tế. Các tập đoàn đa quốc gia trong nhóm này đã đầu tư 440.000 euro để đào tạo và liên kết mô hình sản xuất với hơn 23.000 nông dân ở các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Yên Bái, Vĩnh Phúc và Nghệ An.

Đến nay, mỗi năm Unilever đã mua 30.000-35.000 tấn chè được chứng nhận quốc tế từ nông dân để xuất khẩu.

Hiệu quả từ PPP

Không chỉ có nhóm PPP về chè cho hiệu quả cao mà các nhóm về thuỷ sản, cà phê, cây lương thực… cũng đang cho thấy hiệu quả rõ rệt từ mô hình này.

Nhóm PPP thủy sản do Metro Cash & Carry Vietnam chủ trì, bắt đầu từ dự án chuỗi cung ứng cá tươi, nhằm cung cấp cho người tiêu dùng thủy sản đạt chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Các đối tác tham gia nhóm PPP này gồm: Metro, Cargill, Fresh studio, Bộ NNPTNT.

Theo ông Philippe Bacac, Giám đốc điều hành của Metro Cash & Carry Việt Nam, đến nay đã đào tạo và cấp chứng chỉ cho trên 2.000 nông dân nuôi trồng thủy sản và 400 thương lái chuyên thu gom thủy sản. Nông dân đã nắm vững kỹ năng kiểm soát môi trường, thuốc và sử dụng hóa chất, quản lý chất thải. Hoạt động thu hoạch cá, xử lý, đóng gói và vận chuyển cũng được kiểm soát chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc trước khi vận chuyển cá tươi đến trung tâm Metro. Mỗi năm có hơn 4.000 tấn thủy sản sạch của chương trình được tiêu thụ trong hệ thống siêu thị Metro và các siêu thị trên toàn quốc.

Nhóm PPP về cà phê đã thu hút được sự tham gia của các tập đoàn Bayer, Nedcoffe, Coex, Simexco, hiện đang triển khai Dự án sản xuất cà phê chứng nhận tại 5 tỉnh. Đến nay đã thành lập 150 mô hình nhóm nông dân trình diễn.

Nông dân tham gia vào mô hình được hỗ trợ các giống cà phê mới cao sản, đồng thời được hỗ trợ 50% kinh phí tái canh phục tráng các vườn cà phê đã già cỗi, được hướng dẫn kỹ thuật tưới tiêu mới tiết kiệm 40% lượng nước tưới, những kỹ thuật bón phân cân bằng dinh dưỡng, sử dụng thuốc diệt nấm để hạn chế phun thuốc trừ sâu… Với kỹ thuật canh tác mới này đã giúp cây cà phê tăng năng suất thêm 480 kg/ha (tương đương 11,4%), tăng doanh thu thêm hơn 18 triệu đồng/ha (tương đương với lợi nhuận tăng 14%).

Nhóm PPP về cây lương thực làm thức ăn chăn nuôi có sự tham gia của các tập đoàn Monsanto, Syngenta, Bunge với mục tiêu tăng 30% năng suất ngô tại các vùng trồng trọng điểm. Lãnh đạo Tập đoàn Monsanto cho biết, tập đoàn này đầu tư 1 triệu USD cho chương trình PPP tại Việt Nam trong 5 năm, vào các khâu cung cấp giống ngô lai, đào tạo kỹ thuật canh tác mới đến 150.000 nông dân.

Nhiều giống ngô lai mới của Dekalb chuyển giao cho nông dân trồng đã đạt năng suất bình quân hơn 10 tấn/ha, cao gấp hơn 2 lần so với năng suất ngô bình quân cả nước hiện nay. Với phương pháp làm đất tối thiểu, đã giúp tiết giảm 80% chi phí vật tư và lao động. Tính hiệu quả kinh tế, mỗi ha trồng ngô cho lợi nhuận 17 triệu đồng/vụ (3 tháng). Trong khi trồng lúa trước đây, mỗi vụ nông dân chỉ lãi 4,7 triệu đồng/ha.

PPP: Thúc đẩy chính sách có lợi cho nông dân

Theo nhận định của Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Mới trải qua 3 năm triển khai, nhưng lợi ích PPP đem lại cho nông nghiệp rất lớn, đang là nhân tố chiến lược giúp tăng sức cạnh tranh của các chuỗi nông sản. Thông qua chương trình này, các tập đoàn đa quốc gia đã đầu tư vào đào tạo tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, thiết lập cơ sở hạ tầng thị trường, giúp xây dựng kênh tiếp thị hiệu quả” .

Hiện nay, Bộ NNPTNT đang phối hợp với 17 Tập đoàn đa quốc gia, công ty quốc tế triển khai mô hình “Đối tác công-tư ngành nông nghiệp” với 5 nhóm hàng hóa và 1 nhóm tài chính vi mô, bao gồm: Cà phê, chè, rau quả, thuỷ sản, cây lương thực làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.

Tham gia vào các mô hình PPP, người nông dân được nâng cao nhận thức trong quá trình canh tác, sản xuất. Trên hết, thu nhập của nông dân được đảm bảo vì sự gắn kết quan trọng nhất trong PPP chính là sự kết nối giữa những doanh nghiệp tiêu thụ và nông dân. Thông qua mô hình này, các nhà quản lý cũng có cái nhìn tổng thể và thước đo kinh tế chính xác hơn khi xây dựng và áp dụng các chính sách cho nông nghiệp.

Ngay như ở nhóm cây lương thực, hiệu quả của trồng ngô được  tính toán cho giá trị nổi bật hơn hẳn so với trồng lúa. Theo tính toán của nhóm này thì ngay khi bán gạo ở mức giá cao nhất và bán ngô ở mức thấp nhất, thu nhập từ ngô vẫn cao hơn 2,5-6 lần so với trồng lúa.

Chính vì hiệu quả kinh tế rõ ràng này, nhóm PPP cây lương thực đã dễ dàng kết nối thị trường đầu ra cho ngô. Hiện nay nhóm đã có sự tham gia của các Công ty Bunge, Vinasoy và Vinamilk để tiêu thụ các sản phẩm ngô và đậu tương, giảm được nhập khẩu.

Hiệu quả từ mô hình của nhóm cây lương thực đã thúc đẩy Bộ NNPTNT đẩy nhanh quá trình thực hiện chính sách chuyển đổi cây trồng để tăng thu nhập cho nông dân. Cụ thể, trong năm 2014, Bộ NNPTNT đã có chủ trương sẽ mở rộng diện tích trồng ngô lên 1,23 triệu ha, tăng 73 ngàn ha so với năm 2013 theo hướng tiếp tục đưa các giống ngô mới có năng suất cao, kết hợp thâm canh nhằm đạt sản lượng khoảng 5,66 triệu tấn.

Khi người nông dân và doanh nghiệp bắt tay trở thành một chuỗi gắn kết, các chính sách bổ trợ cho toàn chuỗi sẽ giúp từng mắt xích trong chuỗi được hưởng lợi. Đây là quá trình mà chính sách sẽ tác động theo hướng nâng cao thu nhập cho nông dân.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Tiềm năng và tiềm ẩn

  • PDF

Tiềm năng và tiềm ẩn

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng Việt Nam đang ở dưới mức "tăng trưởng tiềm năng" khi GDP chỉ xoay quanh mốc 6% và có thể xuống mức 5% trong hai năm tới.

Trong buổi công bố cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam mới diễn ra hôm cuối tuần trước, WB cho biết "mức tăng trưởng tiềm năng" của nền kinh tế Việt Nam là 7% với điều kiện thực hiện tốt những cải cách về cơ cấu, thể chế.

Đánh giá này có thể coi là một hồi chuông cảnh báo quan trọng bởi nhiều năm qua, không ít người đã bị “ru ngủ” trong những nhận định có cánh về “tiềm năng” tăng trưởng của nền kinh tế.

Không chỉ đánh giá chung về nền kinh tế mà hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực khác của Việt Nam cũng được cho rằng có “tiềm năng lớn” để tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

Thế nhưng, thực tế cho thấy sau nhiều năm phát triển, những “mức tăng trưởng tiềm năng” trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và thậm chí là của cả nền kinh tế vẫn chỉ dừng ở mức “tiềm ẩn” khi hàng loạt mặt hàng vẫn xuất khẩu dưới dạng thành phẩm thô, chưa qua tinh chế. Các ngành da giày, dệt may còn nặng về gia công chứ chưa chú trọng đến giá trị gia tăng của sản phẩm.

Đến cả các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm thị phần lớn trên thị trường quốc tế như gạo, cà phê, hồ tiêu, hải sản… cũng chưa giành được vai trò chi phối thị trường mà vẫn bị phụ thuộc vào các đối tác, thương lái nước ngoài.

Đứng trước thực trạng này, các chuyên gia cũng thẳng thắn thừa nhận một trong những nguyên nhân chính là do hầu hết các ngành đều đang thiếu quy hoạch phát triển tổng thể, dẫn đến tình trạng các cá nhân, doanh nghiệp đều đang phát triển manh mún, tự phát, thiếu sự liên kết, mạnh ai nấy làm.

Điều đáng nói là những vấn đề này đã được thảo luận nhiều lần, trong hàng trăm các cuộc hội nghị, hội thảo lớn nhỏ được tổ chức rầm rộ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sau khi các cuộc hội thảo đó kết thúc trong tiếng vỗ tay mừng thành công vang dội của các quan khách, đại biểu thì mọi chuyện dường như vẫn đâu vào đấy. Nông dân vẫn loay hoay với bài toán trồng cây gì, nuôi con gì; được mùa mất giá, được giá mất mùa, bị thương lái, thậm chí cả thương lái nước ngoài chèn ép.

Công nhân các nhà máy, khu công nghiệp vẫn vật lộn với công cuộc mưu sinh hàng ngày khi nguy cơ thất nghiệp ngày càng lớn trong tình cảnh số lượng doanh nghiệp phá sản liên tục tăng. Còn người dân cả nước nói chung hàng ngày vẫn phải đương đầu với các tín hiệu không mấy khả quan của nền kinh tế.

Như vậy, có lẽ đã đến lúc Việt Nam cần rũ bỏ những hào quang của quá khứ về một quốc gia đang phát triển có "tốc độ tăng trưởng ấn tượng” hay "thành công đáng ghi nhận” để thực sự bắt tay vào việc biến những “tiềm năng” thành kết quả thực tế chứ không chỉ mãi là “tiềm ẩn” như bây giờ.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

 

Nhật Bản khai thác khí đốt tự nhiên từ băng cháy

  • PDF

Nhật Bản khai thác khí đốt tự nhiên từ băng cháy
Theo Vietnam+

Ngày 12/3, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho biết nước này đã chiết xuất khí đốt tự nhiên từ nguồn năng lượng mới có tên methane hydrate (hay còn gọi là băng cháy) ở đáy biển Thái Bình Dương, ngoài khơi miền Trung Nhật Bản.

Đây là trường hợp đầu tiên trên thế giới khai thác khí đốt từ một nguồn năng lượng như vậy.

Một quan chức thuộc bộ trên cho biết một lượng nhất định khí metal đã được sản xuất vào lúc 9 giờ (giờ địa phương).

Nếu nguồn khí đốt này được khai thác ổn định trong khoảng hai tuần thử nghiệm tại vùng nước cách bán đảo Atsumi, tỉnh Aichi 80km về phía Nam, đây sẽ là "một bước tiến lớn" hướng tới sự phát triển mang tính thương mại một nguồn tài nguyên trong tương lai.

Công việc chuẩn bị cho dự án khai thác này đã được một tổ hợp do Tập đoàn Dầu khí và Kim loại quốc gia Nhật Bản đứng đầu tiến hành hồi tháng 2/2012.

Theo dự án khai thác, tổ hợp này đã dùng phương pháp làm giảm áp suất của những địa tầng ở đáy biển có chứa khí methane hydrate để loại bỏ những chất rắn và thu được khí metal - thành phần chủ chốt của khí đốt tự nhiên.

Methane hydrate cấu tạo từ khí mêtan được nén chặt trong băng bên dưới đáy biển hoặc đóng băng vĩnh viễn, được xem như là một nguồn năng lượng mới đầy hứa hẹn.

Nguồn năng lượng mới này nằm trên một diện rộng ở đáy biển bao quanh Nhật Bản, với trữ lượng ước tính đủ để phục vụ nhu cầu tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Nhật Bản trong khoảng 100 năm.

Người ta hy vọng vào việc phát triển nguồn khí đốt này bởi Nhật Bản có rất ít nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, việc giảm chi phí trong việc khai thác như khoan giếng ở đáy biển.... vẫn là một thách thức đối với Nhật Bản

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY  

Cây lúa và chiến lược tăng trưởng mới

  • PDF

Cây lúa và chiến lược tăng trưởng mới

Ngành gạo Việt Nam cần có giải pháp “xuôi” (bắt đầu từ khách hàng), chứ không phải giải pháp “ngược” (bắt đầu từ sản xuất).
 
 Gạo, một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đã nếm nỗi đau khi kết thúc năm 2013, xuất khẩu chỉ đạt 6,61 triệu tấn với giá trị 2,95 tỉ USD, giảm 17,4% khối lượng và 19,7% giá trị so với năm 2012.

 Viễn cảnh năm 2014 cũng không mấy sáng sủa khi nguồn cung thế giới đang dư thừa, trong khi cầu lại không tăng nhiều. Gạo Việt Nam cũng đang bị cạnh tranh dữ dội bởi sản phẩm của Ấn Độ, Myanmar, Pakistan và cả Campuchia. Nhưng đối thủ lớn nhất mà Việt Nam cần dè chừng trong năm nay là Thái Lan, khi quốc gia này đang có kế hoạch bán ra một lượng lớn lúa gạo từ kho dự trữ khổng lồ của mình.

Thái Lan xả hàng, Việt Nam lãnh đủ

 Theo Thông tấn xã Thái Lan, lượng xuất khẩu gạo trong 2 tháng đầu năm nay của Thái Lan đã phục hồi đáng kể, đạt 1,8 triệu tấn, cao hơn Việt Nam và Ấn Độ. Theo dự đoán của Công ty CP Intertrade, Thái Lan sẽ sớm giành lại ngôi vị số 1 thế giới về xuất khẩu gạo trong năm nay khi có thể đạt tới 8,5 triệu tấn, nhờ chất lượng gạo cao và giá gạo giảm.

 Việc Thái Lan đẩy mạnh xuất khẩu khiến gạo tiếp tục chịu sức ép giảm giá. Theo ông Sumet Laomoraporn, Tổng Giám đốc CP Intertrade, giá gạo thế giới đang tiến gần tới mức thấp nhất và tiếp tục giảm xuống còn 360-380 USD/tấn vào tháng 3 và tháng 4 khi Ấn Độ và Việt Nam bước vào mùa thu hoạch. Chỉ từ nửa cuối năm nay, giá gạo mới có cơ hội phục hồi khi nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia tăng lên cũng như do tác động của hiện tượng El Nino đến sản xuất.

 Trong những năm qua, Thái Lan đã trợ giá lúa gạo cho nông dân và việc treo giá xuất khẩu quá cao khiến cho kho gạo dự trữ của nước này ngày càng phình to ra. Hiện nay, với khoảng 20 triệu tấn gạo dự trữ và giá gạo thế giới giảm, Chính phủ Thái Lan đang phải đối mặt với khoản nợ khổng lồ. Do đó, áp lực bán bớt để trả nợ cho nông dân là điều tất nhiên.

 Thế nhưng, việc bán ra của Thái Lan có thể sẽ gây tác động tiêu cực không chỉ đến nông dân Việt Nam, công ty xuất khẩu mà còn đến các đối tượng khác có liên quan như ngân hàng. Một ngân hàng có thị trường hoạt động chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, chẳng hạn, đã thay đổi chính sách cho vay theo hướng giảm bớt tín dụng cho khu vực nông thôn trong năm nay.

 Thực ra, điều này không mới. Theo một cuộc khảo sát nhỏ của NCĐT, không ít ngân hàng cho rằng khu vực nông nghiệp - nông thôn chưa phải là thị trường hấp dẫn, ngay cả đối với khối ngân hàng quốc doanh, ngoại trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Bằng chứng là tỉ trọng cho vay đối với nông lâm thủy hải sản ở VietinBank, Vietcombank và BIDV chỉ dao động trong khoảng 2-5% tổng dư nợ tín dụng tính đến cuối năm ngoái.

 Riêng Agribank có tỉ trọng cho vay khu vực nông nghiệp - nông thôn lên đến hơn 70% (tính đến cuối tháng 10.2013) với dư nợ hơn 365.000 tỉ đồng. Thế nhưng, Agribank cũng là ngân hàng có nợ xấu thuộc hàng cao nhất Việt Nam, lên đến hơn 12%, theo báo cáo gần đây của Thanh tra Chính phủ.

 Điều này có thể đẩy nông dân trồng lúa vào tình cảnh khó khăn hơn bao giờ hết khi không có vốn để đầu tư.

 Vậy còn các chương trình cho vay ưu đãi của Chính phủ để thu mua tạm trữ lúa gạo như gói 8.000 tỉ đồng thì sao?

 Theo Tiến sĩ Đặng Kiều Nhân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, số tiền trên, nếu được sử dụng đúng mục đích, sẽ giúp một bộ phận nông dân bán được lúa và giữ giá lúa không giảm thêm, ít nhất là trong ngắn hạn. "Tuy nhiên, 8.000 tỉ đồng thì chỉ có thể đáp ứng khoảng 15% sản lượng lúa đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long", ông cho biết.

 Ở một góc độ khác, Giáo sư Võ Tòng Xuân đặt vấn đề là nông dân được hưởng lợi 30% trên mức giá nào. Đối với hộ nông dân làm theo tiêu chuẩn GAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt) như VietGap, GlobalGap, giá thành sản xuất chỉ khoảng 2.200-2.600 đồng/kg lúa. Trong khi đó, phần lớn nông dân lại không tuân thủ quy trình này mà thường làm theo kinh nghiệm cá nhân và lời khuyên của các công ty sản xuất thuốc thực vật, nên giá thành cao hơn nhiều, khoảng 3.800-4.000 đồng/kg.

 Nếu mức 30% lợi nhuận được tính dựa trên giá thành thấp thì những nông dân có giá thành cao vẫn lỗ. Còn nếu tính trên giá thành cao, doanh nghiệp phải mua với giá khoảng 5.000 đồng/kg. Liệu họ có chịu mua với giá này khi đầu ra vẫn bế tắc do nguồn cung thế giới đang dư thừa?

Cần một nền công nghiệp lúa gạo

 Trong trung và dài hạn, Việt Nam nên đưa ra chiến lược và giải pháp đồng bộ hơn. Theo ông Nhân, đó phải là giải pháp "xuôi" (bắt đầu từ khách hàng), chứ không phải giải pháp "ngược" (bắt đầu từ sản xuất) như cách làm bấy lâu nay.

 Nói cách khác, sản phẩm Việt Nam phải có giá trị gia tăng cao và xác định được người mua hàng, tức thị trường ở đâu, nhu cầu bao nhiêu, chất lượng và giá cả thế nào… Từ đó mới điều chỉnh cách chế biến để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, quy hoạch diện tích sản xuất và chọn lựa gói kỹ thuật cũng như nơi trồng nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

 Do nguồn cung gạo đang dư thừa, thay vì tăng vụ và thâm canh như hiện nay, Việt Nam có thể sản xuất gạo chất lượng cao hơn nhằm tránh sự cạnh tranh ở cấp trung bình trong tương lai với các nước trong khu vực sông Mê Kông, có thể là Myanmar. Bên cạnh đó, việc giảm vụ sẽ giúp duy trì tính bền vững môi trường - sinh thái, giảm chi phí môi trường.

 Tuy nhiên, có một vấn đề là nông dân sẽ không thể có đủ thông tin về nhu cầu, giá cả và chất lượng. Do đó, "Tổng Công ty Lương thực nên đứng ra làm trung gian nghiên cứu và mở rộng thị trường, để từ đó kết nối với thị trường trong nước và đáp ứng nhu cầu thế giới", ông Xuân đề nghị.

 Như vậy, Việt Nam cần quan tâm đến một gói giải pháp đồng bộ của cả một chuỗi ngành hàng, từ thị trường tiêu thụ cho đến lưu thông, chế biến, khâu kỹ thuật, tổ chức sản xuất và cung cấp dịch vụ đầu vào cho sản xuất và chia sẻ lợi tức từ bán hàng với nông dân. Để làm được như thế, cần thay đổi quan điểm từ ngành "sản xuất lúa gạo" thành ngành "công nghiệp lúa gạo".

 Trên thực tế, sẽ không cần quá nhiều diện tích trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long như hiện nay, mà vẫn đảm bảo được xuất khẩu. Có lẽ vì vậy, tại một hội nghị được tổ chức vào giữa tháng 3 ở Cần Thơ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập đến việc chấp thuận giảm diện tích sản xuất cây lúa, chuyển sang sản phẩm khác, miễn là đảm bảo có đầu ra.

 Tuy nhiên, không phải chỗ nào cũng có thể chuyển đổi để trồng hoa màu hoặc nuôi thủy sản, mà cần phải có đánh giá, quy hoạch và thay đổi tư duy - không đa dạng hóa sản xuất ở cấp nông hộ mà ở cấp cộng đồng và vùng.

 Việt Nam cũng nên đa dạng hóa sản phẩm hơn nữa, chế biến gạo thành thực phẩm như bột, bánh, bún, sữa hay nguyên liệu công nghiệp. Lấy ví dụ của Hàn Quốc. Tại đây, người ta chế biến sữa từ gạo để đáp ứng nhu cầu thị trường.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Biết mình biết người

  • PDF

Biết mình bết người 
Hoàng Lực

(GDVN) - Theo GS Ngô Đức Thịnh - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, trong quá khứ Việt Nam từng giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vì chúng ta “biết mình – biết người”, hiểu mình mạnh và yếu gì để phát huy, khắc phục.

Điều gì làm nên sự hùng cường một dân tộc, đó là văn hóa, bản sắc riêng không lẫn vào đâu được. Đứng trước ngưỡng cửa tiến ra thế giới sức mạnh văn hóa dân tộc sẽ đưa con tàu Việt Nam tiến biển lớn nhờ cái “mỏ neo” văn hóa bền vững được xây dựng từ hơn 4.000 năm qua. Chính nhờ cái “mỏ neo” văn hóa, dân tộc Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm lịch sử lần lượt chiến thắng những kẻ thù xâm lược sừng sỏ nhất.

Mất văn hóa nghĩa là mất tất cả


GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Sự quật cường của dân tộc Việt Nam trong quá trình chống giặc ngoại xâm được vun đúc ngay từ sớm khi dân tộc Việt Nam đã phải trải qua những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Kể từ thời Hùng Vương, Việt Nam luôn đứng trước mối họa này, do vậy ngay từ ban đầu trong mỗi người Việt Nam hình thành chủ nghĩa yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm.

“Tôi cho rằng có hai hình tượng rất đắt để nói về tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm trong văn hóa Việt Nam đó là Thánh Gióng và Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nhưng sau hết cái mà muốn nhấn mạnh ở đây là biết mình biết người”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết.

Theo GS Ngô Đức Thịnh, trong quá khứ Việt Nam từng giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm vì chúng ta “biết mình – biết người”, hiểu mình mạnh và yếu gì để phát huy, khắc phục. Hơn nữa trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm Việt Nam luôn ở thế kẻ yếu, “lấy yếu chống mạnh”, “lấy nhu thắng cương” đã trở thành sách lược chung để chống ngoại xâm.

Văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng làm nên sức mạnh của dân tộc “như người ta vẫn nói mất nước đó là điều tai họa nhưng mất văn hóa còn tai họa hơn, mất nước nhưng bằng sự quyết tâm, kiên trì thì một nghìn năm sau chúng ta vẫn giành lại được nhưng mất văn hóa nghĩa là mất tất cả, mất văn hóa mất bản sắc sẽ không phân biệt giữa ta và và kẻ xâm lược, giữa dân tộc này với dân tộc kia”, GS Ngô Đức Thịnh nói.


Xâu chuỗi đến ngày nay, bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm để xây dựng bảo vệ Việt Nam, đưa Việt Nam trở nên hùng cường, theo GS Ngô Đức Thịnh văn hóa chính là nền tảng ở đó chúng ta phải luôn “biết mình biết ta” biết đánh giá đúng cái hay cái dở của mình để phát triển.

Nói đến tinh hoa văn hóa Việt Nam, GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: văn hóa còn bao hàm nhiều ý là thái độ của con người với môi trường, thái độ con người với con người. Kết tinh tất cả những cái đó trở thành tinh hoa văn hóa dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa cởi mở, không đóng kín. Vì tinh hoa văn hóa Việt Nam nằm chính trong con người Việt Nam đó là tinh thần học hỏi và ứng dụng.

“Người Việt Nam ham học hỏi nhưng học để ứng dụng. Ngay từ trong lịch sử, để chống ngoại xâm chúng ta phải học kẻ thù để tăng cường sức mạnh cho mình. Phải nói rằng người Việt Nam có năng lực rất lớn trong việc tiếp thu và sáng tạo để ứng dụng vào thực tế – GS Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trong quá trình tiếp thu học hỏi cái mới người Việt Nam cũng bộc lộ hạn chế như chưa học đến nơi đến chốn, áp dụng tùy tiện… “Người Việt Nam không có năng lực sáng tạo ra cái gì đó thật lớn hoặc có những rất ít, điều đó không phải để nói tổ tiên chúng ta kém mà vì hoàn cảnh lịch sử. Ngay từ khi chúng ta bước ra khỏi thời kỳ nguyên thủy thì bên cạnh chúng ta đã có những nền văn hóa đồ sộ là Trung Hoa và Ấn Độ. Vì vậy không thể bắt tổ tiên ta sáng tạo ra điều gì khác họ mà phải học cái của họ biến thành cái của ta”, GS Thịnh phân tích.

Lối sống duy tình khiến nhiều người Việt “hoài nhớ quá khứ”

GS Thịnh nhìn nhận, nét văn hóa “thương người như thể thương thân”, sống thiên về tình cảm cũng là nét đẹp văn hóa Việt Nam. Trong quá khứ có thể “một sống một chết” với kẻ thù nhưng sau đó người Việt Nam vẫn sẵn sàng bắt tay xây dựng hòa bình với kẻ thù, đó là nét đẹp riêng chỉ có ở văn hóa Việt Nam mà không phải đất nước nào cũng có được.

Nhưng bất cứ điều gì cũng có hai mặt của nó. Lối sống duy tình, văn hóa cảm xúc khiến nhiều người không nhìn thẳng vào sự thật mà hoài nhớ quá khứ. “Tư tưởng “chín bỏ làm mười” có nhiều cái dở trong xã hội hiện đại vì vậy bên cạnh phát huy yếu tố chữ tình trong cuộc sống với nhau nhưng phải trên cơ sở pháp luật, một nền văn hóa duy lý hay duy tình đều có mặt mạnh và mặt yếu nhất định vấn đề là chúng ta nhận thức được nó, phát huy được nó trong hoàn cảnh nhất định”, GS Ngô Đức Thịnh cho biết thêm.

Vốn quý nhất của dân tộc Việt Nam đó là nền văn hóa nhưng nói đến việc “giữ gìn bảo tồn văn hóa dân tộc”, hiện nay chúng ta mới chỉ quan tâm khôi phục, bảo tồn giá trị văn hóa vật thể là chủ yếu. Theo GS Thịnh, trong kho tàng giá trị văn hóa Việt Nam chia ra giá trị vật thể và phi vật thể. Giá trị văn hóa vật thể như đình, chùa, miếu, mạo cảnh quan tự nhiên là những thứ nhìn thấy được nhưng lâu nay việc bảo tồn khôi phục vẫn chưa tìm ra được phương sách hay dẫn đến di tích văn hóa bị hư hỏng, người dân xin trả di tích như tại Đường Lâm (Sơn Tây – Hà Nội)…

“Trong khi đó các giá trị văn hóa phi vật thể không nên hiểu chỉ là những làn điệu dân ca, những câu hò, bản nhạc mà giá trị văn hóa phi vật thể còn là tinh thần yêu nước, quật cường chống ngoại xâm ẩn chứa trong mỗi con người, hay thái độ sống của con người Việt Nam với nhau, văn hóa ứng xử… tất cả thứ đó nằm trong tâm tưởng, tư tưởng phải ở hoàn cảnh lịch sử cụ thể mới được phát huy. Nhưng hiện nay việc truyền bá, bảo tồn giá trị văn hóa này vẫn bị xem nhẹ” – GS Ngô Đức Thịnh cho biết.

Vì vậy theo GS Ngô Đức Thịnh việc bảo tồn văn hóa là phải song song hai giá trị vật thể và phi vật thể, cùng với đó không chỉ là bảo tồn mà phải phát huy nền văn hóa đó.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

 

Nigeria xây trường học nổi

  • PDF

Nigeria xây trường học nổi
Theo Báo Tin Tức

Khi mực nước biển toàn cầu ngày càng cao và lụt lội ngày càng xảy ra nhiều, các kiến trúc sư đang hướng tới xây dựng các công trình trên mặt nước. Trường học nổi ở Makoko, Nigieria là một dự án như thế.

Từ lâu, người dân sống ở Makoko thuộc thành phố Lagos đã xây nhà nổi để sinh sống, buôn bán. Nhưng khu vực này chỉ có một trường tiểu học nên sáng kiến về trường học nổi được người dân nhiệt liệt hưởng ứng.

Trường học nổi thực ra là một công trình lắp ghép hình tam giác của NLE – một cơ quan có sứ mệnh thay đổi kiến trúc ở những thành phố đang phát triển.

Tòa nhà nổi 3 tầng này sẽ đứng trên mặt nước nhờ một hệ thống sàn làm từ 256 thùng nhựa. Tường và trần chủ yếu làm từ gỗ và trường học được thắp sáng bằng các tấm năng lượng mặt trời.

Trường học có đủ chỗ cho 100 học sinh và thậm chí còn có sân chơi và không gian trồng cây.

Theo kiến trúc sư Kunle Adeyemi thuộc NLE, sử dụng công trình nổi có nghĩa là không phải phụ thuộc vào nền đất vì nền đất quanh Makoko rất yếu.

Ông Kunle cho biết, do mực nước ở đây thay đổi thường xuyên nên họ muốn một thiết kế phù hợp với điều kiện này.

Ông Kunle hi vọng thiết kế của ông sẽ đi tiên phong trong quá trình phát triển bền vững ở Lagos và ông có tham vọng thay thế toàn bộ khu ổ chuột Makoko bằng một thành phố nổi.

Theo báo cáo tiến độ dự án, trường học nổi sẽ hoàn tất vào cuối tháng 3 này. Còn các ngôi nhà nổi sẽ được xây xong vào cuối tháng 9 và đến năm 2014, dự án cộng đồng nổi Lagos sẽ hoàn thành.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

2082 chủng gen được công bố trong CSDL nguồn gen vi sinh vật toàn cầu Thứ bảy

  • PDF

  2082 chủng gen được công bố trong CSDL nguồn gen vi sinh vật toàn cầu Thứ bảy

Nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen là vấn đề gắn với nhiều lợi ích kinh tế, xã hội, cùng các giá trị về sinh thái, môi trường. Quản lý - bảo tồn và phát huy giá trị nguồn gen vi sinh vật của Việt Nam theo chuẩn quốc tế là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nguồn gen vi sinh vật có giá trị cao về đa dạng sinh học và là nền tảng cho ngành nghiên cứu khoa học sự sống, phát triển ngành công nghiệp sinh học của quốc gia và là một phần không thể tách rời của công tác an ninh, quốc phòng.

alt

Biểu đồ thống kê cơ sở dữ liệu quốc tế về nguồn gen vi sinh vật
http://gcm.wfcc.info/StatisticgraphServlet)

Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật Việt Nam (VTCC) thuộc Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (ĐHQGHN) được thành lập từ năm 1996. Từ các đề tài hợp tác nghiên cứu trong nước và Quốc tế, VTCC đã thu thập, lưu giữ và bảo quản các nguồn gen vi sinh vật có giá trị, có khả năng ứng dụng trong công nghiệp để sản xuất các sản phẩm thương mại có giá trị cao như probiotics, enzyme sử dụng trong chăn nuôi, chế phẩm dùng trong đấu tranh sinh học, mỹ phẩm và các chất kháng khuẩn.

VTCC là thành viên của Liên hiệp Bảo tàng Giống Vi sinh vật Quốc tế (WFCC) từ năm 2008 và hiện đang là thành viên tích cực của Trung tâm Dữ liệu nguồn gen Vi sinh vật Thế giới (WDCM). Hằng năm, VTCC không những cung cấp nhiều chủng giống vi sinh vật hữu ích cho các đơn vị nghiên cứu khoa học trong nước, các nhà máy sản xuất và các trường Đại học mà còn là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen quý từ nhiều đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước. Bên cạnh đó, VTCC thường xuyên mở các lớp đào tạo cơ bản và nâng cao về phân loại vi sinh vật theo các phương pháp hiện đại.

Nghiên cứu đa dạng và bảo tồn nguồn gen vi sinh vật là một trong những hoạt động khoa học quan trọng tại Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học từ nhiều năm qua. Hoạt động này đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ của lãnh đạo ĐHQGHN xuất phát từ vai trò lâu dài của nguồn gen vi sinh vật cho phát triển khoa học công nghệ nói chung và công nghệ sinh học nói riêng của đất nước.

Với mục tiêu xây dựng và quản lý nguồn gen vi sinh vật theo chuẩn quốc tế (WFCC) có giá trị cao về đa dạng sinh học và khai thác, làm nền tảng cho nghiên cứu phát triển khoa học sự sống và công nghiệp sinh học quốc gia, đến nay Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật Việt Nam (VTCC) đã phân lập, tuyển chọn được 9257 chủng vi sinh vật có giá trị có nguồn gốc trong và ngoài nước, đưa vào bảo quản.

Công tác tư liệu hóa nguồn gen đặc biệt được chú trọng, có trên 3300 nguồn gen được lưu trữ trong hệ thống cơ sở dữ liệu của Bảo tàng, sẵn sàng cung cấp cho các cán bộ khoa học và đơn vị trong nước có nhu cầu.

Trong số các chủng vi sinh vật đang được lưu giữ tại VTCC có 2082 nguồn gen đã đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế và đã đăng ký thành công vào cơ sở dữ liệu nguồn gen vi sinh vật toàn cầuhttp://gcm.wfcc.info.

Từ khi thành lập đến nay,  VTCC đã phát triển tiềm lực cơ sở vật chất thành một đơn vị có các trang thiết bị cơ bản, nguồn nhân lực có chuyên môn cao cho công tác định danh và quản lý nguồn gen

Bên cạnh đó, VTCC luôn tập trung cho việc xây dựng tiềm lực (nhân lực và vật lực), đồng thời, phát huy vị thế của ĐHQGHN trong việc mở rộng hợp tác quốc tế với các Trung tâm nguồn gen tại các nước phát triển có lịch sử lâu dài như Anh, Nhật, Bỉ giúp cho việc đào tạo lưc lượng cán bộ khoa học có chuyên môn cao trong công tác định danh và quản lý nguồn gen vi sinh vật. Thông qua các chương trình hợp tác cụ thể và hội thảo khoa học mà Ngân hàng gen vi sinh vật của VTCC đã  chuẩn hóa và phát triển từng bước vững chắc. VTCC đã là đầu mối hợp tác quốc tế về nguồn gen vi sinh vật trong mạng lưới ACM (Asian Consortium for the conservation and sustainable Use of Microbial Resources).

Với các kết quả trên, VTCC đã được Bộ KHCN tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong công tác quản lý nguồn gen vi sinh vật. Trong giai đoạn 2015-2020, VTCC thực hiện dự án nâng cấp Bảo tàng Giống chuẩn Vi sinh vật Việt Nam thành Trung tâm nguồn gen vi sinh vật Quốc gia nhằm đạt chất lượng quản lý nguồn gen vi sinh vật tương đương khu vực và đảm bảo chủ động cung cấp nguồn gen có giá trị, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của quốc gia.

FOODCROPS. TIN KHOA HỌC

Cây cao su biến đổi gen - tiềm năng thương mại

  • PDF

Cây cao su biến đổi gen - tiềm năng thương mại

Từ khi được đưa vào trồng từ cuối thế kỷ thứ 19, cây cao su Heave đã đạt được nhiều tiến bộ trong khai thác sản lượng so với nhiều loại cây trồng khác. Năng suất hiện nay của cao su đã được nhân lên gấp 4 lần so với các giống cây có nguồn gốc từ bộ sưu tập của Wickham.


 Trước hết, gỗ là một giá trị thiên phú từ cây cao su mà các nhà trồng cao su ban đầu không thể dự đoán được. Tuy nhiên, sau 130 năm trồng cao su, hiện nay người ta ngày càng khó đưa ra được các biện pháp để cải tiến cây cao su hơn nữa. Để có thể cạnh tranh với các loại cây trồng khác, những người làm cao su cần tự cải thiện không chỉ ở mức độ vườn cây hay nông nghiệp. Đó là các nghiên cứu khoa học tiến bộ ở góc độ vi mô của cây cao su. Các nghiên cứu mới đây trong lĩnh vực biến đổi gen cây cao su sẽ tạo ra nhiều khía cạnh mới về sản lượng mà ngành cao su thiên nhiên cần xem xét.

Thay đổi các đặc tính của cây thông qua biến đổi gen

 Một trong các ứng dụng nhiều nhất của ngành công nghệ sinh học thực vật hiện đại là biến đổi gen, trong đó các gen chọn lọc đã được đưa vào thể tạng gen của cây. Các gen có liên quan thông thường là các gen can thiệp vào các đặc tính nông học như kháng bệnh hoặc kháng côn trùng. Trong khi điều này không khác nhiều so với lai tạo giống truyền thống, không tránh khỏi việc rất nhiều gen bị xáo trộn trong quá trình lai tạo. Do đó hệ con cháu từ lai tạo hữu tính sẽ có thể có đặc điểm mong muốn, cũng có thể trong cùng lúc thừa hưởng các đặc tính xấu hoặc mất đi một số đặc điểm tốt của bố mẹ chúng.

 Mặt khác, biến đổi gen là cấy vào cây đặc điểm đặc trưng gen có kiểm soát, để lại cho cây các đặc điểm khác mà thường không bị xáo trộn. Biến đổi gen cũng có thể được xem như là một hình thức “cắt và dán” ở mức độ gen của cơ quan.

 Một khác biệt chủ yếu giữa giữa lai tạo giống truyền thống và biến đổi gen cây trồng là đầu tiên đưa một số gen mới giới hạn vào các gen từ chính các giống hoặc từ các giống có  liên quan gần gũi. Với biến đổi gen, thường các trở ngại của giống được vượt qua. Do đó, gen từ các vi khuẩn, cây trồng có thể được cấy vào cây thông qua thủ thuật gen. Vì vậy cây biến đổi gen cũng có thể được biết như là cây trao đổi gen.

 Ngày nay nhiều phương pháp đã được triển khai về biến đổi gen cho cây trồng. Phương pháp  được áp dụng thông thường là chuyển gen mong muốn vào cây thông qua điều chỉnh vi khuẩn trong đất. Trong kỹ thuật này, AND đánh dấu các thành phần gen mong muốn trước tiên được cấy vào vi khuẩn , sau đó cho phép nhiễm vào mô của cây chủ. Biến đổi gen của cây cao su đã được tiến hành thành công tại Malaysia, An Độ, Pháp và Trung Quốc.

Biến đổi gen giúp cải tiến nông học cây cao su


 Biến  đổi gen đã cho kết quả đáng kể qua việc gia tăng cải tiến các đặc tính nông học của cây cao su. Cũng như các cây trao đổi gen khác trong nông nghiệp, mục tiêu trước hết là cải thiện sản lượng cây trồng. Ngoài ra các lợi ích khác mà cây cao su được hưởng từ biến đổi gen là rất nhiều. Một số mục tiêu công nghệ gen từ cây cao su có thể được biến đổi theo yêu cầu đặc trưng của khu vực, ví dụ chịu được lạnh để trồng ở vùng cận nhiệt đới có vĩ độ cao hơn. Tuy nhiên, đối với cây cao su thì mục tiêu đầu tiên là sản lượng. Vì các sản phẩm kinh tế chính từ cây cao su là mủ và gỗ, mục tiêu chính là gen có thể làm gia tăng sản lượng cao su và gia tăng vanh thân cây.

Gia tăng tiềm năng mủ cao su

 Lai tạo truyền thống cao su Heave đã đạt được các bước quan trọng tiến tới cải thiện năng suất sản lượng mủ cao su và có khả năng các nỗ lực hiện nay trong nghiên cứu lai tạo giống và thu hoạch mủ sẽ đưa lại cải tiến xa hơn. Yếu tố duy nhất quan trọng xác định năng suất mủ cao su từ cây là khối lượng mủ lấy được khi cạo, mà điều này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian mủ chảy. Tuy nhiên gia tăng khối lượng mủ và kéo dài thời gian chảy mủ không là mục tiêu đương nhiên trong biến đổi gen. Vì các vấn đề này đã đạt được thông qua các hình thức kích thích sản lượng khác nhau.

 Do đó các phương pháp gốc etylen về kích thích mủ chảy có kết quả không thay đổi  là làm giảm hàm lượng cao su trong mủ nước. Bù lại, thúc đẩy sinh tổng hợp cao su, là mục tiêu logic của các nhà phân tử học cần nghiên cứu để gia tăng tiềm năng sản lượng cây cao su. Tỷ lệ sinh tổng hợp cao su trong cây cao su sẽ phải kết hợp với thời gian chảy mủ kéo dài để tạo điều kiện thuận lợi thu được mủ nước với hàm lượng cao.

 Một mục tiêu trong nghiên cứu cải tiến sinh tổng hợp là enzym mủ nước được xem là thành phần giới hạn tốc độ của con đường sinh tổng hợp cao su.

 Một đối tượng tiềm năng khác trong biến đổi gen cây cao su Heave là elF – 5A, một protein trong mủ đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm là để kích thích sinh tổng hợp cao su. Hiện nay người ta đang tiến hành nghiên cứu về biến đổi gen Heave bao gồm các gen của protein trong mủ.

 Một phương pháp khác để gia tăng năng suất mủ  là đẩy mạnh sự hình thành các mạch mủ (tế  bào có mạch mủ) vì mật độ tế  bào có mủ trong vỏ là một trong các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất mủ. Giai đoạn ban đầu hình thành tế bào mủ có nhu cầu về axit jasmonic, sinh tổng hợp của chúng bao gồm enzyme AOS. Ghép phân tử AOS của Heave đã được thực hiện thành công và do đó điều này là mục tiêu cho biến đổi gen cây cao su.

Gia tăng tốc độ tăng vanh để cạo sớm và cung cấp gỗ

 Thông thường phải cần khoảng từ 5 hoặc 6 năm để cây cao su trưởng thành và đạt vòng vanh cần thiết trước khi bắt  đầu khai thác mủ. Biến đổi gen được can thiệp vào để tăng nhanh tốc độ sinh trưởng của cây, do đó có thể xem xét việc mở miệng cạo khai thác sớm. Đương nhiên việc gia tăng vanh thân cây sẽ làm tăng giá trị gỗ khi thanh lý. Sự tương đối ít được biết đến trong điều hòa phân tử gỗ của cây. Mặc dù có nhiều gen hứa hẹn gia tăng vanh cây, nhưng không có loại nào được thử nghiệm đầy đủ để chứng minh khối lượng gỗ gia tăng đạt được bao nhiêu trong cây trưởng thành. Tuy nhiên các nghiên cứu này phải tiếp tục được theo đuổi vì tầm quan trọng cao trong sức sống của cây. Ví dụ như cây dương lá rung cho thấy có sự gia tăng rõ nét nhất trong tốc độ sinh trưởng và sản sinh sinh khối khi chuyển đổi với gen ga oxidasee. Gen này, cùng với các gen liên quan khác phối hợp với sản xuất gibberellin, một lớp của chất điều hòa sinh trưởng cây, là ứng viên cho biến đổi gen Heave để gia tăng tốc độ tăng vanh.

 Tăng trưởng vanh có thể được hữu hiệu với một số giống cây cao su năng suất cao mặc dù chúng thiếu sức mạnh sinh trưởng. Ví dụ như giống RRIM 600, một giống lỗi thời và còn được trồng rộng rãi trong nhiều vùng cao su, nhưng bù lại giống này có mật độ cao các mạch mủ trong vỏ và khả năng sản sinh mủ trong chế độ cạo bền vững. Người ta chỉ có thể ví dụ một giống như RRIM 600 có thể mạnh mẽ hơn thông qua biến đổi gen, mật độ mạch mủ cao cùng với tốc độ tăng vanh nhanh để trở thành một giống tiêu biểu.

Làm tăng sự kháng bệnh của cây cao su

 Cây cao su có tiềm năng gen cao về sản lượng có thể sẽ không được ưa chuộng nếu mẫn cảm với các tấn công hoặc rối loạn của nhiều loại bệnh khác nhau. Các thay đổi gen nhằm hội tụ nhiều tính năng kháng bệnh sẽ là yếu tố quan trọng để người ta hướng đến nhằm gia tăng sản lượng.

 Bệnh khô mặt cạo, hậu quả trong hiện tượng miệng cạo bị khô, là sự rối loạn sinh lý thường thấy trong các cây cao su khai thác với cường độ cao và khi sử dụng chất kích thích. Trong các cây khô mủ, sự phóng thích quá độ của các gốc tự do ( super oxide) được cho rằng đã làm tổn hại các màng cơ quan tế bào trong mủ, đưa đến sự mất ổn định trong mủ, và cuối cùng làm ngưng dòng mủ. Superoxide dismutase là enzym mủ hỗ trợ cho giữ sự toàn vẹn của màng tế bào bằng cách quét sạch các gốc tự do, sẽ cung ứng sự bảo vệ chống tổn hại cho màng tế bào. Các nhà nghiên cứu Aán Độ đã triển khai cây cao su trao đổi gen có chưá các gen SOD được cấy vào với mục đích phát triển giống cao su chống chịu được bệnh khô miệng cạo. Các nghiên cứu hóa sinh đã cho thấy rằng các cây biến đổi bằng gen SOD đã thể hiện sự vượt bậc của hoạt động SOD trong các mức độ stress khác nhau.

 Một loại bệnh khác trên vườn cây mà các nhà trồng cao su phải đối mặt là bệnh lá Corynespora. Tác động của nhiễm nấm trong bệnh này trầm trọng hơn nhiều so với các loại bệnh lá nhẹ như Odiium hay Colletotrichum chỉ tấn công các lá non. Do đó cây mẫn cảm với Odiium và Colletotrichum chỉ phải chống chịu trong giai đoạn ngắn khi cây thay lá. Trong khi đó, Corynespora tấn công cả lá non và lá trưởng thành. Mọi cố gắng chữa trị bằng hóa chất sẽ rất tốn kém và phải thực hiện suốt trong năm. Biến đổi gen cao su sẽ xử lý vấn đề nhiễm Corynespora ở mức phân tử qua việc sử dụng các kháng thể.

 Động vật có xương sống kiểm soát sự nhiễm do các vi sinh vật gây ra thông qua việc phát tán các kháng thể trong hệ miễn dịch của chúng. Đương nhiên cây không thể sản sinh tự nhiên các kháng thể. Trong nghiên cứu phối hợp của các nhà khoa học tại Malaysia và Pháp, các kháng thể nhân tạo đã được tổng hợp nhằm trang bị cho cây cao su biến đổi gen với sự bảo vệ kháng thể thông qua biến đổi gen. Mục đích là để các kháng thể tổng hợp này trong mô lá, trung hòa độc tố của nấm, chất cassiicolin, được sản sinh trong quá trình nhiễm Corynespora.

 Bên cạnh việc gia tăng sản lượng cây trồng, kỹ thuật biến đổi gen còn hứa hẹn cho một ứng dụng quan trọng và tương đối độc đáo khác. Các gen bao gồm các ADN như là các mật mã để tổng hợp các protein khác nhau. Sản phẩm tức thời của hoạt động gen là protein mà gen mã hóa.

Dược phẩm sinh học: sản xuất protein dược phẩm trong mủ

 Do đó gen kiểm soát sự tổng hợp protein – ngay cả loại khác lạ với cây trồng như protein dược phẩm- có thể cung cấp nguyên liệu để chế tạo protein lạ này trong tế bào. Nếu các ADN này được cấy thành công vào cây cao su, nó có thể trở thành nhà máy sống sản xuất các dược phẩm gốc protein có giá trị thương mại. Các protein lạ này được gọi là protein tái tổ hợp  vì chúng chuyển hóa từ sự tái tổ hợp của các vật liệu gen từ các nguồn khác nhau chứ không xảy ra một cách tự nhiên.

Sản xuất các protein giá trị trong cây cao su biến đổi gen, các cây trồng và con vật trao đổi gen khác

 Cao su biến đổi gen không phải là cây trồng duy nhất  có khả năng biểu thị protein lạ trong mô của mình, nhiều loại cây trồng khác cũng có khả năng tương tự. Tuy nhiên vấn đề quan trọng trong sản xuất protein dược phẩm trong các cây trồng trao đổi gen là việc thu hoạch protein. Điều này có nghĩa phải hủy hoại toàn bộ hoặc một phần cây, vì protein nằm trong hạt, lá, tược hoặc mô cây. Sau mỗi lần thu hoạch, cần có thời gian cho sinh trưởng mới trước khi thu hoạch đợt mới, hoặc có thể phải trồng lại hoàn toàn. Do đó việc thu hồi protein sẽ được thực hiện theo từng đợt thay vì quy trình liên tục.

  Điểm khác của cây cao su trao đổi gen so với cây trồng trao đổi gen khác là khả năng cạo mủ. Cạo mủ là phương pháp thu hoạch không hủy diệt chỉ cây cao su mới có. Do vậy nếu protein dược phẩm có trong mủ, ta có thể thu hoạch liên tục theo phương thức không hủy hoại là cạo mủ. Với mục tiêu này, các cây cao su trao đổi gen sản xuất protein người –anbumin serum người đã được triển khai ở Malaysia.

 Sản xuất liên tục protein lạ, trong khi duy nhất cho cây Hevea trao đổi gen, cũng đã hoàn thành được trong vật nuôi trao đổi gen. Công nghệ ADN trong súc vật đã hình thành protein lạ, thường là protein điều trị trong sữa súc vật như cừu, dê và bò. Tuy nhiên cây cao su có nhiều điểm lợi hơn so với gia súc. Trước hết, trồng cây rẻ hơn nuôi gia súc. Một lợi điểm khác của mủ cao su so với sữa súc vật là mủ cao su tiệt trùng, không có virus và các sinh vật truyền nhiễm lây bệnh khác như gây nguồn bệnh AIDS, viêm gan, prion gây bệnh bò điên. Ngoài ra khai thác cao su biến đổi gen không gây nên các vấn đề về quy tắc sinh học gây tranh cãi về quyền khi sử dụng súc vật trong công nghiệp.
 
 Ngoài các yếu tố trên, lợi ích chủ yếu của cây cao su trao đổi gen vượt trội hơn so với vật nuôi trao đổi gen là dễ dàng tăng quy mô. Sản xuất denovo súc vật trao đổi gen thì đắt tiền trong khi ghép súc vật cực kỳ phức tạp. Do đó gia tăng quần thể súc vật trao đổi gen không đơn giản. Điều này khác nhiều so với cây cao su nhân giống bằng ghép chồi. Bất kỳ số lượng giống nào có gen tương tự đều có thể được nhân lên từ một cây được tuyển chọn. Hiển thị gen lạ trong cây trao đổi gen ghép chồi đã được nghiên cứu trong 4 thế hệ vô tính, chứng minh rằng hiển thị protein lạ trong mủ cây mẹ được sản sinh lại đáng tin cậy trong các giống vô tính của chúng.

Nhà máy dược phẩm sống: vi sinh vật so với cây cao su

 Trong khi việc triển khai thực vật và động vật trao đổi gen để sản xuất dược phẩm protein tương đối mới, thì việc sử dụng các sinh vật trao đổi gen trong sản xuất dược phẩm thì không mới. Nhiều loại thuốc thông thường được ghi trong toa điều trị bệnh như các hooc mon, chất làm đông máu, các chất chủng ngừa được bào chế qua sử dụng  cấy vi sinh vật trao đổi gen (thông thường là vi khuẩn và men) trong các thùng gây men cũng được gọi là lò phản ứng sinh học. Các quy trình công nghệ liên quan đến vấn đề này có quan hệ tốt với công nghiệp.

 Trong sản xuất protein dược phẩm, lợi thế của cao su trao đổi gen so với thùng gây men nằm trong tiết kiệm chi phí tiềm năng. Cây cao su trao đổi gen tự duy trì sự sống. Không giống như các nhà máy gạch và vữa, cây cao su không đòi hỏi sự chăm sóc đặc biệt. Sử dụng cây cao su trao đổi gen như là nhà máy sống

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY

Bảo tồn văn hóa là đừng đánh mất mình

  • PDF

Bảo tồn văn hóa là đừng đánh mất mình
Hoàng Lực

(GDVN) - "Bảo tồn văn hóa đó là đừng đánh mất chính mình, nhất là với thế hệ trẻ", GS Nguyễn Lân Dũng nhấn mạnh.

Nhìn vào thực trạng văn hóa hiện nay, không ít người cho rằng, họ đang thấy một mớ hỗn độn giữa văn hóa truyền thống và văn hóa lai căng. Dẫu biết rằng, các giá trị văn hóa truyền thống không phải tất cả đều đúng và hợp lý trong cuộc sống hiện đại, cũng không phải tất cả văn hóa du nhập đều xấu, tuy nhiên nhiều người vẫn băn khoăn: "Làm thế nào để nhận ra tinh hóa văn hóa Việt Nam để giữ gìn, bảo tồn và phát huy?".

Ở góc nhìn của mình, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng - Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa X, XI, XII. cho rằng: Khi nói đến Văn hóa Việt Nam là nói đến văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, trong đó người Việt (người Kinh) chiếm tuyệt đại đa số.

Theo nhiều học giả nước ngoài thì nước ta có trên 2.500 năm lịch sử (không phải 4.000 năm). Đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài và đủ để tạo dựng nên một nền văn hóa có bản sắc riêng, không giống các quốc gia khác. Bản sắc ấy biểu hiện qua phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, ẩm thực, trang phục,ngôn ngữ, kiến trúc, võ thuật, văn học, nghệ thuật...  mặt nào cũng có những tinh hoa riêng.
 
Rất khó để nói đâu là cái tinh hoa nhất. Tất nhiên qua một quá trình lịch sử lâu dài văn hóa Việt Nam cũng chịu tác động của các nền văn hóa trên thế giới nên có những biến đổi không ngừng và cần có một sự vận động để duy trì những bản sắc cốt lõi của văn hóa Việt.

Vì thế, việc bảo tồn văn hóa ở đây là đừng đánh mất chính mình, nhất là với thế hệ trẻ. Chúng ta có thể giỏi nhiều ngoại ngữ, điều đó rất quan trọng. Tuy nhiên tiếng Việt đủ phong phú và đã đủ sức giảng dạy tại bậc Đại học và sau Đại học. Không có lý gì một số bọn trẻ thích nói lẫn lộn tiếng Việt và tiếng Anh trong đời sống cộng đồng.

Ngôn ngữ tuổi teen có cái thú vị riêng khi nhắn tin, nhưng tuyệt đối không thể lạm dụng trên ngôn ngữ viết. Chẳng hạn Nhân dịp Năm mới mà viết "x dịp 5 mới" thì thật không thể chấp nhận được. Còn trong đời sống nhiều bạn trẻ đã làm hỏng ngôn ngữ, kiểu như "Yết Kiêu vừa thôi(!), Tiền ăn bữa này Campuchia nhé(!)" ...

Trong kiến trúc không nên đánh mất những Làng tôi xanh bóng tre để thay vào đó những kiểu nhà có chóp, có mái lửng (chỉ nhô lên ở mặt tiền), chỉ quét vôi phía trước bất chấp mọi quy hoạch (của đô thị và Thủ đô).

Việc thế hệ trẻ quay lưng lại với dân ca và nhạc cách mạng để chạy theo lối âm nhạc "thời thượng" với lời ca vô nghĩa làm thế hệ lớn tuổi không sao hiểu nổi. Văn học, nghệ thuật lai căng với danh nghĩa "hậu hiện đại" làm biến mất các tinh hoa truyền thống. Nhìn vào điệu múa của các nước biết ngay là thuộc dân tộc nào, còn vũ đạo Việt Nam chỉ được nhận ra do có tờ áo dài, nón lá hay tung quốc kỳ... (!) Về đạo đức thì sự suy thoái làm mất hết truyền thống "Đói cho sạch, rách cho thơm" của dân ta. Chỉ cần làm thật nghiêm việc giải trình tài sản của mọi viên chức và xử lý thật nghiêm cũng đủ loại trừ ngay "bầy sâu" như đánh giá của Chủ tịch Nước... Việc thiếu bồi dưỡng cán bộ trẻ khiến khi lớp giáo sư đầu ngành nghỉ hưu thường tạo nên sự hẫng hụt ở nhiều trường Đại học, nhiều Viện nghiên cứu  cũng là điều đi ngược lại với truyền thống "Con hơn cha là nhà có phúc"...

Song, nếu bỏ qua cái nhìn quá khắt khe, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng khẳng định: Với đa số người dân lao động, nhất là lớp người cao tuổi, phần lớn cư dân nông thôn thì văn hóa truyền thống vẫn được tự giác bảo tồn.

Đó là lòng yêu nước, yêu lao động, tôn sư trọng đạo, yêu trẻ kính già, nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách, tin vào luật Nhân quả để tránh làm điều bất nhân, duy trì văn nghệ dân gian địa phương,... Còn với nhiều người thuộc diện thoái hóa, biến chất, hoặc với lớp trẻ đang thiếu sự hướng dẫn chu đáo thì truyền thống văn hóa đang bị sói mòn như đã dẫn chứng ở phần trên.

Nếu muốn nhìn sự tha hóa gần đây của một bộ phận làng quê vốn dĩ yên bình hàng nghìn năm lịch sử chỉ cần đọc cuốn "Trinh tiết Xóm Chùa" (NXB Hội Nhà văn, 2005) của nữ nhà văn Đoàn Lê cũng đã đủ thấy rõ.

Tuy nhiên, có một thực tế: Hiện nay, trong tiến trình hội nhập, giới trẻ Việt Nam đang tiếp nhận rất nhanh văn hoá các nước trên thế giới. Điều này khiến nhiều ý kiến lo lắng Việt Nam đang tồn tại một nền văn hóa hỗn độn. Thừa nhận điều này, GS.NGND Nguyễn Lân Dũng cho rằng ông thấy hết sức lo ngại và nuối tiếc. "Tất nhiên về mặt tốt thì ai cũng thấy rõ. Tôi tự hào về chuyện sau khi về hưu đã góp phần xây dựng được một Viện nghiên cứu cấp Nhà nước với 40 cán bộ trẻ mà trong đó nhiều bạn thực sự đã giỏi giang hơn tôi và đang từng bước tiếp cận với trình độ khoa học và kỹ thuật hiện đại", GS Nguyễn Lân Dũng chia sẻ.

Không ít TS nếu ở lại nước ngoài làm việc có thể nhận mức lương mức lương tháng 5.000-6.000 USD nhưng đã vui vẻ về nước phục vụ với mức lương tháng 150-200 USD. "Không phải nước ta chỉ có một Ngô Bảo Châu mà các bạn của Châu từ hồi học cấp I (khi đó tôi làm Chủ tịch Hội phụ huynh học sinh) mà tôi theo dõi đều thấy rất thành đạt trên nhiều cương vị khác nhau (bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, nhà văn hóa, nhà doanh nghiệp, nhà ngoại giao...). Tuy các bạn này không làm vinh dự được cho nước nhà được như Châu, nhưng cống hiến cho nhân dân thì chắc chắn là không thua kém gì Châu", Giáo sư Dũng cho biết.

Về mặt tiêu cực, khi hội nhập quốc tế trong bối cảnh thì ai cũng có thể kể ra vô vàn chuyện đau lòng. Hãy bình tĩnh đọc chậm rãi cuốn "Mười lẻ một đêm" của nhà văn đang được yêu thích Hồ Anh Thái, cũng đủ hình dung ra nghịch cảnh của việc hội nhập thiếu chọn lọc trong giai đoạn toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module