Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

  • PDF

Tìm giải pháp tăng giá trị sản xuất lúa ở “Cánh đồng lớn”

Mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích canh tác còn thấp.

Ngày 25/4 tại Cần Thơ, Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tổ chức hội thảo “Cánh đồng lớn”.

Đại diện Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, Hội nông dân Việt Nam, Sở Nông nghiệp các tỉnh thành Đông, Nam bộ cùng đông đảo các nhà khoa học ở các Viện, trường Đại học tham dự.

Phát biểu tại Hội thảo ông Tăng Minh Lộc –Chánh văn phòng điều phối- Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới cho rằng mô hình “Cánh đồng lớn” đã đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong điều kiện diện tích đất canh tác bình quân đầu người còn thấp và ruộng đất manh mún do phân tán cho nhiều hộ.

Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản, nâng sức cạnh tranh trên thị trường. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất hàng hóa là liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.

Tại hội thảo nhiều đại biểu đặt ra câu hỏi là làm thế nào để nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả sản xuất lúa gạo tại các cánh đồng lớn.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đệ - Phó trưởng khoa Phát triển nông thôn, Đại học Cần Thơ cho rằng, trong thời gian qua việc xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng với doanh nghiệp theo Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ hiệu quả đem lại chưa cao. Quyền lợi giữa doanh nghiệp và nông dân chưa được hài hòa nên tính liên kết thiếu bền vững. 

Bên cạnh đó nhiều đại biểu cũng lo lắng khi các “Cánh đồng lớn”  sản xuất ra lượng hàng hóa lớn, thu hoạch đồng loạt, nhưng thực tế giải pháp sau thu hoạch chưa đảm bảo. Cụ thể như máy gặt đập, máy sấy, bảo kho quản chưa đáp ứng, tình trạng nông dân bán lúa tươi hiệu quả thu nhập thấp, lúa bảo quản không đảm bảo dẫn đến gạo kém chất lượng. Việc thu hoạch số lượng lớn cùng thời điểm làm cho giá lúa bị giảm. 

Theo ông  Nguyễn Duy Lượng - Phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, cả nước hiện có 150 doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Do vậy ông đề xuất Chính phủ cần có chính sách để các doanh nghiệp đều có kế hoạch xây dựng vùng nguyên liệu riêng. Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ cho các doanh nghiệp này vốn đầu tư giống lúa, phân bón và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm lúa hàng hóa cho nông dân. Làm như thế nông dân sản xuất an tâm đầu ra, lúa sản xuất đồng loạt một loại giống, đủ tiêu chuẩn và chất lượng xuất khẩu; doanh nghiệp từng bước xây dựng được thương hiệu lúa gạo Việt Nam.

Để mô hình cánh đồng lớn đạt hiệu quả cao, Tiến sỹ Nguyễn Văn Bãnh – Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long đề xuất trong thời gian tới cần xác định rõ vai trò chủ yếu của đối tác trong quan hệ liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã và các nhà khoa học, ngân hàng…. để có biện pháp quản lý, hỗ trợ, nâng cao hiệu quả liên kết; Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ các đối tượng liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phâm chủ lực, trong đó ưu tiên  hiện mô hình “Cánh đồng lớn”./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Thực phẩm bền vững - Chìa khóa bảo đảm an ninh lương thực

  • PDF

Thực phẩm bền vững - Chìa khóa bảo đảm an ninh lương thực

 

Nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO - 16/10/1945-16/10/2013), Ngày Lương thực Thế giới năm nay có chủ đề: "Thực phẩm bền vững giúp bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng".

 

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 870 triệu người bị thiếu dinh dưỡng trường diễn và cộng đồng quốc tế đang hết sức nỗ lực xóa đói giảm nghèo. Các phương thức phát triển không bền vững đang làm suy thoái môi trường tự nhiên, đe dọa các hệ sinh thái và đa dạng sinh học vốn rất cần thiết cho việc cung ứng lương thực, thực phẩm trong tương lai.

 

Vì vậy, vấn đề an ninh lương thực và dinh dưỡng sẽ được quan tâm giải quyết theo cách bền vững.

Các hệ thống thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp. Một hệ thống thực phẩm là một chuỗi hoàn chỉnh bao gồm tất cả các khâu từ trồng, chế biến, đóng gói, vận chuyển, lưu trữ, bán, mua, và tiêu thụ thực phẩm. Các hệ thống thực phẩm sẽ là bền vững khi chúng không gây hại cho môi trường và đem lại mức lợi nhuận hợp lý cho những nỗ lực mà tiểu nông bỏ ra.

 

FAO cho rằng các hệ thống thực phẩm bền vững là chìa khóa đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng, nên chủ đề “Các hệ thống thực phẩm bền vững giúp đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng” sẽ là hoạt động trọng tâm của Ngày Lương thực Thế giới 2013. Đây cũng là dịp giúp nâng cao hiểu biết về các vấn đề tồn tại cùng giải pháp trong công cuộc nỗ lực xóa đói nghèo.

 

Năm nay, tổ chức FAO tại Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm Ngày Lương thực Thế giới cùng Bộ NNPTNT tại xã Thanh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Việc tổ chức lễ kỷ niệm tại xã đã đạt chuẩn nông thôn mới ở nước ta nhằm đưa ra một thông điệp: "Xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới mặc dù là vấn đề khó, nhưng nếu quyết tâm và nỗ lực cao, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện thành công".

 

Nhân dịp này, FAO đã trao các giải Nhất, Nhì, Ba và giải Khuyến khích cho 8 tác phẩm xuất sắc tham dự cuộc thi ảnh "Các hệ thống thực phẩm bền vững giúp người dân Việt Nam nâng cao đời sống".

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC 

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

  • PDF

Thế giới lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực mỗi năm

Mỗi năm thế giới đang lãng phí 1,3 tỉ tấn lương thực, tương đương với một phần ba sản lượng thực phẩm toàn cầu, báo cáo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO) cho hay.

Tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, lượng thực phẩm bị mất mát tương ứng với 670 và 630 triệu tấn, ước tính thiệt hại lần lượt tương đương với 680 tỷ và 310 tỷ USD.

Người dân Australia lãng phí hơn 4 triệu tấn lương thực mỗi năm, trung bình gần 1 tấn trên mỗi hộ gia đình. Mỹ sản xuất 180 triệu tấn thực phẩm hàng năm và khoảng 50 triệu tấn, nghĩa là gần 1/3 phải bỏ đi.

Các hộ gia đình Anh lang phí khoảng 6,7 triệu tấn lương thực mỗi năm. Điều này có nghĩa là khoảng 32% tổng lượng lương thực được mua mỗi năm không được dùng tới 

Trong khi đó, báo cáo của FAO cũng cho biết, cả thế giới đang phải đấu tranh để cung cấp đủ lương thực cho 7 tỷ người và dự kiến sẽ tăng lên 9 tỷ trong năm 2050. Hiện tại, cứ 7 người thì có 1 người đói và hơn 20 ngàn trẻ em dưới 5 tuổi chết vì đói mỗi ngày.

Việc lãng phí lương thực do đó là lãng phí tài nguyên thiên nhiên và gây ra những tác động xấu về môi trường. Hơn nữa, việc lãng phí này còn là vấn đề về mặt đạo đức.

Chính vì những lý do trên, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã quyết định chọn chủ đề “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm” (Think.Eat.Save) làm chủ đề cho Ngày Môi trường thế giới năm nay với mục đích khuyến khích mọi người trên toàn thế giới chú ý hơn đến những ảnh hưởng tới môi trường từ việc lựa chọn thực phẩm, tránh lãng phí và lựa chọn những loại thực phẩm ít tác động tới môi trường. Chủ đề này cũng sẽ là một chiến dịch toàn cầu nhằm chống lại sự lãng phí thực phẩm trên toàn thế giới.
 
“Để hướng tới một tương lai bền vững, chúng ta cần thay đổi phương thức sản xuất và tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, chúng tôi kêu gọi mọi người trên toàn thế giới cùng nỗ lực để nâng cao nhận thức và hành động thực tế ở gia đình, trên trang trại, trong các siêu thị, ở căng tin, trong khách sạn hoặc bất cứ nơi nào thực phẩm được tiêu thụ hằng ngày trong cuộc sống”, ông Achim Steiner, Phó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kiêm Giám đốc điều hành UNEP khẳng định.

Các hoạt động quốc tế hưởng ứng sự kiện Ngày Môi trường thế giới 2013 sẽ được tổ chức tại Mông Cổ, một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Tại Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và UBNN tỉnh Thừa Thiên – Huế sẽ phố hợp tổ chức nhiều hoạt động khác nhau nhằm hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2013 từ ngày 4-5/6/2013.

Các hoạt động chính sẽ được tổ chức bao gồm: Hội nghị tổng kết xây dựng và nhân rộng mô hình điểm khu dân cư bảo vệ môi trường, trao đổi kinh nghiệm xây dựng môi hình du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường, triển lãm tranh ảnh, các cuộc thi về môi trường,…

Lễ mít tinh quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới sẽ được tổ chức tại Nghinh Lương Đình bên bờ sông Hương, thành phố Huế vào sáng ngày 5/6. Tại đây, cũng sẽ diễn ra Lễ trao Giải thưởng môi trường Việt Nam năm 2013. Thông tin từ Bộ TN&MT cũng cho biết, cho tới thời điểm hiện tại, việc chấm giải cho các cá nhân tổ chức đã hoàn tất.

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Đột phá về biến đổi gen ở các hạt ngũ cốc

  • PDF

Đột phá về biến đổi gen ở các hạt ngũ cốc 

Cây trồng biến đổi gen đang là vấn đề gây tranh cãi trong nhiều ứng dụng thương mại, tuy nhiên không thể phủ nhận lợi ích của nó đối với mục đích nghiên cứu. Mặc dù đã nỗ lực trong nhiều năm, tuy nhiên, việc phát triển những phương pháp hiệu quả cho các loại ngũ cốc còn gặp khá nhiều khó khăn. Các báo cáo nghiên cứu mới đây đã đưa ra phương pháp biến đổi gen ở ngô và các loại ngũ cốc khác.


Mặc dù việc thương mại hóa các cây trồng biến đổi gen đang gây nhiều tranh cãi, tuy nhiên các nghiên cứu vẫn tập trung vào việc nâng cao kỹ thuật để tạo ra các loại cây trồng biến đổi gen cho năng xuất cao. Công nghệ biến đổi gen cho phép các nhà tạo giống cây tạo ra các gen có các đặc tính như mong muốn với những nguyên liệu giống có giá trị. Tuy nhiên, thực vật biến đổi gen cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học cơ bản. Khả năng đưa một gen đơn vào một cây cho phép các nhà nghiên cứu khám phá ra gen đó là gì.

Mặc dù đã nhiều năm nỗ lực, nhưng việc phát triển các phương pháp biến đổi gen hiệu quả đối với các loại cây ngũ cốc còn gặp khá nhiều khó khăn. Những phương pháp ưa chuộng thường liên quan đến việc tiêm Agrobacterium vào mô - một loại vi khuẩn mà chuyển đổi ADN một cách tự nhiên thành gen vật chủ của nó - và sau đó kích thích mô đó tái sinh thành cây trồng. Tuy nhiên, Agrobacterium chỉ tiêm được trên phạm vi hẹp đối với các giống ngũ cốc, nhiều giống cây không thể tái sinh. Một bài báo được đăng trên The Plant Cell đã báo cáo về bước đột phá trong công nghệ biến đổi gen mà có thể mở rộng phạm vi lớn đối với các giống cây và các loài mà có khả năng biến đổi.

Nhóm các nhà nghiên cứu từ DuPont đã đưa các gen được gọi là gen morphogenic - được biết đến từ nghiên cứu cơ bản nhằm thúc đẩy quả trình tạo ra các mô phôi thai - vào các gen khác đã bị biến đổi (trong trường hợp này thể hiện protein huỳnh quang xanh lục là dấu hiệu của sự biến đổi). Như vậy, tốc độ biến đổi tăng ở một số lượng lớn các giống ngô - trong nhiều trường hợp đi từ cơ bản, quá trình biến đổi có tốc độ chưa đủ cao để có thể sử dụng hiệu quả trong các ứng dụng thương mại và nghiên cứu. Kỹ thuật này cũng đã được nghiên cứu ở lúa miến, lúa gạo và cây mía. Công trình nghiên cứu này mở rộng phạm vi các loài, giống cây trồng và các mô mà có thể được sử dụng để chuyển đổi hiệu quả và là một ví dụ hay về những gì có thể thực hiện được bằng cách kết hợp nghiên cứu cơ bản, chuyên môn kỹ thuật và kiến thức về các vấn đề thực tế đang phải đối mặt với những ứng dụng phổ thông.

 

Xuất khẩu nông sản đạt gần 9,7 tỷ USD

  • PDF

Xuất khẩu nông sản đạt gần 9,7 tỷ USD 

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 4 ước đạt 2,63 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu của ngành 4 tháng đầu năm 2014 lên 9,69 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 4,74 tỷ USD, tăng 5,8%.

Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 2,22 tỷ USD, tăng 31,2%.

Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 2 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong số các nhóm hàng nông sản chủ lực mặt hàng cà phê tăng trưởng mạnh về cả lượng và giá trị xuất khẩu. Trong 4 tháng đầu năm xuất khẩu cà phê ước đạt 826 nghìn tấn và 1,65 tỷ USD, tăng 39,6% về khối lượng và tăng 30% về giá trị so cùng kỳ năm 2013. Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2014 với thị phần lần lượt là 13,7% và 9,29%. Thị trường Pháp có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp gần 46 lần so với 3 tháng đầu năm 2013.

Trái với mặt hàng cà phê mặt hàng gạo vẫn chưa có nhiều tín hiệu khả quan về tăng trưởng. Khối lượng gạo xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2014 ước đạt 2,04 triệu tấn và 931 triệu USD, giảm 6,9% về khối lượng, và giảm 4,7% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gạo xuất khẩu bình quân tháng 3 năm 2014 đạt 460,3 USD/tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2013. Đáng chú ý nhất là thị trường Philippin có sự tăng trưởng đột biến trong 3 tháng đầu năm với mức tăng gấp 6 lần về khối lượng và tăng 6,68 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Với mức tăng trưởng này, Philippin vươn lên vị trí đứng thứ 2 về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam, chiếm 26,87% thị phần (đứng thứ nhất là thị trường Trung Quốc với 38,37% thị phần), tiếp đến là Gana, Singapore, chiếm thị phần lần lượt là 4,8% và 3,79%.

Cao su đạt 189 nghìn tấn với giá trị đạt 378 triệu USD.

Khối lượng xuất khẩu chè 4 tháng  ước đạt 33 nghìn tấn với giá trị đạt 51 triệu USD, giảm 13,2% về khối lượng và giảm 10,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Giá chè xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2014 đạt 1.541 USD/tấn, tăng 2,49% so với cùng kỳ năm 2013. Khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan - thị trường lớn nhất của Việt Nam giảm 13,06% về khối lượng và giảm 0,91% về giá trị.

Bốn tháng lượng hạt điều xuất khẩu đạt 73 nghìn tấn với 456 triệu USD, tăng 14,5% về khối lượng và tăng 15,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2014 đạt 6.182 USD/tấn, tăng 1,76% so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hà Lan vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm lần lượt 28,44%, 20,01% và 9,12% tổng giá trị xuất khẩu. 

Sắn và các sản phẩm từ sắn có lượng xuất khẩu ước tính khoảng 305 nghìn tấn, với giá trị đạt 88 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 4 tháng đầu năm đạt 1,4 triệu tấn với giá trị 429 triệu USD, giảm 16,9% về khối lượng và giảm 17,9% về giá trị so cùng kỳ năm 2013.

Giá trị xuất khẩu sản và các sản phẩm sắn sang hầu hết các thị trường lớn đều giảm mạnh, ngoại trừ thị trường Malaysia tăng (tăng 20,23% về khối lượng và tăng 14,44% về giá trị) so với cùng kỳ năm 2013. Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 89% thị phần./.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Hơn 500 triệu người có thể đối mặt với sự khan hiếm nước do biến đổi khí hậu

  • PDF

FOODCROPS. Biến đổi khí hậu đặt nhân lọai vào mối quan hệ cộng hưởng có tác động mạnh đến các mặt của xã hội gây nguy cơ bất ổn chính trị cao. Nếu chỉ tập trung giải quyết các nhu cầu chính trị và đứng ngòai mối quan hệ hợp tác với các quốc gia cộng động, đất nước sẽ bị cô lập và không tìm được giải pháp cho chính mình. Ngay cả khi nóng lên toàn cầu được giới hạn trong mức tăng nhiệt là 2oC, 500 triệu người vẫn có thể đối mặt với tình trạng khan hiếm nước, số người phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng thêm 8%. Với một quốc gia như Việt Nam thì hệ thống phân phối nước từ trách nhiệm của nhóm điều hành các dịch vụ công sẽ giải quyết thế nào để đảm bảo nhu cầu sinh họat của người dân vùng xa, và những vùng nằm trong tác động của biến đổi khí hậu!

 

Hơn 500 triệu người có thể đối mặt với sự khan hiếm nước do biến đổi khí hậu

 

Cả hai nguồn cung cấp nước ngọt cho hàng triệu người và sự ổn định của hệ sinh thái như vùng lãnh nguyên Siberia hoặc đồng cỏ Ấn Độ đang đối diện với những rủi ro do biến đổi khí hậu. Ngay cả khi nóng lên toàn cầu được giới hạn trong mức tăng nhiệt là 2oC, 500 triệu người vẫn có thể đối mặt với tình trạng khan hiếm nước. Con số này sẽ tăng thêm 50% nếu lượng phát thải khí nhà kính không được cắt giảm sớm. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên 5oC, gần như tất cả các vùng đất không có băng trên thế giới có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hệ sinh thái.

 

Điều này được thể hiện qua các nghiên cứu được các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Tác động khí hậu Potsdam (PIK) công bố. Nghiên cứu chỉ ra, khi nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 2oC, số người phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước sẽ tăng thêm 8%. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng 3,5oC, điều này có khả năng xảy ra nếu lượng khí thải của các quốc gia chỉ được giảm ở mức cam kết hiện tại, tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số thế giới. Mức tăng 5oC có thể làm số người dân bị ảnh hưởng tăng lên 13%.

Nhà nghiên cứu Gerten chỉ ra rằng: Nếu tốc độ tăng trưởng dân số vẫn tiếp tục, vào cuối thế kỷ này, theo như kịch bản như bình thường, hơn một tỷ con người sẽ phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước. Người dân tại các khu vực châu Á và Bắc Phi, Địa Trung Hải và Trung Đông là những người đặc biệt dễ bị tổn thương.

Các khu vực có nguy cơ biến đổi hệ sinh thái sẽ tăng gấp đôi khi nhiệt độ toàn cầu tăng khoảng 3 – 4oC, Lila Warszawski, tác giả chính của một nghiên cứu khác nói về những hậu quả có thể có do biến đổi khí hậu gây ra đối với các hệ sinh thái tự nhiên. Mức gia tăng nhiệt độ 5oC có khả năng xảy ra trong thế kỷ tới nếu biến đổi khí hậu tiếp tục không suy giảm. Mức gia tăng nhiệt độ này sẽ đặt gần như tất cả các hệ sinh thái tự nhiên trên mặt đất có nguy cơ bị thay đổi nghiêm trọng.

Các khu vực có nguy cơ gặp nhiều rủi ro nếu quá trình nóng lên toàn cầu không suy giảm, bao gồm các khu vực đồng cỏ của Đông Ấn Độ, các vùng đất cây bụi của cao nguyên Tây Tạng, các khu rừng của miền Bắc Canada, các thảo nguyên của Ethiopia và Somalia và các khu rừng nhiệt đới Amazon. Nhiều khu vực trong số này là các khu vực sinh học đa dạng, phong phú và độc đáo.

Các nghiên cứu sử dụng một phương pháp tiếp cận mới, đưa ra các rủi ro dựa trên những thay đổi của cấu trúc thảm thực vật, các dòng chảy của nước và lượng các-bon lưu trữ. Các mô hình mô phỏng sinh quyển đã được sử dụng để so sánh hàng trăm kịch bản biến đổi khí hậu và chỉ ra các khu vực đầu tiên có thể phải đối mặt với các tác động quan trọng của biến đổi khí hậu.

Hans Joachim Schellnhuber, một trong những đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: “Tình trạng khan hiếm nước ngày một nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến đời sống của một số lượng lớn người dân, trong đó những người nghèo là dễ bị tổn thương nhất. Do đó, lượng phát thải khí nhà kính phải được giảm đáng kể trong thời gian ngắn”.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Các chiến lược bảo tồn hệ sinh thái tại Mỹ và Canada

  • PDF

Các chiến lược bảo tồn hệ sinh thái tại Mỹ và Canad
TN - Mard, Theo phys.org

Một báo cáo mới từ Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã Canada (WCS Canada) đã đưa ra một chiến lược bảo tồn nhằm thúc đẩy khả năng phục hồi động vật hoang dã ở khu vực Nam Rockies Canada dưới tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai. Báo cáo tập trung vào các loài mang tính biểu tượng cho khu vực đó là loài cá hồi, gấu xám Bắc Mỹ, chồn gulô, dê núi và loài cừu hoang, các loài được xếp vào danh sách các loài dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
 
Nằm giữa khu Công viên quốc gia Glacier ở Montana và Vườn Quốc gia Banff ở Canada, khu vực Nam Rockies Canada (SCR) có cảnh quan ngoạn mục, là môi trường sống của một trong những cộng đồng đa dạng nhất của các động vật ăn thịt và động vật có vú ở Bắc Mỹ. Trong bản báo cáo mang tựa đề Môi trường sống an toàn cho các loài cá và các loài động vật hoang dã dễ bị tổn thương, các nhà khoa học lưu ý các loài động vật hoang dã cần có môi trường sống để thích nghi với những tác động của biến đổi khí hậu.

Những đường cao tốc chính tại khu vực này đang làm phức tạp thêm những hiệu ứng chuyển tiếp liên quan đến khí hậu và việc mở rộng mạng lưới các con đường rừng khiến cảnh quan tại khu vực bị phân mảnh. Việc cung cấp nơi trú ẩn an toàn trong môi trường sống an toàn và đa dạng và lối đi an toàn trên đường cao tốc cho các loài vật được coi là các chiến lược thông minh. Các nhà khoa học đã tiến hành đánh giá 16.978 km2 (6632 dặm vuông) cảnh quan tại đây nhằm đưa ra các giải pháp bảo tồn dựa trên nhu cầu của các loài dễ bị tổn thương.
 
Nhiệt độ mùa đông ấm hơn do biến đổi khí hậu sẽ làm giảm lượng tuyết bao phủ núi và giảm môi trường sống thích hợp cho loài chồn gulô thuộc diện quý hiếm, một loài vốn thích nghi với thời gian tuyết rơi kéo dài. Việc giảm dòng chảy và nhiệt độ dòng nước ấm hơn sẽ làm giảm môi trường sống của loài cá hồi, loài cá bản địa vốn thích nghi tốt với vùng nước lạnh.

Các nhà khoa học đề nghị một danh mục đất cần được đầu tư bảo tồn bao gồm khu vực Quản lý động vật hoang dã (WMA) tại nam Rockies, Canada nơi có thể bảo tồn 66% môi trường sống quan trọng. Các lưu vực sông Flathead xuyên biên giới Mỹ và Canada tiếp giáp với hồ Waterton cũng cần được quan tâm bảo tồn do sự đa dạng sinh học của khu vực này rất đáng chú ý. Việc xác định nơi trú ẩn an toàn không chỉ quan trọng đối với các loài động vật hoang dã hiện tại mà còn giúp tạo địa hình đa dạng cho các loài động vật trong tương lai. Báo cáo lập bản đồ chín địa điểm phù hợp qua dọc theo quốc lộ tại British Columbia và 16 đèo núi cung cấp sự kết nối động vật hoang dã quan trọng giữa Alberta và British Columbia. Báo cáo này sẽ là tư liệu hữu ích giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định về đất đai và quản lý tài nguyên tại khu vực nam Rockies Canada và Montana.


FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Công nghệ CRISPR-Cas9 giúp cải thiện hiệu quả cây trồng

  • PDF

Công nghệ CRISPR-Cas9 giúp cải thiện hiệu quả cây trồng 

Một nhóm nghiên cứu bao gồm một nhà thực vật học của Virginia Tech gần đây đã sử dụng công nghệ khoa học đời sống để sửa đổi 14 vị trí mục tiêu xung quanh 8 gien thực vật cùng một thời điểm mà không tạo ra những thay đổi ngoài ý muốn ở những vị trí khác trong hệ gien.

Đây là một công cụ chỉnh sửa bộ gien được gọi là CRISPR-Cas9. Công nghệ này đã cách mạng hóa khoa học đời sống khi nó xuất hiện trên thị trường vào năm 2012. Nó được chứng minh là hữu ích trong cộng đồng khoa học thực vật dưới dạng là một công cụ hiệu quả cho việc cải tiến cây trồng nông nghiệp.

Khả năng thay đổi một vài gien cùng lúc hứa hẹn sẽ nâng cao hiểu biết của các nhà nghiên cứu về cách thức gien tương tác qua lại để định hình cho sự phát triển và phản ứng của cây trồng với những thay đổi của môi trường. Tuy nhiên, một trở ngại của công nghệ này là đã xác định được tác động của việc thay đổi trên vùng gien mà không phải là mục tiêu.

David Haak - Giảng viên ngành Bệnh học, sinh lý học thực vật, và khoa học cỏ dại tại trường Nông nghiệp và Khoa học đời sống, đã phát triển một chương trình tin sinh học sử dụng dữ liệu giải trình chuyên sâu để kiểm tra xem liệu việc chỉnh sửa hệ gien của loài thực vật Arabidopsis mà nhóm nghiên cứu thực hiện có hiệu quả hay không và có theo mục tiêu cụ thể của nó hay không.

Phát hiện của nhóm nghiên cứu thông qua sử dụng phương pháp CRISPR-Cas9 để hiệu chỉnh đa gien của các loài thực vật cụ thể này đã được xuất bản trên tạp chí PLOS ONE số ra ngày 13/9.

"Khả năng chỉnh sửa chức năng của gien một cách cụ thể thông qua sử dụng CRISPR-Cas9 có tiềm năng sẽ thực sự thay đổi cách chúng ta nghiên cứu thực vật trong phòng thí nghiệm và nâng cao hiệu quả cây trồng", đồng tác giả Zachary Nimchuk – Giảng viên ngành sinh học tại trường Đại học Bắc Carolina nói. "Nhưng, đã có những lo ngại về khả năng có tác động xảy ra ở ngoài mục tiêu không mong muốn. Chúng tôi đã thử nghiệm trên thực vật, hướng mục tiêu tới 14 vị trí cùng một lúc, và thấy không có hiện tượng ngoài mục tiêu nào trong một lượng lớn cây trồng. Dữ liệu của chúng tôi mở rộng thêm cho các công trình nghiên cứu trước đó để cho thấy rằng, ít nhất là trong loài Arabidopsis, hiện tượng ngoài mục tiêu sẽ là vô cùng hiếm hoi khi sử dụng phương pháp Cas9".

 

PPP: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản

  • PDF

PPP: Giải pháp cho chuỗi giá trị nông sản 

Mô hình đối tác công-tư (PPP) đang được kỳ vọng là một đáp án hiệu quả để liên kết chuỗi giá trị, tăng cường đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy giá trị gia tăng của nông sản.

Ông J.V. Raman, Tổng Giám đốc Unilever Việt Nam, Trưởng nhóm PPP về chè cho hay, nhằm nâng cao chất lượng chè Việt Nam khi xuất khẩu, Chương trình PPP về chè đã lồng ghép hướng dẫn kỹ thuật canh tác và chế biến vào trong chuỗi sản xuất của ngành hàng.

Nông dân trồng chè và các chủ nhà máy chế biến chè quy mô nhỏ đã được đào tạo về canh tác nông nghiệp bền vững để đạt các chứng nhận quốc tế. Các tập đoàn đa quốc gia trong nhóm này đã đầu tư 440.000 euro để đào tạo và liên kết mô hình sản xuất với hơn 23.000 nông dân ở các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Yên Bái, Vĩnh Phúc và Nghệ An.

Đến nay, mỗi năm Unilever đã mua 30.000-35.000 tấn chè được chứng nhận quốc tế từ nông dân để xuất khẩu.

Hiệu quả từ PPP

Không chỉ có nhóm PPP về chè cho hiệu quả cao mà các nhóm về thuỷ sản, cà phê, cây lương thực… cũng đang cho thấy hiệu quả rõ rệt từ mô hình này.

Nhóm PPP thủy sản do Metro Cash & Carry Vietnam chủ trì, bắt đầu từ dự án chuỗi cung ứng cá tươi, nhằm cung cấp cho người tiêu dùng thủy sản đạt chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Các đối tác tham gia nhóm PPP này gồm: Metro, Cargill, Fresh studio, Bộ NNPTNT.

Theo ông Philippe Bacac, Giám đốc điều hành của Metro Cash & Carry Việt Nam, đến nay đã đào tạo và cấp chứng chỉ cho trên 2.000 nông dân nuôi trồng thủy sản và 400 thương lái chuyên thu gom thủy sản. Nông dân đã nắm vững kỹ năng kiểm soát môi trường, thuốc và sử dụng hóa chất, quản lý chất thải. Hoạt động thu hoạch cá, xử lý, đóng gói và vận chuyển cũng được kiểm soát chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc trước khi vận chuyển cá tươi đến trung tâm Metro. Mỗi năm có hơn 4.000 tấn thủy sản sạch của chương trình được tiêu thụ trong hệ thống siêu thị Metro và các siêu thị trên toàn quốc.

Nhóm PPP về cà phê đã thu hút được sự tham gia của các tập đoàn Bayer, Nedcoffe, Coex, Simexco, hiện đang triển khai Dự án sản xuất cà phê chứng nhận tại 5 tỉnh. Đến nay đã thành lập 150 mô hình nhóm nông dân trình diễn.

Nông dân tham gia vào mô hình được hỗ trợ các giống cà phê mới cao sản, đồng thời được hỗ trợ 50% kinh phí tái canh phục tráng các vườn cà phê đã già cỗi, được hướng dẫn kỹ thuật tưới tiêu mới tiết kiệm 40% lượng nước tưới, những kỹ thuật bón phân cân bằng dinh dưỡng, sử dụng thuốc diệt nấm để hạn chế phun thuốc trừ sâu… Với kỹ thuật canh tác mới này đã giúp cây cà phê tăng năng suất thêm 480 kg/ha (tương đương 11,4%), tăng doanh thu thêm hơn 18 triệu đồng/ha (tương đương với lợi nhuận tăng 14%).

Nhóm PPP về cây lương thực làm thức ăn chăn nuôi có sự tham gia của các tập đoàn Monsanto, Syngenta, Bunge với mục tiêu tăng 30% năng suất ngô tại các vùng trồng trọng điểm. Lãnh đạo Tập đoàn Monsanto cho biết, tập đoàn này đầu tư 1 triệu USD cho chương trình PPP tại Việt Nam trong 5 năm, vào các khâu cung cấp giống ngô lai, đào tạo kỹ thuật canh tác mới đến 150.000 nông dân.

Nhiều giống ngô lai mới của Dekalb chuyển giao cho nông dân trồng đã đạt năng suất bình quân hơn 10 tấn/ha, cao gấp hơn 2 lần so với năng suất ngô bình quân cả nước hiện nay. Với phương pháp làm đất tối thiểu, đã giúp tiết giảm 80% chi phí vật tư và lao động. Tính hiệu quả kinh tế, mỗi ha trồng ngô cho lợi nhuận 17 triệu đồng/vụ (3 tháng). Trong khi trồng lúa trước đây, mỗi vụ nông dân chỉ lãi 4,7 triệu đồng/ha.

PPP: Thúc đẩy chính sách có lợi cho nông dân

Theo nhận định của Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Mới trải qua 3 năm triển khai, nhưng lợi ích PPP đem lại cho nông nghiệp rất lớn, đang là nhân tố chiến lược giúp tăng sức cạnh tranh của các chuỗi nông sản. Thông qua chương trình này, các tập đoàn đa quốc gia đã đầu tư vào đào tạo tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, thiết lập cơ sở hạ tầng thị trường, giúp xây dựng kênh tiếp thị hiệu quả” .

Hiện nay, Bộ NNPTNT đang phối hợp với 17 Tập đoàn đa quốc gia, công ty quốc tế triển khai mô hình “Đối tác công-tư ngành nông nghiệp” với 5 nhóm hàng hóa và 1 nhóm tài chính vi mô, bao gồm: Cà phê, chè, rau quả, thuỷ sản, cây lương thực làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.

Tham gia vào các mô hình PPP, người nông dân được nâng cao nhận thức trong quá trình canh tác, sản xuất. Trên hết, thu nhập của nông dân được đảm bảo vì sự gắn kết quan trọng nhất trong PPP chính là sự kết nối giữa những doanh nghiệp tiêu thụ và nông dân. Thông qua mô hình này, các nhà quản lý cũng có cái nhìn tổng thể và thước đo kinh tế chính xác hơn khi xây dựng và áp dụng các chính sách cho nông nghiệp.

Ngay như ở nhóm cây lương thực, hiệu quả của trồng ngô được  tính toán cho giá trị nổi bật hơn hẳn so với trồng lúa. Theo tính toán của nhóm này thì ngay khi bán gạo ở mức giá cao nhất và bán ngô ở mức thấp nhất, thu nhập từ ngô vẫn cao hơn 2,5-6 lần so với trồng lúa.

Chính vì hiệu quả kinh tế rõ ràng này, nhóm PPP cây lương thực đã dễ dàng kết nối thị trường đầu ra cho ngô. Hiện nay nhóm đã có sự tham gia của các Công ty Bunge, Vinasoy và Vinamilk để tiêu thụ các sản phẩm ngô và đậu tương, giảm được nhập khẩu.

Hiệu quả từ mô hình của nhóm cây lương thực đã thúc đẩy Bộ NNPTNT đẩy nhanh quá trình thực hiện chính sách chuyển đổi cây trồng để tăng thu nhập cho nông dân. Cụ thể, trong năm 2014, Bộ NNPTNT đã có chủ trương sẽ mở rộng diện tích trồng ngô lên 1,23 triệu ha, tăng 73 ngàn ha so với năm 2013 theo hướng tiếp tục đưa các giống ngô mới có năng suất cao, kết hợp thâm canh nhằm đạt sản lượng khoảng 5,66 triệu tấn.

Khi người nông dân và doanh nghiệp bắt tay trở thành một chuỗi gắn kết, các chính sách bổ trợ cho toàn chuỗi sẽ giúp từng mắt xích trong chuỗi được hưởng lợi. Đây là quá trình mà chính sách sẽ tác động theo hướng nâng cao thu nhập cho nông dân.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module