Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

IRRI và FAO từng bước nỗ lực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững

  • PDF

IRRI và FAO từng bước nỗ lực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững 

Chú trọng vào an ninh lương thực và giúp người nông dân nghèo bằng cách thúc đẩy khả năng hồi phục cây trồng và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) và Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã thống nhất hợp tác chặt chẽ hơn nữa để hỗ trợ sản xuất lúa gạo bền vững tại các quốc gia đang phát triển nhằm cải thiện an ninh lương thực và đời sống, đồng thời vẫn bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Một thỏa thuận đã được ký kết nhằm mục đích kết hợp tốt hơn kiến thức khoa học và kỹ thuật của hai tổ chức để có thể mở rộng và tăng cường hiệu quả công việc trên phạm vi toàn cầu.

Mối quan hệ này chủ yếu hướng đến việc thúc đẩy hệ thống canh tác lúa gạo thông qua các hoạt động xây dựng năng lực – bao gồm hỗ trợ chính phủ xây dựng và thực hiện các chính sách và chiến lược tầm cỡ quốc gia và khu vực – để mang lại lợi ích cho nông dân quy mô nhỏ, đặc biệt là phụ nữ.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, lúa là cây lương thực thiết yếu đối với an ninh lương thực và xu hướng tiêu dùng đang gia tăng. Đồng thời, sản xuất lúa gạo là hoạt động dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của biến đỏi khí hậu, bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lũ lụt.

Cả FAO và IRRI đều tích cực thúc đẩy sản xuất lúa gạo bền vững thông qua sản xuất theo chuỗi giá trị - sản xuất, tiếp thị và tiêu dùng – để tối ưu hóa các đặc điểm dinh dưỡng, là công cụ cải thiện đời sống và giảm nghèo, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

FAO đã phát triển Sáng kiến khu vực đối với Châu Á và Thái Bình Dương để thúc đẩy khả năng hồi phục cây trồng trong khi vẫn gia tăng hiệu quả và thu nhập của nông dân. Tại khu vực châu Phi và Mỹ La tinh, tổ chức đã hợp tác khoa học và kỹ thuật bao gồm chia sẻ công nghệ và các biện pháp canh tác tốt nhất để tăng sản lượng và năng suất, giảm thất thoát sau thu hoạch và cải thiện chất lượng hạt gạo.

IRRI tập trung đẩy mạnh năng lực của tất cả các bên tham gia trong ngành lúa gạo thông qua các hoạt động phát triển năng lực, trong đó có Diễn đàn lúa gạo bền vững.

Diễn đàn lúa gạo bền vững là liên minh toàn cầu nhằm thúc đẩy hiệu quả nguồn lực và tính bền vững trong thương mại, sản xuất và tiêu thụ, và chuỗi cung trong ngành gạo toàn cầu. Diễn đàn lúa gạo bền vững vừa mới đưa ra bộ tiêu chuẩn đầu tiên của thế giới về lúa gạo bền vững. Thông qua Diễn đàn lúa gạo bền vững, IRRI hướng tới sử dụng các tiêu chuẩn về môi trường và kinh tế - xã hội để duy trì năng suất của người sản xuất lúa nhỏ, giảm tác động tới môi trường của việc canh tác lúa và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm và chất lượng.

FAO và IRRI sẽ cùng hỗ trợ các quốc gia sản xuất lúa gạo tiếp nhận các giống lúa cải tiến, cung cấp giống lúa được chứng nhận và chuyển giao kiến thức thông qua phương pháp tiếp cận có sự tham gia của trường học nông dân.

Hai tổ chức cũng sẽ đẩy mạnh quan hệ hợp tác trong vấn đề xử lý sau thu hoạch, giúp nông dân và nhà sản xuất gia tăng giá trị bằng cách phát triển và tiếp thị sản phẩm phụ từ lúa gạo để tạo ra các sản phẩm giàu năng lượng, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm khác

 

Tăng CO2 do biến đổi khí hậu có thể không giúp cải thiện sản xuất nông nghiệp

  • PDF

Tăng CO2 do biến đổi khí hậu có thể không giúp cải thiện sản xuất nông nghiệp

Mặc dù nhiều nhà khoa học đã lập luận rằng mức độ tăng cacbon điôxít sẽ có lợi cho sản xuất cây trồng nhưng mô hình gần đây về tác động của sự gia tăng CO2 cho thấy lượng CO2 ở mức cao có thể có ít ảnh hưởng tích cực đến quá trình quang hợp thực vật.

Các nhà nghiên cứu của Đại học Purdue đã kiểm tra ảnh hưởng của việc gia tăng CO2 và nhiệt độ nóng lên đối với việc sử dụng nước của cây trồng. Mặc dù tăng các-bon điôxit và nhiệt độ ấm hơn nói chung cải thiện quang hợp, nhưng trong những thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các lỗ chân lông trên lá cây, được biết đến như là khí khổng, được dự đoán sẽ thu hẹp trong những điều kiện này, làm giảm độ ẩm thực vật thải vào không khí.

Theo Qianlai Zhuang, Giáo sư về trái đất và khoa học khí quyển, mặc dù sự thay đổi này có thể có nghĩa là một số cây trồng sử dụng nước hiệu quả hơn ở một số khu vực khô hạn, nhưng sự thay đổi này trong sinh lý học thực vật sẽ gây nên những tác động khí hậu, dẫn đến lượng mưa ít hơn ở một số khu vực, gây hại cho cây trồng và năng suất cây trồng.

Ông cho biết: “Nghiên cứu này cho thấy trong khi tăng lượng cacbon điôxit trong khí quyển có thể trực tiếp tăng cường việc hấp thụ CO2 của thực vật, nó cũng có thể làm giảm sự thoát hơi nước ở thực vật, ảnh hưởng đến các mô hình lượng mưa toàn cầu và làm gia tăng sự nóng lên”.

Lisa Welp, trợ lý giáo sư hóa sinh học thuộc Khoa Trái Đất, Khoa học Hành tinh và Khí quyển Purdue, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết rằng trong nhiều hệ sinh thái trên mặt đất, lượng mưa được hình thành từ nước tràn vào bầu khí quyển nhờ hướng gió tạo ra từ cây cối, do đó thực vật gây ảnh hưởng đến cả lượng mưa và nhiệt độ.

Welp cho biết: “Vai trò của thảm thực vật trên đất liền đối với lượng mưa trên mặt đất thường được đơn giản hóa hoặc bỏ qua, nhưng nó là một động lực chính để xác định mô hình lượng mưa khu vực, và do đó để xác định năng suất trong các hệ sinh thái có lượng nước hạn hẹp. Nếu một số cây trồng giảm sự truyền nước vào khí quyển bằng cách giảm tỷ lệ thoát hơi nước, điều này dẫn đến sự suy giảm lượng mưa trong khu vực và gây nên hiện tượng nóng cục bộ vì nước bốc hơi từ lá thực vật hoạt động như máy điều hòa, giữ nhiệt độ bề mặt lạnh hơn”.

Nhìn chung, hiệu quả này là đủ mạnh để không giúp cải thiện sản xuất nông nghiệp toàn cầu. Trên thực tế, khi lượng khí cacbonic tăng lên trên toàn cầu, mô hình cho thấy thực vật ở hầu hết các khu vực trên thế giới chịu ảnh hưởng đáng kể do nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm.

Các-bon điôxit trong khí quyển đã tăng từ 280 phần triệu trước thời đại công nghiệp, bắt đầu vào cuối những năm 1700, lên mức hiện tại trên 400 phần triệu.

Zhuang và nghiên cứu sinh Peng Zhu đã đưa ra 6 thí nghiệm mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu về khí hậu lịch sử từ năm 1850 đến năm 2011. Họ thấy rằng mặc dù một số khu vực sẽ ghi nhận sự phát triển của cây trồng được cải thiện - bao gồm các khu vực của Canada, phần lớn Madagascar và mũi phía nam của Ấn Độ, các vùng khác trên hành tinh này đều sẽ chịu ảnh hưởng từ sự gia tăng CO2.

 

Công cụ mới dự đoán nguy cơ dịch bệnh thực vật và lây lan trên toàn thế giới

  • PDF

Công cụ mới dự đoán nguy cơ dịch bệnh thực vật và lây lan trên toàn thế giới 

Các thuật toán cung cấp một phương pháp hiệu quả để xác định khả năng bùng phát dịch bệnh và dự đoán sự xâm nhập sinh học hoặc lây lan dịch bệnh.

Một kỹ thuật mới được phát triển có thể dự đoán nguy cơ mắc bệnh ở thực vật hoặc xâm nhập trên toàn cầu. Được mô tả trên tạp chí trực tuyến  Frontiers in Applied Mathematics and Statistics, kỹ thuật này xem xét các tương tác giữa các vật chủ gây hại và sự phân bổ địa lý của các loài thực vật dễ tổn thương nhằm xây dựng bản đồ điểm nóng tiềm ẩn đối với dịch bệnh. Điều này có thể giúp Chính phủ các nước hiểu được nguy cơ bùng phát dịch trước khi xảy ra.

Bệnh và dịch hại có thể gây tác động tàn phá đối với thực vật, hệ sinh thái xung quanh và nguồn cung lương thực. Những tác động này có thể đặc biệt gây tổn hại khi một loại sâu bệnh gây bệnh xâm nhập lãnh thổ mới, trong đó các cây bản địa có ít sức đề kháng tự nhiên và kẻ xâm lược tàn phá có ít kẻ thù hoặc đối thủ cạnh tranh.

Các cơ quan chính phủ cố gắng hạn chế các loài sâu bệnh và các mầm bệnh bằng cách kiểm soát sự di chuyển của thực vật và động vật giữa các quốc gia và khu vực. Tuy nhiên, trong bối cảnh  thương mại quốc tế và du lịch, có thể khó khăn hoặc không thể ngăn chặn sâu bệnh và mầm bệnh lây lan.

Một cách để bắt đầu ngăn ngừa lây nhiễm và bùng phát dịch bệnh là phân tích các loài gây hại và mầm bệnh đã biết, và sau đó xem xét sự phân bố của thực vật dễ bị tấn công. Tuy nhiên, việc phân tích sâu có thể tốn nhiều thời gian do có quá nhiều loài thực vật, mầm bệnh và sâu bệnh.

Để giúp dự đoán bùng phát tốt hơn, các nhà nghiên cứu ở Mexico đã phát triển một loạt các thuật toán mới để dự đoán dịch bệnh bùng phát. Kỹ thuật của các nhà nghiên cứu dựa trên nguyên tắc liên quan chặt chẽ đến cây trồng phát triển gần nhau có nguy cơ lây nhiễm hoặc xâm nhập bởi các mầm bệnh hoặc sâu bệnh tương tự. Bằng cách nghiên cứu sự phân bố địa lý của các cây trồng liên quan chặt chẽ, nhóm nghiên cứu đã tạo ra bản đồ các điểm nóng tiềm ẩn về bệnh dịch.

Để kiểm tra các thuật toán, nhóm nghiên cứu đưa vào một loài sâu bệnh hiện có ở Bắc Mỹ, loài bọ cánh cứng đỏ. Loài bọ này gây bệnh Laurel Wilt có thể làm chết các loài thực vật thuộc họ laurel. Các nhà nghiên cứu đã tham khảo cơ sở dữ liệu trực tuyến để tìm ra một nhóm bọ cánh cứng đỏ có liên quan mật thiết đến bọ cánh cứng đỏ redbay, và một nhóm thực vật có liên quan đến loài bọ này.

Nhóm nghiên cứu sau đó kết hợp dữ liệu về sự phân bố địa lý của từng loài thực vật. Nếu được tìm thấy ở những khu vực rộng lớn, thì chúng có nguy cơ lây nhiễm và lây lan ra nhiều hơn. Bằng thuật toán, các nhà nghiên cứu tính toán xác suất của nhiều loài thực vật đang bị nhiễm bọ cánh cứng khi có mặt tại cùng một vị trí.

Bằng kỹ thuật này, nhóm đã tạo ra các bản đồ hiển thị các khu vực trên thế giới có nhiều khả năng bị phá hoại, hoặc sự tương tác giữa bọ cánh cứng và thực vật. Các bản đồ phản ánh chính xác các vùng đất bản địa của bọ cánh cứng, cùng với hành vi xâm lấn gần đây của một số bọ cánh cứng, bao gồm cả sự dịch chuyển về phía nam của một con bọ cánh cứng trên khắp nước Mỹ. Thật đáng lo ngại, mô hình cho thấy rằng những cây cối tương tự ở Trung và Nam Mỹ có thể dễ bị tấn công.

Những bản đồ kiểu này có thể rất hữu ích cho các cơ quan chính phủ và các nhà sinh thái học trong việc hiểu và dự báo dịch bệnh bùng phát, bằng cách tập trung vào các điểm nóng hiện tại hoặc tiềm năng, nhưng nhóm nghiên cứu cần thêm dữ liệu từ công việc thực địa để kiểm tra tính chính xác của hệ thống

 

Cháy sẽ trở thành chuyện bình thường trên hành tinh chúng ta

  • PDF

Cháy khắc nghiệt sẽ ngày càng trở thành chuyện bình thường trên hành tinh chúng ta

Thời tiết gây cháy nguy hiểm được dự báo cho Úc và Địa Trung Hải khi dấu vết các đám cháy khắc nghiệt toàn cầu mở rộng, nghiên cứu mới nhất cho thấy.

David Bowman, Giáo sư về Sinh học Biến đổi Môi trường Đại học Tasmania đứng đầu một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đến từ Đại học Idaho và Đại học bang Nam Dakota - để tổng hợp cơ sở dữ liệu vệ tinh toàn cầu về cường độ của 23 triệu đám cháy trong số 478 vụ cháy lớn nhất trong hoang dã.

"Các vụ cháy lớn là hiện tượng tự nhiên và xảy ra trên toàn cầu, đặc biệt là tại các khu rừng có mùa khô rõ rệt", Giáo sư Bowman cho biết.

Ngoại trừ việc khai khoang, thì nghiên cứu cho thấy những đám cháy cực lớn có liên quan với thời tiết bất thường - như hạn hán, gió, hoặc trong các vùng sa mạc, đặc biệt sau các mùa ẩm ướt.

"Trong số 478 vụ cháy lớn, chúng tôi xác định được 144 vụ cháy gây thiệt hại lớn về kinh tế và xã hội, tập trung ở các khu vực mà con người xây dựng thành các cảnh quan rừng dễ cháy, chẳng hạn như các khu vực xung quanh những thành phố ở miền nam nước Úc và phía tây Bắc Mỹ".

Sử dụng các mô hình dự báo biến đổi khí hậu để tìm hiểu hậu quả của biến đổi khí hậu, nghiên cứu phát hiện rằng, dự đoán sẽ có các đám cháy khác nghiệt hơn trong tương lai cho bờ biển phía đông của Úc, bao gồm Brisbane, và toàn bộ khu vực Địa Trung Hải – gồm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ

 

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực

  • PDF

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực 

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức nghiêm trọng trên toàn cầu, việc đảm bảo đủ lương thực cho tất cả người dân là một trong những thách thức lớn mà nhiều nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) phải đối mặt.

Vì vậy, trong những năm gần đây, hợp tác để đảm bảo an ninh lương thực luôn được đề cao trong các hoạt động của APEC. Các nền kinh tế APEC đã đề xuất và thực hiện thành công nhiều sáng kiến về an ninh lương thực. Và với các sáng kiến mới nhất mà Việt Nam đưa ra trong Năm APEC 2017, nhiều người kỳ vọng APEC sẽ có bước tiến mới trong việc đối phó với thách thức này.

Mối lo không của riêng ai

Theo Liên Hợp Quốc (UN), năm 2009, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, số lượng người thiếu lương thực trên thế giới đã vượt ngưỡng 1 tỷ người. Trong bối cảnh dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,2 tỷ người hiện nay lên 9,6 tỷ người vào năm 2050, để đáp ứng được nhu cầu lương thực vào thời điểm đó, sản lượng lương thực toàn cầu sẽ phải tăng thêm 70%. Điều này đang đặt ra thách thức không hề nhỏ cho thế giới trong việc đảm bảo an ninh lương thực.

Đối với khu vực APEC, nơi hiện chiếm khoảng 40% dân số thế giới, mặc dù tỷ lệ người thiếu lương thực đã giảm còn 24% trong giai đoạn 1990-2006 nhưng các nghiên cứu mới nhất cho thấy đảm bảo đủ lương thực cho người dân vẫn là một vấn đề lớn đối với hầu hết các nền kinh tế thành viên.

Nguyên nhân chủ yếu là do khu vực châu Á-Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các thảm họa do thiên tai gây ra như mất mùa hay gián đoạn nguồn cung lương thực. Các số liệu thống kê chính thức cho thấy khu vực này phải hứng chịu 70% thiên tai trên thế giới. Phần lớn các nền kinh tế APEC đều nằm trên “Vành đai lửa Thái Bình Dương” và do vậy hứng chịu 90% các trận động đất trên toàn cầu.

Mặt khác, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn do tác động tiêu cực của hiện tượng biến đổi khí hậu, tình trạng thiếu nước và vấn đề đô thị hóa, trong khi đầu tư công vào lĩnh vực nông nghiệp lại đang có xu hướng giảm.

Tuyên bố Niigata

Nhận thức rõ thách thức mà các nền kinh tế APEC đang phải đối mặt, tháng 10/2010, các bộ trưởng phụ trách về an ninh lương thực của APEC đã nhóm họp lần đầu tiên ở Niigata (Nhật Bản) và thông qua Tuyên bố Niigata về an ninh lương thực. Đây được coi là kế hoạch toàn diện đầu tiên của APEC nhằm thúc đẩy các nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực bền vững trong khu vực.

Theo Tuyên bố Niigata, các nền kinh tế APEC dễ tổn thương trước các rủi ro về an ninh lương thực mà ví dụ điển hình là các cuộc biểu tình và bạo động diễn ra trong giai đoạn giá cả lương thực tăng cao vào các năm 2007 và 2008. Vì vậy, các bộ trưởng APEC khẳng định với tư cách là một diễn đàn có tầm ảnh hưởng lớn về hợp tác kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, APEC đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện an ninh lương thực khu vực và toàn cầu.

Trong Tuyên bố Niigata, các bộ trưởng APEC đã chỉ ra hai mục tiêu mà các nền kinh tế APEC sẽ theo đuổi gồm: Phát triển nông nghiệp bền vững; Tạo thuận lợi cho đầu tư, thương mại và thị trường, đồng thời chỉ rõ các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó.

Tuyên bố Niigata nhấn mạnh để đối phó với sự mất cân đối về cung-cầu lương thực do dân số và thu nhập tăng, cần phải tăng cường năng lực cung cấp lương thực, đối phó với thiên tai, biến đổi khí hậu và phục hồi, phát triển khu vực nông thôn.

Mặt khác, để đảm bảo an ninh lương thực, không thể thiếu sự phân phối lương thực ổn định, hiệu quả và công bằng. Các nền kinh tế thành viên APEC cần phải hợp tác xúc tiến thương mại nông sản, đảm bảo sự tin cậy của thị trường, chuẩn bị môi trường kinh doanh thuận lợi và đảm bảo an toàn thực phẩm, đồng thời cần xúc tiến đầu tư một cách có trách nhiệm vào lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, bảo vệ bản quyền.

Và những bước tiến của APEC

Kể từ sau thành công của Hội nghị Bộ trưởng APEC về An ninh Lương thực (AMMFS) lần thứ nhất ở Niigata, các bộ trưởng APEC đã nhóm họp định kỳ hai năm một lần. Tại mỗi hội nghị, các bộ trưởng APEC đều thông qua các kế hoạch hành động mới về an ninh lương thực.

Đáng chú ý, trong khuôn khổ Năm APEC 2014 ở Trung Quốc, các quan chức cấp cao APEC đã thông qua Lộ trình An ninh Lương thực APEC hướng tới năm 2020; trong đó đặt ra mục tiêu dài hạn là xây dựng cơ cấu hệ thống lương thực khu vực đủ để đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho các nền kinh tế thành viên, nâng cao năng suất và cung cấp lương thực ở mức giá có thể chi trả cho những người có thu nhập thấp.

Ngoài AMMFS, năm 2011, APEC đã thành lập diễn đàn Đối tác Chính sách về An ninh Lương thực (PPFS) để tăng cường sự phối hợp giữa Hội đồng Cố vấn Kinh doanh APEC (ABAC), khu vực tư nhân và các bên liên quan trong nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực khu vực một cách thực chất hơn.

Mặt khác, một số ủy ban và nhóm công tác của APEC cũng thường xuyên nhóm họp để thảo luận về các chủ đề liên quan tới an ninh lương thực, gồm Ủy ban Thương mại và Đầu tư (CTI) và các tiểu ban trực thuộc như Diễn đàn Hợp tác An toàn Thực phẩm (FSCF), Nhóm công tác về Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp (ATCWG), Nhóm Công tác về Đại dương và Nghề cá (OFWG) và Đối thoại chính sách cấp cao về Công nghệ Sinh học Nông nghiệp (HPLDAB).

Năm 2017, mặc dù AMMFS không nhóm họp nhưng với tư cách chủ nhà, Việt Nam vẫn lựa chọn “tăng cường an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu” là một trong 4 chủ đề ưu tiên nhằm giúp các nền kinh tế APEC ứng phó hiệu quả hơn các tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Và để cụ thể hóa chủ đề ưu tiên đó, tại diễn đàn Đối tác Chính sách An ninh lương thực ( PPFS) ở Nha Trang hồi tháng 2/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã đưa ra ba sáng kiến gồm: Kế hoạch hành động để thực hiện Chương trình APEC về an ninh lương thực và biến đổi khí hậu; Tuyên bố Cần Thơ về tăng cường phát triển bền vững và an ninh lương thực thích ứng với biến đổi khí hậu; Kế hoạch hành động để thực hiện Khung chiến lược của APEC về phát triển thành thị-nông thôn nhằm củng cố an ninh lương thực và tăng trưởng chất lượng.

Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra hai đề xuất gồm: “Phát triển kinh doanh nông nghiệp để hỗ trợ chuyển đổi lao động nông thôn tại các nền kinh tế thành APEC” và “Thích ứng biến đổi khí hậu: Tác động tới Chiến lược an ninh lương thực”.

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN bên lề diễn đàn, ông Trần Kim Long, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch PPFS, cho biết trong quá trình xây dựng sáng kiến và đề xuất, các nền kinh tế thành viên APEC đánh giá cao nước chủ nhà Việt Nam trong việc đưa ra các sáng kiến và đề xuất đúng trọng tâm, sự chuẩn bị chu đáo các tài liệu liên quan để triển khai hiệu quả PPFS.

“Điều này tạo tiền đề chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo của Năm APEC Việt Nam 2017; trong đó có Đối thoại Chính sách Cấp cao về an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ vào tháng 8/2017”, ông Long nói.

 

Những đợt nắng nóng ngắn cũng có thể làm hỏng vụ mùa cà phê

  • PDF

Những đợt nắng nóng ngắn cũng có thể làm hỏng vụ mùa cà phê

Một nghiên cứu của Đại học Lâm nghiệp thuộc Đại học bang Oregon (OSU) cho thấy khi cây cà phê chè (C. arabica) trải qua một đợt nắng nóng ngắn, thì chúng không thể ra hoa và trái.

Điều đó có nghĩa là không có hạt cà phê, và không có cà phê để uống.

C. arabica là loài cà phê chiếm ưu thế trên toàn cầu, chiếm 65% sản lượng thương mại trong gần 9,07 triệu tấn cà phê được tiêu thụ trên toàn cầu mỗi năm.

Liên tục sản xuất ra lá mới quanh năm, C. arabica tăng trưởng trên 80 quốc gia ở bốn lục địa ở vùng nhiệt đới.

Nghiên cứu của OSU đã khảo sát tuổi của lá và thời gian nắng nóng ảnh hưởng đến sự hồi phục của C. arabica do stress nhiệt trong quá trình kiểm tra nhà kính. Một phát hiện quan trọng là các lá non hơn đang phát triển có sự hồi phục rất chậm so với lá trưởng thành, và không một cây nào ra được hoa và quả khi trải qua một đợt nắng nóng giả lập.

Tác giả chính Danielle Marias, nhà sinh lý học thực vật thuộc tại OSU cho biết: "Điều này nhấn mạnh cây cà phê chè nhạy cảm với nhiệt độ ra sao. "Không có hoa có nghĩa là không sinh sản có nghĩa là không kết trái, và điều đó có thể là thứ tàn phá cho một nông dân trồng cà phê khi phải đối mặt với sự thất bại trong mùa thu hoạch.

"Nắng nóng là thứ rất căng thẳng đối với cây trồng và thường liên quan đến hạn hán. Tuy nhiên, ở những vùng trồng cà phê, thời tiết có thể không chỉ nóng hơn và khô hơn, mà còn có thể nóng hơn và ẩm ướt hơn, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tô muốn cô lập tác dụng của nhiệt."

Trong nghiên cứu của OSU, cây cà phê C. arabica được cho tiếp xúc với nắng nóng, làm cho nhiệt độ lá đạt mức gần 120 độ F, trong 45 hoặc 90 phút. Marias nhấn mạnh rằng, nhiệt độ lá này là kết cục thực tế của sự thay đổi khí hậu toàn cầu và còn cao hơn nhiệt độ không khí xung quanh.

Trong thời gian bị tiếp xúc với nắng nóng 90 phút, lá cây mất thời gian lâu nhất để hồi phục sinh lý.

Bất kể tuổi cây ra sao, tiếp xúc với nắng nóng càng lâu càng làm giảm hiệu quả sử dụng nước của cây, từ đó tiếp tục làm cho ảnh hưởng của stress nhiệt trở nên tồi tệ hơn, đặc biệt trong thời kỳ hạn hán.

 

Gen thực vật chịu hạn có thể thúc đẩy sự phát triển hiệu quả sử dụng nước của cây trồng

  • PDF

Gen thực vật chịu hạn có thể thúc đẩy sự phát triển hiệu quả sử dụng nước của cây trồng

Các nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge của Bộ Năng lượng đã xác định được một bộ gen chung cho phép các cây chịu hạn khác nhau sống sót trong điều kiện bán khô hạn, có thể đóng một vai trò quan trọng trong công nghệ sinh học và tạo ra cây trồng năng lượng chịu được sự thiếu hụt nước. 

Cây trồng phát triển mạnh ở vùng đất khô cằn bằng cách giữ các khí khổng, hoặc các lỗ, đóng vào ban ngày để tiết kiệm nước và mở vào ban đêm để thu thập CO2. Hình thức của quang hợp này, được gọi là quá trình trao đổi acid crassulacean hay CAM, đã phát triển qua hàng triệu năm, xây dựng các đặc tính tiết kiệm nước trong cây như Kalanchoë, lan và dứa.

"Tương tự, CAM là một cơ chế đã được chứng minh để nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong thực vật", Xiaohan Yang, đồng tác giả của ORNL cho biết. "Khi chúng ta tiết lộ các khối cấu trúc tạo nên quá trình quang hợp của CAM, chúng ta sẽ có khả năng tạo ra các quá trình trao đổi chất các loại cây trồng có năng suất cao như gạo, lúa mì, đậu nành và cây dương để tăng tốc độ thích ứng với môi trường bị hạn chế nước.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu một số loại cây chịu hạn để mở khóa cho sự bí ẩn của quang hợp CAM. Đối với công trình này, đội nghiên cứu dẫn đầu của ORNL đã thực hiện bộ gen của Kalanchoë fedtschenkoi, là một mô hình mới cho nghiên cứu bộ gen của CAM vì hệ gene của nó tương đối nhỏ và có khả năng chỉnh sửa di truyền.

Nhóm nghiên cứu đã điều tra và so sánh các bộ gen của K. fedtschenkoi, Phalaenopsis equestris (lan) và Ananas comosus (dứa) bằng siêu máy tính Titan của ORNL.

Ông Yang cho biết: "Người ta thừa nhận rằng một số cây trồng không liên quan có những đặc điểm tương tự trong điều kiện môi trường tương tự, là một quá trình được gọi là tiến hóa hội tụ.

Họ đã xác định 60 gen thể hiện sự tiến hóa hội tụ ở các loài CAM, bao gồm thay đổi biểu hiện gen ban ngày và ban đêm trong 54 gen, cũng như trình tự chuỗi protein trong sáu gen. Cụ thể, nhóm nghiên cứu phát hiện ra một biến thể mới của phosphoenolpyruvate carboxylase, hoặc PEPC. PEPC là enzyme "người hoạt động" quan trọng chịu trách nhiệm cho việc gắn kết CO2 đối với axit malic vào ban đêm. Axit malic sau đó được chuyển đổi trở lại thành carbon dioxide để quang hợp vào ban ngày.

Ông Yang cho biết: “Những thay đổi hội tụ trong biểu hiện gen và trình tự protein có thể được đưa vào cây trồng dựa vào quang hợp truyền thống, đẩy mạnh quá trình phát triển của chúng giúp sử dụng nước hiệu quả hơn. Nhóm đã công bố những phát hiện của họ trong tạp chí Nature Communications.

Sử dụng nước thông minh

Sản xuất cây trồng là sự tiêu thụ nước lớn nhất trên thế giới. Những nguồn nước sạch tiềm năng đang bị thu hẹp lại do đô thị hóa, tăng trưởng dân số và biến đổi khí hậu, điều này tạo ra thách thức đối với môi trường đang phát triển tối ưu.

Để giải quyết vấn đề này, kỹ thuật quang hợp CAM đối với cây trồng lương thực, thực phẩm và năng lượng có thể làm giảm việc sử dụng nước trong nông nghiệp và tăng khả năng phục hồi của cây trồng khi cung cấp nước ít hơn mong muốn.

Jerry Tuskan, đồng tác giả và giám đốc điều hành của Trung tâm Năng lượng Sinh học, dẫn đầu bởi ORNL cho biết: "Nghiên cứu bộ gen của cây trồng tiết kiệm năng lượng cũng có thể cung cấp cái nhìn kỹ lưỡng vào khả năng sử dụng nước mặn nhẹ của cây trồng và duy trì tăng trưởng ở nhiệt độ cao hơn và lượng nước sạch thấp hơn. Nếu chúng ta có thể xác định được cơ chế hiệu quả sử dụng nước, chúng ta có thể di chuyển các đặc điểm này sang các cây trồng nông học, cung cấp nguồn nước không thể uống cho tưới tiêu những cây này và tiết kiệm nguồn nước sạch dùng để uống

 

Tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền: Không thể làm ồ ạt

  • PDF

Tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền: Không thể làm ồ ạt 

Muốn thay đổi ngành nông nghiệp dựa vào tích tụ ruộng đất, thay đổi chính sách hạn điền chưa đủ mà còn phải bắt đầu từ người nông dân.

Những năm vừa qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã từng bước phát triển, bước đầu được công nghiệp hóa, phát huy được vai trò trụ đỡ cho nền kinh tế trong bối cảnh cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đang giảm dần và bộc lộ những yếu kém của một nền nông nghiệp dựa trên kinh tế hộ nhỏ lẻ, thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp trong khi cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt.

Tại Diễn dàn Nông nghiệp mùa Xuân 2017 vừa được Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phối hợp Liên minh Nông nghiệp, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Oxfam Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế đã đưa ra những vấn đề cốt lõi trong phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam.

Các diễn giả tập trung thảo luận về các thể chế hiện hành ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, đồng thời chỉ ra những “nút thắt” đang cản trở những bước tiến trong nông nghiệp như: sản xuất manh mún, nông nghiệp hàng hóa chất lượng thấp, sản xuất theo kinh nghiệm, thói quen...

TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, thành viên Liên minh Nông nghiệp nhấn mạnh: Một nút thắt quan trọng cần tháo gỡ để tạo động lực cho sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới là thể chế, bao gồm các thể chế chính thức (chính sách, pháp luật) và phi chính thức (các tập quán, nhận thức chung, hoạt động của các hội, hiệp hội trong nông nghiệp…).

Cần xóa bỏ tư duy: Nghèo mới làm nông nghiệp

Chuyên gia hàng đầu về nông nghiệp, GS TS Võ Tòng Xuân – Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ cho biết, muốn thay đổi ngành nông nghiệp, nếu chỉ dựa vào tích tụ ruộng đất, thay đổi chính sách hạn điền thì chưa đủ, mà còn phải bắt đầu từ người nông dân.

GS Võ Tòng Xuân chia sẻ: "Tôi rất mừng khi Nhà nước đầu tư vào công nghệ cao, nhưng trở ngại lớn về đất đai, cây trồng và con người đã và đang khiến nông nghiệp Việt Nam khó khăn, không thể bứt phá”.

Chuyên gia này nêu thực tế: Ở Mỹ, chỉ có những người nông dân được đào tạo, có trình độ mới tham gia sản xuất nông nghiệp. Còn tại Việt Nam, nghề nông là cha truyền, con nối, sản xuất theo kinh nghiệm, thói quen. Con em nông dân đi học, ít người quay trở lại làm nông, do đó khu vực nông nghiệp được xem là nghèo nhân lực, khó áp dụng mô hình mới, công nghệ mới...

Về tích tụ ruộng đất, theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, quá trình tích tụ ruộng đất cần bảo vệ quyền tài sản của người dân, người dân phải được ký thuê lại đất sản xuất để canh tác và quyền lợi của họ phải được đảm bảo.

TS. Lê Đăng Doanh dẫn ví dụ ở Đài Loan (Trung Quốc): Khi tích tụ ruộng đất, người dân được quyền đồng sở hữu. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nông dân khi bán đất được một “cục tiền”, còn sau đó không có đất để sản xuất, đất dồn vào tay “đại gia”.

Theo nhận định của TS. Andrew Wells Dang, chuyên gia cao cấp của tổ chức Oxfam Việt Nam, nông nghiệp đóng góp một phần tỷ trọng GDP và lợi nhuận của ngành này thường thấp hơn khi so sánh với các hoạt động kinh tế khác. Việt Nam lại chú trọng vào công nghiệp hóa, được đánh đồng với hiện đại hóa. Nông nghiệp được coi là trì trệ, thậm chí là “lạc hậu”, là nghề mà chỉ những người nghèo mới làm vì họ không có lựa chọn công việc nào khác.

TS. Andrew nhấn mạnh: Để đưa tầm nhìn về một nền nông nghiệp bền vững, cần củng cố sự hợp tác hiện tại giữa các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các Viện nghiên cứu, hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ và các phương tiện truyền thông tạo nên xã hội dân sự và các doanh nghiệp nông nghiệp thuộc mọi quy mô và ngành nghề. Đặc biệt cần có tiếng nói của những người nông dân trong các cuộc thảo luận kỹ thuật và chính sách.

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp, Nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) cho rằng, thể chế nông nghiệp đang bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập. Các chủ thể hộ nông dân, các doanh nghiệp, các đơn vị cung ứng dịch vụ trong nông nghiệp còn yếu…, cơ chế, chính sách một thời gian dài chủ yếu phát triển theo chiều rộng, hướng vào phân khúc chất lượng thấp, chế biến thô; các thể chế quan trọng liên kết như đất đai, tài chính tín dụng, thị trường, khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém, gây trở ngại.

Không những thế, các hình thức và thể chế liên kết giữa các hộ nông dân, các hợp tác xã, doanh nghiệp, các đơn vị cung ứng dịch vụ còn kém phát triển, thiếu sự liên kết về trách nhiệm, chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các chủ thể, chưa tạo được các chuỗi sản xuất kinh doanh, chuỗi giá trị bền vững…, ông Tiến cho hay.

Nông nghiệp lạc hậu, có nên “đập đi xây lại”?

Đề cập vấn đề tích tụ ruộng đất hướng tới sản xuất nông nghiệp quy mô lơn, chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa nêu quan điểm: Cách mạng công nghệ đã, đang và sẽ thay đổi năng lực của người nông dân, không phụ thuộc vào quy mô sản xuất lớn hay nhỏ. Chính vì thế, phải thay đổi tư duy, đào tạo người nông dân để vừa hiện đại hoá nông nghiệp, công nghệ hoá sản xuất mà vẫn giữ được nét văn hoá, di sản dân tộc.

TS. Lê Xuân Nghĩa lưu ý: Nền tảng nông thôn Việt Nam là sản xuất nhỏ nên cần kết hợp sản xuất hàng hóa và cả tự cung tự cấp nữa, không thể chỉ dựa vào doanh nghiệp lớn được. Hơn nữa, nông thôn đang chứa đựng di sản lớn của dân tộc về văn hoá, tín ngưỡng, ẩm thực, sự đa dạng về giống, loài... Chính vì vậy, phải kết hợp vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và du lịch, khai thác lợi thế song song, tương đồng.

Ông Nghĩa lý giải: Nông nghiệp gắn với văn hóa xã hội, có dân tộc thiểu số, có ẩm thực. Chúng ta có di sản lớn của nông nghiệp, nên phát triển cần đi liền bảo tồn và phát huy chứ không thể “đập đi, xây lại”.

Thời buổi cách mạng công nghệ đã đang và sẽ làm thay đổi năng lực của người nông dân, không phụ thuộc vào mô hình lớn hay nhỏ. Chính vì thế, theo chuyên gia kinh tế này, cần phải thay đổi tư duy, đào tạo người nông dân để vừa hiện đại hóa nông nghiệp, công nghệ hóa sản xuất mà vẫn giữ được nét văn hoá, di sản dân tộc.

TS. Nghĩa phân tích: Ở nông thôn luôn tồn tại doanh nghiệp nhỏ, tiểu hộ, thợ thủ công... Nếu không có các doanh nghiệp nhỏ thì không thể có doanh nghiệp lớn ngành nông nghiệp được. “Chúng ta không thể hiện đại hoá, lớn hóa ngành nông nghiệp hàng hóa khi chỉ tập trung vốn và phát triển cho doanh nghiệp lớn, cần phải tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ, tiểu hộ phát triển” ông Nghĩa nói.

Tại Diễn đàn Nông nghiệp Mua xuân 2017, nhiều đại biểu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa của các hộ nông dân. Cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích hộ nông dân mở rộng quy mô sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp có trình độ, năng lực quản trị kinh doanh, ứng dụng khoa học và công nghệ.

Bên cạnh đó, cần định hướng và xây dựng thể chế cho ngành nông nghiệp đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường và thu nhập cho người nông dân; nông nghiệp xanh, sạch ứng phó với biến đổi khí hậu; nông nghiệp sử dụng nguồn lực tiết kiệm và nông nghiệp thông minh, công nghệ cao. Một yếu tố then chốt nữa là tôn trọng và đảm bảo đầy đủ các quyền lợi và lợi ích của hộ nông dân trong sử dụng ruộng đất, chế định rõ cơ sở pháp lý cho sự vận động của các quyền đó trong cơ chế thị trường./

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

  • PDF

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

Cần cách làm mới, tư duy mới

Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ (KH-CN) có vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, muốn áp dụng KH-CN vào nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất, cần có những cách làm mới và tư duy mới.

Đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch

Với nền nông nghiệp Việt Nam, câu chuyện công nghệ sau thu hoạch yếu kém, làm thương hiệu và phân phối các sản phẩm nông nghiệp chưa được chú trọng đã được thừa nhận. Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho biết đó chính là điểm hạn chế, yếu kém nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm vừa qua. Bộ KH-CN đã xây dựng bản đồ công nghệ sản xuất lúa ở Việt Nam và chỉ ra rằng, trong tất cả các khâu, thì thất thoát ở khâu thu hoạch - bảo quản - chế biến rất lớn. Việt Nam thất thoát hơn 14%, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 6%-7%.

Một ví dụ khác là cây thanh long ở Bình Thuận. Năm 2016, doanh thu cây thanh long ở Bình Thuận đạt khoảng 7.000 tỷ đồng/năm. Trong đó 60%-70% là do thương lái Trung Quốc thu mua, với mức giá khoảng 400USD/tấn. Người Trung Quốc mang về nước, tiến hành phân loại và chiếu xạ khử trùng. Loại 1, họ mang sang Nga và các nước Bắc Âu bán với giá 4.500 USD/tấn; loại 2 bán ở thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia với mức giá từ 2.500 - 3.500 USD/tấn; còn người Trung Quốc dùng loại 3 với mức giá 400-500 USD/tấn. Như vậy, chính trái thanh long do người nông dân Việt Nam sản xuất, đã được người Trung Quốc thu mua và sau khi xử lý họ đã bán với mức giá cao gấp 10 lần tại Việt Nam.

Không chỉ lúa và thanh long, nhiều cây trồng, vật nuôi khác cũng đang rơi vào tình trạng như vậy. Những mặt hàng nông sản, ngư nghiệp của Việt Nam bị mua ép với giá thấp và nước ngoài mua về để đóng gói, xử lý bán lại cho thị trường thế giới với giá cao, dưới tên một thương hiệu khác. Để khắc phục và làm tốt được những vấn đề đó, cần phải định hướng cụ thể và có sự đầu tư thích đáng cho ngành công nghiệp sau thu hoạch, nhất là ngành cơ khí, máy móc nông nghiệp. Bài toán về công nghệ chế biến và sau thu hoạch hiện nay là thấy rõ, nhất là nhận thức của doanh nghiệp và người sản xuất trong lĩnh vực này.

“Bộ KH-CN và Bộ NN-PTNT đang đặt quyết tâm thay đổi vấn đề này trong thời gian tới, nhất là đối với công nghệ sau thu hoạch và đảm bảo chất lượng hàng hóa nông nghiệp. Cần phải tăng giá trị gia tăng rong hàng hóa nông nghiệp Việt Nam, đảm bảo thu nhập của doanh nghiệp và người nông dân, cũng như tạo ra nguồn lợi nhuận đủ lớn để tái đầu tư cho ngành này”, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng khẳng định.

Tập trung vào chất lượng và chuỗi giá trị

Việt Nam có hơn 70% dân số làm nông nghiệp, đóng góp khoảng 20% GDP trong khi ở những quốc gia phát triển, như Hà Lan, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp chỉ chiếm 2%-4% dân số, nhưng đóng góp tới 40% GDP.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, GDP nông nghiệp Việt Nam đang giảm, tốc độ tăng năng suất chậm lại, trong khi khoảng cách về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đang nới rộng. Để có thể thay đổi được điều này, ngành nông nghiệp Việt Nam cần có một cách nhìn và cách làm mới.

Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho rằng, thời gian qua nông nghiệp Việt Nam đã tập trung vào tăng sản lượng và năng suất, nhưng bây giờ đã thay đổi, tập trung vào tăng chất lượng và chuỗi giá trị gia tăng. Để có thể cạnh tranh hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp đã tập trung vào việc tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi liên kết, làm cơ sở để thúc đẩy việc ứng dụng KH-CN, kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất ở các mặt hàng có lợi thế. Sự tham gia vào sản xuất nông nghiệp của một loạt các tập đoàn, doanh nghiệp lớn thời gian vừa qua; hay sự canh tác, nuôi trồng một số giống cây con đặc chủng để xuất khẩu đi những thị trường đặc thù  là biểu hiện của sự thay đổi đó.

Theo Bộ KH-CN, thành công của những mô hình sản xuất tôm giống ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Đầu tư thủy ản Nam Miền Trung; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa, giống hoa của Công ty CP Rừng hoa Đà Lạt; mô hình liên kết chuỗi giá trị trong chăn nuôi của Công ty TNHH Hùng Nhơn, trang trại chăn nuôi bò, nuôi tôm thịt đến trồng chuối xuất khẩu Huy Long An… đều xuất phát từ tư duy mới và áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào quá trình sản xuất, canh tác, chế biến…

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch CLB Nông nghiệp công nghệ cao DAA (Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam) cho rằng, cần phải có cách làm mới trong nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết giá trị, doanh nghiệp hóa nông nghiệp, nông dân. Cách làm mới này sẽ góp phần thay đổi ngành nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao; từ ngành có giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng thấp sang ngành có giá trị vượt trội so với các ngành công nghiệp truyền thống; hình thành một chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả cạnh tranh cung cấp sản phẩm có chất lượng. Những thay đổi này sẽ mang lại cuộc sống khỏe mạnh, an toàn và sung túc hơn cho người dân Việt Nam và nâng tầm vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên thế giới một cách bền vững.



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module