Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Tin Tức

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực

  • PDF

Bước tiến của APEC trong đảm bảo an ninh lương thực 

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức nghiêm trọng trên toàn cầu, việc đảm bảo đủ lương thực cho tất cả người dân là một trong những thách thức lớn mà nhiều nền kinh tế thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) phải đối mặt.

Vì vậy, trong những năm gần đây, hợp tác để đảm bảo an ninh lương thực luôn được đề cao trong các hoạt động của APEC. Các nền kinh tế APEC đã đề xuất và thực hiện thành công nhiều sáng kiến về an ninh lương thực. Và với các sáng kiến mới nhất mà Việt Nam đưa ra trong Năm APEC 2017, nhiều người kỳ vọng APEC sẽ có bước tiến mới trong việc đối phó với thách thức này.

Mối lo không của riêng ai

Theo Liên Hợp Quốc (UN), năm 2009, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, số lượng người thiếu lương thực trên thế giới đã vượt ngưỡng 1 tỷ người. Trong bối cảnh dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,2 tỷ người hiện nay lên 9,6 tỷ người vào năm 2050, để đáp ứng được nhu cầu lương thực vào thời điểm đó, sản lượng lương thực toàn cầu sẽ phải tăng thêm 70%. Điều này đang đặt ra thách thức không hề nhỏ cho thế giới trong việc đảm bảo an ninh lương thực.

Đối với khu vực APEC, nơi hiện chiếm khoảng 40% dân số thế giới, mặc dù tỷ lệ người thiếu lương thực đã giảm còn 24% trong giai đoạn 1990-2006 nhưng các nghiên cứu mới nhất cho thấy đảm bảo đủ lương thực cho người dân vẫn là một vấn đề lớn đối với hầu hết các nền kinh tế thành viên.

Nguyên nhân chủ yếu là do khu vực châu Á-Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các thảm họa do thiên tai gây ra như mất mùa hay gián đoạn nguồn cung lương thực. Các số liệu thống kê chính thức cho thấy khu vực này phải hứng chịu 70% thiên tai trên thế giới. Phần lớn các nền kinh tế APEC đều nằm trên “Vành đai lửa Thái Bình Dương” và do vậy hứng chịu 90% các trận động đất trên toàn cầu.

Mặt khác, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn do tác động tiêu cực của hiện tượng biến đổi khí hậu, tình trạng thiếu nước và vấn đề đô thị hóa, trong khi đầu tư công vào lĩnh vực nông nghiệp lại đang có xu hướng giảm.

Tuyên bố Niigata

Nhận thức rõ thách thức mà các nền kinh tế APEC đang phải đối mặt, tháng 10/2010, các bộ trưởng phụ trách về an ninh lương thực của APEC đã nhóm họp lần đầu tiên ở Niigata (Nhật Bản) và thông qua Tuyên bố Niigata về an ninh lương thực. Đây được coi là kế hoạch toàn diện đầu tiên của APEC nhằm thúc đẩy các nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực bền vững trong khu vực.

Theo Tuyên bố Niigata, các nền kinh tế APEC dễ tổn thương trước các rủi ro về an ninh lương thực mà ví dụ điển hình là các cuộc biểu tình và bạo động diễn ra trong giai đoạn giá cả lương thực tăng cao vào các năm 2007 và 2008. Vì vậy, các bộ trưởng APEC khẳng định với tư cách là một diễn đàn có tầm ảnh hưởng lớn về hợp tác kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, APEC đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện an ninh lương thực khu vực và toàn cầu.

Trong Tuyên bố Niigata, các bộ trưởng APEC đã chỉ ra hai mục tiêu mà các nền kinh tế APEC sẽ theo đuổi gồm: Phát triển nông nghiệp bền vững; Tạo thuận lợi cho đầu tư, thương mại và thị trường, đồng thời chỉ rõ các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó.

Tuyên bố Niigata nhấn mạnh để đối phó với sự mất cân đối về cung-cầu lương thực do dân số và thu nhập tăng, cần phải tăng cường năng lực cung cấp lương thực, đối phó với thiên tai, biến đổi khí hậu và phục hồi, phát triển khu vực nông thôn.

Mặt khác, để đảm bảo an ninh lương thực, không thể thiếu sự phân phối lương thực ổn định, hiệu quả và công bằng. Các nền kinh tế thành viên APEC cần phải hợp tác xúc tiến thương mại nông sản, đảm bảo sự tin cậy của thị trường, chuẩn bị môi trường kinh doanh thuận lợi và đảm bảo an toàn thực phẩm, đồng thời cần xúc tiến đầu tư một cách có trách nhiệm vào lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, bảo vệ bản quyền.

Và những bước tiến của APEC

Kể từ sau thành công của Hội nghị Bộ trưởng APEC về An ninh Lương thực (AMMFS) lần thứ nhất ở Niigata, các bộ trưởng APEC đã nhóm họp định kỳ hai năm một lần. Tại mỗi hội nghị, các bộ trưởng APEC đều thông qua các kế hoạch hành động mới về an ninh lương thực.

Đáng chú ý, trong khuôn khổ Năm APEC 2014 ở Trung Quốc, các quan chức cấp cao APEC đã thông qua Lộ trình An ninh Lương thực APEC hướng tới năm 2020; trong đó đặt ra mục tiêu dài hạn là xây dựng cơ cấu hệ thống lương thực khu vực đủ để đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho các nền kinh tế thành viên, nâng cao năng suất và cung cấp lương thực ở mức giá có thể chi trả cho những người có thu nhập thấp.

Ngoài AMMFS, năm 2011, APEC đã thành lập diễn đàn Đối tác Chính sách về An ninh Lương thực (PPFS) để tăng cường sự phối hợp giữa Hội đồng Cố vấn Kinh doanh APEC (ABAC), khu vực tư nhân và các bên liên quan trong nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực khu vực một cách thực chất hơn.

Mặt khác, một số ủy ban và nhóm công tác của APEC cũng thường xuyên nhóm họp để thảo luận về các chủ đề liên quan tới an ninh lương thực, gồm Ủy ban Thương mại và Đầu tư (CTI) và các tiểu ban trực thuộc như Diễn đàn Hợp tác An toàn Thực phẩm (FSCF), Nhóm công tác về Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp (ATCWG), Nhóm Công tác về Đại dương và Nghề cá (OFWG) và Đối thoại chính sách cấp cao về Công nghệ Sinh học Nông nghiệp (HPLDAB).

Năm 2017, mặc dù AMMFS không nhóm họp nhưng với tư cách chủ nhà, Việt Nam vẫn lựa chọn “tăng cường an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu” là một trong 4 chủ đề ưu tiên nhằm giúp các nền kinh tế APEC ứng phó hiệu quả hơn các tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Và để cụ thể hóa chủ đề ưu tiên đó, tại diễn đàn Đối tác Chính sách An ninh lương thực ( PPFS) ở Nha Trang hồi tháng 2/2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã đưa ra ba sáng kiến gồm: Kế hoạch hành động để thực hiện Chương trình APEC về an ninh lương thực và biến đổi khí hậu; Tuyên bố Cần Thơ về tăng cường phát triển bền vững và an ninh lương thực thích ứng với biến đổi khí hậu; Kế hoạch hành động để thực hiện Khung chiến lược của APEC về phát triển thành thị-nông thôn nhằm củng cố an ninh lương thực và tăng trưởng chất lượng.

Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra hai đề xuất gồm: “Phát triển kinh doanh nông nghiệp để hỗ trợ chuyển đổi lao động nông thôn tại các nền kinh tế thành APEC” và “Thích ứng biến đổi khí hậu: Tác động tới Chiến lược an ninh lương thực”.

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN bên lề diễn đàn, ông Trần Kim Long, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch PPFS, cho biết trong quá trình xây dựng sáng kiến và đề xuất, các nền kinh tế thành viên APEC đánh giá cao nước chủ nhà Việt Nam trong việc đưa ra các sáng kiến và đề xuất đúng trọng tâm, sự chuẩn bị chu đáo các tài liệu liên quan để triển khai hiệu quả PPFS.

“Điều này tạo tiền đề chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo của Năm APEC Việt Nam 2017; trong đó có Đối thoại Chính sách Cấp cao về an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ vào tháng 8/2017”, ông Long nói.

 

Tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền: Không thể làm ồ ạt

  • PDF

Tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền: Không thể làm ồ ạt 

Muốn thay đổi ngành nông nghiệp dựa vào tích tụ ruộng đất, thay đổi chính sách hạn điền chưa đủ mà còn phải bắt đầu từ người nông dân.

Những năm vừa qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã từng bước phát triển, bước đầu được công nghiệp hóa, phát huy được vai trò trụ đỡ cho nền kinh tế trong bối cảnh cảnh khó khăn.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đang giảm dần và bộc lộ những yếu kém của một nền nông nghiệp dựa trên kinh tế hộ nhỏ lẻ, thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp trong khi cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt.

Tại Diễn dàn Nông nghiệp mùa Xuân 2017 vừa được Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phối hợp Liên minh Nông nghiệp, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Oxfam Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế đã đưa ra những vấn đề cốt lõi trong phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam.

Các diễn giả tập trung thảo luận về các thể chế hiện hành ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, đồng thời chỉ ra những “nút thắt” đang cản trở những bước tiến trong nông nghiệp như: sản xuất manh mún, nông nghiệp hàng hóa chất lượng thấp, sản xuất theo kinh nghiệm, thói quen...

TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, thành viên Liên minh Nông nghiệp nhấn mạnh: Một nút thắt quan trọng cần tháo gỡ để tạo động lực cho sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới là thể chế, bao gồm các thể chế chính thức (chính sách, pháp luật) và phi chính thức (các tập quán, nhận thức chung, hoạt động của các hội, hiệp hội trong nông nghiệp…).

Cần xóa bỏ tư duy: Nghèo mới làm nông nghiệp

Chuyên gia hàng đầu về nông nghiệp, GS TS Võ Tòng Xuân – Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ cho biết, muốn thay đổi ngành nông nghiệp, nếu chỉ dựa vào tích tụ ruộng đất, thay đổi chính sách hạn điền thì chưa đủ, mà còn phải bắt đầu từ người nông dân.

GS Võ Tòng Xuân chia sẻ: "Tôi rất mừng khi Nhà nước đầu tư vào công nghệ cao, nhưng trở ngại lớn về đất đai, cây trồng và con người đã và đang khiến nông nghiệp Việt Nam khó khăn, không thể bứt phá”.

Chuyên gia này nêu thực tế: Ở Mỹ, chỉ có những người nông dân được đào tạo, có trình độ mới tham gia sản xuất nông nghiệp. Còn tại Việt Nam, nghề nông là cha truyền, con nối, sản xuất theo kinh nghiệm, thói quen. Con em nông dân đi học, ít người quay trở lại làm nông, do đó khu vực nông nghiệp được xem là nghèo nhân lực, khó áp dụng mô hình mới, công nghệ mới...

Về tích tụ ruộng đất, theo đánh giá của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, quá trình tích tụ ruộng đất cần bảo vệ quyền tài sản của người dân, người dân phải được ký thuê lại đất sản xuất để canh tác và quyền lợi của họ phải được đảm bảo.

TS. Lê Đăng Doanh dẫn ví dụ ở Đài Loan (Trung Quốc): Khi tích tụ ruộng đất, người dân được quyền đồng sở hữu. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nông dân khi bán đất được một “cục tiền”, còn sau đó không có đất để sản xuất, đất dồn vào tay “đại gia”.

Theo nhận định của TS. Andrew Wells Dang, chuyên gia cao cấp của tổ chức Oxfam Việt Nam, nông nghiệp đóng góp một phần tỷ trọng GDP và lợi nhuận của ngành này thường thấp hơn khi so sánh với các hoạt động kinh tế khác. Việt Nam lại chú trọng vào công nghiệp hóa, được đánh đồng với hiện đại hóa. Nông nghiệp được coi là trì trệ, thậm chí là “lạc hậu”, là nghề mà chỉ những người nghèo mới làm vì họ không có lựa chọn công việc nào khác.

TS. Andrew nhấn mạnh: Để đưa tầm nhìn về một nền nông nghiệp bền vững, cần củng cố sự hợp tác hiện tại giữa các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các Viện nghiên cứu, hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ và các phương tiện truyền thông tạo nên xã hội dân sự và các doanh nghiệp nông nghiệp thuộc mọi quy mô và ngành nghề. Đặc biệt cần có tiếng nói của những người nông dân trong các cuộc thảo luận kỹ thuật và chính sách.

Ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp, Nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) cho rằng, thể chế nông nghiệp đang bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập. Các chủ thể hộ nông dân, các doanh nghiệp, các đơn vị cung ứng dịch vụ trong nông nghiệp còn yếu…, cơ chế, chính sách một thời gian dài chủ yếu phát triển theo chiều rộng, hướng vào phân khúc chất lượng thấp, chế biến thô; các thể chế quan trọng liên kết như đất đai, tài chính tín dụng, thị trường, khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém, gây trở ngại.

Không những thế, các hình thức và thể chế liên kết giữa các hộ nông dân, các hợp tác xã, doanh nghiệp, các đơn vị cung ứng dịch vụ còn kém phát triển, thiếu sự liên kết về trách nhiệm, chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các chủ thể, chưa tạo được các chuỗi sản xuất kinh doanh, chuỗi giá trị bền vững…, ông Tiến cho hay.

Nông nghiệp lạc hậu, có nên “đập đi xây lại”?

Đề cập vấn đề tích tụ ruộng đất hướng tới sản xuất nông nghiệp quy mô lơn, chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa nêu quan điểm: Cách mạng công nghệ đã, đang và sẽ thay đổi năng lực của người nông dân, không phụ thuộc vào quy mô sản xuất lớn hay nhỏ. Chính vì thế, phải thay đổi tư duy, đào tạo người nông dân để vừa hiện đại hoá nông nghiệp, công nghệ hoá sản xuất mà vẫn giữ được nét văn hoá, di sản dân tộc.

TS. Lê Xuân Nghĩa lưu ý: Nền tảng nông thôn Việt Nam là sản xuất nhỏ nên cần kết hợp sản xuất hàng hóa và cả tự cung tự cấp nữa, không thể chỉ dựa vào doanh nghiệp lớn được. Hơn nữa, nông thôn đang chứa đựng di sản lớn của dân tộc về văn hoá, tín ngưỡng, ẩm thực, sự đa dạng về giống, loài... Chính vì vậy, phải kết hợp vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và du lịch, khai thác lợi thế song song, tương đồng.

Ông Nghĩa lý giải: Nông nghiệp gắn với văn hóa xã hội, có dân tộc thiểu số, có ẩm thực. Chúng ta có di sản lớn của nông nghiệp, nên phát triển cần đi liền bảo tồn và phát huy chứ không thể “đập đi, xây lại”.

Thời buổi cách mạng công nghệ đã đang và sẽ làm thay đổi năng lực của người nông dân, không phụ thuộc vào mô hình lớn hay nhỏ. Chính vì thế, theo chuyên gia kinh tế này, cần phải thay đổi tư duy, đào tạo người nông dân để vừa hiện đại hóa nông nghiệp, công nghệ hóa sản xuất mà vẫn giữ được nét văn hoá, di sản dân tộc.

TS. Nghĩa phân tích: Ở nông thôn luôn tồn tại doanh nghiệp nhỏ, tiểu hộ, thợ thủ công... Nếu không có các doanh nghiệp nhỏ thì không thể có doanh nghiệp lớn ngành nông nghiệp được. “Chúng ta không thể hiện đại hoá, lớn hóa ngành nông nghiệp hàng hóa khi chỉ tập trung vốn và phát triển cho doanh nghiệp lớn, cần phải tạo cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ, tiểu hộ phát triển” ông Nghĩa nói.

Tại Diễn đàn Nông nghiệp Mua xuân 2017, nhiều đại biểu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa của các hộ nông dân. Cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích hộ nông dân mở rộng quy mô sản xuất, phát triển kinh tế trang trại, hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp có trình độ, năng lực quản trị kinh doanh, ứng dụng khoa học và công nghệ.

Bên cạnh đó, cần định hướng và xây dựng thể chế cho ngành nông nghiệp đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường và thu nhập cho người nông dân; nông nghiệp xanh, sạch ứng phó với biến đổi khí hậu; nông nghiệp sử dụng nguồn lực tiết kiệm và nông nghiệp thông minh, công nghệ cao. Một yếu tố then chốt nữa là tôn trọng và đảm bảo đầy đủ các quyền lợi và lợi ích của hộ nông dân trong sử dụng ruộng đất, chế định rõ cơ sở pháp lý cho sự vận động của các quyền đó trong cơ chế thị trường./

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

  • PDF

Nông nghiệp công nghệ cao - chìa khóa cho tái cơ cấu

Cần cách làm mới, tư duy mới

Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ (KH-CN) có vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, muốn áp dụng KH-CN vào nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất, cần có những cách làm mới và tư duy mới.

Đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch

Với nền nông nghiệp Việt Nam, câu chuyện công nghệ sau thu hoạch yếu kém, làm thương hiệu và phân phối các sản phẩm nông nghiệp chưa được chú trọng đã được thừa nhận. Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho biết đó chính là điểm hạn chế, yếu kém nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam trong những năm vừa qua. Bộ KH-CN đã xây dựng bản đồ công nghệ sản xuất lúa ở Việt Nam và chỉ ra rằng, trong tất cả các khâu, thì thất thoát ở khâu thu hoạch - bảo quản - chế biến rất lớn. Việt Nam thất thoát hơn 14%, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 6%-7%.

Một ví dụ khác là cây thanh long ở Bình Thuận. Năm 2016, doanh thu cây thanh long ở Bình Thuận đạt khoảng 7.000 tỷ đồng/năm. Trong đó 60%-70% là do thương lái Trung Quốc thu mua, với mức giá khoảng 400USD/tấn. Người Trung Quốc mang về nước, tiến hành phân loại và chiếu xạ khử trùng. Loại 1, họ mang sang Nga và các nước Bắc Âu bán với giá 4.500 USD/tấn; loại 2 bán ở thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia với mức giá từ 2.500 - 3.500 USD/tấn; còn người Trung Quốc dùng loại 3 với mức giá 400-500 USD/tấn. Như vậy, chính trái thanh long do người nông dân Việt Nam sản xuất, đã được người Trung Quốc thu mua và sau khi xử lý họ đã bán với mức giá cao gấp 10 lần tại Việt Nam.

Không chỉ lúa và thanh long, nhiều cây trồng, vật nuôi khác cũng đang rơi vào tình trạng như vậy. Những mặt hàng nông sản, ngư nghiệp của Việt Nam bị mua ép với giá thấp và nước ngoài mua về để đóng gói, xử lý bán lại cho thị trường thế giới với giá cao, dưới tên một thương hiệu khác. Để khắc phục và làm tốt được những vấn đề đó, cần phải định hướng cụ thể và có sự đầu tư thích đáng cho ngành công nghiệp sau thu hoạch, nhất là ngành cơ khí, máy móc nông nghiệp. Bài toán về công nghệ chế biến và sau thu hoạch hiện nay là thấy rõ, nhất là nhận thức của doanh nghiệp và người sản xuất trong lĩnh vực này.

“Bộ KH-CN và Bộ NN-PTNT đang đặt quyết tâm thay đổi vấn đề này trong thời gian tới, nhất là đối với công nghệ sau thu hoạch và đảm bảo chất lượng hàng hóa nông nghiệp. Cần phải tăng giá trị gia tăng rong hàng hóa nông nghiệp Việt Nam, đảm bảo thu nhập của doanh nghiệp và người nông dân, cũng như tạo ra nguồn lợi nhuận đủ lớn để tái đầu tư cho ngành này”, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng khẳng định.

Tập trung vào chất lượng và chuỗi giá trị

Việt Nam có hơn 70% dân số làm nông nghiệp, đóng góp khoảng 20% GDP trong khi ở những quốc gia phát triển, như Hà Lan, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp chỉ chiếm 2%-4% dân số, nhưng đóng góp tới 40% GDP.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, GDP nông nghiệp Việt Nam đang giảm, tốc độ tăng năng suất chậm lại, trong khi khoảng cách về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp đang nới rộng. Để có thể thay đổi được điều này, ngành nông nghiệp Việt Nam cần có một cách nhìn và cách làm mới.

Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Văn Tùng cho rằng, thời gian qua nông nghiệp Việt Nam đã tập trung vào tăng sản lượng và năng suất, nhưng bây giờ đã thay đổi, tập trung vào tăng chất lượng và chuỗi giá trị gia tăng. Để có thể cạnh tranh hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp đã tập trung vào việc tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi liên kết, làm cơ sở để thúc đẩy việc ứng dụng KH-CN, kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất ở các mặt hàng có lợi thế. Sự tham gia vào sản xuất nông nghiệp của một loạt các tập đoàn, doanh nghiệp lớn thời gian vừa qua; hay sự canh tác, nuôi trồng một số giống cây con đặc chủng để xuất khẩu đi những thị trường đặc thù  là biểu hiện của sự thay đổi đó.

Theo Bộ KH-CN, thành công của những mô hình sản xuất tôm giống ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Đầu tư thủy ản Nam Miền Trung; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa, giống hoa của Công ty CP Rừng hoa Đà Lạt; mô hình liên kết chuỗi giá trị trong chăn nuôi của Công ty TNHH Hùng Nhơn, trang trại chăn nuôi bò, nuôi tôm thịt đến trồng chuối xuất khẩu Huy Long An… đều xuất phát từ tư duy mới và áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào quá trình sản xuất, canh tác, chế biến…

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch CLB Nông nghiệp công nghệ cao DAA (Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam) cho rằng, cần phải có cách làm mới trong nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi liên kết giá trị, doanh nghiệp hóa nông nghiệp, nông dân. Cách làm mới này sẽ góp phần thay đổi ngành nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao; từ ngành có giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởng thấp sang ngành có giá trị vượt trội so với các ngành công nghiệp truyền thống; hình thành một chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả cạnh tranh cung cấp sản phẩm có chất lượng. Những thay đổi này sẽ mang lại cuộc sống khỏe mạnh, an toàn và sung túc hơn cho người dân Việt Nam và nâng tầm vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên thế giới một cách bền vững.

Dùng trí tuệ nhân tạo trong nhà kính kỹ thuật số

  • PDF

Dùng trí tuệ nhân tạo trong nhà kính kỹ thuật số 

Các nhà khoa học ở Viện công nghệ Massachusetts (Mỹ) đã phát triển một thuật toán dựa trên trí tuệ nhân tạo để phân tích nhiệt độ, độ ẩm và các thông số khí hậu khác trong nhà kính phục vụ cho việc xác định các điều kiện tốt nhất cho việc trồng rau quả với sản lượng thu hoạch tốt nhất.

Hiện nay, trồng rau quả trong môi trường tự nhiên ngày càng trở nên khó khăn hơn do biến đổi khí hậu, hạn hán thường xuyên. Bên cạnh đó, việc canh tác còn phải dùng đến thuốc trừ sâu để bảo vệ thực vật khỏi sâu bệnh tật và vi khuẩn. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà kính kỹ thuật số hoặc cái gọi là “máy tính thực phẩm” có thể là phương pháp thành công nhất để tạo ra thực phẩm.

Ngoài việc khắc phục yếu tố khí hậu giúp làm giảm thiểu thời gian và nguồn lực để cung cấp, thì thay vì mang quả bơ từ Mexico sang Trung Quốc, người ta còn có thể tái tạo khí hậu Mexico ở ngay Bắc Kinh và thậm chí làm cho chế độ khí hậu đó tốt hơn trên cơ sở phân tích dữ liệu.

Các nghiên cứu về việc tạo ra một “máy tính thực phẩm” được khởi động vào năm 2015 tại Media Lab của Viện công nghệ Massachusetts. Thí nghiệm đầu tiên là phải thay đổi thời gian và cường độ của bức xạ tia cực tím. Hiện nay, theo Fast Company, trong một chu kỳ tăng trưởng của từng loại cây, nhà kính kỹ thuật số có thể theo dõi khoảng ba triệu thông số.

Các thuật toán huấn luyện máy sẽ tiến hành phân tích dữ liệu để tìm ra sự kết hợp tốt nhất các yếu tố khí hậu cho việc canh tác các loại cây trồng nhất định. Kết quả này có thể gọi là "công thức khí hậu", và bất cứ ai muốn trồng rau tại nhà cũng có thể khai thác các công thức đó.

Các “máy tính thực phẩm” được trang bị các bộ cảm biến, thiết bị điều khiển tự động và thị giác có khả năng nghiên cứu và sau đó tái tạo các điều kiện sinh trưởng tối ưu cho cây trồng - từ cường độ và quang phổ của ánh sáng đến nồng độ các loại muối và khoáng chất trong nước phục vụ tưới tiêu.

Các nhà khoa học cũng phát triển một phiên bản thương mại nhà kính số Greenhouse với container chứa hàng và khả năng tạo ra những điều kiện khí hậu khác nhau cho các loại cây trồng trên các bộ giá kệ khác nhau.

Việc sử dụng các hệ trí tuệ nhân tạo cho phép giám sát nhiều yếu tố sinh trưởng và canh tác cây trồng, trong đó có hương vị và sức đề kháng với bệnh tật cũng như tạo ra công thức khí hậu hoàn hảo đối với từng loại cây trồng.

Tất cả dữ liệu, bao gồm cả hướng dẫn về cách để tạo ra một “máy tính thực phẩm” đều sẽ được công bố rộng rãi để những người có kiến thức kỹ thuật tối thiểu cũng có thể áp dụng.

 

Hạn hán đẩy giá thực phẩm tăng mạnh ở Đông Phi

  • PDF

Hạn hán đẩy giá thực phẩm tăng mạnh ở Đông Phi 

Hạn hán xảy ra trên toàn bộ khu vực Đông Phi gây tổn thất cho vụ thu hoạch và đẩy giá các loại ngũ cốc cùng các loại thực phẩm thiết yếu khác tăng cao bất thường. Điều này trở thành gánh nặng của các hộ gia đình và rủi ro đặc biệt đối với các nhà chăn nuôi trong khu vực.

Theo Bản tin Kiểm soát và Phân tích giá cả (FPMA) của Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO), giá ngô, lúa miến và các loại ngũ cốc khác hiện đang ở sát kỷ lục hoặc kỷ lục ở các quốc gia Ethiopia, Kenya, Somali, Nam Sudan, Uganda và Cộng hòa Tanzania.

Lượng mưa không đủ ở hầu hết khu vực đã ảnh hưởng đến đàn gia súc và người chăn nuôi. Tình trạng sức khỏe gia súc kém do thiếu đồng cỏ và thiếu nước, cộng với việc phải giết mổ gia súc chết “bất đắc dĩ” khiến người chăn nuôi thu nhập kém hơn nữa khi phải bỏ tiền ra mua thực phẩm cơ bản.

Xu hướng này ở Đông Phi, nơi mà giá ngũ cốc đã tăng gấp đôi ở một số chợ thị trấn, trái ngược với xu hướng ổn định của Chỉ số giá thực phẩm của FAO, đo lường sự thay đổi hàng tháng về giá quốc tế của giỏ hàng thực phẩm.

Sự chênh lệch này là do hạn hán đang tác động tiêu cực đến khu vực Đông Phi, nơi mà dự trữ lương thực đã cạn kiệt do El Nino trong năm ngoái. Lượng mưa ít và không ổn định trong vài tháng gần đây đang ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp. Ước tính, sản lượng thu hoạch ngô và lúa miến của Somali giảm 75% so với mức bình thường, đồng nghĩa với khoảng 6,2 triệu người dân nước này hiện đang phải đối mặt với bất ổn lương thực, với phần lớn dân số bị ảnh hưởng sống ở các vùng nông thôn.

Bản tin FPMA theo dõi xu hướng giá thực phẩm đối với các loại ngũ cốc có hạt và trên thị trường địa phương, tập trung chủ yếu vào giá các mặt hàng thực phẩm tăng mạnh hoặc tăng bất thường.

Tại Mogadishu, giá ngô đã tăng 23% trong tháng 1/2017 và thậm chí còn tăng cao hơn ở vùng trồng ngô chính Lower Shabelle. Nhìn chung, tại các khu chợ chính ở miền trung và miền nam Somali, giá ngũ cốc thô trong tháng 1/2017 đã tăng gấp đôi so với một năm trước. Với dự trữ tại các hộ gia đình cạn kiệt dưới mức bình thường trong suốt các tháng giáp hạt và dự báo thời tiết không mấy sáng sủa về mùa mưa sắp tới, giá cả có thể sẽ tiếp tục leo thang.

Giá ngô tại Arusha, Cộng hòa Tanzania đã tăng gần gấp đôi kể từ đầu năm 2016, trong khi tăng hơn 25% trong 12 tháng ở thành phố lớn nhất Tanzania là Dar Es Salaam.

Tại Nam Sudan, giá thực phẩm hiện cao hơn 2 – 4 lần so với mức giá một năm trước, do bất ổn ngày càng tăng và sự phá giá đồng nội tệ.

Tại Kenya, nơi vùng đất thấp phía đông và ven biển cũng như một số khu vực phía tây Thung lũng Rift đều không nhận đủ lượng mưa, giá ngô hiện tăng hơn 30%, chưa kể đến mức tăng đã được hạn chế phần nào bởi ngô nhập khẩu từ Uganda.

Không chỉ có ngũ cốc tăng giá. Các loại đậu hiện nay cũng tăng giá 40% ở Kenya so với một năm trước, trong khi ở Uganda – nơi mà giá ngô hiện tăng tới 75% so với một năm trước , giá các loại đậu và bột sắn đều tăng 25% so với một năm trước ở thành phố thủ đô Kampala.

Nông nghiệp công nghệ cao góp phần hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

  • PDF

Nông nghiệp công nghệ cao góp phần hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 

Ngày 2-12, tại TP Đà Lạt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phục vụ hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn”.

Hơn 200 đại biểu đại diện bộ, ngành trung ương; các tỉnh, thành phố có nền nông nghiệp phát triển trong cả nước; cùng các doanh nghiệp, nhà nông ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tham dự hội thảo.

Nông nghiệp có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy, việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là hướng đi tất yếu. Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thuộc chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, đạt mức tăng trưởng hàng năm hơn 3,5%, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.

Thời gian qua, các đề tài, dự án thuộc chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đều tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, nhằm mang lại giá trị gia tăng cao. Đặc biệt là sản xuất rau, quả ứng dụng công nghệ tự động, bán tự động phục vụ xuất khẩu; công nghệ tưới tiết kiệm kết hợp cung cấp dinh dưỡng cho cây; công nghệ sản xuất rau, hoa trong nhà kính chủ động thời tiết, với hệ thống kiểm soát độ ẩm, ánh sáng tự động…

Hiện, cả nước có hai khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Hậu Giang và Phú Yên; ba địa phương là: Thái Nguyên, Thanh Hóa và Lâm Đồng thuộc quy hoạch tổng thể đã xây dựng đề án thành lập khu nông nghiệp công nghệ cao; 25 doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đã có hàng nghìn tỷ đồng đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao từ trung ương đến địa phương và các doanh nghiệp, nhà nông trong cả nước.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Quốc Doanh cho rằng: “Thời gian qua, các địa phương, doanh nghiệp rất chủ động, sáng tạo, tìm tòi các biện pháp thúc đẩy phát triển công nghệ cao. Đến nay đã khẳng định được ưu thế của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cả về khía cạnh phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và xã hội hóa sâu rộng. Đây là những tín hiệu tốt, tạo diện mạo mới cho nền nông nghiệp Việt Nam, xu thế tất yếu trong phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại trong thời gian tới”.

Riêng tại Lâm Đồng, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá là tỉnh đi đầu cả nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Hiện, Lâm Đồng có hơn 49 nghìn ha sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Trong đó, hơn 21 nghìn ha rau, hoa, cây đặc sản ứng dụng tưới phun tự động; 50 ha hoa, dâu tây áp dụng công nghệ cảm biến, tự động đồng bộ; 6,5 ha rau thủy canh và 41 ha canh tác trên giá thể; hơn 2.200 ha chè ứng dụng hệ thống đồng bộ hệ thống tưới, bón phân tự động; 18.781 ha cà phê ứng dụng công nghệ cao được chứng nhận 4C, UTZ, Rainforest…

Theo đánh giá mới đây của địa phương, năng suất bình quân nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng đến 50% so với sản xuất thông thường, đạt từ 200 đến 300 triệu đồng/ha/năm. Đặc biệt, trên địa bàn tỉnh có 11 nghìn ha đạt hơn 500 triệu đồng/ha/năm; trong đó, 700 ha đạt từ một đến ba tỷ đồng và 10 ha cho doanh thu hơn ba tỷ đồng trên một ha mỗi năm. Hiện, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đạt 30% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Lâm Đồng. “Đến nay, có thể khẳng định nông nghiệp công nghệ cao đã tạo bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp tại Lâm Đồng, tỷ trọng xuất khẩu chiếm tỷ lệ 80%. Lâm Đồng có tám doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm 30% trên cả nước. Nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn Lâm Đồng”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S, cho biết.

Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao cả nước nói chung và tại Lâm Đồng vẫn tồn tại một số hạn chế như: tổ chức sản xuất chưa đồng bộ, giá trị sản xuất chưa cao; khoa học công nghệ chưa phát huy vai trò động lực, là đòn bẩy trong sản xuất, sự gắn kết giữa khoa học công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều bất cập. Công tác chuyển giao khoa học - kỹ thuật chưa theo kịp yêu cầu thực tế; sản xuất nông nghiệp còn bị tác động điều kiện ngoại cảnh.

Sự hỗ trợ của nhà nước trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế. Nhà nông và doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao còn thiếu vốn đầu tư. Việc xây dựng khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao toàn quốc và phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chưa đáp ứng kế hoạch đề ra…

Theo Giám đốc Công ty TNHH Đà Lạt G.A.P Lê Văn Cường: “Có thể khẳng định, nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng và một số tỉnh, thành phố trong nước phát triển rất tốt, nhưng sự hỗ trợ của nhà nước mới ở mặt tinh thần, còn vật chất chưa có, kể cả hỗ trợ về lãi suất vay ngân hàng, nhập khẩu thiết bị, giống mới… Những chính sách từ trung ương về đến địa phương là quãng đường khá dài”.

Thời gian qua, việc liên kết “bốn nhà” trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp công nghệ cao còn là câu chuyện dài, sự “đánh đồng” giữa nông sản công nghệ cao và nông sản sản xuất kiểu truyền thống trên thị trường, khiến nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp gặp khó khăn. “Hiện, việc xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn nhiều hạn chế. Sản phẩm rau VietGAP đang được thị trường tiêu thụ ngang bằng rau truyền thống, gây khó khăn cho đơn vị sản xuất”, Giám đốc HTX Tiến Huy (Đức Trọng, Lâm Đồng), ông Võ Tiến Huy, bộc bạch.

Nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước, thời gian tới, ngành nông nghiệp đặt ra các giải pháp như: tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; chính sách hợp tác công - tư, liên kết tổ chức khoa học - công nghệ với doanh nghiệp; xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa nhà nông với doanh nghiệp; tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao; nâng cao năng lực các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp; tăng cường hợp tác quốc tế và đẩy mạnh phát triển thị trường… Với mục tiêu, phát triển nền nông nghiệp đồng bộ, hiện đại, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và sự phát triển kinh tế đất nước.

Báo cáo mới của Liên Hiệp Quốc: Mức độ khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới

  • PDF

Báo cáo mới của Liên Hiệp Quốc: Mức độ khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới

Liên Hiệp Quốc cho biết hôm thứ ba, nồng độ khí CO2 đang tăng cao, kéo theo việc các khí nhà kính trong khí quyển đã phá kỷ lục mới trong năm 2013, trong khi các đại dương, nơi hấp thụ khí thải này, lại có tính axit cao hơn bao giờ hết.

Theo Michel Jarraud, người đứng đầu của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho biết trong một báo cáo vào thứ ba "Chúng ta không còn nghi ngờ gì về việc khí hậu của chúng ta đang thay đổi và thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn do các hoạt động của con người, như là đốt nhiên liệu hóa thạch".

"Chúng ta phải đảo ngược xu hướng này bằng cách cắt giảm phát thải khí CO2 và các khí nhà kính khác trên diện rộng", Jarraud cho biết trong một tuyên bố.

"Chúng ta đang sắp hết thời gian," ông cảnh báo.

Báo cáo cho biết, nồng độ tất cả khí carbon dioxide (CO2), mêtan và oxit nitơ đều phá kỷ lục mới trong năm 2013.

Nồng độ khí CO2 trên toàn cầu là thủ phạm chính gây ra sự ấm lên toàn cầu, tăng đến 396 phần triệu vào năm ngoái, tức là 142% so với mức độ thời tiền công nghiệp -  được xác định trước năm 1750.

Chỉ tính riêng từ năm 2012 đến 2013 đã tăng 2,9 phần triệu - mức tăng hàng năm lớn nhất trong vòng 30 năm, theo các bản tin về khí nhà kính -- Greenhouse Gas Bulletin.

Bản báo cáo cũng cho thấy, cái gọi là cưỡng bức bức xạ, hoặc hiệu ứng khí hậu ấm lên là do khí nhà kính gây ra như CO2 tăng 34 phần trăm từ năm 1990 đến 2013.

Một phần tư lượng khí thải được các đại dương hấp thụ, trong khi một phần tư lượng khí thải khác được hút vào sinh quyển, giúp hạn chế tỷ lệ các khí khiến cho khí quyển nóng

Nhưng các khí CO2 vẫn còn ở lại trong khí quyển hàng trăm năm và trong các đại dương thậm chí lâu hơn.

WMO cảnh báo, “Các chất khí được giữ lại trong các đại dương này cũng có ảnh hưởng rất lớn, bởi vì càng nhiều khí CO2 ở trong nước sẽ làm tăng nồng độ axit trong nước, làm thay đổi hệ sinh thái đại dương.

WMO cho biết, Mỗi ngày, các đại dương của thế giới hấp thụ khoảng bốn kg khí CO2 khiến cho mức axit hóa đại dương hiện nay tăng cao "chưa từng có trong vòng ít nhất 300 triệu năm qua".

Và mọi thứ đang trở nên tệ hơn, Jarraud nói.

Ông cho biết "Lượng khí thải CO2 trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai sẽ có một tác động lâu dài lên hiện tượng nóng lên toàn cầu và quá trình axit hóa đại dương" và cho biết thêm rằng "các định luật vật lý là không thể thay đổi được".

Di truyền cây ớt

  • PDF

Di truyền cây ớt 

Capsicum annuum là một loài ớt đã thuần hóa thuộc chi Capsicum, họ Cà (Solanaceae) có nguồn gốc từ miền Nam Bắc Mỹ và miền bắc Nam Mỹ. Ba loài C. annuum, C. frutescensC. chinense đều tiến hóa từ một tổ tiên chung duy nhất ở một nơi nào đó trong khu vực phía tây bắc Brazil – Colombia. Số nhiễm sắc thể của bộ genome cây ớt là: 12 cặp.

Trong chi Capsicum, có ít nhất 31 species được biết, năm trong số loài này được thuần hóa thông qua những sự kiện rất khác biệt nhau tại những trung tâm khởi thủy về đa dạng sinh học khác nhau: C. annuum, C. baccatum, C. chinense, C. frutescensC. pubescens. Loài ớt được thuần hóa Capsicum spp., trong đó loài C. annuum được trồng với diện tích lớn nhất trên tế giới với hai kiểu hình ớt ngọt và ớt cay, được người ta thực hiện nhiều chương trình lai chọn tạo giống mạnh nhất. Capsicum annuum đã được thuần hóa trên cao nguyên Mexico và là tổ tiên của các giống ớt cay Mexico, hầu hết giống ớt cay châu Phi và châu Á, cùng với nhiều giống ớt ngọt trồng ở châu Âu, vùng ôn đới (Livingstone và ctv. 1999).

Người ta sử dụng GBS (genotyping by sequencing) với bộ chỉ thị “genome-wide SNPs”, thực hiện trên tập đoàn giống ớt với 370 mu ging (accessions), để đánh giá đa dạng di truyền của một “subset” với 222 giống ớt đang canh tác (C. annum) bao gồm giống bản địa, giống canh tác chủ lực, giống lai, dòng cải tiến, dòng hoang dại và dòng ớt kiểng (ornamental) được sưu tập từ nhiều vùng của thế giới (Taranto và ctv. 2016). Kỹ thuật “SNP discovery by GBS” được áp dụng trong nghiên cứu này. Ly trích mẫu DNA theo phương pháp DNeasy® Plant Mini Kit (QIAGEN, Germany). Phân cắt hạn chế mẫu DNA bằng “6-base-cutter HindIII”. GBS được thực hiện tại “Institute of Genomic Diversity” (Cornell University, Ithaca, NY, USA) theo phương pháp Elshire. Khuếch đại PCR được tiến hành để tạo nên một thư viện GBS, mà kết quả này được minh họa bởi kỹ thuật “Illumina HiSeq 2500 run” (Illumina Inc., USA). Trình tự DNA với hàng triệu “reads” được xử lý theo “multiple FASTQ files”. Tất cả chỉ thị (tag) của trình tự duy nhất của mỗi một “sequence file” được thu thập và xử lý để tạo ra “master tag file”. Những “master tags” này được sắp xếp và so sánh chuỗi trình tự theo cách thức tham chiếu cơ sở dữ liệu của bộ genome CM334 trên mạng http://peppergenome.snu.ac.kr với công cụ Burrows-Wheeler Aligner (BWA) (version 0.7.8-r455).

Phân tích GBS theo phần mềm TASSEL (version 3.0.166) để xử lý số liệu SNPs. Cở sở dữ liệu SNP được xử lý theo TASSEL-GBS sẽ cho ra dữ liệu mới trong đánh giá kiểu gen “HapMap” có tính chất còn nguyên sơ. Sau đó, người ta tiến hành tiếp sau đó hai bước có tính chất thanh lọc (filtering)  những chỉ thị SNPs. Lần “filtering” đầu tiên nhằm tìm ra tần suất alen tối thiểu (mnMAF = 0.01), mức che phủ tối thiểu để phân loại [minimum taxa coverage] (mnTCov = 0.1) và vị trí được che phủ tối thiểu [minimum site coverage] (mnSCov = 0.8). Các mẫu giống ớt có số dữ liệu bị mất với mức độ khá lớn sẽ được thanh lọc trên cơ sở tham chiếu “minimum minor allele count” (mnMAC = 10). Các chỉ thị SNPs vượt cao hơn giá trị  “minimum minor allele count” (mnMAC) hoặc có tần suất lớn (mnMAF), được giữa lại để phân tích tiếp.

Lần “filtering” thứ hai nhằm chọn ra các chỉ thị SNP có chất lượng cao thông qua phần mềm TASSEL-GBS cho ra những thông số sau đây: “minimum count 150”, “minimum frequency 0.01” và “Maximum Frequency 1.0”.

Người ta thu thập số liệu “read depth” và “coverage” thông qua việc sử dụng “custom R scripts” và “BEDTools”. Muốn xác định vùng trung tâm trên 12 nhiễm sắc thể của Capsicum, người ta sử dụng bản đồ di truyền của giống ớt COSII. Mỗi một nhiễm sắc thể, người ta chọn những chỉ thị phân tử kế cận với “peri-centromeric region” và xác định vị trí chính xác của chúng từ cơ sở thông tin của phần mềm “Sol Genomics Network”.

Tất cả chuỗi trình tự DNA có trong “NCBI Short Read Archive” (SRA; http://www.ncbi.nlm.nih.gov/sra/) với mã số mẫu giống ớt là SRP070992.

Kết quả cho thấy: phân tích GBS ghi nhận có 7.568.894 “master tags” (chỉ thị phân tử chính), trong đó, có 43.4% trình tự mang tính chất “unique” (độc nhất hiện hữu) được so sánh với bộ genome tham chiếu CM334. Người ta thấy có tất cả 108.591 chỉ thị SNP được xác định, trong đó, 105.184 chỉ thị SNP được tìm thấy trong các mẫu giống của C. annuum. Muốn khai thác có hiệu quả kết quả đa dạng di truyền này trong cây C. annuum và muốn chọn lọc một bộ “minimal core” đặc trưng cho tất cả biến dị di truyền đạt giá trị “minimum redundancy”, người ta phải tạo ra một “subset” của 222 mẫu giống ớt C. annuum, chúng được phân tích thông qua 32.950 chỉ thị SNP chất lượng cao. Theo kết quả xếp nhóm di truyền, người ta có thể chia tập đoàn giống ớt ra thành ba clusters di truyền. Cluster I tập hợp các giống đang canh tác chủ lực và giống ớt bản địa của vùng Nam và Bắc Italy, và vùng Đông Âu. Clusters II và III thể hiện các mẫu giống ớt có nguồn gốc địa lý khác. Xem xét kết quả phân tích biến thiên di truyền có tính chất “genome-wide” trong những mẫu giống ớt thử nghiệm này, bao gồm cluster I, với một chu kỳ thứ cấp theo phân nhóm của Bayesian (K = 3) và Hierarchical (K = 2); chúng đã được thực hiện để hoàn tất sự phân nhóm di truyền. Kết quả cho thấy rằng: các mẫu giống ớt đã được xếp nhóm di truyền không chỉ dựa theo xuất xứ địa lý mà con dựa trên đặc điểm có liên quan đến quả ớt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Livingstone Kevin D., Vincent K. Lackney, James R. Blauth, Rik van Wijk and Molly Kyle Jahn. 1999. Genome Mapping in Capsicum and the Evolution of Genome Structure in the Solanaceae. Genetics 152: 1183–1202 ( July 1999)

Taranto F., N. D ’Agostino, B. Greco, T. Cardi and P. Tripod. 2016.  Genome-wide SNP discovery and population structure analysis in pepper (Capsicum annuum ) using genotyping by sequencing. BMC Genomics  (2016) 17:943

 

Biến đổi khí hậu gây tổn thương nông nghiệp

  • PDF

Biến đổi khí hậu gây tổn thương nông nghiệp

Năm 2016, chúng ta phải đối phó nhiều loại hình cực đoan của thời tiết, biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn và cực đoan hơn so với kịch bản đã công bố năm 2012. Ngay từ những ngày tháng đầu của năm 2016, trận rét đậm rét hại lịch sử nhiều chục năm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 14 tỉnh miền núi phía Bắc.

Năm 2016, chúng ta phải đối phó nhiều loại hình cực đoan của thời tiết, biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn và cực đoan hơn so với kịch bản đã công bố năm 2012.

Ngay từ những ngày tháng đầu của năm 2016, trận rét đậm rét hại lịch sử nhiều chục năm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của 14 tỉnh miền núi phía Bắc.

Cơ quan khí tượng nhận định, đây là đợt rét đậm rét hại mạnh nhất 40 năm qua với hàng loạt kỷ lục được ghi nhận. Ngày 24/1, trạm khí tượng Sa Pa (Lào Cai) ghi nhận nhiệt độ -4oC; Mẫu Sơn (Lạng Sơn) cũng -4oC. Tại Hà Nội, lần đầu tiên đỉnh núi Ba Vì tuyết rơi kéo dài, ở trạm Hà Đông chỉ 5,4oC.

Nhiều vùng cao ở Thanh Hóa, Nghệ An được cho là hiếm gặp thì nay tuyết bao phủ trắng xóa như huyện Bá Thước, Mường Lát; Tương Dương, Quế Phong. Đợt rét đã ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất nông nghiệp, thống kê thiệt hại 52.000 trâu bò chết, 150.000ha lúa đã cấy bị chết, thiệt hại ước tính 400 tỷ đồng.

Biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của El Nino khiến năm 2016 xâm nhập mặn chưa từng có ở khu vực ĐBSCL và hạn hán kỷ lục tại khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

Theo tổng kết của Tổng cục Thủy lợi, tại những khu vực này, lượng mưa đã giảm 20 – 30% so với trung bình nhiều năm. Lượng nước trữ trong hệ thống thủy lợi và các vùng thấp trũng đều bị thiếu hụt do năm trước lũ không về.

Dòng chảy Mê Kông về Việt Nam giảm 50%, khiến mực nước xuống thấp nhất trong 90 năm qua. Nước biển lấn sâu vào đất liền, có nơi tới 70 – 90km, sâu hơn trung bình nhiều năm 15 – 20km.

Tình trạng xâm nhập mặn ĐBSCL được đánh giá là đặc biệt nghiêm trọng trong 100 năm qua. Nó xuất hiện sớm hơn gần 2 tháng so với cùng kỳ, với phạm vi vào sâu đất liền 90km – chưa từng xuất hiện trong lịch sử quan trắc. Đã có 11/13 tỉnh thành phố bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Và thiệt hại nặng nề nhất của thực trạng này vẫn là ngành nông nghiệp.

Theo thống kê, diện tích bị ảnh hưởng là 2.056.192ha (chiếm 52,7% so với diện tích tự nhiên của vùng), cao hơn khoảng 23% (tương đương 883.000ha) so với năm 2015. Tổng diện tích lúa thiệt hại các vụ cuối năm 2015 và năm 2016 là 405.000ha, hoa màu 8.100ha, cây ăn quả 28.500ha, 82.000ha diện tích nuôi tôm… Lúc cao nhất có 390.000 hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt. Tổng cộng thiệt hại qui tiền do ảnh hưởng hạn hán, xâm nhập mặn ở khu vực ĐBSCL là 7.900 tỷ đồng.

Hiện tượng El Nino dài nhất trong lịch sử cũng khiến Nam Trung bộ và Tây Nguyên phải đối mặt với tình trạng khô hạn nghiêm trọng nhất trong vòng 10 năm qua. So với trung bình nhiều năm, lượng mưa thiếu hụt khoảng 30 – 50%, có nơi 80%. Tổng cộng có 2.900ha đất canh tác lúa phải dừng sản xuất, 157.000ha cây trồng bị hạn hán, số hộ thiếu nước sinh hoạt lúc cao nhất là 115.000 hộ.

Biến đổi khí hậu khiến lũ lụt tiếp tục hoành hành ở miền Trung kèm theo những diễn biến lạ thường hơn. Ông Hoàng Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương phải thốt lên rằng “lần đầu tiên chúng tôi phải dùng từ đặc biệt lớn với đợt lũ này và nó đang lặp lại lịch sử của năm 2013”. Theo nhiều chuyên gia, lượng mưa năm 2016 ở miền Trung phổ biến cao hơn so với trung bình nhiều năm 20 – 40%, cá biệt có nơi cao hơn 40 – 90% như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi…

Đợt mưa lũ trong tháng 10 và 11/2016 cũng gây ra những hậu quả nặng nề cho đồng bào các tỉnh miền Trung, thống kê thiệt hại ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị… thiệt hại hơn 2.000 tỷ đồng. Những ngày cuối năm, 8 tỉnh khu vực Nam Trung bộ tiếp tục chìm trong lũ nhiều ngày, thiệt hại chưa có con số thống kê chính xác nhưng chắc chắn là hết sức nặng nề.

Theo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, từ đầu năm 2016 đến nay, thiên tai khiến 235 người chết và mất tích, thiệt hại hơn 37.600 tỷ đồng.

Nói về tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành, trong các cuộc hội thảo với nhiều chuyên gia quốc tế, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường khẳng định: Năm 2016 là một năm điển hình chúng ta phải đối phó với các dạng hình cực đoan, dị hình của thời tiết – một mức điển hình của tác động biến đổi khí hậu đối với Việt Nam từ trước đến nay. Những vấn đề này đang đặt ra thách thức lớn đối với Việt Nam.

Cũng trong năm 2016, lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam đã phải kêu gọi các tổ chức quốc tế hỗ trợ, huy động nguồn lực để thực hiện Kế hoạch ứng phó khẩn cấp đối với các địa phương bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Tổng nguồn lực huy động cho ứng phó khẩn cấp đến nay đáp ứng 54,4% của nhu cầu hỗ trợ 48,5 triệu USD như trong kế hoạch đưa ra hồi tháng 4/2016.

Và trong kế hoạch phục hồi từ nay cho đến năm 2020, theo tính toán của 18 tỉnh bị ảnh hưởng và tổng hợp của Bộ NN-PTNT, cần tới hơn một tỷ USD (khoảng 23 nghìn tỷ đồng) để ứng phó BĐKH hiệu quả.

 

 

 



Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module